1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kĩ năng lập đề toán lớp một bằng tiếng anh cho giáo viên tiểu học

100 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, kĩ năng lập đề toán là một trong những kĩ năng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực phát triển chương trình cho giáo viên.. thành và

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thu Hương

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Thu Hương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại đây

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các thầy cô giáo các trường: Tiểu học Archimedes Academy, Tiểu học Vinschool - cơ sở Gardenia, Tiểu học Đoàn Thị Điểm Ecopark - thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và khảo nghiệm sư phạm

Để hoàn thành luận văn: “Phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng

Anh cho giáo viên tiểu học” tôi đã sử dụng, kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu

của các tác giả đi trước, đồng thời nhận được rất nhiều sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy, cô giáo; sự giúp đỡ của bạn bè, người thân đã động viên tôi trong quá trình

hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vi

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Giả thuyết khoa học 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11

8 Phạm vi nghiên cứu 11

9 Đóng góp của luận văn 11

10 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 13

1.1 Một số khái niệm công cụ 13

1.1.1 Kĩ năng 13

1.1.2 Kĩ năng lập đề toán 14

1.1.3 Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh 14

1.2 Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh 14

1.2.1 Mục đích và ý nghĩa 14

1.2.2 Phân loại các bài toán ở tiểu học 16

1.2.3 Những lưu ý khi lập đề toán bằng tiếng Anh 19

Trang 6

1.2.4 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh 21

1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 22

Kết luận chương 1 25

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 26

2.1 Dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26

2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26

2.1.2 Nội dung dạy học Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 27

2.2 Thực trạng kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học 48

2.2.1 Thực trạng 48

2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 49

Kết luận chương 2 54

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP 1 BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÀ KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 55

3.1 Định hướng để đề xuất các biện pháp 55

3.2 Một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học 55

3.2.1 Biện pháp 1: Phát triển kĩ năng lập đề toán tiếng Anh từ bài toán đã có nhờ tương tự, khái quát hoá, đặc biệt hoá 55

3.2.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên dạng toán và cách giải bài toán đã có 62

3.2.3 Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên tóm tắt, hình vẽ, sơ đồ 69

3.2.4 Biện pháp 4: Lập đề toán tiếng Anh theo hướng vận dụng toán học vào thực tiễn 74

3.3 Khảo nghiệm sư phạm 79

3.3.1 Mục đích khảo nghiệm sư phạm 79

Trang 7

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm sư phạm 79

3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm 79

3.3.4 Tổ chức khảo nghiệm sư phạm 79

3.3.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm sư phạm 79

Kết luận chương 3 82

B KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Khuyến nghị 83

C DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Tài liệu tiếng Việt 84

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa

Tr : Trang

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Vai trò của dạy học toán bằng tiếng Anh cho học sinh tiểu học 50

Bảng 2.2 Vai trò của việc rèn kĩ năng lập để toán bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học 50

Bảng 2.3 Mức độ thường xuyên lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên 50

Bảng 2.4 Những khó khăn khi lập đề toán bằng tiếng Anh 51

Bảng 2.5 Tự đánh giá về kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của GV 52

Bảng 2.6 Mức độ thường xuyên thực hiện các biện pháp lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên 53

Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá của giáo viên về sự cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp được đề xuất 80

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Các bước lập đề toán lớp một bằng tiếng Anh 22

Trang 11

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển con người Giáo dục góp phần cải thiện nguồn vốn con người - động lực phát triển của mỗi quốc gia Hầu hết các nước trên thế giới đều coi việc phát triển giáo dục là ưu tiên hàng

đầu Ở Nhật: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hòa

giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức phương Tây hiện đại” [22] Singapore với phương châm: “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về kinh tế” [22] Cũng như nhiều nước trên thế giới, Đảng

ta khẳng định giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Nghị quyết trung ương VIII, khóa XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng

đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [3]

Nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển Xã hội ngày nay đòi hỏi những người phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và thực sự năng động, sáng tạo, tích cực, chủ động học hỏi tiếp thu kiến thức mới Giáo dục luôn gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, thậm chí giáo dục phải đi trước và có tác dụng định hướng xã hội Chính vì thế, việc phát triển năng lực giao tiếp cho HS càng phải chú trọng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ nước ngoài

để hội nhập với các nước trên thế giới

1.2 Giáo dục tiểu học được coi là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học được xác định rõ trong Luật Giáo

dục: “Giúp cho HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

Trang 12

và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học THCS” [28]

Ở tiểu học, một trong những năng lực quan trọng cần hình thành cho HS

là năng lực giao tiếp mà năng lực giao tiếp có thể được thể hiện thông qua tiếng

mẹ đẻ hay ngôn ngữ khác (như tiếng Anh)

1.3 Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, kĩ năng lập đề toán là một trong những kĩ năng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực phát triển chương trình cho giáo viên Nội dung môn Toán ở tiểu học tuy đơn giản nhưng

là những kiến thức cơ bản, tạo tiền đề cho việc học tập tốt môn Toán và các môn học khác trong nhà trường Việc tiếp cận môn này bằng ngôn ngữ thứ hai giúp các em dễ ghi nhớ và củng cố kiến thức, đồng thời có thể vận dụng tiếng Anh trong tình huống thực tế Đây là sự kết hợp giúp trẻ phát triển song song tư duy logic và ngôn ngữ

