Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa đối xứng trong tiếng Việt .... Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt ....
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
WATCHAREE PROMUBON
THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ “MẶT” TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG THÁI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
WATCHAREE PROMUBON
THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ “MẶT” TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG THÁI)
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số tài liệu, kết quả đưa ra là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học nêu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu phát hiện có sự giân lận, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình./
Tác giả luận văn
Watcharee Promubon
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với cô Nguyễn Thị Nhung, người đã tận tình hướng dẫn viết luận văn này Em cũng gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo đã giảng dạy, tổ bộ môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong học tập và nghiên cứu Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, học viên lớp Cao học Ngôn ngữ khóa 24 đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn./
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Watcharee Promubon
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của luận văn 3
6 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lí luận về thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt, tiếng Thái 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Việt và tiếng Thái với thành ngữ trong các ngôn ngữ khác 8
1.2 Một số khái niệm ngôn ngữ học có liên quan đến đề tài 11
1.2.1 Ẩn dụ tu từ 11
1.2.2 So sánh tu từ 12
1.3 Khái quát về thành ngữ tiếng Việt 13
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt, giá trị của thành ngữ 13
1.3.2 Phân loại thành ngữ tiếng Việt 15
1.4 Khái quát về thành ngữ tiếng Thái 22
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ tiếng Thái 22
Trang 61.4.2 Phân loại thành ngữ tiếng Thái 23
1.5 Vấn đề nghiên cứu đối chiếu từ và thành ngữ 25
1.5.1 Nghiên cứu đối chiếu về từ 25
1.5.2 Nghiên cứu đối chiếu về nghĩa của từ 25
1.5.3 Nghiên cứu đối chiếu từ và thành ngữ trong luận văn 26
1.6 Tiểu kết chương một 27
Chương 2: CÁC THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ “MẶT” TRONG TIẾNG VIỆT XÉT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CẤU TRÚC 29
2.1 Giới thiệu chung 29
2.2 Nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa trong tiếng Việt 31
2.2.1 Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa đối xứng trong tiếng Việt 31
2.2.2 Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa phi đối xứng trong tiếng Việt 39
2.3 Các thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc so sánh trong tiếng Việt 43
2.3.1 Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc so sánh đối xứng trong tiếng Việt 43
2.3.2 Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc so sánh phi đối xứng trong tiếng Việt 45
2.4 Tiểu kết chương 2 49
Chương 3: CÁC THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ “MẶT” TRONG TIẾNG VIỆT XÉT VỀ Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG THÁI) 52
3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt 52
3.1.1 Nhận xét chung 52
3.1.2 Miêu tả các nhóm nghĩa 54
3.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Thái 59
3.2.1 Nhận xét chung 59
Trang 73.2.2 Miêu tả các nhóm nghĩa 60
3.3 Sự tương đồng và khác biệt về nghĩa của từ mặt và nghĩa của các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt và tiếng Thái 64
3.3.1 Sự tương đồng và khác biệt về nghĩa của từ “mặt” trong tiếng Việt và tiếng Thái 64
3.3.2 Sự tương đồng và khác biệt về nghĩa của các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt và tiếng Thái 66
3.4 Một số đặc điểm về tư duy, ngôn ngữ và văn hóa biểu thị qua các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt và tiếng Thái 68
3.5 Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt về mặt
cấu trúc 29
Bảng 2.2 Phân loại các thành ngữ có yếu tố “mặt”mang cấu trúc ẩn dụ
hóa đối xứng trong tiếng Việt 33
Bảng 2.3 Các thành ngữ có yếu tố “mặt” ẩn dụ hóa đối xứng đẳng kết, hội
nghĩa trong tiếng Việt 35
Bảng 2.4 Các thành ngữ có yếu tố “mặt” ẩn dụ hóa đối xứng phi đẳng kết,
không hội nghĩa trong tiếng Việt 38
Bảng 2.5 Phân loại thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa
phi đối xứng trong tiếng Việt 40
Bảng 2.6 Các mô hình cấu tạo của thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu
trúc so sánh phi đối xứng trong tiếng Việt 46
Bảng 3.1 Các nhóm ngữ nghĩa của những thành ngữ có yếu tố “mặt” trong
tiếng Việt 53
Bảng 3.2 Các nhóm ngữ nghĩa của những thành ngữ có yếu tố “mặt” trong
tiếng Thái 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ, có số lượng phong phú, cấu tạo đa dạng, có giá trị tăng cường tính nghệ thuật cho câu nói, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày Thành ngữ góp phần làm phong phú hóa vốn từ vựng, góp phần tăng cường hiệu quả giao tiếp Thành ngữ của mỗi dân tộc còn có thể phản ánh đặc trưng ngôn ngữ,
tư duy, văn hóa của dân tộc đó Tìm hiểu thành ngữ của mỗi cộng đồng, có thể thấy được những đặc trưng của ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc, đặc điểm môi trường thiên nhiên, phong tục, tôn giáo, của dân tộc đó nữa
1.2 Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ giữa các dân tộc có vai trò quan trọng Nó giúp người nghiên cứu có thể phát hiện ra những điểm thống nhất và khác biệt về tư duy, ngôn ngữ, văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc Đó là việc làm cần thiết với xu thế hiện nay - xu thế của hợp tác và phát triển, khi ranh giới văn hóa giữa các quốc gia đang dần xích lại gần nhau
1.3 Tuy vậy, thành ngữ thường không giành được sự quan tâm đáng kể trong các công trình về từ vựng học hay định danh học, và cũng ít được bàn đến với tư cách một đối tượng nghiên cứu trong các công trình tìm hiểu về văn học dân gian Việc nghiên cứu nhóm thành ngữ cùng có chung một yếu tố ngôn ngữ nào đó cũng chưa được quan tâm nhiều Trong khi những nghiên cứu về các thành ngữ cùng nhóm như vậy có thể giúp nắm được cách dùng một yếu tố ngôn ngữ nào đó trong thành ngữ, ảnh hưởng của yếu tố đó trong việc tạo nên ý nghĩa của thành ngữ, việc phản chiếu những đặc trưng về cấu trúc của thành ngữ nói chung trong nhóm thành ngữ đó Việc đối chiếu nhóm thành ngữ có cùng một yếu tố ngôn ngữ đó với nhóm tương ứng trong ngôn ngữ khác có thể giúp thấy được phần nào những tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, tư duy, văn hóa giữa các dân tộc
