Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu để tăngnăng suất và mở rộng diện tích trồng lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong đó cần tập trung nghiên cứu mật độ trồng phù hợp và liều lượng bón đạm
Trang 1HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN – NĂM 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền
THÁI NGUYÊN – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Hồng Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, gia đình
Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn
Điền người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông học và Phòngđào tạo - Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người thân
đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Vũ Hồng Thanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu: 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của bón phân đạm cho cây lạc: 5
1.1.3 Cơ sở khoa học xác định mật độ cho cây lạc:
6 1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước:
7 1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam: 8
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Hòa Bình 9
1.2.4 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn huyện Yên Thuỷ
10 1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam 13
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam
13 1.3.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới và Việt Nam: 18
Trang 61.3.3 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng cho lạc trên thế
giới và Việt Nam 25
1.4 Điều kiện sinh thái của cây lạc 27
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 30
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 30
2.2 Nội dung nghiên cứu: 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 31
2.3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm: 32
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 33
2.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng, phát triển 33
2.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 34
2.4.3 Mức độ nhiễm sâu bệnh 35
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 37
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lạc L18 37
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến khả năng phân cành cấp 1 và chiều cao thân chính của giống lạc L18 40
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ và và mức đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) giống lạc L18 42
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu của giống lạc L18 45
Trang 73.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại
của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 48
3.3 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L18 51
3.4 Hiệu quả kinh tế 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của các châu lục trên thế giới
năm 2016 7
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam 9
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hoà Bình 10
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Thủy 11
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến tỷ lệ mọc và thời gian các giai đoạn sinh trưởng giống lạc L18 38
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến khả năng phân cành cấp 1 và chiều cao thân chính của giống lạc L18 40
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và và mức đạm bón đến chỉ số diện tích lá giống lạc L18 43
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu của giống lạc L18 46
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lạc L18 48
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L18 52
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến năng suất 55
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ đến thu nhập thuần của giống lạc L18
58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn
ngày, Từ xưa đến nay, cây lạc đóng vai trị quan trọng trong đời sống và kinh
tế của nhiều quốc gia trên thế giới Cây lạc cung cấp thực phẩm cho conngười, thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp
Hạt lạc chứa nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn và một lượngvitamin lớn, đặc biệt là vitamin B Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa
no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và hạn chế lượng cholesterol trong máu
Vì thế, ngoài là thức ăn giàu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâmđến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc Bằng những nghiên cứu sâu, y học hiệnđại đã cho thấy hạt lạc có tác dụng hạn chế được nhiều loại bệnh Lạc là thức
ăn rất tốt đối với bệnh nhân bị tiểu đường vì nó ngăn cản dinh dưỡng gây tăngnhanh nồng độ đường trong máu, và còn bổ sung sự thiếu hụt niacin cho bệnhnhân bị mắc chứng tiêu chảy mãn tính
Chính vì vậy, cây lạc vẫn giữ một vai trò quan trọng trong số nhữngcây làm thực phẩm cho người Lạc được trồng phổ biến ở nhiều vùng trên thếgiới nhất là Châu Phi và Châu Á
Yên Thủy là một trong những huyện trồng lạc trọng điểm của tỉnh HòaBình với diện tích hàng năm khoảng 2000ha; trong đó vụ Xuân chiếm 80%
Trang 11diện tích, vụ Hè Thu chiếm 20% diện tích Cây lạc được coi là một trongnhững cây trồng quan trọng trong công thức luân canh Ngô vụ Xuân – Lạc vụ
Hè Thu của huyện trong nhiều thập niên gần đây Trong những năm gần đâyhuyện đã chủ động đưa nhiều giống lạc vào trồng khảo nghiệm, qua đó lựachọn các giống lạc có năng suất cao, phẩm chất tốt đưa ra sản xuất đại trà,góp phần tăng năng suất bình quân lên đáng kể, đặc biệt giống lạc L18 đãphát huy được nhiều ưu điểm nổi trội và được trồng 80% diện tích Tuy nhiên,việc nghiên cứu kỹ thuật trồng lạc tại huyện Yên Thủy chưa được quan tâmđúng mức cả về quy mô và chiều sâu Các biện pháp kỹ thuật khuyến cáotrong sản xuất được xây dựng trên cơ sở quy trình chung của Bộ Nông nghiệp
và PTNT, chưa có nghiên cứu tổng hợp nào để làm cơ sở xây dựng quy trìnhriêng cho cây lạc ở huyện Yên Thủy Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu để tăngnăng suất và mở rộng diện tích trồng lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong
đó cần tập trung nghiên cứu mật độ trồng phù hợp và liều lượng bón đạm hợp
lý là rất cần thiết để tăng hiệu quả năng suất lạc tại huyện Yên Thủy Xuất
phát từ những phân tích trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống Lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”
2 Mục đích và yêu cầu:
2.1 Mục đích
Xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng đạm bón đếnsinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L18 góp phần hoàn thiệnquy trình trồng giống lạc L18 trồng trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng đạm bónđến sinh trưởng, phát triển của giống lạc L18
Trang 12- Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến năngsuất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lạc L18.
- Xác định ảnh hưởng tương tác giữa mật độ và lượng đạm bón tới một
số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống lạc L18
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
3.1 Ý nghĩa khoa học.
- Bổ sung các dẫn liệu cơ bản trong nghiên cứu về mật độ và liều lượng phân bón thích hợp cho giống lạc L18 đang được trồng tại Yên Thủy, Hòa Bình
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần hoàn thiệnquy trình kỹ thuật thâm canh lạc đạt năng suất cao cho huyện Yên Thủy
- Sử dụng làm tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy và trong chỉ đạo sảnxuất của huyện và của tỉnh Hòa Bình
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng.
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và kinh tế, cây lạc còn đóng vai trò quantrọng trong việc cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm Rễ lạc có thể tạo các
nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm đó là Rhizobium vigna hình
thành Trong điều kiện thuận lợi có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn
từ 200-260 kg N/ha Chính nhờ khả năng cố định đạm, thành phần hoá tínhcủa đất trồng sau khi thu hoạch lạc được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đấttăng và hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với cáccây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng cần sử dụng nhiều N (câyNgô, cây Mía, cây sắn ) đang trồng phổ biến ở địa phương
Kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việcthử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa đã rút ra những kếtluận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: Khi đưa các cây họ đậu vào luâncanh với lúa, giúp cho cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làmthay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới,tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất (Fu Hsiung Lin, 1990) [34]
Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: lúa nước, mía,ngô… Ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, do vụ hè trùng với mùa mưa,địa hình thuận lợi cho cấy lúa mùa cho nên vùng sản xuất lạc thường trồng lạcxuân luân canh với lúa mùa (2 vụ/năm) hoặc thêm cây vụ đông (ở vùng sảnxuất được 3 vụ/năm) Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô,mía, sắn, vừng …
Trang 14Kết quả nghiên cứu của tác giả (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995))[21] chothấy: trên đất bạc màu nhờ nước trời thì sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế caonhất Trên đất cát ven biển trong vụ xuân nếu trồng các cây như lạc, lúa, ngô,khoai lang thì cây lạc có hiệu quả kinh tế cao nhất (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995)[21].