1.4 Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII, khóa XI về đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ nhiệm vụ: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu

học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo

và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” [3] Thực tiễn dạy học tiểu học cho thấy, giáo viên còn nhiều hạn chế về năng lực phát triển chương trình nói chung

và kĩ năng lập đề toán nói riêng Nguồn học liệu còn nghèo nàn nhưng lại chi phối nhiều đến hoạt động lập kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch bài học của giáo viên

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển kĩ năng lập

đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học” làm đề tài luận văn nghiên

cứu

2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu

2.1 Định hướng dạy học tiếp cận năng lực người học

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX

Trang 13

và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh là “competentia” Có nhiều tác giả định nghĩa về năng lực theo những cách khác nhau Tổng hợp những định nghĩa đó ta

có thể khái quát: Năng lực là sự biểu hiện quá trình chuyển hóa những kiến thức,

kĩ năng của một cá nhân thành các thao tác hoạt động diễn ra trong một tình huống cụ thể với những đặc điểm phẩm chất đặc trưng của cá nhân ấy Nói cụ

thể hơn, năng lực được xem như sự tích hợp sâu sắc của kiến thức - kĩ năng - thái

độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010) trình bày khái niệm năng lực theo quan

điểm tâm lí, giáo dục học: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm

hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” [34]

Như vậy có thể xem năng lực như là sự tích hợp của kiến thức - kĩ năng - thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc nào đó của một cá nhân với tinh thần trách nhiệm cao

Trên thế giới, thuật ngữ nền giáo dục dựa trên kết quả (Outcomes - Based Education - OBE) thường được sử dụng đồng nghĩa với giáo dục dựa vào năng lực hoặc giáo dục tiếp cận năng lực (Competency - Based Education - CBE) Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực Những mục tiêu này được xác lập và mô tả giúp cho người học xác định những gì mình có thể làm

Trang 14

được và nó còn được dùng để mô tả dung lượng và nội dung kiến thức, kĩ năng

mà giáo viên trong mong người học sẽ đạt được từ chương trình đào tạo

- Giáo dục định hướng năng lực ở Mỹ

Nguồn gốc của CBE, được xem như một sự tất yếu đáp ứng những thay đổi của xã hội bấy giờ, được ra đời và thúc đẩy bởi Bộ Giáo dục Hoa Kỳ vào năm 1968 với 10 khoản tài trợ cho các trường cao đẳng và đại học phát triển các

mô hình đào tạo giáo viên tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực Các mô hình này đều tập trung vào các năng lực: năng lực tự học hoặc khám phá có hướng dẫn; module hóa nội dung dạy học, năng lực đánh giá, năng lực cá nhân và năng lực chuyên môn Theo đó, chỉ có những giáo viên có năng lực mới được phép bước vào nghề và việc kiểm tra để chuẩn bị, cấp giấy chứng nhận hay bằng cấp nghề nghiệp đều được đánh giá dựa trên năng lực Sau đó, các chương trình đào tạo hướng tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp trên toàn nước Mỹ, mở rộng tới các trường tiểu học, trường trung học và các trường chuyên nghiệp vào những năm 1970 và đều được thừa nhận là có nguồn gốc từ các chương trình đào tạo giáo viên (Burke và cộng sự, 1975; Houston, 1980) Như vậy, đến những năm 1970, việc đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận năng lực

đã gần như trở thành một sự chuyển biến tất yếu và nhận được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp xã hội, các nhà quản lí, các chính trị gia trên khắp nước

Mỹ (Lindsey, 1976) Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đã tiếp tục hỗ trợ việc thúc đẩy CBE thông qua Hiệp hội quốc gia của các Trung tâm Giáo dục dựa trên năng lực Hiệp hội đã quản lí và điều phối hiệu quả các hoạt động của 9 trung tâm lớn hỗ trợ cho chương trình đào tạo hướng năng lực Hiệp hội này đã xây dựng bộ tiêu chí để

mô tả và đánh giá các chương trình đào tạo dựa trên năng lực như sau:

Hệ thống CEB ở Mỹ được phát triển trên toàn các khu vực và tiểu bang nhưng dù sao vẫn tồn tại một sự khác biệt khá lớn bên trong và giữa các tổ chức, các cơ sở giáo dục trong việc tiếp nhận, xây dựng và triển khai chương trình đào tạo tiếp cận năng lực người học Có thể xem đây là nơi khởi đầu cho giáo dục

Trang 15

định hướng năng lực mà ngày nay đã trở nên phổ biến và phát triển trên khắp thế giới

- Giáo dục định hướng năng lực ở Anh

Xu hướng này được bắt đầu ở Anh từ những năm 1980 Sự nhấn mạnh về năng lực cần thiết như là chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo đã được quan tâm đến trong một số giai đoạn của nền giáo dục Anh, đặc biệt là trong các trường chuyên nghiệp

Có 2 cách tiếp cận giáo dục định hướng năng lực: Cách tiếp cận thứ nhất dựa trên việc phân tích các năng lực cần thiết để thực hiện một công việc chuyên môn Phương án này thường đưa đến một danh sách các năng lực được phân loại theo các nhóm nhiệm vụ hoặc chức năng chính để đảm nhiệm một công việc nào

đó Một sản phẩm quan trọng của cách tiếp cận phân tích năng lực này là bản đồ năng lực được thiết lập để làm căn cứ phát triển các chương trình đào tạo Cách tiếp cận thứ hai dựa trên việc phân tích trong đó quan tâm nhiều hơn tới năng lực của những cá nhân xuất sắc, vượt trội