Trang 10Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi đã chọn đề tài
“Thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Thái )” Hi
vọng, công trình sẽ góp phần giúp hiểu sâu hơn về thành ngữ tiếng Việt, tiếng Thái cũng như văn hóa, tư duy của hai dân tộc Việt Nam, Thái Lan
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc làm rõ các đặc điểm về các mặt số lượng, cấu tạo của nhóm
thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt; đối chiếu làm rõ những điểm
tương đồng và khác biệt giữa nhóm thành ngữ đó với nhóm thành ngữ tương ứng trong tiếng Thái về mặt ngữ nghĩa; có thể nắm vững hơn về cách tạo lập và gián trị của thành ngữ tiếng Việt, tiếng Thái; đồng thời việc phân tích, đối chiếu nhằm có thêm hiểu biết về ngôn ngữ, tư duy, văn hóa của hai cộng đồng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Các mục tiêu trên đã đặt ra những nhiệm vụ chính cho người nghiên cứu
đề tài là:
Thứ nhất, xác định tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài
Thứ hai, phân tích đặc điểm về số lượng, cấu trúc của nhóm thành ngữ
có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt
Thứ ba, phân tích, đối chiếu đặc điểm ý nghĩa và giá trị biểu hiện các đặc
trưng ngôn ngữ, tư duy, văn hóa của nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” trong
tiếng Việt và tiếng Thái
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành ngữ có yếu tố “mặt” trong
tiếng Việt và tiếng Thái
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những phương diện: số lượng, cấu trúc,
ý nghĩa và giá trị biểu hiện đặc trưng ngôn ngữ, tư duy, văn hóa của các thành
ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt và tiếng Thái
Trang 113.3 Phạm vi khảo sát
Các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt đã được Hoàng Văn Hành sưu tập trong cuốn sách Thành ngữ học tiếng Việt (NXB Khoa học Xã hội, 2008) và bổ sung thêm một số ít thành ngữ có yếu tố “mặt” ở các cuốn từ
điển khác
Các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Thái đã được Khun Vijit Matra sưu tập trong cuốn sách Sum Nuôn Thai (Thành ngữ tiếng Thái), NXB
Khạ- nạ Wattanatham lệ Pha - Sa, Bangkok (2000)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả
Để nghiên cứu đề tài, phương pháp chủ yếu được chúng tôi vận dụng là phương pháp miêu tả với các thủ pháp sau: thủ pháp thống kê toán học; thủ pháp phân loại và hệ thống hóa; thủ pháp phân tích nghĩa tố; thủ pháp chuyển đổi,
bổ sung
Các thủ pháp này sẽ giúp làm rõ các đặc trưng về mặt số lượng, cấu trúc,
ý nghĩa và giá trị biểu hiện của các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt;
và ý nghĩa, giá trị biểu hiện của các thành ngữ tương ứng trong tiếng Thái
4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Nhằm tìm ra sự thống nhất và khác biệt giữa các thành ngữ có yếu tố
“mặt” trong tiếng Việt và bộ phận tương ứng trong tiếng Thái về ý nghĩa, giá
5.2 Về thực tiễn
Công trình có thể trở thành tài liệu tham khảo cho việc dạy và học về thành ngữ, tài liệu tham khảo cho những người làm công tác dịch thuật và
Trang 126 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương như dưới đây:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt xét về số
lượng và cấu trúc
Chương 3: Các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt xét ý nghĩa
và giá trị biểu hiện (có đối chiếu với tiếng Thái)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lí luận về thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt, tiếng Thái
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu lí luận về thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt
Đã có một số công trình đề cập đến thành ngữ tiếng Việt một cách khái quát hoặc chỉ đi sâu tìm hiểu một phương diện nào đó của thành ngữ
Việc tìm hiểu khái quát về thành ngữ thường là một bộ phận nội dung trong những công trình nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt Các công trình này đề cập đến thành ngữ như một bộ phận của cụm từ/ ngữ cố định Và ngữ cố định
nằm trong vốn từ vựng (bên cạnh vốn từ) Chẳng hạn, Từ vựng - ngữ nghĩa
học tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu (NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1981) đã
quan tâm đến khái niệm, đặc trưng, vai trò của thành ngữ, sự phân loại thành
ngữ (dựa vào nguồn gốc và kết cấu ngữ pháp) Cuốn Từ và Từ vựng học tiếng
Việt của Nguyễn Thiện Giáp (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009) cùng đề cập tới
thành ngữ ở những vấn đề cơ bản như định nghĩa, phân loại thành ngữ (theo cơ chế cấu tạo hòa kết, hợp kết), phân biệt thành ngữ với ngữ định danh và cụm từ
Thuận Thành (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2 (87+88), 2003) Một số
bài báo của tác giả Nguyễn Thị Tân thì giúp nhận diện, tìm hiểu một bộ phận của thành ngữ gốc Hán- bộ phận khó nắm bắt hơn cả trong thành ngữ tiếng Việt
Trang 1412 (175), 2003); “Thành ngữ Hán Việt: Khái niệm và phân loại” (Tạp chí Ngôn
ngữ & đời sống, 6/2015) Vấn đề nguồn gốc của thành ngữ cũng được quan tâm
qua “Về cơ sở hình thành thành ngữ tiếng Việt” của Đỗ Thị Thu Hương (Tạp chí Ngôn ngữ, số 7 (175), 2017) Ngữ nghĩa và việc sử dụng thành ngữ tiếng
Việt thì được đề cập tới trong những công trình như: “Thử phân tích ba thành
ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt” của Phan Hồng Liên (Ngữ học trẻ 2006, NXB
ĐH Quốc gia Hà Nội); “Giá trị biểu đạt của thành ngữ trong truyện ngắn đồng
bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Thụy Thùy Dương, (Tạp chí Ngôn ngữ &
đời sống, Số 8/2016)
Nhưng tiêu biểu nhất trong số các công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt phải kể đến là các chuyên luận
Công phu và toàn diện hơn cả có lẽ là chuyên luận Thành ngữ học tiếng
Việt (NXB Khoa học xã hội, 2008) của tác giả Hoàng Văn Hành Với gần 300
trang, chuyên luận đã đề cập nhiều vấn đề sâu sắc về sự nhận diện, nguồn gốc,
sự phân loại thành ngữ tiếng Việt Đặc biệt, chuyên luận đã đi sâu miêu tả các nhóm thành ngữ tiếng Việt phân loại theo phương thức tạo nghĩa (phép so sánh, phép ẩn dụ) và theo tính đối xứng Bên cạnh đó, chuyên luận cũng dành hơn nửa số trang cho việc sưu tập 3 kiểu thành ngữ là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng và thành ngữ so sánh Có hai chuyên luận tập trung vào những câu chuyện về nguồn gốc, sự hình thành của một số
câu thành ngữ trong tiếng Việt là Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (Hoành Văn Hành, NXB KHXH, 2002); và Những câu chuyện thành ngữ (Cao
Minh Đức chủ biên, NXB Văn hóa dân tộc, 2000)
1.1.1.2 Các công trình sưu tầm thành ngữ tiếng Việt
Bên cạnh tác giả Hoàng Văn Hành (với “Thành ngữ học tiếng Việt”,
NXB Khoa học xã hội, 2008), đã có nhiều tác giả khác quan tâm tới việc sưu