1.1.2 Cơ sở khoa học của bón phân đạm cho cây lạc:
Nitơ có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năngsuất của cây lạc nói riêng và cây trồng nói chung; bởi nó tham gia vào thànhphần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng trong các hoạt động sống của câynhư: protein, diệp lục, ADN, ARN…
Do đó, thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá vàng, thân có màu đỏ, chấtkhô tích luỹ bị giảm, số quả và khối lượng quả đều giảm Thiếu đạm nghiêmtrọng dẫn tới lạc ngừng phát triển quả và hạt (Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, 2005) [2]
Vì vậy, đạm là yếu tố dinh dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự sinhtrưởng, phát triển thân, lá, cành của cây lạc và số quả, số hạt và khối lượng hạtnên có ảnh hưởng đến năng suất của cây lạc (Vũ Công Hậu và cs., 1995) [15]
Lạc được cung cấp đạm bởi 2 nguồn: đạm do bộ rễ hấp thu từ đất vàđạm cố định ở nốt sần do hoạt động cố định N2 của vi khuẩn cộng sinh cốđịnh đạm Chính nhờ hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần mà nguồnđạm cố định được có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây (BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Vì vậy, lượng đạm bón cho lạcthường giảm, đặc biệt trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt và pHtrung tính (Lê Song Dự và Trần Nghĩa, 1995)[10]
Lượng đạm Lạc hấp thu rất lớn: để đạt 1 tấn lạc quả khô cần sử dụng tới 50
- 70 kg N Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa - làm quả và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40 -
45% nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)[2]
Trang 151.1.3 Cơ sở khoa học xác định mật độ cho cây lạc:
Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đếnnăng suất lạc Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệgiữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây lạc khaithác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thácnước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vịdiện tích
Mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt Dưới đấtcây lạc cạnh tranh nhau về nước, dinh dưỡng trong đất và khoảng trốngtrong đất để phát triển củ Khi đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây thìcây sẽ phát triển kém, củ sẽ nhỏ Trên khoảng không gian, để có thể lấyđược ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởngchiều cao một cách tối đa chính vì vậy sẽ làm cho cây yếu, sức chống chịukém trước các điều kiện ngoại cảnh
Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều dovậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao nhưng năngsuất quần thể lại giảm, bên cạnh đó cây sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiệnngoại cảnh do tính quần thể bị giảm, quả của cây sẽ bị phân cành do bộ rễ củacây sẽ phát triển theo chiều ngang vì không phải cạnh tranh nhiều với bộ rễcủa các cây khác điều này sẽ làm giảm phẩm cấp của quả lạc Mật độ trồngthích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng
từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích luỹ của cây tăng từ đó
có thể tăng năng suất và tăng sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế
Để giống phát huy hết tiềm năng, cần nghiên cứu các biện pháp kỹthuật phù hợp trong đó mật độ và bón lượng đạm hợp lý góp phần nângcao năng suất lạc
Trang 161.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước:
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới.
Cây lạc (Arachis Hypogaea L) là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và
chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồngốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 40o vĩBắc đến 40o vĩ Nam (Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Thị Yến, 2000) [17].Tình hình sản xuất lạc trên thế giới được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của các châu lục
trên thế giới năm 2016
Tuy châu Phi có diện tích trồng lạc lớn nhất nhưng năng suất lại thấpnhất trong các châu lục chỉ đạt 9,03 tạ/ha, năng suất cao nhất là châu Mỹ đạt33,81 tạ/ha Sản lượng châu Á cao nhất đạt 26,6 triệu tấn, thấp nhất là châu
Âu đạt 3,57 triệu tấn
Tóm lại, thành công trong tăng năng suất, sản lượng lạc, góp phần nângcao hiệu quả kinh tế ở các nước trên thế giới đầu tư cho công tác nghiên cứu
Trang 17và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, trong đó chútrọng tới yếu tố giống mới năng suất, chất lượng và thích nghi tốt với điềukiện sinh thái Đồng thời áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canhtăng năng suất như: phân bón, mật độ, phương thức gieo
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam:
Ở nước ta, cây lạc được trồng rộng rãi khắp các vùng trong cả nước,trên nhiều loại đất và địa hình khác nhau Diện tích trồng lạc nhìn chung có
xu hướng giảm Năm 2007, diện tích trồng lạc của cả nước đạt cao nhất 254,5nghìn ha, tuy nhiên theo số liệu sơ bộ năm 2016, diện tích lạc của nước ta chỉcòn 191,3 nghìn ha (Tổng cục thống kê, 2018) [28]
Năng suất lạc ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trồng lạctrên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, năng suấtlạc trong giai đoạn 2007 - 2016 có chiều hướng gia tăng và đạt 23,1 tạ/hanăm 2016
Sản lượng lạc ở nước ta trong giai đoạn 2007- 2016 có sự biến động do
sự thay đổi năng suất Năm 2008 sản lượng lạc của cả nước đạt cao nhất là530,2 nghìn tấn, tăng 49,2% so với năm 2000 (sản lượng 355,3 nghìn tấn),sau đó sản lượng lạc có xu hướng giảm; sơ bộ năm 2016, sản lượng lạc củaViệt Nam chỉ đạt 441,1 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2018) [28]
Sản xuất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệpViệt Nam Theo tổng cục thống kê những vùng trồng lạc chính của nước
ta hiện nay là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (92,7 nghìn ha năm2013), Trung du và miền núi phía Bắc (38,2 nghìn ha), Đồng Bằng sông Hồng(19,3 nghìn ha), Tây Nguyên (11,3 nghìn ha) và Đông Nam Bộ (19,4 nghìnha) Các tỉnh có diện tích trồng lạc trên 10 nghìn ha năm 2013 là Nghệ An(19,6 nghìn ha), Hà Tĩnh (17,3 nghìn ha), Thanh Hoá (13,5 nghìn ha) và BắcGiang (11,7 nghìn ha) Các tỉnh có sản lượng lạc hàng năm lớn nhất là Nghệ
An (44,5 nghìn
Trang 18tấn năm 2013), Hà Tĩnh (40,8 nghìn tấn), Bình Định (30 nghìn tấn), BắcGiang (28,8 nghìn tấn), Thanh Hoá (27,6 nghìn tấn) (Tổng cục thống kê,2018) [28] Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnhphía Nam Tuy nhiên, bước đầu đã có một số tỉnh đạt năng suất lạc bình quâncao như: Nam Định 39,2 tạ/ha nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật che phủnilon; Tuyên Quang 25,7 tạ/ha.