- Giáo dục định hướng năng lực ở Úc

Đại học Victoria (Úc) xác lập 4 khối năng lực: năng lực cốt lõi (Core Competencies), năng lực xuyên văn hóa (Cross Cultural Competencies), năng lực chuyên biệt của chương trình/ngành đào tạo (Program Specific Competencies),

và năng lực nghề nghiệp đã được quốc gia thể chế hóa (Professional Competencies) Trong đó, khối năng lực cốt lõi bao gồm 10 năng lực khác nhau là: quản trị cá nhân, giao tiếp, quản lý thông tin, nghiên cứu và phân tích, quản

lí công việc và dự án, làm việc nhóm, tinh thần vì trách nhiệm xã hội và học tập suốt đời

Gardner đã cho rằng: “Sai lầm lớn nhất của nền giáo dục những thế kỉ trước

là đã xem tất cả mọi HS như là những biến thể của cùng một cá nhân và trên cơ

sở đó tiền hành quá trình dạy học cùng một nội dung, theo cùng một cách cho tất cả HS” [35] Tổng quan như vậy để thấy rằng tiếp cận năng lực được hình

Trang 16

thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong phong trào phát triển các mô hình đào tạo giáo viên và sau đó đã lan tỏa mạnh mẽ và bước đến một nấc thang mới trong những năm 1990 ở Mỹ, Anh, Úc, Đức,… Giáo dục dựa vào năng lực và phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực đã được xem như một quan điểm có tính chất toàn cầu và ngày nay nó trở thành một

xu thế tất yếu của giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục tiểu học

2.2 Phát triển chương trình giáo dục tiểu học và kĩ năng lập đề toán tiểu học

Phát triển chương trình giáo dục là quá trình điều chỉnh, bổ sung, cập nhật, làm mới toàn bộ hoặc một số thành tố của chương trình giáo dục, bảo đảm khả năng phát triển và ổn định tương đối của chương trình giáo dục đã có, nhằm làm cho việc triển khai chương trình theo mục tiêu giáo dục đặt ra đạt được hiệu quả tốt nhất, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu phát triển của xã hội và phát triển của

cá nhân HS Phát triển chương trình bao gồm xây dựng chương trình, đánh giá, chỉnh sửa và hoàn thiện chương trình

Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông; định hướng chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt; có được những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất để tiếp tục học trung học cơ sở

Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, giải toán chiếm một ví trí quan trọng

Để thực hiện phát triển chương trình mạch nội dung giải toán, giáo viên tiểu học cần được trang bị và rèn luyện kĩ năng lập đề toán Từ những năm 60 của thế kỉ

XX, các tác giả Pierre Barrouilet và Micheal Fayol đã bàn đến sự thú vị của các bài toán, cách giải cũng như cách khai thác các bài toán lí thú trong cuốn “Suy luận và giải các bài toán” Bên cạnh đó, nhà giáo dục người Mĩ G.Polya với hai cuốn sách “Sáng tạo toán học” “Giải bài toán như thế nào” đã giúp giáo viên tiểu học và những người quan tâm đến toán học khám phá sự thú vị trong việc khai thác và lập đề toán Theo G.Polya, muốn thiết kế được một đề toán hay thì trước

Trang 17

hết giáo viên phải nắm được các kĩ năng giải toán cơ bản, phải gắn bài toán với các tình huống thực trong thực tiễn cuộc sống, trên cơ sở đó thiết kế các bài toán theo các phương pháp nhất định

Ở Việt Nam, tác giả Phạm Đình Thực đã đưa ra những yêu cầu đối với một đề toán trong cuốn “Phương pháp sáng tác đề toán ở tiểu học” Các tác giả khác như Trần Diên Hiển, Vũ Quốc Chung cũng thể hiện sự quan tâm đến vấn

đề này thông qua các công trình nghiên cứu và sách tham khảo toán tiểu học

2.3 Định hướng dạy học tích hợp

- Tích hợp là một xu thế, một trào lưu dạy học và giáo dục phổ biến trên

thế giới trong nhiều thập kỉ qua Quan điểm dạy học tích hợp được xem là định hướng lí luận của chương trình tiểu học Việt Nam hiện hành và những năm sắp tới Để đào tạo nguồn lực giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới, chương trình đào tạo GV tiểu học ở các trường đại học, cao đẳng Sư phạm trong nhiều năm nay đã và đang quan tâm tìm hiểu, vận dụng quan điểm tích hợp để chuẩn

bị cho giáo sinh có thể đáp ứng với chương trình dạy học ở tiểu học theo quan điểm tích hợp

- Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của HS trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên

- Theo “Hội thảo Dạy học tích hợp ở tiểu học - Hiện tại và Tương lai”: + Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau cũng được hiểu và ứng dụng khác nhau Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự phối kết hợp các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một hay vài

Trang 18

lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học hoặc có thể là sự liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi với nhau Tích hợp nhằm làm giảm bớt được những phần kiến thức trùng nhau, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Có thể thấy tích hợp trong dạy học không phải là phương pháp dùng để rút bớt môn học, nhằm giảm tải kiến thức mà thực chất là sự phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, các phân môn theo những mô hình, hình thức, cấp độ riêng biệt nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau

+ Ở cấp Tiểu học, cấp học nền tảng đối với sự phát triển tư duy, trí tuệ và nhân cách của trẻ, dạy học tích hợp càng đóng một vai trò quan trọng về nhiều mặt Dạy học tích hợp sẽ giúp cho giáo viên tiếp cận tốt hơn với chương trình và sách giáo khoa, cũng như mềm dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống Trong khi đó, HS học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng, nâng cao tính tích cực của các em qua đó góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở trường tiểu học Thạc sĩ Đào Thị Hồng trong bài viết “Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp ở Tiểu học” đã đưa ra ví dụ chứng minh rằng các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Những nội dung dạy HS theo các chủ đề “Gia đình”, “Nhà trường”, “Cuộc sống quanh ta”, “Trái đất và hành tinh”,… làm cho HS có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theo hướng tích hợp sẽ giúp cho các em quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để các em học tập Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề của các em Chẳng hạn “vì sao có sấm chớp?’, “vì sao không được chặt cây phá rừng?”, “vì sao…?”, [19]

Trang 19

Từ góc nhìn vĩ mô, dạy học tích hợp ở tiểu học đã được các nước có nền giáo dục phát triển cao như Anh, Pháp, Mỹ,… áp dụng từ lâu nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu về học vấn, khả năng tiếp thu của HS, thời gian học ở nhà trường với khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại đang ngày một tăng lên nhanh chóng Cụ thể hơn nữa, theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), ở Hàn Quốc, vấn đề tích hợp đang được thực hiện cao độ

và đậm đặc ở lớp 1 và 2 với các nội dung như Chúng ta là một, Cuộc sống dễ chịu, Cuộc sống thông minh, Cuộc sống kỉ luật; ở các lớp sau, nội dung tích hợp thể hiện rõ ở hai môn Khoa học và Tìm hiểu xã hội Trong khi đó ở Việt Nam,

từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu Tự nhiên và xã hội” Hội thảo Dạy học tích hợp ở Tiểu học - Hiện tại và Tương lai Theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưa vào dạy học ở trường Tiểu học Chương trình năm 2000 hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong chương trình, và các hoạt động dạy học ở tiểu học Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều giáo viên Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp, được hiểu là phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau đã ảnh hưởng nhiều hơn tới giáo dục Việt Nam Ý thức được tầm quan trọng hình thức giáo dục tiên tiến này, trong vòng 5 năm trở lại đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa quan điểm dạy học tích hợp trở thành trong những nội dung đáng chú trọng thuộc nhiệm vụ trọng tâm của năm học, cũng như cụ thể hóa bằng các nội dung giảng dạy trong sách giáo khoa thông qua việc tăng cường tích hợp các nội dung giáo dục: bảo vệ môi trường; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; quyền và bổn phận của trẻ em; bình đẳng giới; an toàn giao thông, tích hợp dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc thiểu số vào tất cả các môn học và hoạt động giáo dục,… hoặc các phân môn trong môn Tiếng Việt như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập

Trang 20

làm văn trước đây ít gắn bó với nhau, nay đã có mối quan hệ chặt chẽ về nội dung, kĩ năng, phương pháp dạy học Ngữ liệu dùng để dạy phân môn này cũng đồng thời được sử dụng để dạy phân môn khác, kiến thức và kĩ năng của phần học này được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ ở phần học khác và các phân môn đều nhằm rèn luyện bốn kĩ năng nghe, nói, đọc và viết cần hình thành ở HS như mục tiêu của môn Tiếng Việt đã đề ra

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

để đề xuất một số biện pháp sư phạm thích hợp nhằm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan đến việc phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học

- Tìm hiểu thực trạng kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học

- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để phát triển kĩ năng lập đề toán lớp

1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học và khẳng định được tính khả thi của các biện pháp

- Khảo nghiệm sư phạm để bước đầu xem xét tính đúng đắn của giả thuyết

và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện tốt một số biện pháp rèn kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học thì sẽ giúp GV lập được các đề toán bằng tiếng Anh một cách thuận lợi và hiệu quả Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu, xin ý kiến các chuyên gia để tổng

Trang 21

quan về vấn đề cần nghiên cứu

6.2 Phương pháp thực tiễn

Quan sát, trao đổi, điều tra, phỏng vấn, dự giờ,… giáo viên và HS tiểu học

để tìm hiểu tìm hiểu và đi đến những nhận định về kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học

6.3 Phương pháp điều tra

Tiến hành điều tra, khảo sát để tìm hiểu thực trạng về kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học hiện nay

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu thu thập được

6.5 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm

Khảo nghiệm sư phạm để xin ý kiến một số GV ở tiểu học về sự hợp lí và tính khả thi của các biện pháp đã đề ra

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

8 Phạm vi nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm tại các trường: Tiểu học Archimedes Academy, Tiểu học Vinschool - cơ sở Gardenia, Tiểu học Đoàn Thị Điểm Ecopark - thành phố Hà Nội

9 Đóng góp của luận văn

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn việc lập đề toán bằng tiếng Anh cho

GV tiểu học

Trang 22

- Tìm hiểu thực trạng của lập đề toán bằng tiếng Anh của GV tiểu học, từ

đó vận dụng một số kỹ thuật sáng tác đề toán để phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho GV

- Tổ chức khảo nghiệm sư phạm để khẳng định tính cần thiết và khả thi của

đề tài trong việc phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho GV tiểu học

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh cho GV tiểu học

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh cho GV tiểu học

Chương 3: Một số biện pháp sư phạm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho GV tiểu học và Khảo nghiệm sư phạm

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN

BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Kĩ năng

Kĩ năng là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa, tìm hiểu Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cho rằng kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp, ) để giải quyết một nhiệm vụ mới

Theo tâm lí học đại cương, kĩ năng được hiểu là “năng lực sử dụng các dữ

liệu, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ

lý luận hay thực hành xác định” [24]