tầm thành ngữ tiếng Việt Đó là Nguyễn Lân với “Từ điển thành ngữ và tục
ngữ Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội, 1989); Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn
Trang 15Khang, Phan Văn Thành với Từ điển thành ngữ Việt Nam (NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994); Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào với Từ điển thành ngữ và
tục ngữ Việt Nam (NXB Văn hoá, Hà Nội, 1995); Viện ngôn ngữ học với Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1998); Nguyễn Lực,
Lương Văn Đang với Thành ngữ Việt Nam (NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội, 2002); Một tác phẩm dày dặn cũng rất đáng chú ý là Từ điển thành ngữ, tục
ngữ Việt Nam trong hành chức (trên tư liệu truyện ngắn và tiểu thuyết) (Đỗ Thị
Kim Liên chủ biên, NXB KHXH, HN, 2015) Với hơn 800 trang, cuốn sách không chỉ giúp người đọc tìm thấy hầu hết các câu thành ngữ của người Việt
mà còn nắm được ngữ nghĩa và học được cách sử dụng chúng qua những ví dụ
về sự vận dụng thành ngữ của các tác giả văn học hiện đại
1.1.1.3 Tình hình nghiên cứu lí luận về thành ngữ trong tiếng Thái
Đã có một số công trình nghiên cứu sâu về thành ngữ tiếng Thái Đó là
công trình Sự thay đổi của lời nói và thành ngữ tiếng Thái (NXB Đại học Chulalongkon, Bangkok, 1996) của Khaisiri Pramot Na Ayutthaya Công trình
đã đề cập đến sự hình thành, khái niệm, đặc điểm và sự phân loại thành ngữ tiếng Thái Bên cạnh đó có công trình “Thành ngữ tiếng Thái để phát triển kỹ
năng ngôn ngữ giao tiếp” (Tạp chí Trường Đại học Narathiwat
Ratchanakharin, số 2, 5/ 2010) của tác giả Sahathai Chaiyapan, M.A Công
trình đã đề cập đến lịch sử thành ngữ tiếng Thái, sự xuất hiện của thành ngữ tiếng Thái, đặc điểm, sự phân loại, giá trị của thành ngữ tiếng Thái Ngoài ra, người đọc sẽ có sự hiểu biết về cách sử dụng thành ngữ tiếng Thái trong mọi kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nói trong giao tiếp hàng ngày
Tìm hiểu về sức hấp dẫn trong sử dụng của thành ngữ tiếng Thái có bài
báo “Hàng trăm thành ngữ Thái” (Tạp chí Ngôn ngữ tiếng Thái, số 3(1):88
(1996) của tác giả Sỉikan
1.1.1.4 Các công trình sưu tầm thành ngữ tiếng Thái
Đã có một số công trình sưu tầm thành ngữ tiếng Thái Chẳng hạn, Sum
Trang 16Bangkok, 2000) của tác giả Khun Vijit Matra (Sanga Kanjanakphan) đã sưu tầm và giải nghĩa 1500 câu thành ngữ tiếng Thái Công trình còn giúp người đọc có thể tìm thấy được đôi nét về đặc điểm, sự xuất hiện thành ngữ tiếng Thái
và phân loại thành ngữ tiếng Thái Bên cạnh đó là cuốn Sum Nuôn Thai (Thành
ngữ tiếng Thái) (NXB Ratchabunđịt Sa - Than, Bangkok 2010) của
Ratchabunđịt Sa – Than Với 123 trang, cuốn sách đã sưu tầm 644 câu thành ngữ tiếng Thái
1.1.2 Tình hình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Việt và tiếng Thái với thành ngữ trong các ngôn ngữ khác
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Việt với thành ngữ của một số ngôn ngữ khác
Thành ngữ tiếng Việt đã được nghiên cứu đối chiếu với thành ngữ của một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Thái
Phổ biến nhất là những công trình nhỏ nghiên cứu đối chiếu một bộ phận
thành ngữ tiếng Việt với bộ phận thành ngữ tương ứng trong tiếng Anh Chẳng
hạn, “Thành ngữ chứa động từ biểu thị hoạt động cơ bản của mắt/eyes trong tiếng Việt và tiếng Anh” của Trần Thị Hải Bình (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống,
Số 2/ 2016); và “Thành ngữ so sánh có yếu tố chỉ động vật biểu thị hoạt động
ăn và uống trong tiếng Anh và tiếng Việt” của Lê Văn Thanh (Tạp chí Từ điển
học & Bách khoa thư, Số 3, 5/ 2015) Một số bài báo thì tập trung tìm hiểu ngữ
nghĩa của các thành ngữ được đối chiếu như: “Một số đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt chứa từ chỉ kim loại” của Lương Quý
Khương, Võ Ngọc Ánh (Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, Số 3, 5/ 2013);
“Thành tố ngữ nghĩa của thành ngữ đối xứng trong tiếng Anh và tiếng Việt”
của Đặng Nguyên Giang, Nguyễn Văn Minh (Tạp chí Từ điển học & Bách
khoa thư, Số 3, 5/ 2015) Bên cạnh đó là những bài báo hướng tới việc tìm hiểu
giá trị văn hóa dân tộc qua hoạt động nghiên cứu, đối chiếu thành ngữ Đó là 2 bài báo: “Nét văn hóa dân tộc trong thành ngữ so sánh ngang bằng tiếng Anh
Trang 17(đối chiếu với tiếng Việt)” (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, Số 9/ 2014) và “Đặc
trưng văn hóa dân tộc trong thành ngữ so sánh ngang bằng tiếng Anh và tiếng
Việt có chứa yếu tố chỉ động vật” (Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, Số 6,
11/ 2014) của Hoàng Tuyết Minh
Thành ngữ tiếng Việt cũng được nghiên cứu đối chiếu với thành ngữ tiếng Nga và tiếng Nhật qua công trình của Nguyễn Xuân Hòa và Nguyễn Tô Chung Nguyễn Xuân Hòa có “Tiếp cận nguồn gốc và cách sử dụng nhóm thành ngữ phản ánh nền văn hóa dân tộc, lịch sử và phong tục tập quán dân tộc
(trên cứ liệu thành ngữ Nga và thành ngữ Việt)”, (Tạp chí Ngôn ngữ, (số 3
(178), 2004) Nguyễn Tô Chung có “Một số nhận xét về thành ngữ đối bốn
thành tố Nhật gốc Hán” (qua so sánh với thành ngữ Việt)” (Tạp chí Ngôn ngữ
& đời sống, số 9 (95), 2003) và “Một số nhận xét về thành ngữ đối bốn thành tố
Nhật gốc Hán (qua so sánh với thành ngữ Việt)” (Tạp chí Ngôn ngữ & đời
sống, số 9 (95), 2003)
Và một bộ phận không thể không quan tâm tới, đó là bộ phận nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Việt với thành ngữ tiếng Thái Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, tác giả Nguyễn Thị Vân Chi đã có bài báo “Tìm hiểu về con
người Thái Lan thông qua thành ngữ, tục ngữ”, (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống
số 11/ 2014) Tác giả cho rằng; nghiên cứu thành ngữ, có thể hiểu được phần nào về tính cách, lối sống hay nói rộng hơn chính là cách ứng xử của người Thái Lan với môi trường xã hội Con người Thái Lan với tính cách hiền hòa, linh hoạt, mềm dẻo giúp cho mọi người giữ được hòa khí nhưng cũng có mặt hạn chế là sự không thành thật, thẳng thắn, hay có thái độ né tránh khiến cho đối phương không hiểu được thực chất và dễ hiểu lầm Đây là tính hai mặt trong tính cách và lối sống của người Thái Lan Việc hiểu được các đặc điểm
về văn hóa, đất nước, con người của Thái Lan sẽ giúp chúng ta có những cách thức tiếp tiếp cận, giao lưu với đối tác một cách thuận lợi Điều này sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động hợp tác về mọi lĩnh vực giữa Việt Nam và Thái
Trang 18Lan để tiến tới sự hội nhập toàn diện trong khu vực Điều này thực sự cần thiết trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập trong năm 2015
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Thái với thành ngữ trong các ngôn ngữ khác
Thành ngữ tiếng Thái đã được nghiên cứu đối chiếu với thành ngữ của một