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Hòa Bình.
Tại Hoà Bình, theo số liệu của tổng cục thống kê, sản xuất lạc của tỉnhtrong những năm qua có xu hướng giảm về diện tích và tăng về năng suất, sảnlượng Nhìn chung, năng suất lạc của tỉnh đạt trung bình so với mặt bằng cảnước Năm 2012, năng suất lạc bình quân toàn tỉnh đạt 14,9 tạ/ha và đến năm
2016 đạt 18,5 tạ/ha, tăng 24,2% so với năm 2012 Có được kết quả này là dotỉnh Hoà Bình đã có nhiều chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp nói chung
Trang 19và sản xuất lạc nói riêng Đưa nhiều giống mới như L14, L18, L23, MD7,TB25 vào cơ cấu giống lạc của tỉnh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thểcho từng giống và liều lượng phân bón cụ thể Vì vậy quy trình sản xuất lạcvẫn chung cho cả tỉnh, chưa xây dựng được quy trình kỹ thuật sản xuất lạc ápdụng cho từng giống và vùng sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh.
Trong quá trình sản xuất thực tiễn, hầu hết các giống lạc nêu trên đềuthích nghi tốt với điều kiện thâm canh, chủ động nước tưới, tuy nhiên khitrồng tại các vùng phụ thuộc nước trời đã bộc lộ nhiều hạn chế như: chịu hạnkém, nhiễm sâu bệnh nhiều dẫn tới năng suất thấp
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hoà Bình
(Niên giám thống kê Hoà Bình, 2018)[24]
Qua bảng trên cho ta thấy, diện tích trồng lạc tại tỉnh Hoà Bình luônduy trì ổn định diện tích 4.400 - 4.500 ha, năng suất, sản lượng tăng dần theocác năm, vì vậy nghiên cứu áp dụng giống năng suất, chất lượng và lượngphân bón phù hợp cho điều kiện sinh thái từng vùng trong tỉnh là rất cần thiết
1.2.4 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn huyện Yên Thuỷ.
Đối với huyện Yên Thuỷ cây Lạc là một trong những cây trồng chínhđược trồng với diện tích lớn trong vụ Xuân đặc biệt là ở những vùng đất một
vụ lúa một vụ màu Diện tích trồng lạc hàng năm của huyện khoảng 2.000 ha
Về thời vụ: lạc được gieo trồng ở 2 vụ: Lạc xuân (vụ chính) và vụ hè thu
Trang 20Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Thủy
(Niên giám thống kê Hoà Bình, 2018)[24]
Qua bảng trên ta thấy huyện Yên Thủy về diện tích xu hướng tăng giảmkhông ổn định ước tính năm 2018 chỉ còn 1.910,9 ha, nhưng đổi lại nhờ cónhững biện pháp kĩ thuật thâm canh canh tác tốt như bón phân, mật độ thờivụ làm năng suất Lạc huyện Yên Thủy tăng đáng kể qua các năm cụ thểnăm 2012 đạt 11,61 tạ/ha ước tính đến năm 2018 đạt 24,62 tạ/ha Sản lượngtăng mạnh từ năm 2012 đến 2017 đạt 2.428,6 tấn – 5.001,7 tấn tuy nhiên theoước tính năm 2018 sản lượng lạc giảm xuống còn 4.705,6 tấn
Vụ lạc xuân: gieo từ 25/1 - 20/2, thu hoạch 25/5 - 20/6 Đầu vụ thườnggặp rét và hạn làm ảnh hưởng xấu đến khả năng nảy mầm và tỷ lệ mọc củacây lạc Cuối vụ có mưa lụt và nhiệt độ cao dễ làm cho lạc nảy mầm ngay trênruộng, gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng và việc thu hoạch, bảoquản lạc
Vụ lạc hè thu gieo từ 25/6 - 20/7, thu hoạch trong tháng 10, đây là thời
vụ không thuận lợi cho lạc sinh trưởng phát triển do gặp mưa nhiều, nhiệt độcao, nhiều sâu bệnh hại, do đó năng suất thấp hơn lạc xuân
Trang 21Về cơ cấu giống lạc: trước đây trồng rất nhiều giống lạc nên năng suất,sản lượng rất thấp Từ năm 2005 - nay, huyện Yên Thuỷ đã đưa nhiều giốnglạc mới có năng suất cao vào trồng khảo nghiệm trên địa bàn như: L08, L14,L20, L23 L18, MD7, TB25 và đã chọn được 3 giống đưa vào cơ cấu chính
là L18, L14 và TB25 (giống L18 chiếm 80% diện tích) Song chưa có mộtnghiên cứu chính thức nào để tìm ra quy trình kỹ thuật cho từng giống cụ thể
và mật độ trồng và mức phân bón hợp lý cho năng suất, hiệu quả kinh tế caonhất trên đất trồng lạc của huyện Phần lớn nông hộ sản xuất theo kinhnghiệm địa phương không theo quy chuẩn nhất định nào, do đó năng suất, sảnlượng không ổn định 100% người trồng lạc bón phân hữu cơ cho lạc vớilượng từ 6 - 10 tấn/ha; 60% nông hộ bón phân đạm cho lạc với lượng 60 - 80
kg urê/ha, 40% bón với lượng thấp hơn, bón thúc chủ yếu vào giai đoạn làm
cỏ đợt 1; 30% nông hộ bón phân lân cho lạc với lượng 300 - 400 kg super lân/
ha, bón lót toàn bộ; 85 % nông hộ bón phân kali cho lạc với lượng từ 60
-80 kg kaliclorua/ha, chủ yếu bón thúc khi làm cỏ đợt 1 Ngoài ra 40 - 60% hộ
sử dụng bón phân NPK tổng hợp với lượng từ 20 - 25kg/sào Bắc Bộ Lượngvôi bột cũng được bà con nông dân sử dụng khác nhau, 70% nông hộ bón vôitrước khi trồng với lượng 300 kg/ha, có 20% hộ không sử dụng vôi, còn lại làmức bón không xác định
Về phòng trừ sâu bệnh: Các loại sâu hại gồm: Sâu cuốn lá, sâu xanh,sâu khoang, sâu xám; các loại bệnh hại gồm: Bệnh gỉ sắt, bệnh thối đen cổ rễ,bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm lá (đốm nâu, đốm đen) Bệnh thối đen cổ
rễ, bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại lạc từ khi cây lạc được 3 - 4 lá đến ra hoa,bệnh đốm lá (đốm nâu, đốm đen), bệnh gỉ sắt gây hại lạc từ khi lạc bắt đầu rahoa đến khi quả chín
Về cơ cấu luân canh: Lạc xuân – Lúa mùa chiếm 80%; 20% còn lại cơcấu cây màu vụ xuân (ngô, vừng, họ bầu bí) – Lạc Hè thu
Trang 221.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam.
1.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới.