Trong từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên kĩ năng được định nghĩa

là “năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được

chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [8]

Theo từ điển Hán - Việt của Phan Văn Các: “Kĩ năng là khả năng vận

dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là: sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [7]

Theo Polya G: “Trong toán học kĩ năng là khả năng giải các bài toán,

thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được” [12]

Các nhà nghiên cứu như V.A.Knchexi, A.G.Coovaliov, Trần Trọng Thủy xem kĩ năng là mặt kĩ thuật, phương thức của hành động Chỉ xem kĩ năng là một yếu tố và không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quả hành động [30]

Các tác giả như N.Đ.Levitov, X.L.Kixêgov, A.V.Pêtrovxki, quan niệm

kĩ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động phức tạp dựa trên sự vận dụng tri thức và kĩ xảo, tức là kĩ năng không chỉ nắm vững lí thuyết về cách thức hành động mà còn bao hàm khả năng vận dụng nó vào thực tế [30]

Trang 24

Như vậy có thể hiểu: kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động của con người dựa trên những tri thức về phương thức hành động và kinh nghiệm cũng như năng lực bản thân để đạt được mục đích trong những điều kiện, tình huống hành động nhất định

1.1.2 Kĩ năng lập đề toán

Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng lập đề toán

Có thể hiểu: Kĩ năng lập đề toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học, những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để lập đề toán

Để có thể lập đề toán được tốt, ngoài việc thường xuyên phải tự học để nâng cao trình độ toán học, trình độ sử dụng tiếng Việt chúng ta cần phải:

- Nghiên cứu và thành thạo chương trình môn Toán ở toàn cấp tiểu học, ở từng lớp, ở từng chương, ở từng phần, ở từng bài, ở từng mạch nội dung (Số học, Hình học, Đo lường và Giải toán);

- Xác định đúng các yêu cầu của một bài toán;

- Lập được những bài toán tương đối mới dựa trên các bài toán đã có sẵn;

- Lập được đề toán hoàn toàn mới theo các yêu cầu do bản thân mình đặt ra;

- Khái quát hóa được các sự kiện toán học để đề ra những giả thuyết, kiểm định các giả thuyết ấy để rồi lập đề toán và tự giải

1.1.3 Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh

Trên cơ sở những phân tích đã có về kĩ năng, kĩ năng lập đề toán, chúng

tôi cho rằng “Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh là khả năng sử dụng ngôn ngữ

tiếng Anh để vận dụng có mục đích tri thức, kinh nghiệm toán học đã có kết hợp với vốn văn hóa ngôn ngữ tiếng Anh vào lập những bài toán cụ thể bằng tiếng Anh”

1.2 Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh

1.2.1 Mục đích và ý nghĩa

Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực giáo dục - đào tạo Chính vì vậy, tiếng Anh là công cụ cho chúng ta tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến và khoa học công

Trang 25

nghệ hiện đại bắt kịp với xu hướng toàn cầu hóa Việt Nam là một đất nước đang phát triển, hội nhập quốc tế giúp chúng ta nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, trao đổi và áp dụng mô hình giáo dục của một số nước có nền giáo dục đứng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Phần Lan, Anh…

Việc dạy học cho HS tiểu học kĩ năng giải toán bằng tiếng Anh là một hướng

đi đúng đắn, mang tính chiến lược lâu dài, nâng cao chất lượng giáo dục

Học Toán và các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh đang là xu hướng được các bậc phụ huynh định hướng cho con em mình, ngay từ khi còn học tiểu học Tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các thách thức của toàn cầu hóa và sự bùng nổ thông tin nên Bộ Giáo dục muốn cải thiện cũng như nâng cao khả năng thành thạo tiếng Anh ở các cấp học đặc biệt từ cấp nền tảng là cấp tiểu học Và môn Toán nói riêng, các môn khoa học nói chung là các lĩnh vực kiến thức thay đổi cơ động và nhanh chóng nhất, có những đóng góp ý nghĩa cho

sự phát triển của đất nước Mà hầu hết các tiến bộ trong toán và khoa học được trình bày trong các tài liệu viết bằng tiếng Anh Việc dạy các nội dung trong các môn khoa học bằng tiếng Anh sẽ thúc đẩy việc lĩnh hội kiến thức khoa học để phát triển thành một quốc gia mạnh về khoa học vào năm 2020

Như vậy cơ sở để dạy học môn Toán nói riêng và các môn hoa học nói chung bằng tiếng Anh bao gồm những phát biểu về các nhu cầu sau đây:

 Cải thiện năng lực ngoại ngữ của HS trong việc sử dụng tiếng Anh vì đây là ngôn ngữ quốc tế, là điều kiện để mỗi người lĩnh hội kiến thức và giao tiếp trong bối cảnh toàn cầu hóa

 Ngăn chặn sự xuống dốc về thông thạo ngoại ngữ tiếng Anh ở HS trong tất cả các cấp học

 Trang bị cho thế hệ tương lai một ngoại ngữ mà nó sẽ giúp họ tiếp cận cái tiến bộ và phát triển mới trong khoa học và công nghệ để đáp ứng những thách thức của toàn cầu hóa

 Giải quyết những nhiệm vụ khó khăn gặp phải khi dịch những phát triển công nghệ mới sang tiếng Việt