số ngôn ngữ khác như tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Khmer
Một công trình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Thái với thành ngữ
tiếng Trung Quốc là Thành ngữ tiếng Trung Quốc và thành ngữ tiếng Thái:
Nghiên cứu đối chiếu (luận văn thạc sĩ của Chin Ying Lin Đại học
Julalongkron, Bangkok, 1983) Luận văn đã đề cập khái niệm thành ngữ, đối
chiếu sự khác nhau và giống nhau của thành ngữ tiếng Trung Quốc với thành ngữ tiếng Thái về mặt ý nghĩa và cấu trúc
Công trình Thành ngữ liên quan đến động vật trong tiếng Thái và tiếng
Anh (Đại học Tecnologyratchamongkol, Bangkok, 2009) của Khoa Ngữ Văn,
chuyên ngành tiếng Thái, Đại học Tecnologyratchamongkol đã nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Thái với thành ngữ tiếng Anh liên quan đến động vật về
ý nghĩa và cấu trúc ngữ pháp Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Thái và
thành ngữ tiếng Khmer có luận văn tốt nghiệp đại học Sự so sánh thành ngữ
tiếng Khmer và tiếng Thái (NXB Đại học Sinlapakon, Bangkok, 2015) của
Pitchada Phakakrong Công trình đã so sánh đặc điểm, cấu trúc, ý nghĩa giá trị
sử dụng của thŕnh ngữ tiếng Khmer với tiếng Thái
Bŕi báo “Nghięn cứu so sánh hěnh ảnh, khái niệm của con người trong
thành ngữ tiếng Thái và tiếng Pháp” (Tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Srinakharin Tharavirot, Bangkok, số 1+20, 2013) của Chanikan
Wongpiya thì nghiên cứu đối chếu thành ngữ tiếng Thái với thành ngữ tiếng Pháp Ở đây, công trình đã nghiên cứu đối chiếu về hình ảnh của con người, và khái niệm con người trong thành ngữ tiếng Thái và tiếng Pháp
Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng Việt và đối chiếu với thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng Thái về
ngữ nghĩa
Trang 191.2 Một số khái niệm ngôn ngữ học có liên quan đến đề tài
1.2.1 Ẩn dụ tu từ
Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này (B) dùng để gọi thay cho đối tượng kia (A) dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng
“Ẩn dụ thực chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giản lược đi chỉ còn lại vế so sánh Như vậy, phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa để gọi tên của đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét
nghĩa tương đồng nào đó” [33, tr 194-196]
Ví dụ: Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông dường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu…
(Xuân Quỳnh)
Các nét tương đồng giữa hai đối tượng có thể là màu sắc, tính chất,
trạng thái,…Trong ví dụ trên, thuyền được sử dụng để gọi thay cho người con trai vì giữa chúng có điểm tương đồng về tính chất linh hoạt Biển được sử
dụng để gọi thay cho người con gái vì giữa chúng có điểm tương đồng về trạng thái tĩnh
Ẩn dụ không chỉ có giá trị hình tượng, là phương tiện xây dựng hình
tượng mà còn hàm chứa sức mạnh biểu cảm
Ẩn dụ tu từ cần được phân biệt với ẩn dụ từ vựng, đó là hình thức chuyển đổi tên gọi (gọi tên lại, định danh lại) cho sự vật, hiện tượng trên cơ sở so sánh ngầm, trong đó các sự vật, hiện tượng có thể giống nhau về vị trí, hình thức, chức năng, cảm giác
VD: cổ chai; chân bàn; lá phối, tay quay…
Ẩn dụ từ vựng không phải là đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 20như như
Chồng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng
b) Bớt cơ sở (thuộc tính) so sánh:
Ai về ai ở mặc ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh
c) Tỉnh lược từ so sánh
Gái thương chồng, đương đông buổi chợ…
d) Thêm “bao nhiêu”, “bấy nhiêu”:
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu
Trang 21e) Dùng “là” làm từ so sánh
Đây là loại so sánh ẩn dụ Gọi như vậy là vì “là” có chức năng liên hệ
so sánh ngầm mà không phải “là” trong kiểu câu tường giải khái niệm:
Gió thổi là chổi trời; Nước mưa là cưa trời
Theo Cù Đình Tú, “so sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng Trong so sánh luận lý, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự
so sánh là xác lập sự hơn, kém giữa hai đối tượng” [70, tr 272],
Trong so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng (theo [70, 272])
1.3 Khái quát về thành ngữ tiếng Việt
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt, giá trị của thành ngữ
1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt
Ngoài các từ đơn và từ phức, từ vựng tiếng Việt còn có những kết cấu ổn định về cấu tạo, có nghĩa và được dùng như một đơn vị để tạo thành phần câu,
tức có chức năng như từ Đó là những ngữ cố định (cụm từ có cố định)
Ngữ cố định có hai loại: quán ngữ và thành ngữ
Quán ngữ là những ngữ cố định có cấu tạo và ngữ nghĩa không khác gì
ngữ tự do, nhưng được dùng nhiều trong lời nói như những “công thức” có sẵn
Ví dụ: rõ ràng là; nghĩ cho cùng; của đáng tội; nói toám lại; chẳng
qua là…
Thành ngữ là “là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu
trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp
hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [18, tr 31] Ví dụ: cò bay thẳng cánh;
nhắm mắt xuôi tay; nát như tương; ngang như cua,…
Trang 22Theo Bùi Tất Tươm [72, tr.150- 151], nghĩa của thành ngữ nói chung là nghĩa toàn khối chứ không phải nghĩa hợp kết của các thành tố Ngay trong
những thành ngữ như rách như tổ đỉa; gạo trắng nước trong cũng không thể
chỉ hiểu nghĩa đen như thế Nghĩa toàn khối càng rõ hơn ở những thành ngữ
như chuột sa chĩnh gạo; rán sành ra mỡ trong đó phép ẩn dụ và phép thậm
xưng là điểm nổi bật của phương thức tạo nghĩa Nhận xét này về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ cũng là một căn cứ quan trọng để phân biệt thành ngữ với ngữ tự do
Cấu tạo của thành ngữ có thể là một đoản ngữ (múa tay trong bị), một kết cấu chủ - vị (chuột sa chĩnh gạo) hoặc một liên hợp đoản ngữ (xanh vỏ đỏ
lòng), liên hợp kết cấu chủ - vị (quýt làm càm chịu) Cấu tạo của đoản ngữ có
tính gọt giũa, thể hiện ở số lượng yếu tố chọn lọc và cách tổ chức vần và đối
Thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu vững chắc, ổn định Nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa của các yếu tố cấu thành lại mà thường mang tính hình tượng, tính bóng bẩy và gợi cảm Các đặc tính này khiến cho thành ngữ trở thành đơn vị tương đương với từ, có chức năng như từ,
có thể thay thế từ Thành ngữ gồm có những đơn vị mang nghĩa hình tượng
chung, trong đó tất cả các từ vị tạo ra nó đều mất nghĩa đen (như tuần trăng
mật; há miệng mắc quai; đèn nhà ai nấy rạng,…) và những đơn vị mang nghĩa
hình tượng bộ phận, trong đó có một phần mất nghĩa đen và một phần vẫn giữ
được nghĩa đen (như giết thời gian; sách gối đầu giường; )
1.3.1.2 Giá trị của thành ngữ