Giống là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu gópphần nâng cao năng suất Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới cónăng suất cao, phẩm chất tốt, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điềukiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạctrên thế giới Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càngđược chú trọng Về tập đoàn giống lạc: Mỹ là nước có tập đoàn lạc phong phúnhất (29.000 mẫu giống); sau đó là ICRISAT (14.310 mẫu giống) thu thập từ
92 nước trên thế giới; Australia cũng là nước có tập đoàn lạc đa dạng(12.160 mẫu giống); Ân Độ, Trung Quốc hàng năm vẫn duy trì 5.000 - 6.000mẫu giống
Từ nguồn vật liệu đa dạng và phong phú, các nhà chọn tạo giống đã sửdụng trong công tác cải tiến giống theo các mục tiêu khác nhau: Chọn tạogiống chín sớm cho vùng tăng vụ, né tránh thiên tai; giống chịu hạn cho vùngnước trời; giống kháng sâu bệnh; giống năng suất cao; giống có hàm lượngdầu cao
Trong các mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hình thái - nônghọc, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh ICRISAT đã phân lậptheo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giốngnhư: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao,nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm…
Trung Quốc là nước có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giốnglạc Trong hai năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạcmới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-
2101, Yuznza 9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha(ICRISAT, 2005)[38]
Trang 23Sử dụng nguồn gen để mở rộng nền tảng di truyền của lạc trồng,Upadhyaya HD và cộng sự đã sử dụng thành công phương pháp lai hữu tính
để cải tiến các đặc điểm nông học như chín sớm, tăng khối lượng 100 hạt và
năng suất trong tạo giống kháng sâu bệnh (Upadhyaya H D et al., 2008)[42].
Các nhà khoa học ở Brazil, ICRISAT, Mỹ, Pháp, Senegal và Đan Mạchlai hữu tính nhân tạo để đưa các alen của lạc dại vào lạc trồng bằng việc tạo racác dòng lạc có đoạn nhiễm sắc thể thay thế Nghiên cứu chọn tạo giống chịuhạn, các nhà khoa học ở trường đại học Kasetsart, Thái Lan cho rằng điềukiện hạn không ảnh hưởng đến kiểu phân bố hoa nhưng làm chậm sự xuấthiện của những hoa lứa đầu và thời gian hoa nở Qua đánh giá 12 dòng lạccho thấy sự suy giảm năng suất khác nhau ở các dòng lạc trong điều kiện hạnphụ thuộc nhiều vào tập tính ra hoa khac nhau Những giống lạc ra hoa lượnglớn tập trung vào lứa hoa đầu cho năng suất cao hơn
Mỹ đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hìnhRuner, 5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish)(Progrees report January - June, 2009)[40] Hiện đang có 3 chương trìnhnghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống chịu sâubệnh ở Carolina Oklahoma và Texas
Kết quả sàng lọc các kiểu gen lạc được lai tạo ở Mỹ giữa giống lạc địaphương Nama của Burkina Faso với giống lạc Texas bằng phương phápcông nghệ sinh học nhằm tạo giống kháng bệnh lá Kết quả kiểm tra trongđiều kiện đồng ruộng ở Burkina Faso cho thấy một số giống trình diễn tốthơn giống địa phương, có những giống năng suất tương đương nhưng khángbệnh tốt
Các nhà khoa học của Trường Đại học nông nghiệp Acharya NGRanga, Ấn Độ và Trường đại học A&M Florida, Mỹ đã chọn tạo ra giống lạcK1375 qua lai tạo giữa giống lạc Kadiri 4 X Vemana Giống lạc này đã giúp
Trang 24bảo đảm năng suất ổn định trong vùng bị hạn của Ấn Độ (Naik KSS, 2008).
Holbrook C.C và cộng sự đã sử dụng sự chọn lọc có trợ giúp của chỉ thịphân tử để tạo giống kháng bệnh với tỷ lệ O/L (axit oleic/linoleic) cao Sựphối hợp chặt chẽ giữa các nhà chọn giống truyền thống và các nhà di truyềnhọc phân tử là cần thiết để sử dụng công cụ di truyền hiện đại có hiệu quảtrong phát triển giống lạc (Holbrook CC1 etal, 2009)[36]
Những cố gắng trong chọn tạo giống lạc bằng kết hợp phương pháptruyền thống và phân tử ở Ghana nhằm cải tiến các giống lạc địa phương cónăng suất thấp và nhiễm với các bệnh đốm lá, đốm hoa thị (Asibuo JY et al,2009)[32]
Nhóm nghiên cứu của 2 trường đại học ở Ai Cập đã nghiên cứu cải tiếnnăng suất lạc trong điều kiện đất nhiễm mặn qua đột biến 4 giống lạc Giza 5,Giza 6, NC 9 và Gregory bằng tia Gamma và hoá chất NaN3 Thế hệ M6chọn được 3 dòng M6-13, M6-18 và M6 - 30 cho năng suất cao, nhiều quả vàhạt trên cây hơn giống mẹ
1.3.1.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc ở Việt Nam
Trong những năm vừa qua, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã thuđược nhiều thắng lợi Nhiều giống mới đã được tạo ra và đưa vào sản xuấtgóp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong cả nước
Các giống mới có năng suất cao (L23, L18, L14, L02) đã phát triển trênquy mô hàng trăm ngàn ha; giống có thời gian sinh trưởng ngắn (L05); giống
có chất lượng phục vụ xuất khẩu (L26); giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn(MD7); giống kháng bệnh trên lá (L02); giống chịu hạn khá như V79, L12
đã góp phần tăng năng suất lạc cả nước; Nguyễn Văn Thắng và cs, 2002 [26];Nguyễn Văn Thắng và cs, 2004 [27]; Nguyễn Thị Chinh và cs, 2008) [3]
Những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác chọn tạo giống ở ViệtNam đã và đang tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao thích hợp với từng