Trang 26

Việc thực thi chính sách dạy toán và khoa học bằng tiếng Anh tạo cho giáo viên dạy toán và các môn khoa học có một sự thay đổi đầy trách nhiệm nhằm đảm bảo cho HS có đủ năng lực hoạt động trong các lĩnh vực hoạt động môn học này bằng tiếng Anh Vai trò của giáo viên trong việc quyết định sự phát triển các chính sách mà họ có thể thực hiện và sự tiến triển của các đổi mới giáo dục cốt yếu dựa vào các cách thức phát triển năng lực ngoại ngữ của giáo viên Việc dạy học môn Toán cho người học ngoại ngữ tiếng Anh không chỉ nằm ở việc tạo ra các bài học hiểu được đối với HS mà còn phải đảm bảo HS sử dụng ngoại ngữ mình có để hiểu

sự chỉ dẫn và biểu thị việc nắm khái niệm toán học bằng cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Người học ngoại ngữ tiếng Anh có nhiệm vụ kép là học đồng thời một ngôn ngữ thứ hai và nội dung môn học

Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh không những giúp HS dần tích lũy được những thuật ngữ đơn giản của môn học, làm quen và đọc được tài liệu Bên cạnh đó, những thuật ngữ đó sẽ kết nối thành những bài toán nhỏ, đơn giản là phép tính và những sự vật, hiện tượng trong quá trình học mà còn nâng cao kĩ năng vốn từ vựng tiếng Anh cho giáo viên

1.2.2 Phân loại các bài toán ở tiểu học

Có nhiều cách phân loại bài toán ở tiểu học Có thể kể đến những cách phân loại thông dụng sau:

Dạng 1: Bài toán có lời văn và bài toán thực hiện phép tính

- Bài toán có lời văn: A notebook label is a rectangle with the length of

8cm and the width of 5cm Calculate the area of the notebook label

- Bài toán thực hiện phép tính: Fill in the table as appropriate (as shown)

Chiều dài

Length

Chiều rộng Width

Diện tích hình chữ nhật Area of rectangle

Chu vi hình chữ nhật Perimeter of rectangle 15cm 9cm 15 × 9 = 135 (cm²) (15 + 9) × 2 = 48 (cm)

Trang 27

Trong 2 ví dụ trên ta thấy ví dụ 1 là bài toán có lời văn còn ví dụ 2 là bài toán thực hiện phép tính trong bảng chỉ cần áp dụng qui tắc tính chu vi và diện tích hình chữ nhật

Dạng 2: Bài toán đơn và bài toán hợp

- Bài toán đơn là bài toán khi giải chỉ có một phép tính.Việc rèn luyện cho

HS giải thành thạo các bài toán đơn là cơ sở để giải các bài toán hợp

Ví dụ: In the morning, a store sold 635l of petrol In the afternoon, it sold

128l of petrol less than it did in the morning How many litres of petrol did it sell

in the afternoon?

Trong bài toán trên yêu cầu tìm số lít xăng buổi chiều bán được, biết số lít

xăng buổi chiều bán được ít hơn số lít xăng buổi sáng bán được là 128l dựa vào

từ khóa “less than” (ít hơn) Như vậy để giải bài toán trên chỉ cần dùng một phép

tính duy nhất đó là: 635 - 128 = 507 (l) Vì thế đây là bài toán đơn

- Bài toán hợp là bài toán khi giải có từ hai phép tính trở nên và giới hạn nhiều nhất là bốn phép tính (lớp 4, 5), với các dạng toán điển hình cơ bản sau: tìm hai số khi biết tổng và hiệu; tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số; tìm hai số khi biết tổng và tỷ số; toán về tính tuổi, toán chuyển động; các bài toán tính chu vi, diện tích, thể tích các hình đã học

Ví dụ: A factory produces 680 televisions in 4 days If the number of

televisions is equally produced each day, how many televisions does the factory produce in 7 days?

Bài toán trên yêu cầu tính số ti vi mà nhà máy sản xuất trong 7 ngày biết trong 4 ngày nhà máy đó sản xuất được 680 chiếc ti vi

Để giải được bài toán trên ta cần thực hiện qua hai phép tính đó là:

+ Phép tính 1: 680: 4 = 170 (chiếc)

+ Phép tính 2: 170 × 7 = 1190 (chiếc)

Như vậy bài toán trên là bài toán hợp của hai bài toán đó là:

+ Bài toán 1: A factory produces 680 televisions in 4 days How many

televisions does the factory produce in 1 day? Thực hiện phép tính: 680: 4 = 170

(televisions)

Trang 28

+ Bài toán 2: A factory produces 170 televisions in 1 day How many

televisions does the factory produces in 7 days? Thực hiện phép tính: 170 × 7 =

1190 (televisions)

Và trong thực tế giáo viên có thể tách bài toán thành hai bài toán như trên nếu HS không suy nghĩ được cách giải

Dạng 3: Bài toán điển hình và bài toán không điển hình

- Bài toán điển hình: Là bài toán mà lời giải đã có mẫu cho trước, cứ áp dụng mẫu là có bài giải

Ví dụ: To travel a distance of 23,1km, a person cycles at a speed of

13,2km/h Find the time it takes him to travel

Trong bài toán trên ta thấy muốn tính thời gian người đó đi chỉ cần áp dụng qui tắc: thời gian chuyển động bằng quãng đường đi được chia cho vận tốc

Thời gian người đó đi là: 23,1: 13.2 = 1,75 (giờ)

- Bài toán không điển hình: Là những bài toán mà bài giải chưa có mẫu cho trước để giải được những bài toán này, HS phải suy nghĩ một cách tích cực, phải tư duy linh hoạt và sáng tạo