Cũng theo Bùi Tất Tươm [72, tr.198- 199], thành ngữ góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa cái vô hạn của những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan cần ngôn ngữ biểu thị, với cái hữu hạn của những phương tiện ngôn ngữ Mặt khác thành ngữ còn là loại phương tiện khắc phục tính thiếu hàm súc, không cô đọng của các phương tiện lời nói khi biểu thị thực tế khách quan, biểu thị tình cảm cảm xúc con người
Trang 23Bên cạnh đó, mỗi thành ngữ như một bức tranh nho nhỏ về các sự vật, sự việc cụ thể được nân lên để nói cái phổ biến, khái quát trừu tượng bằng các biện pháp như ẩn dụ, so sánh Như vậy nghĩa của thành ngữ có tính biểu trưng cao Một đặc điểm khác cũng rất nổi bật của thành ngữ là tính hình tượng và tính bóng bẩy, giàu màu sắc văn chương, giúp gây ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc, người nghe Nó còn giúp người sử dụng ngôn ngữ bày tỏ tình cảm, thái độ của mình một cách thích hợp, đúng lúc bởi các thành ngữ thường kèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá, của người sử dụng với sự vật hiện tượng được nói tới
Tóm lại thành ngữ là một mảng không thể thiếu góp phần đáng kể vào vốn từ vựng của một ngôn ngữ, mang đến sự súc tích, sự sinh động, tính biểu cảm tạo sức sống, sức hấp dẫn, tính thuyết phục cho lời nói
1.3.2 Phân loại thành ngữ tiếng Việt
1.3.2.1 Phân loại thành ngữ tiếng Việt dựa vào cách thức cấu tạo
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [15, tr 589] đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép và phân thành ngữ thành các loại: thành ngữ kết hợp và thành ngữ hòa kết
+ Nó cũng được hình thành nhờ sự kết hợp của hai thành tố nghĩa biểu
thị những mặt riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn đạt Ví dụ: áo mảnh
quần manh; mẹ góa con côi; mẹ vò con nhện; ông chẳng bà chuộc;…
Trang 24Cơ chế cấu tạo của những thành ngữ kiểu này tương tự với các cơ chế
cấu tạo của các ngữ định danh kiểu như: vui sướng, thành bại; cay đắng;
gặt hái; rau quả…
b) Thành ngữ hòa kết
Cơ chế cấu tạo của loại này tương tự như cơ chế cấu tạo của các ngữ định danh hòa kết Nghĩa là nó cũng được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ
toàn bộ Ví dụ, thành ngữ chó ngáp phải ruồi có ý nghĩa chung, biểu thị sự gặp
may Có thể nói ý nghĩa của từng từ đã hòa vào nhau để biểu thị một khái niệm mới, vì thế thành ngữ có tính tổng hợp về nghĩa
1.3.2.2 Cách phân loại thành ngữ tiếng Việt dựa vào phương thức tạo nghĩa và tính đối xứng
Theo Hoàng Văn Hành [18, tr 52- 115], dựa vào phương thức có thể chia thành ngữ tiếng Việt thành 2 nhóm lớn là thành ngữ ẩn dụ hóa và thành ngữ so sánh
A Thành ngữ ẩn dụ hóa
a Khái quát về thành ngữ ẩn dụ hóa
* Khái niệm, đặc điểm:
Thành ngữ ẩn dụ hóa là nhóm thành ngữ có nghĩa biểu trưng được tạo thành nhờ phép ẩn dụ Đây là nhóm thành ngữ phổ biến nhất trong thành ngữ tiếng Việt
Chẳng hạn, lá ngọc cành vàng là thành ngữ chỉ những người thuộc họ
nhà vua, dòng dõi quý tộc nhờ phép ẩn dụ Tức ở đây có việc sử dụng tên gọi
của yếu tố B là lá ngọc và cành vàng để gọi thay cho yếu tố A họ nhà vua,
dòng dõi quý tộc bởi giữa B và A có điểm tương đồng: đều có tính cao sang, quyền quý
* Phân loại: Dựa vào tính đối xứng, có thể chia thành ngữ ẩn dụ hóa thành hai nhóm nhỏ là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
Trang 25b Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
* Khái niệm, đặc điểm:
- Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là loại thành ngữ ẩn dụ, đồng thời được cấu tạo theo quy tắc đối và điệp giữa các thành tố như: một nắng hai sương; ba
cọc ba đồng Nhóm thành ngữ này phổ biến nhất, chiếm tới 2/3 tổng số thành ngữ
tiếng Việt
- Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thành ngữ đối xứng được thiết lập nhờ vào những thuộc tính nhất định về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các yếu tố được đưa vào trong hai vế đó Phép đối xứng ở đây được xây dựng dựa trên cả hai bình diện, bình diện đối ý và đối lời Đối ý là sự đối xứng giữa hai vế của
thành ngữ với nhau về ý Ví dụ, đó là sự đối xứng giữa đầu voi và đuôi chuột trong thành ngữ đầu voi đuôi chuột
Quan hệ đối xứng về ý có được và thể hiện ra được là nhờ có các quan
hệ đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của thành ngữ Quan hệ này được gọi
là quan hệ đối lời Trong thành ngữ mẹ tròn con vuông, sở dĩ ta nhận ra quan hệ
đối ý (sau khi sinh) mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh là nhờ
có quan hệ đối xứng giữa các yếu tố mẹ với con; tròn với vuông
* Phân loại: Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng có thể được chia thành các kiểu nhỏ dựa vào kiểu quan hệ: đẳng kết hay phi đẳng kết
- Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng mà hai vế có quan hệ đẳng kết được gọi
là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng đẳng kết Ví dụ: đầu trâu mặt ngựa; xương
đồng da sắt Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng mà hai vế có quan hệ phi đẳng kết
được gọi là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng phi đẳng kết
- Các thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng đẳng kết đồng thời cũng có đặc điểm hội nghĩa, tức hai vế đẳng lập có thể đảo trật tự, có sự hợp nhất các nét nghĩa tương đồng tạo nên tính khái quát về nghĩa Vì vậy, các thành ngữ này còn
được gọi là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng đẳng kết hội nghĩa Kiểu này lại bao gồm 3 kiểu nhỏ:
Trang 26+ Hội nghĩa tương đẳng: tức hai vế A và B có vai trò tương đẳng trong
quá trình hội nghĩa Ví dụ: lá mặt lá trái; khoa chân múa tay
+ Hội nghĩa trội: tức một trong hai vế (A hoặc B) có vai trò trội hơn
trong quá trình hội nghĩa.Ví dụ: mát mày mát mặt; xui khôn xui dai
+ Hội nghĩa tuyển: tức có sự lựa chọn một trong hai khả năng ở một
trong hai vế Ví dụ: một sống một chết; một mất một còn
- Các thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng phi đẳng kết đồng thời cũng có đặc điểm không hội nghĩa, tức hai vế có vẻ như đẳng lập nhưng các vế không thể đảo trật tự, một vế có vai trò chủ hướng về ngữ pháp, ngữ nghĩa, vế còn lại có vai trò phụ hướng, phụ trợ cho vế kia Vì vậy, các thành ngữ này còn được gọi
là thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng phi đẳng kết, không hội nghĩa Kiểu này cũng
bao gồm 3 kiểu nhỏ:
+ Hai vế có quan hệ nhân quả: Giữa hai vế có thể thêm các từ như: thì,
tất, sẽ, nên Ví dụ: nhiều khế (tất) ế chanh; tin bợm (nên) mất bò;
+ Hai vế có quan hệ mục đích: Giữa hai vế có thể thêm các từ như: để,
cốt, nhằm theo đóm (để) ăn tàn; kéo cày (cốt) trả nợ;
+ Hai vế có quan hệ thể cách: Có thể thêm các từ như: bằng, bằng cách vào kiểu thành ngữ này Ví dụ: nhắm mắt làm ngơ-> làm ngơ (bằng cách)
nhắm mắt; quẩy trứng đầu gậy-> quẩy trứng (bằng cách để) đầu gậy
c Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
* Khái niệm, đặc điểm:
- Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng (còn gọi là thành ngữ thường) là
thành ngữ ẩn dụ hóa không có tính đối xứng về mặt cấu trúc Chúng được cấu tạo như những cấu trúc ngữ pháp bình thường
- Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có thể được tạo nên bằng những kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm, tức là kết cấu chủ - vị Về mặt cấu trúc, chúng
là những đơn vị được tạo nên bằng những kết cấu chủ - vị Vị ngữ có thể là
động từ hoặc tính từ, ví dụ: đeo mo vào mặt; mặt sắt đen sì…
Trang 27* Phân loại:
- Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có thể phân loại dựa vào kiểu kết
cấu ngữ pháp thành hai kiểu là: Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có kết cấu
là ngữ và thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có kết cấu là cụm chủ - vị
- Kiểu thứ nhất lại có thể phân biệt thành 3 kiểu nhỏ là:
+ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có kết cấu là danh ngữ như: anh
hùng rơm; bạn nối khố; cá đối bằng đầu;…
+ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có kết cấu là động ngữ như: ăn
cơm thiên hạ; ăn cướp cơm chim; ăn ở hai lòng;…
+ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có kết cấu là tính ngữ như: gan cóc
tía; gan lì (liền) tướng quân; gàn bát sách;…
- Kiểu thứ hai- thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có cấu trúc là một kết
cấu chủ - vị là các thành ngữ như: anh hùng mạt lộ; anh hùng không có đất
dụng võ; bụt chùa nhà không thiêng;…
- Cấu trúc đầy đủ của phép so sánh là AxyB (hay AxyBx’) Trong đó, A
là cái được so sánh, x, x’ là phương diện được so sánh của A hoặc B, y là từ so sánh, B là cái so sánh
Trong số các yếu tố so sánh thì x- phương diện đem ra để so sánh của A hoặc B là yếu tố có thể khuyết mà không phương hại đến ý nghĩa so sánh Các yếu tố còn lại đều phải đảm bảo thì mới tạo nên ý nghĩa so sánh cho thành ngữ Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, để đảm bảo tính hàm súc, các yếu tố A và y
có thể bị tỉnh lược, nhưng khôi phục được nhờ văn cảnh
Trang 28Do vậy, thành ngữ so sánh có thể tồn tại dưới 13 dạng cấu tạo như sau:
1- AxyBx’, ví dụ: chuyện nở như bắp rang
Trang 29Nếu Hoàng Văn Hành [18, tr 103] chỉ coi các thành ngữ có y- từ so sánh
là thành ngữ so sánh thì chúng tôi quan niệm rộng hơn: coi trong thành ngữ so sánh có cả những trường hợp tỉnh lược từ so sánh như trường hợp 6, 11, 12, 13
ở trên Bởi ở các trường hợp này, hoàn toàn có thể khôi phục y - từ so sánh
thành 6’: mặt ngây (như) cán thuổng; 11’: bé (như) hạt tiêu, 12’: mặt vuông
(như) chữ điền; 13’: mặt (như) hoa da (như) phấn Một điểm nữa cần lưu ý ở
dạng 12 và 13 này là quan hệ giữa B và A về cơ bản phải là quan hệ không thể
tạo thành kết cấu chính phụ phi so sánh Chẳng hạn ở trên, hoa không thể là yếu tố trực tiếp phụ cho mặt (không biểu thị quan hệ sở hữu: mặt (của) hoa), bởi trong thực tế, hoa là một loại thực vật không có bộ phận được gọi là mặt Cũng như phấn không thể trực tiếp phụ cho da, bởi trong thực tế, phấn là một loại chất liệu không thể có bộ phận được gọi là da (không biểu thị quan hệ sở hữu: da (của) phấn) Như vậy, quan hệ giữa mặt và hoa, giữa da và phấn phải
là quan hệ so sánh, và có thể thêm từ biểu thị quan hệ so sánh giữa chúng Có
như vậy, mới không nhầm thành ngữ so sánh với thành ngữ ẩn dụ
* Phân loại
Dựa vào tính đối xứng, cũng có thể phân loại thành ngữ so sánh thành hai kiểu: thành ngữ so sánh đối xứng và thành ngữ so sánh phi đối xứng
b Thành ngữ so sánh đối xứng
* Khái niệm, đặc điểm: Thành ngữ so sánh đối xứng là loại thành ngữ so
sánh đồng thời được cấu tạo theo quy tắc đối các thành tố như: đầu chày đít
thớt; mặt hoa da phấn Các thành ngữ này không nhiều, chỉ có một dạng cấu
tạo là dạng 13: AB A’B’ như đã phân tích ở trên
Đây là dạng tương đối đặc biệt trong các dạng cấu tạo của thành ngữ so sánh: là một trong bốn dạng mà yếu tố so sánh y bị tỉnh lược, là dạng duy nhất
có cấu trúc lặp lại của các yếu tố cái được so sánh (A) và cái so sánh (B) Và các yếu tố lặp lại này có tính đối xứng nhau trên hai bình diện, bình diện đối ý
và đối lời Đó là đầu chày và đít thớt đối nhau cùng để so sánh bộ phận cơ thể
Trang 30với cái cái tầm thường, hay bị sử dụng thô bạo, và cùng để biểu thị người có địa
vị thấp hèn, bị sai phái làm nhiều việc vất vả, khó nhọc Sự đối ý này được tạo
nên bởi sự đối lời giữa đầu với đít, chày với thớt
* Phân loại: Do được cấu tạo bởi một dạng duy nhất, nên dựa vào tiêu chí cấu tạo thì tiểu nhóm này không thể chia nhỏ hơn nữa Vậy tiểu nhóm này chỉ
có một kiểu thành ngữ duy nhất, có cấu tạo AB A’B’
c Thành ngữ so sánh phi đối xứng
* Khái niệm, đặc điểm: Thành ngữ so sánh phi đối xứng là loại thành ngữ so sánh không được cấu tạo theo quy tắc đối hay điệp giữa các thành tố Ví
dụ: nói như chó cắn ma; như diều gặp gió
Đây là tiểu nhóm phổ biến trong thành ngữ so sánh Nó có các kiểu cấu tạo cũng rất phong phú: gồm 12 dạng cấu tạo 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12 như phân tích ở trên
* Phân loại: Do được cấu tạo bởi 12 dạng, nên dựa vào tiêu chí cấu tạo thì tiểu nhóm này có thể chia thành 12 kiểu nhỏ hơn Đó là các kiểu có cấu tạo: AxyBx’; AxyB; AyB; AyBx’; ABx’; AxB; xyB; xybx’; yBx’; yB; xB; AB Ở đây có 4 kiểu có hiện tượng tỉnh lược y- từ biểu thị quan hệ so sánh
Trong luận văn này, chúng tôi phân loại thành ngữ có yếu tố mặt theo
cách phân loại thành ngữ tiếng Việt dựa vào phương thức tạo nghĩa và tính đối xứng
1.4 Khái quát về thành ngữ tiếng Thái
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ tiếng Thái
Thành ngữ tiếng Thái là đơn vị tiêu biểu của ngữ cố định trong tiếng Thái, do người Thái sáng tạo và lưu truyền, có ý nghĩa hoàn chỉnh, hình thức tối giản nhưng khả năng biểu đạt cô đọng, súc tích, hàm ẩn, hình tượng, sinh động Nó góp phần nói lên văn hóa ngôn ngữ, giao tiếp đậm đà bản sắc dân tộc của người Thái, cùng với đó là cách nhìn, cách đánh giá về mọi việc trong tự nhiên và xã hội Ví dụ:
Trang 31Từn tè kay hồ (dậy từ lúc gà gáy)
meo may yu nu rà reung (mèo đi vắng chuột lộng hành)…
Bà Ratchanii Sosottikun đã nói về thành ngữ nói chung và thành ngữ tiếng Thái nói riêng: “là một tấm gương phản ánh mọi thứ như phản ánh về thiên nhiên, môi trường, văn hóa, phong tục, tôn giáo, câu chuyện, trò chơi, thái
độ, ngôn ngữ và tư duy của con người mỗi ngôn ngữ mỗi quốc gia” [89, tr.25]
1.4.2 Phân loại thành ngữ tiếng Thái
1.4.2.1 Phân loại theo cấu trúc
Theo Khun Vijit Matra [83, tr 8-9] thì thành ngữ tiếng Thái được phân loại thành bốn nhóm:
a) Thành ngữ gần âm có thể sắp xếp một câu từ 4, 6 và 10 từ Một câu gồm những vần điệu, gần âm để làm cho những thành ngữ dễ nhớ và hay