Trang 25vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thứcluân canh cây trồng trong đó chú trọng giống có thời gian sinh trưởng ngắn(dưới 120 ngày), giống có khả năng kháng/chống chịu với bệnh trên lá (gỉ sắt,đốm đen), với bệnh héo xanh vi khuẩn, giống có khả năng chịu hạn, giống
kháng bệnh mốc vàng (Aspegillus ssp), giống chịu sâu, giống có chất lượng
cao phục vụ cho ép dầu và xuất khẩu hạt (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên,1991) [8]
Giống lạc L18 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọn
ra từ tập đoàn nhập nội, đã được công nhận giống năm 2009 Giống có thânđứng, tán gọn, chống đổ tốt; quả to vỏ lụa màu hồng sáng, tiềm năng năngsuất quả 50-70 tạ/ha, kháng bệnh lá và héo xanh vi khuẩn trung bình (NguyễnVăn Thắng và cs., 2004) [27]
Giống lạc L23 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọnlọc ra từ tập đoàn nhập nội năm 2001 Giống lạc L23 thân đứng, tán gọn,chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khoẻ, ra hoa kết quả tập trung, khángbệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo xanh vi khuẩn (chết ẻo) vàchịu hạn khá, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha, chịu thâm canh cao GiốngL23 có thể trồng được cả 2 thời vụ trong năm (vụ xuân và vụ thu đông)(Nguyễn Thị Chinh và cs,
và ĐBĐ 0301.16.1) năng suất cao hơn đối chứng L18, 33 dòng ưu tú ở thế hệthấp hơn có thời gian sinh trưởng trung bình cho năng suất cao hơn đối chứngL14 và L18 Vụ thu đông 2008 đã chọn được 16 dòng lạc có năng suất vượt
Trang 26đối chứng (L12, L14 và L18) đây là những dòng lạc có triển vọng đang đềnghị khảo nghiệm và nghiên cứu ở các vụ tiếp theo Đã đánh giá khả năngkháng nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn của 94 dòng giống lạc và tìm ra được 5giống kháng cao và trung bình.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ năm 2001, năm 2008 Trung tâmNghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ đã xác định được một số giống lạc mới, triểnvọng cho ra sản xuất giai đoạn 2010-2015 như dòng lạc 0401.57.3 (L19) đượcchọn tạo từ tổ hợp lai L18 /L16 có năng suất cao hơn giống L18 trong điềukiện thâm canh Dòng 0009.9.1 được chọn tạo từ tổ hợp lai QĐ9 (L15)/V79,
có năng suất cao hơn giống L12 và L14 từ 16-28% trong điều kiện canh tácnước trời (Ngô Thế Dân và cs., 2000)[7]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ đã tập trungnghiên cứu lai tạo và tuyển chọn bộ giống lạc có năng suất cao và chất lượngcao phù hợp với sinh thái của vùng Đến năm 2008, đã xác định được bộgiống lạc thích hợp cho vùng bao gồm các giống: L08, L14, L20, L23 và V79
Tại miền Nam, kết quả đánh giá 15 giống ngắn ngày của Viện Khoahọc Nông nghiệp Miền Nam cho thấy, 3 giống: ICGV87883, 87391, 90068 lànhững giống có triển vọng Tại Viện Cây có dầu Miền Nam, Ngô Thị LâmGiang và cs (1999)[14] đã đánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo vàchọn lọc ra một số giống có triển vọng là: VD1, VD2, VD3, VD4, VD5, VD9(Dẫn theo Nguyễn Thị Dần và cs., 1991)[8]
Xuất phát từ quan điểm nhập công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để cảitiến, áp dụng phục vụ phát triển sản xuất, thời gian qua trong khuôn khổchương trình đậu đỗ Quốc gia đã nhập nội hàng nghìn mẫu giống với các đặctính quí, trong đó có những giống đặc biệt ưu việt như: Năng suất cao, thờigian sinh trưởng ngắn, chất lượng xuất khẩu cao, kháng bệnh héo xanh vikhuẩn…đã góp phần quan trọng trong công tác cải tiến giống lạc trong nước
Trang 27Giống lạc L08 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể
từ dòng lạc mang tên QĐ2 trong tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm
1996 Giống lạc L08 đã được Hội đồng Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 Ở hầuhết các điểm khảo nghiệm, giống L08 có ưu điểm nổi bật so với các giốngkhác là có tỷ lệ nhân, khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt cao, hạt tođều, vỏ lụa hồng cánh sen đẹp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và thích hợp với thịhiếu người tiêu dùng Giống L08 có năng suất cao và thích hợp với chân đất cóthành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp và có thể thâm canh (Nguyễn Xuân Hồng vàcs., 2003)[18]
Mặt khác, từ những nguồn vật liệu nhập nội, nhiều giống mới đã đượccải tiến bằng con đường lai hữu tính đã có những đóng góp nhất định trongsản xuất lạc như: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữaTrạm Xuyên x Mộc Châu trắng; Giống lạc L12 được chọn lọc từ tổ hợp laigiữa V79 x ICGV 87157 năm 1992, được công nhận giống Quốc gia năm
2004 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)[2], (Nguyễn VănThắng và cs., 2002)[26]
Lê Song Dự và Trần Nghĩa (1995)[10] đã nghiên cứu thành công giốnglạc V79 bằng cách dùng tia Rơnghen gây đột biến giống Bạch Sa (TrungQuốc) Giống lạc V79 thuộc nhóm chín trung bình, năng suất cao hơn giốngđịa phương từ 15 - 25%, vỏ mỏng, tỷ lệ nhân cao như Sen Nghệ An, thích hợptrên chân đất cát pha, phụ thuộc nước trời Giống lạc V79 được Hội đồngkhoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống Quốcgia năm 1995
1.3.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới và Việt Nam:
1.3.2.1 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho cây lạc trên thế giới.
Các nghiên cứu về phân bón cho lạc bao gồm cả liều lượng, kỹ thuậtbón và loại phân bón ở các điều kiện đất đai trồng trọt khác nhau cũng được
Trang 28tiến hành Điều này góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sảnlượng lạc của các nước trên thế giới.
- Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón: Xung quanh vấn đề này
còn nhiều điều đang còn tranh cãi Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạccần một lượng N lớn để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N nàychủ yếu được lấy từ quá trình cố định đạm sinh học ở nốt sần
Theo William (1979), trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể cố địnhđược 200 - 260 kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng N bón cho lạc.Nghiên cứu của Reddy và CS (1988) [41], thì lượng phân bón là 20kgN/ha trên đất Limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiệncác yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mớicần bón thêm đạm
- Những nghiên cứu về bón lân cho lạc:
Lân là yếu tố dinh dưỡng cần thiết đối với cây lạc, đem lại năng suất
cao và chất lượng tốt Theo Nasr-Alla et al [39], khi tăng tỷ lệ P và K riêng lẻ
hoặc phối hợp thì sẽ làm tăng số cành trên cây và năng suất quả trên cây
Tương tự, Ali và Mowafy cũng chỉ ra rằng khi bón thêm phân lân làmtăng đáng kể năng suất hạt và tất cả những thuộc tính của nó [31].Thêm vào đó, El-far and Ramadan [33] cũng cho biết, khi tăng lượnglân bón sẽ làm tăng trọng lượng thân cây, tăng số lượng và khối lượng củaquả và hạt trên cây, trọng lượng 100 hạt và tỷ lệ dầu trong hạt cũng tăng Khităng lượng phân lân từ 30-60 kg P2O5/fad làm tăng đáng kể trọng lượng khôcủa toàn cây Điều này được giải thích do hàm lượng lân giúp cho hệ rễ lạcphát triển mạnh hơn, tăng khả năng hút nước và chất dình dưỡng Từ đó, giúpđồng hóa tốt hơn thể hiện ở sự gia tăng sinh khối Về năng suất và các yếu tốcấu thành năng suất lạc thì khi tăng lượng lân từ 30-60kg P2O5/fad thì làmtăng số quả và số hạt/cây, tăn trọng lượng quả và hạt/cây, trọng lượng 100 hạt
Trang 29và tỷ lệ dầu trong hạt cũng tăng cao Điều này được lý giải là do hiệu quả củalân liên quan đến việc gia tăng số lượng và kích thước nốt sần từ đó giúp choquá trình đồng hóa N tốt hơn Hơn nữa, lân là thành phần quan trọngtrong cấu trúc của axit nucleic, giúp hoạt hóa các quá trình hoạt hóa traođổi chất Sử dụng 46,6 kg/fad P2O5 và 36 kg/fad K2O đã cho hiệu quả cao nhất
về năng suất và tất cả các thuộc tính của nó (El-Far, I.A and B.R Ramadan,2000) [33]
Tại tất cả các vùng của Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg/ha N và 20kg/ha
P làm tăng năng suất lạc lên gấp hai lần so với bón riêng 30kg N/ha (Kanwar
JS, 1978) [37] Tại Senegan phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loạiđất khác nhau bón với lượng 12 - 14 kg P2O5/ha đã làm tăng năng suấtquả lên 10 - 15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khihàm lượng lân dễ tiêu trong đất đạt >155 ppm Ở Trung Quốc thường bónsupe photphat và canxi photphat Phân lân Supe photphat có 18% hàmlượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân này bón trên đất trồng lạc
có độ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ đạt năng suất cao Phâncanxi photphat, phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có độ phì trungbình, đất chua (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6]
- Nghiên cứu về bón kali cho lạc: Bón kali cho đất có độ phì từ trung
bình đến giàu đã làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc Theo NgôThế Dân và CS, 1999 [6], bón 25 kg K/ha cho lạc đã làm tăng năng suất lên12,7 % so với không bón Suba Rao (1980) cho biết ở đất cát cát của Ấn Độbón với tỷ lệ K:Ca:Mg là 4:2:0 là tốt nhất Theo Reddy (1988) [41] trên đấtlimon cát vùng Tyrupaty trồng lạc trong điều kiện phụ thuộc vào nước trời,năng suất tăng khi bón kali với lượng 66 kg K2O/ha Mức bón để có năng suấttối đa là 83,0kg K2O/ha và có hiệu quả nhất là bón 59,9 kg K2O/ha
- Nghiên cứu về bón Canxi (Ca) cho lạc: vôi là một nhân tố không thểthiếu khi trồng lạc, vôi làm thay đổi độ chua của đất Đất trồng lạc thiếu Ca sẽ
Trang 30dẫn đến giảm quá trình hình thành hoa và tia, dẫn đến củ bị ốp và cũng làmphôi hạt bị đen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không đầy đủ của noãn,tăng số quả/cây,dẫn đến tăng năng suất.
Theo Ngô Thế Dân và CS, 1999 [6], ở Trung Quốc vôi bón cho đấtchua làm trung hòa độ pH của đất, cải thiện phần lý tính của đất và ngăn ngừa
sự tích lũy của độc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liềulượng 375 kg/ha cho đất nâu ở Weihai đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/
ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón vôi
Có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng riêng lẻ từng yếu
tố phân bón cho cây lạc Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy bónphân cân đối mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước cho nhiều loại câytrồng nói chung trong đó có lạc Theo kỹ thuật này, việc bón N-P-K cân đối
về liều lượng, dựa theo yêu cầu của cây trồng, khả năng cung cấp của đất vàhiệu ứng của phân bón
1.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc tại Việt Nam.
Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cầnđạm do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bìnhthường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quángưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thànhquả và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hoá thổnhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8- 10 tấn phân chuồng, lượngbón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng
và hiệu lực giảm đi rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000) [7]
Theo Vũ Hữu Yêm, lượng đạm yêu cầu bón cho lạc không cao, thườngbón sớm khi lạc có 2 - 3 lá thật, bón với lượng tùy theo đất đai khác nhauthường bón từ 20 - 40 kg N/ha [29]
Trang 31Theo Nguyễn Danh đông (1984) [12], ở nước ta trên các loại đất nghèođạm như đất bạc màu, đất cát ven biển bón đạm có hiệu quả làm tăng năngsuất, hiệu lực 1 kg N ở đất bạc màu Hà Bắc có thể đạt 5 - 25 kg lạc vỏ Theotác giả nếu lượng đạm ít, phân hữu cơ ít thì nên tập trung bón lúc gieo, nếuphân hữu cơ tốt và nhiều có thể bón thúc vào thời kỳ 4 - 5 lá lúc đang phânhoá mầm hoa.
Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên, 1991 [8], lượng N thích hợp đối với lạctrên nền (20 tấn phân chuồng + 60 P2O5 + 30 K2O trên đất nhẹ là 30 N)/ha,năng suất 16 - 18 tạ/ha Nếu N tăng lên thì năng suất có xu hướng giảm rõ rệt
Theo các tác giả hiệu lực 1 kg đạm trên đất bạc màu và đất cát ven biểnthay đổi 6 - 10 kg lạc Đỗ Thị Dung (1994) [11], Ngô Thế Dân (2000) [7] đềucho rằng, để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loạiphân khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác
Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg
P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha chonăng suất cao nhất trên nhiều loại đất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991)[8] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4-6kg lạc vỏ Nếu bón 90kg P2O5 năngsuất cao nhưng hiệu quả không cao (Ngô Thế Dân và CS 2000) [7]
Theo Võ Minh Kha, 1996 [19], đối với lạc bón thermophotphat trên đấtxám ở Quảng Ngãi cho hiệu suất 2,8 - 3,0kg lạc vỏ/1 kg P2O5, trên đất phù saSông Hồng đạt 5 kg lạc vỏ/1 kg P2O5
Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS.,(1979) [9], phân kalithường có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơgiới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệulực 1 kg K2O trong các thí nghiệm biến động từ 5,0 - 11,5 kg quả khô Lượngkali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40 kg K2O trên nền 20 kgN
và 80 kg P2O5 Nhiều thí nghiệm cho thấy với lượng 90 kg P2O5, bón với kali
Trang 32cho lạc tỷ lệ P:K là 3:2 năng suất tăng 1,1 tạ/ha so với tỷ lệ 2:1 và năng suấtcao so với 3:1 là 2,2 tạ/ha Hiệu suất 1 kg kali sunphat trên đất cát biển trungbình là 6 kg lạc, đất bạc màu từ 8 - 10 kg lạc.