Ví dụ: A rectangular field has the length of 234m and the width is 1

3 of the length Find the perimeter of that field

Trong bài toán trên ta không thể áp dụng qui tắc tính chu vi hình chữ nhật ngay vì chưa biết chiều rộng của hình chữ nhật, do đó trước hết ta phải đi tìm chiều rộng của hình chữ nhật GV có thể tách bài toán trên thành hai bài toán điển hình như sau:

+ Bài toán 1: A rectangular field has the length of 234m and the width is

1

3 of the length Calculate the width of that field HS sẽ thực hiện phép tính: 234

: 3 = 78 (m)

Trang 29

+ Bài toán 2: A rectangular field has the length of 234m and the width of

78m Find the perimeter of that field HS sẽ thực hiện phép tính: (234 + 78) × 2

= 624 (m)

Như vậy, trong dạy học giải toán ở tiểu học, ta có thể tách một bài toán hợp thành các bài toán đơn, một bài toán không điển hình thành các bài toán điển hình để gợi mở, hướng dẫn HS Ngược lại để rèn tư duy phân tích, tổng hợp, GV

có thể tạo ra một bài toán hợp từ các bài toán đơn, một bài toán không điển hình thành các bài toán điển hình khi mà HS đã giải thành thạo các dạng toán đó

Dạng 4: Bài toán ngược của bài toán đã cho

Người ta quan niệm, khi giải một bài toán nếu ta thay một trong những dữ kiện của đề bài bằng đáp số của bài toán rồi đặt câu hỏi cho dữ kiện ấy thì ta được bài toán ngược của bài toán ban đầu

Ví dụ: - Bài toán thuận: A square has the perimeter of 24cm Find the area

1.2.3 Những lưu ý khi lập đề toán bằng tiếng Anh

1.2.3.1 Về cấu trúc của một đề toán

Cấu trúc của một bài toán là hệ thống những quan hệ trong bài toán đó Nói cách khác đó là hệ thống các điều kiện ở trong bài toán Khi xem xét cấu trúc bài toán ta chỉ lưu tâm đến sự tồn tại của dữ kiện chứ không để ý giá trị cụ thể của dữ kiện

Trang 30

Có hai cách thường dùng để mô tả cấu trúc bài toán là "sử dụng biểu thức chữ để ghi lại cách tìm ẩn số thông qua giá trị của các dữ kiện" hoặc "sử dụng công thức chữ để ghi lại mối quan hệ giữa các ẩn số và dữ kiện"

1.2.3.2 Yêu cầu khi soạn các đề toán

- Giáo viên cần có hiểu biết vững chắc về chương trình môn Toán tiểu học

- Xác định đúng yêu cầu của một bài toán

- Phát triển thành các bài toán tương đối mới dựa trên bài toán đã có sẵn

- Có khả năng khái quát hóa các sự kiện toán học

- Thành thạo về thuật ngữ toán học, sử dụng chính xác, dễ hiểu nhất có thể Đặc biệt việc lập đề toán bằng tiếng Anh phải được tiến hành từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Để dần dần nâng cao kĩ năng ra đề cũng như thuật ngữ tiếng Anh về lĩnh vực toán học

1.2.3.3.Yêu cầu của một bài toán

- Bài toán phải có nội dung phải đáp ứng được mục đích yêu cầu của bài dạy

- Bài toán phải phù hợp với trình độ của HS

Một bài toán bất kì đưa ra cho HS giải bằng tiếng Việt hay tiếng Anh đều phải phù hợp với chương trình Bên cạnh việc nắm vững nội dung từng mạch kiến thức, kĩ năng của lớp mình được phân công dạy thì giáo viên cần nắm vững trình độ nhận thức của HS lớp mình để đưa ra đề toán phù hợp với trình độ của các em, không quá khó hoặc không quá dễ

- Bài toán phải đầy đủ dữ kiện, không thừa hoặc không thiếu dữ kiện Nghĩa là những cái đã cho là vừa đủ để tìm ra đáp số của bài toán mà nếu

bỏ bớt đi một trong những cái đã cho thì sẽ không tìm ra được đáp số xác định của bài toán Khi sáng tác một bài toán thì dữ kiện đưa ra phải đủ chứ không thể thiếu hoặc thừa dữ kiện, dẫn đến tình trạng một bài toán có nhiều đáp án khác nhau

- Câu hỏi hoặc yêu cầu của bài toán phải rõ ràng và đủ ý nghĩa

Với cùng một dữ liệu nhưng có nhiều cách đặt câu hỏi khác nhau Tuy

Trang 31

được phép tính để giải Bởi trong nhiều trường hợp hiểu rõ nội dung câu hỏi của bài toán cũng là điều kiện để các em xác định đúng phép tính và giải đúng bài toán

- Số liệu của bài toán phải phù hợp với thực tiễn và có tính sư phạm Giải đề toán bằng tiếng Anh sẽ giúp HS vận dụng những khả năng tính toán

và vốn từ vựng tiếng Anh vào trong thực tiễn cuộc sống Chính vì vậy, đề toán cần giúp HS thấy được mối quan hệ giữa toán học và thực tiễn, phải đảm bảo được tính phù hợp với thực tiễn, đồng thời, thể hiện được tính sư phạm, tính giáo dục thông qua bài toán đó Ngôn ngữ của bài toán phải gần gũi với thực tế cuộc sống của HS Ví dụ những bài toán hỏi về số lượng của thùng đựng dâu tây (boxes contain strawberry), về những quả chuối (bananas)…