- Thành ngữ 4 từ gần âm
Ví dụ: ต้อนรับ ขับสู่ (ton rắp khặp su, chào mừng thân thiết) là đon đả
chào đón để chỉ sự nhiệt tình, thân thiết chào đón khách đến nhà
- Thành ngữ 6 từ gần âm
Ví dụ:น ้ำพึ่งเรือ เสือพึ่งป่ำ (nám phưng rưa sưa phưng pà, con sông cần có thuyền – con hổ cần có rừng) là trong cuộc sống phải biết dựa vào nhau để hai bên cùng có lợi
- Thành ngữ 10 từ gần âm
Ví dụ: ดูช ้ำงให้ดูหำง ดูนำงให้ดูแม่ (đu chang hãy đu hang đu nang hãy đu
mè, xem voi phải xem đuôi – xem phụ nữ phải xem mẹ của họ) là muốn mua voi phải xem đuôi voi, muốn lấy vợ thì phải xem mẹ nàng
b) Thành ngữ so sánh là thành ngữ thường có 3-7 từ, đặc điểm của thành ngữ so sánh là đem sự vật nay đối chiếu với sự vật khác
Ví dụ: หน้ำซีดเป็นไก่ต้ม (nả síd pên kay tộm, mặt trắng như gà luộc) là
mặt trắng tại vì ốm yếu hoặc sợ hãi
Trang 32c) Thành ngữ điệp từ là thành ngữ thường có 4 từ trong đó một từ vế thứ nhất điệp lại trong vế thứ hai
Ví dụ: กินบ้ำน กินเมือง (kịn bản kịn mưởng, ăn nhà ăn thành phố) là
người lười biếng ngủ dậy muộn, ngủ cả ngày không làm việc gì cả hoặc là người tham nhũng
d) Thành ngữ có vần điệu
Các thành ngữ này có sự hiệp vần giữa các tiếng trong câu
Ví dụ: แพ้เป็นพระ ชนะเป็นมำร (phé phên phra chạ - nạ pên man, thua là
nhà sư, còn thắng là kẻ thù) là nhượng bộ trước kẻ to lớn thì cũng không có gì
là xấu
14.2.2 Phân loại theo ngữ nghĩa
Ở đây, theo Khun Vijit Matra [83, tr.10- 11] thành ngữ có thể được phân loại dựa vào nguyên nhân xảy ra sự tình được nói tới trong câu Chúng gồm 6 nhóm sau:
+ Sự tình được gây ra bởi yếu tố tự nhiên
Ví dụ: ตื่นแต่ไก่โห่ (từn tè kay hồ, dậy từ lúc gà gáy) là thức dậy từ sáng sớm
+ Sự tình được gây ra bởi hành động
Ví dụ: ปิดทองหลังพระ (pid thong lắng phra, dán vàng sau lưng tượng
phật) la nói đến người làm điều tốt sau lưng người ta không ai nhìn thấy
+ Sự tình được gây ra bởi hoàn cảnh
Ví dụ: ฆ่ำควำยอย่ำเสียดำยพริก (khà khoai yà xỉa đai phrik, giết trâu đừng
tiếc ớt) là làm việc lớn đừng tiếc về việc nhỏ
+ Sự tình được gây ra bởi tai nạn
Ví dụ: ตกน ้ำไม่ไหล ตกไฟไม่ไหม ้ (Tộc nam may lảy tộc phay may mảy,
rơi xuống nước không bị trôi, rơi vào lửa không bị chảy) là người tốt thì cho dù
có rơi vào hoàn cảnh hoạn nạn nào cũng sẽ có người giúp đỡ
+ Sự tình được gây ra bởi sự hình thành truyền thống, niềm tin
Trang 33Ví dụ: ปลูกเรือนตำมใจผู้อยู่ (Phông rươn tam jai phu yu, xây nhà theo lời
chủ nhà) là phải làm theo lời của người thụ hưởng
1.5 Vấn đề nghiên cứu đối chiếu từ và thành ngữ
Trong các công trình viết về Ngôn ngữ học đối chiếu, các tác giả mới chỉ
đề cập tới việc nghiên cứu, đối chiếu từ và nghĩa của từ (bên cạnh việc nghiên cứu, đói chiếu về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ dụng) Chưa có công trình nào viết về
nghiên cứu, đối chiếu thành ngữ
1.5.1 Nghiên cứu đối chiếu về từ
Theo R Lado (dẫn theo Bùi Mạnh Hùng [26, tr.195 - 204]) thì các khả năng có thể có trong quá trình nghiên cứu đối chiếu từ vựng của hai ngôn ngữ là:
(1) Giống nhau về hình thức và ý nghĩa
(2) Giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về ý nghĩa
(3) Giống nhau về ý nghĩa nhưng khác nhau về hình thức
(7) Giống nhau về ý nghĩa, nhưng có những giới hạn về địa lí
1.5.2 Nghiên cứu đối chiếu về nghĩa của từ
Tác giả Lê Quang Thiêm, trong công trình của mình [61, tr.124-177] đã cho rằng nghiên cứu đối chiếu về nghĩa của từ là:
- Đối chiếu các từ tương ứng giữa hai ngôn ngữ (trong ngôn ngữ của một trường nghĩa) ở cấu trúc nghĩa chính Đây là sự đối chiếu giữa một từ của ngôn ngữ này với từ tương ứng (về nghĩa) của ngôn ngữ khác ở các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa chính
- Đối chiếu hiện tượng đồng âm của các ngôn ngữ
Trang 34- Phân tích sự tương đồng ngữ nghĩa của các ngôn ngữ để phân biệt ba hiện tượng: tương ứng, tương đương và đồng nghĩa
+ Sự tương ứng phải tuân thủ:
a) Thuộc cùng phạm vi nhân tố ngoài ngôn ngữ: cùng phạm vi sự vật, hiện tượng; tính chất, thuộc tính; trạng thái, cảnh huống
b) Thuộc cùng phạm vi nhân tố nội bộ ngôn ngữ: cùng thuộc một phạm trù
từ loại, tiểu loại; cùng thuộc một hình thái ngữ pháp (số, giống,….); cùng thuộc
về một kiểu loại dơn vị (hình vị, từ, câu,…)
+ Sự tương đương theo cách hiểu thông thường là: ngang nhau, xấp xỉ nhau Nếu chỉ đối chiếu về mặt nghĩa thì hai đơn vị được coi là tương đương khi chúng là các đơn vị khác nhau về mặt vật chất âm thanh nhưng ngang bằng nhau về nghĩa, những đơn vị tương đương chủ yếu xảy ra giữa các từ đơn nghĩa hoặc các từ có hai nghĩa hay giữa một từ đơn nghĩa với một nghĩa của một từ
đa nghĩa Nói tương đương là ngang bằng về nội dung nghĩa, tức đối tượng đưa
ra đối chiếu là các nội dung cụ thể Các thành tố nội dung cùng loại (các nghĩa cùng kiểu loại) hoặc không cùng loại (nghĩa khác kiểu loại) chỉ tương đương khi có cùng một nội dung xác định Tương đương là ngang bằng như không giống nhau hoàn toàn, không đồng nghĩa Sự tương đương có thể xảy ra giữa các đơn vị không cùng cấp độ
+ Đồng nghĩa là các đơn vị ngôn ngữ khác nhau có nội dung ngang bằng nhau ở bộ phận xác định, có thể xảy ra ở những đơn vị cùng cấp độ hoặc khác cấp độ
- Đối chiếu các nghĩa trong từ đa nghĩa
1.5.3 Nghiên cứu đối chiếu từ và thành ngữ trong luận văn
Vận dụng các lí thuyết nêu trên, đề tài xác định sẽ nghiên cứu đối chiếu
thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng Việt và tiếng Thái ở các phương diện sau:
- Đối chiếu yếu tố mặt trong thành ngữ tiếng Việt với yếu tố mặt trong
thành ngữ tiếng Thái về mặt ngữ nghĩa và sử dụng:
Trang 35Đó là các trường hợp hai từ:
* Giống nhau về ý nghĩa (nghĩa gốc) nhưng khác nhau về hình thức Đây
là trường hợp thông dụng nhất khi so sánh hai ngôn ngữ
* Giống nhau về nghĩa gốc, nghĩa cơ sở, nhưng khác nhau về nghĩa phái sinh, nghĩa liên tưởng
Mục đích của đối chiếu:
* Đặt yếu tố mặt ở hai ngôn ngữ trong văn cảnh là các câu thành ngữ để
thấy được các nghĩa chuyển khác nhau của chúng Trên cơ sở đó, thấy được đôi nét về đặc điểm tư duy- ngôn ngữ của mỗi dân tộc
* Phân biệt những ảnh hưởng khác nhau của yếu tố mặt với các câu
thành ngữ ở hai ngôn ngữ để thấy được đặc điểm sử dụng của yếu tố này trong các sản phẩm ngôn ngữ truyền thống
- Nghiên cứu, đối chiếu thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt với
thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Thái về mặt số lượng, ngữ nghĩa và sử
dụng
Đây là trường hợp:
* Đối chiếu các đơn vị tương tương với từ
* Đối chiếu các đơn vị từ vựng có chung một yếu tố ngôn ngữ
Mục đích của đối chiếu:
* Đối chiếu về số lượng thành ngữ có yếu tố “mặt” để thấy được đặc
điểm sử dụng, qua đó thấy được đặc điểm tư duy, văn hóa của hai dân tộc