Bón phân cân đối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phânbón và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991)[8], trên đất cát ven biển Thanh Hoá bón 10 tấn phân chuồng và 30 kg N + 90
kg P2O5 + 60 kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc 6,4 – 7,0 tạ/ha so với khôngbón Kết quả nghiên cứu trên đất đồi Thái Nguyên, vụ xuân nếu bón riêng rẽtừng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân vớivôi năng suất tăng 64,9%, lân với đạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kếthợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón
Ngô Thế Dân và CS., (2000) [7] cho rằng, trên đất bạc màu Bắc Giang,bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất
là 3,6 - 5 kg , nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4- 6 kg Lê VănQuang, Nguyễn Thị Lan, 2007 [25], nghiên cứu xác định liềulượng Kali và Lân bón cho lạc Sen lai vụ xuân 2006 trên đất cát huyện NghiXuân nhận xét: bón (90 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha trên nền (10 tấn phânchuồng + 30 kg N + 800 kg vôi bột)/ha cho năng suất lạc cao nhất (23,02 -24,92 tạ/ha) Hiệu suất bón cao nhất đạt 9,17 kg/1 kg P2O5 lạc vỏ ở liều lượngbón 60 kg P2O5/ ha, 7,62 kg/1 kg K2O lạc vỏ ở liều lượng 60 kg K2O/ ha.
Bón vôi không chỉ kiểm soát và quản lý độ chua của đất mà còn làmột trong những biện pháp quan trọng nhất để làm tăng năng suất lạc Vôilàm tăng trị số pH của đất từ đó tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cố địnhđạm, và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, tạo quả của lạc.Tác dụng của vôi được xác định ở tất cả các loại đất trồng lạc ở nước
ta, kể cả các loại đất có pH tương đối cao (pH = 6), vai trò của vôi là cung cấp
Ca cho lạc và nâng cao pH đối với đất chua Những thí nghiệm về bón vôi
Trang 33được thực hiện tại trường đại học Nông nghiệp I cho thấy: bón vôi làm tăng
rõ rệt lượng Ca trong cây, tăng cường khả năng dinh dưỡng N và hoạt độngcủa vi khuẩn nốt sần đến tăng năng suất do tăng số hoa, số quả và trọng lượngquả (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [9]
Trên đất bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thí nghiệm cho thấy,năng suất lạc tăng từ 0,2 - 0,4 tấn/ha, khi bón 300 - 600 kg vôi trên nền 8 tấnphân chuồng + 90kg P2O5 và 40kg K2O (Nguyễn Thị Dần và CS., 1991) [8]
Theo Ngô Thị Lâm Giang (1999) [14], ở vùng đông Nam Bộ, bónvôi đã làm tăng năng suất 2 giống lạc hạt to VD3 và VD4 lên 3 - 11% Bónlót 300 kg và thúc 300 kg vôi không những cho năng suất cao nhất (3,37 tấn/ha) vượt đối chứng 11% mà lãi suất đầu tư một đồng vôi cũng cao nhất (3,58đồng) Bón 500 kg vôi chia 2 lần, tại vùng đất đồi Chương mỹ, Hà Tây và sửdụng rơm phủ cho đất sau khi gieo lạc đã làm tăng sức chống chịu bệnh chocây từ đó giảm nhiễm nấm và tăng năng suất lạc (Nguyễn Xuân Hồng,Nguyễn Thị Ly và CS., 2003)[18]
Nguyễn Thị Chinh và CS., 2002 [4] cho rằng, lượng vôi phù hợp vớichân đất vùng đồng bằng sông Hồng là 400 kg vôi/ha chia 2 lần bón (bón lót
và sau khi ra hoa) có thể làm tăng năng suất lạc từ 13- 26% so với đối chứngkhông bón
Để đưa ra mức phân bón N, P, K thích hợp cho giống lạc L18,Nguyễn Văn Thắng và cs đã tiến hành nghiên cứu các mức bón khác nhaucho L18 từ: 0kg N, 15kg N, 30kg N, 45kg N, 60kg N, 75kg N phối hợp với
P, K theo tỷ lệ 1N: 3P: 2K kết hợp bón với 20 tấn phân chuồng + 500 kg vôibột cho 1 ha ở cả 2 vụ xuân và thu đông Kết quả cho thấy ở mức phân bón45kg N + 135kg P2O5 + 90kg K2O giống L18 cho năng suất cao nhất trongthí nghiệm (Nguyễn Văn Thắng và cs, 2004) [27]
Trang 341.3.3 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng cho lạc trên thế giới và Việt Nam
1.3.3.1 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng cho cây lạc trên thế giới
Các biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc là một trongnhững vần đề hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất Vấn đề này đượccác nhà khoa học trên thế giới hết sức quan tâm nghiên cứu
Mật độ trồng là một trong số những yếu tố cấu thành năng suất lạc,nhiều nghiên cứu đã chứng minhh rằng tác động vào mật độ trồng là mộttrong những yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất để tăng năng suất lạc Tùy thuộcvào các điều kiện canh tác, điều kiện mùa vụ và các giống lạc khác nhau thìmật độ khoảng cách trồng lạc là khác nhau A’Brook (1996) [30] cho rằngmật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm tỷ lệ bệnh hại lá, và môi giới truyềnbệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ở mật độ trung bình
Theo lời dẫn của Nguyễn Thị Hiền (2008) [16], tại Ấn Độ (Kumar vàVentakachary, 1971), họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thìkhoảng cách 30,0 cm x 7,5 cm là tốt nhất Ở Mỹ cho rằng lạc có năng suấtcao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68cm) x (10 - 15 cm) Trong điềukiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 x 10 cm) tương đương mật độ 44cây/m2 đạt năng suất cao nhất
Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểuhình Virginia được gieo trồng trong vụ xuân như: Luhua 4, Hua 17 trên đất có
độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000 - 270.000 cây/ha, còn đối với đấtgiàu dinh dưỡng mật độ là 200.000 - 240.000 cây/ha Các giống lạc thuộc loạihình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là360.000 - 420.000 cây/ha Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật
độ là 300.000 - 380.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6]
Trang 35Miền Nam Trung Quốc với giống đứng cây trồng trong vụ xuân trên,đất đồi hoặc trong vụ lạc thu ở đất lúa mật độ trồng thích hợp là 270.000 -300.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6].
Thái Lan hiện nay đang áp dụng phương pháp gieo thích hợp là khoảngcách hàng 30 – 60, khoảng cách cây là 10 – 20 cm, gieo 1 – 2 hạt/hốc, mật độgieo 150000 – 250000 cây/ha áp dụng kĩ thuật trồng lạc với luống hẹp giúpcho việc tưới tiêu nước hiệu quả hơn và làm tăng năng suất 10 %, biện pháp kỹthuật này hiện được áp dụng phổ biến ở Trung Quốc (XuZeyong 1992) [44]
Qua kết quả nghiên cứu về mật độ trồng lạc ở một số nước thấy rằngviệc trồng dày không làm tăng năng suất quả đối với các loại hình Viginiathân bụi và thân bò, nhưng lại làm tăng năng suất loại hình Spanish thân bụi
m2 (30cm x 15cm x 2 cây), năng suất tăng lên 29,0 tạ/ha Trên đất bạcmàu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40cm x 20cm x 2 hạt) năngsuất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/m2 (30cm x 15cm x 2 hạt) năngsuất tăng lên 15,0 tạ/ha Xác định mật độ trồng thích hợp nhất cho giống lạcSen lai (75/23) trên đất cát biển Nghệ An là 35 cây/m2 theo khoảng cách(30cm x 10cm x 1 hạt) Những nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ, kết quả chothấy đạt năng suất lạc đạt cao nhất 28,1 tạ/ha, ở khoảng cách gieo 20 cm x 20
cm x 2 hạt/hốc đối với giống lạc VD1 (Ngô Thị Lâm Giang và CS 1999) [14]
Trang 36Các giống lạc hiện đang gieo trồng ở nước ta chủ yếu thuộc kiểu hìnhSpanish và một số thuộc Valencia, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, khốilượng chất khô tích luỹ thấp cho nên thường phải gieo với mật độ tương đốicao (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CS,1996) [23].
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2008) [20], khi nghiên cứu các biện pháp kỹthuật góp phần nâng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện Chương Mỹ, Hà Tâyđối với giống lạc L14 đã kết luận rằng, gieo ngày 28 tháng 2 năm 2008 trồngvới mật độ 40 cây/m2 cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn so với các giốngkhác trong cùng điều kiện, năng suất thực thu đạt được 27,9 tạ/ha
Theo Vũ Đình Chính (2008) [5] với mật độ gieo 40 cây/m2 đã cho năngsuất của giống L14 đạt cao nhất 28,05 tạ/ha, trong khi mật độ 20 cây/m2 chỉđạt 23,89 tạ/ha, với mật độ gieo 30 cây/m2 năng suất đạt 26,00 tạ/ha, 50cây/m2 26,25 tạ/ha, 60cây/m2 năng suất đạt 25,3 tạ/ha
Theo Đoàn Tiến Mạnh (2008) [22], khi nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc tại Việt Yên – Bắc Giang đã có kếtluận thời vụ và mật độ trồng nghiên cứu cho giống lạc L14 điều kiện có chephủ nilon là trồng từ ngày 5 đến 15 tháng 2 và mật độ 35 đến 45 cây/m2 làthích hợp
Theo Nguyễn Thế Anh (2010) [1], giống TB25 đạt năng suất và thunhập thuần cao nhất khi trồng ở mật độ 40 cây/m2 và lượng phân bón 30N-90P2O5-60K2O+ nền; tiếp đó đến mật độ 35 cây/m2 và lượng phân bón 35N-105P2O5-70K2O + nền
1.4 Điều kiện sinh thái của cây lạc
Trong các yếu tố sinh thái, nhiệt độ và chế độ nước ảnh hưởng lớn đếnsinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của lạc Các yếu tố khí hậu
là nhân tố quyết định sự phân bố lạc trên thế giới
Trang 37Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan đến thời gian sinhtrưởng của cây lạc Là cây có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ trung bình thíchhợp cho suốt đời sống cây lạc là 25-30oC Tích ôn hữu ích của lạc 2600-
4800oC thay đổi tùy thuộc vào giống
Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250-320oC Nhiệt độ trung bình thích hợp25-30oC Trong điều kiện đồng ruộng, nhiệt độ 28-30oC là thích hợp nhất đốivới quá trình nảy mầm
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700-1000oC.Nhiệt độ trung bình 20-30oC Nhiệt độ trung bình tối thích là 25oC Nhiệt độkhông khí 30-35oC và 18-20oC làm ức chế sinh trưởng và phát triển của câylạc
Thời kỳ ra hoa, kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt độ cao nhất Thời kỳnày chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng của lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3tổng tích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt độ tối thấp sinh học cho sự hìnhthành các cơ quan sinh thực của lạc là 15-20oC
Thời kỳ chín đòi hỏi nhiệt độ thấp hơn so với thời kỳ trước
Ánh sáng
Cây cần ánh sáng để nảy mầm, phát triển rễ, sinh trưởng và quang hợp
để tích lũy chất khô vào hạt Thiếu ánh sáng cây mọc vống, kéo dài thời giansinh trưởng, ra hoa chậm và rải rác Riêng quả lạc chỉ phát triển trong điềukiện bóng tối (dưới đất)
Nói chung, trong các yếu tố khí hậu ánh sáng là yếu tố ít ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng và khả năng cho năng suất của lạc hơn các yếu tố sinh tháikhác
Lượng mưa
Lượng mưa trung bình thích hợp cả năm khoảng 1000-1300mm, riêngtrong vụ trồng lạc 500-700mm và được phân bố đều Thời kỳ ra hoa kết quả
Trang 38(ngày thứ 30 đến ngày thứ 80-90 sau khi gieo) lượng mưa dưới 350mm thìcần phải tưới nước.
Đất đai
Cây lạc không yêu cầu khắt khe về mặt độ phì của đất Do đặc điểmsinh lý của lạc, đất trồng lạc luôn phải đảm bảo tơi xốp, để thỏa mãn 3 yêucầu cơ bản của cây lạc:
- Rễ phát triển mạnh cả chiều sâu và chiều ngang
- Đủ oxy cho vi sinh vật nốt sần phát triển và hoạt động cố định N
- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng
- Dễ thu hoạch
Trang 39- Phân bón:
Sử dụng các loại phân: phân chuồng hoai mục, vôi bột, phân đạm ure(46% N), Super lân (16% P2O5), Kaliclorua (60% K2O)
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu
Khu phố 1, thị trấn Hàng Trạm, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong vụ Hè Thu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến một sốchỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến mức độnhiễm sâu bệnh hại
- Nghiên cứu ảnh hưởng tương tác của mật độ và liều lượng đạm bónđến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến hiệuquả kinh tế
Trang 402.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm.
Thí nghiệm gồm 2 nhân tố, được bố trí theo kiểu ô chính ô phụ (SplitBlock Design SBD) với 12 công thức và 3 lần nhắc lại Phân bón bố trí ở ôchính, mật độ bố trí ở ô phụ
- Diện tích ô lớn: cho nhân tố đạm bón: 40 m2
- Diện tích ô nhỏ: Cho nhân tố mật độ: 10 m2
Nhân tố A là lượng phân đạm bố trí ở ô lớn, có 3 mức như sau:
Mức 20 KgN/ha; 40Kg N/ha; 60KgN/ha
Trên nền: 90 Kg P2O5 + 60 K2O +8 tấn phân hữu cơ + 500 kg vôi bộtNhân tố B là mật độ trồng, bố trí ở ô nhỏ Có 4 mức như sau:
+ M1:mật độ 22 cây/m2, khoảng cách trồng 30 cm x 15 cm/ 1 hạt+ M2: mật độ 28 cây/m2, khoảng cách trồng 30 cm x 12 cm/ 1 hạt
CTC
T2
CT
CTC
T3
CT
CTC
T4
CTCT