* Đối chiếu về ngữ nghĩa của các câu thành ngữ có yếu tố “mặt” ở hai ngôn ngữ và bước đầu tìm hiểu việc sử dụng các câu thành ngữ có yếu tố
“mặt” trong các sản phẩm giao tiếp hiện đại để thấy đặc điểm sử dụng nhóm
thành ngữ này ở hai ngôn ngữ Đây cũng là cơ sở để tìm hiểu phần nào về đặc điểm tư duy- ngôn ngữ của mỗi dân tộc
1.6 Tiểu kết chương một
Trang 36Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu
và những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài Trước hết, chúng tôi đề cập tới tình hình nghiên cứu lí luận về thành ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt, tiếng Thái cùng tình hình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Việt và tiếng Thái với thành ngữ trong các ngôn ngữ khác Kết quả tổng quan cho thấy chưa
có công trình nào nghiên cứu thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng Việt (có đối chiếu với thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng Thái về ngữ nghĩa)
Tiếp theo, chương 1 đã đề cập đến một số khái niệm ngôn ngữ học có liên quan đến đề tài như ẩn dụ tu từ, so sánh tu từ Các vấn đề khái quát về thành ngữ tiếng Việt (khái niệm, đặc điểm, giá trị của thành ngữ, sự phân loại thành ngữ tiếng Việt); và các vấn đề khái quát về thành ngữ tiếng Thái (khái niệm, đặc điểm, sự phân loại thành ngữ tiếng thái) cũng được trình bày tương đối cụ thể Đồng thời ở chương này, chúng tôi cũng đề cập đến việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ, nghiên cứu đối chiếu về từ, nghiên cứu đối chiếu về nghĩa của từ và nghiên cứu đối chiếu từ và thành ngữ trong luận văn Đây là những
cơ sở cần thiết cho việc triển khai những khảo sát, nghiên cứu trong các chương tiếp theo
Trang 37Chương 2
CÁC THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ “MẶT” TRONG TIẾNG VIỆT
XÉT VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CẤU TRÚC 2.1 Giới thiệu chung
Cũng như thành ngữ tiếng Việt nói chung, thành ngữ có yếu tố “mặt”
bao gồm 2 nhóm lớn là thành ngữ ẩn dụ hóa và thành ngữ so sánh Mỗi nhóm
này được chia tiếp thành các nhóm nhỏ hơn Tổng 95 câu thành ngữ có yếu tố
“mặt” có thể được phân chia thành các nhóm, tiểu nhóm với số lượng và tỉ lệ
mỗi loại thể hiện qua bảng dưới đây
Bảng 2.1 Phân loại các thành ngữ có yếu tố “mặt” trong tiếng Việt về mặt
cấu trúc Phân loại thành ngữ Số
lượng
Tỉ lệ % Ví dụ Nhóm Tiểu nhóm
Thành ngữ
ẩn dụ hóa
Ẩn dụ hóa đối xứng
45 47,37% - mặt chai mày đá (ss mày
chai mặt đá)
- mặt dạn mày dày
- mặt người dạ thú
Ẩn dụ hóa phi đối xứng
5 5,26% - mặt hoa da phấn
- mặt sứa gan lim
Thành ngữ
so sánh phi đối xứng
Trang 38Bảng thống kê cho thấy trong tiếng Việt, nhóm thành ngữ có yếu tố
“mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa có số lượng và tỉ lệ cao gần gấp đôi nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc so sánh Có hiện tượng trên trước hết
là bởi giống như thành ngữ nói chung, thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu
trúc ẩn dụ hóa xuất hiện phổ biến nhất Nhưng bên cạnh đó còn có một số
trường hợp, theo chúng tôi, tính ẩn dụ không thật cao Nhưng các thành ngữ đó không nhiều nên để tiện cho việc thống kê và nghiên cứu, chúng tôi vẫn theo Hoàng Văn Hành mà xếp chúng vào nhóm mang cấu trúc ẩn dụ hóa
Ví dụ: (1) nặng mặt sa mày; (2) mặt xanh nanh vàng; (3) mặt thâm mày
xám; (4) mặt đỏ tía tai; (5) mặt mốc chân phèn; v.v…
Các thành ngữ này trước hết miêu tả hình ảnh thực tế của những con người khi ở những trạng thái khó chịu (1), sợ hãi (2), ốm yếu (3), tức giận (4), hoặc hình ảnh của người dân lao động chân tay vất vả (5) Tuy nhiên, cũng thể coi những hình ảnh được miêu tả trong các câu thành ngữ như trên có giá trị biểu trưng giúp thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm sinh lý và tính chất nói trên của con người
Nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa lại có thể chia thành hai tiểu nhóm là thành ngữ có yếu tố “mặt”mang cấu trúc ẩn dụ hóa
đối xứng và thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa phi đối xứng
Tiểu nhóm thứ nhất có 45 câu, chiếm 47, 37%; tiểu nhóm thứ hai lại nhỏ hơn hẳn, chỉ gồm 16 câu, chiếm 16, 84%
Nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc so sánh trong tiếng
Việt có số lượng nhỏ hơn nhiều so với nhóm có cấu trúc ẩn dụ hóa Tuy nhiên, chúng cũng gồm thành ngữ so sánh đối xứng (với 5 câu, chiếm 5,26%) và thành ngữ so sánh phi đối xứng (với 29 câu, chiếm 30,53%) như sự phân loại thành ngữ so sánh nói chung trong tiếng Việt
Nếu đối chiếu với nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ
hóa thì có thể thấy một điều đáng lưu ý là: tiểu nhóm đối xứng của thành ngữ
Trang 39có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa có số lượng vượt trội so với tiểu
nhóm phi đối xứng; nhưng ngược lại tiểu nhóm đối xứng của thành ngữ có yếu
tố “mặt” mang cấu trúc so sánh lại có số lượng ít hơn hẳn so với tiểu nhóm phi
đối xứng Bởi cấu trúc phi đối xứng mới là cấu trúc đặc trưng của so sánh
2.2 Nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa trong tiếng Việt 2.2.1 Tiểu nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa đối xứng trong tiếng Việt
2.2.1.1 Khái quát về các thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa
đối xứng trong tiếng Việt
* Đặc điểm
Đây là tiểu loại có số lượng, tỉ lệ lớn trong số các thành ngữ có yếu tố
“mặt” nói chung và nhóm thành ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa
nói riêng Nó chiếm 47,37% thành ngữ có yếu tố “mặt”, chiếm 73,77 % thành
ngữ có yếu tố “mặt” mang cấu trúc ẩn dụ hóa
Tiểu nhóm này có đặc trưng thứ nhất là các thành ngữ đều gồm hai vế đối xứng nhau Phổ biến nhất (gồm 43/45 trường hợp) là nhóm gồm bốn yếu tố tạo thành hai vế: 2/2
Ví dụ: tối mày tối mặt; lá mặt lá trái; mở mày mở mặt;…
Các thành ngữ gồm hơn bốn yếu tố cũng có thể quy vào một trong hai dạng cấu tạo tổng quát trên, nhưng rất không phổ biến (chỉ 2/45 trường hợp) Chúng tạo thành hai vế 3/3 và 4/4
Ví dụ: vua biết mặt chúa biết tên; mưa chẳng đến mặt, nắng chẳng đến đầu Đặc trưng thứ hai của thành ngữ đối xứng là: có tiết tấu hoặc có tính nhịp
điệu Có thể phân biệt như sau:
1) Lặp âm, tức là yếu tố đầu của vế thứ nhất trùng âm với yếu tố đầu vế
của vế thứ hai Ví dụ: tối mày tối mặt; lá mặt lá trái; mở mày mở mặt…
2) Vần của yếu tố sau trong vế thứ nhất hiệp với vần của yếu tố đầu trong
vế thứ hai gọi là vần liền Ví dụ: mặt xanh nanh vàng; chỉ mặt đặt tên;…
Trang 403) Chủ yếu xây nhịp đôi để tạo tiết tấu nhấn mạnh, tăng cường Ví dụ:
đầu gio / mặt muội; đầu trâu / mặt ngựa;…
4) Mỗi yếu tố trong vế thứ nhất được đặt trong thế đối ứng với các yếu tố trong vế thứ hai về ý nghĩa Đối xứng về nghĩa là các yếu tố đối nhau thì thường cùng từ loại, biểu thị cùng một phạm trù ngữ nghĩa Chúng sẽ tạo thành các mô hình đối ứng là AX / BY và AX / AY