- Ngôn ngữ của bài toán phải ngắn gọn, mạch lạc, trong sáng và dễ hiểu Bất kì một bài toán nào cũng cần được trình bày ngắn gọn, tránh tình trạng

sử dụng câu từ dài dòng như văn viết Bên cạnh đó, phải đảm bảo tính mạch lạc, trong sáng, diễn đạt câu hỏi rõ ràng để không hiểu lầm, khó đi vào trọng tâm để lựa chọn phép tính đúng khi giải toán

1.2.4 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh

Theo kinh nghiệm của bản thân cũng như sưu tầm các đề toán bằng tiếng Anh của các thầy cô tiểu học, chúng tôi cho rằng để lập một đề toán bằng tiếng Anh GV cần thực hiện các bước như sau:

+ Bước 1: Tìm đọc nội dung bài toán tương tự bằng tiếng Anh rồi lọc ra các thuật ngữ chính, các cấu trúc câu chính của đề

+ Bước 2: Phân tích rõ mục tiêu bài toán: mục tiêu kiến thức toán học, tiếng Anh và các kĩ năng, thái độ

+ Bước 3: Tìm trọng tâm bài toán và xác định cấu trúc của bài toán

Giáo viên cần chuẩn bị từ vựng về thuật ngữ toán học và xác định cấu trúc dạng bài rồi lựa chọn cách ra đề phù hợp với từng đối tượng HS

+ Bước 4: Thiết kế đề toán bằng tiếng Anh

Trang 32

Thiết kế những đề toán liên quan đến chủ đề, các dạng toán củng cố kiến thức cũng như các dạng toán chiếm lĩnh tri thức

- Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh nói trên có thể được trình bày bởi

sơ đồ dưới đây:

Hình 1.1 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh 1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

Lứa tuổi HS tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các em trở thành một hoc sinh ở trường phổ thông chứ không còn là một em bé mẫu giáo “học

mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một sự biến chuyển lớn rất quan trọng của lứa tuổi này

Mục tiêu kiến thức Mục tiêu kĩ năng Mục tiêu thái độ

Bước 1: Tìm đọc nội dung

bài toán tương tự bằng tiếng

Trang 33

Đây là giai đoạn HS bắt đầu tham gia vào hoạt động mang tính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người Lứa tuổi này diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức như sau:

- Tri giác của các em đã được phát triển hơn hẳn.Trẻ có khả năng định hướng tốt với các hình dạng và màu sắc khác nhau Song sự tri giác ấy mới chỉ dừng lại ở mức nhận biết và gọi tên hình dạng và màu sắc Trẻ chưa biết phân tách một cách có hệ thống bản thân các thuộc tính và phẩm chất của các đối tượng được tri giác Sau quá trình học tập tại trường phổ thông khả năng phân tích và phân biệt các đối tượng đã được tri giác được phát triển mạnh mẽ và hình thành một dạng hoạt động mới là quan sát

- Trí nhớ của các em đang phát triển mạnh Ban đầu trẻ áp dụng phương pháp ghi nhớ đơn giản nhất là nhắc đi nhắc lại nhiều lần để ghi nhớ nguyên văn tài liệu Sau đó, các em được dạy ghi nhớ có chủ định một cách lâu dài Ghi nhớ máy móc dần dần tiến tới ghi nhớ có ý nghĩa dựa trên mối quan hệ lôgic của nội dung

- Trí tưởng tượng của các em phát triển mạnh hơn và phong phú hơn So với giai đoạn đầu khả năng tưởng tượng của trẻ khá nghèo nàn thì đến giai đoạn thứ hai, khi trẻ học lớp 2 lớp 3 thì khả năng tưởng tượng của trẻ tăng lên rõ rệt Trẻ có khả năng tạo những hình ảnh mà không cần có sự cụ thể hóa đặc biệt nhờ vào trí tưởng tượng hoặc những sơ đồ

- Tư duy của các em phát triển rất nhanh Giai đoạn đầu cấp tiểu, học tư duy của các em giống với tư duy của trẻ mẫu giáo Sư phân tích tài liệu của lứa tuổi này chủ yếu diễn ra trong bình diện hành động trực quan Nghĩa là trẻ chỉ có khả năng tư duy khi các đối tượng tác động trực tiếp đến trẻ Khả năng khái quát hóa của trẻ giai đoạn này chủ yếu dựa trên những dấu hiệu sặc sỡ của đối tượng Giai đoạn cuối cấp tiểu học, tư duy của các em chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HS tiểu học

- Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnh Khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa phát triển dần theo lứa tuổi, đặc biệt HS lớp 4,5 các em bắt đầu biết khái quát hóa

Trang 34

- Ngôn ngữ của các em có sự phát triển rõ rệt Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thực thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ

- Căn cứ vào đặc điểm nhận thức, sự phát triển tâm sinh lý của HS tiểu học

mà cấu trúc nội dung môn toán có sự phù hợp với từng giai đoạn phát triển của HS:

+ Giai đoạn đầu cấp (lớp 1, 2, 3)

HS bắt đầu tự chuyển hoạt động chủ đạo là hoạt động chơi mà học Do đó, học tập trong giai đoạn này là “ học mà chơi, chơi mà học” học trong hoạt động

và bằng hoạt động, nên việc tổ chức hoạt động trò chơi trong một giờ học toán ở giai đoạn này là hết sức cần thiết GV cần phải đưa HS vào các tình huống hoạt động trong một giờ học toán tức là mọi HS đều phải được hoạt động (bằng tư duy, ngôn ngữ, hành vi)

Nhận thức của HS giai đoạn này chủ yếu là nhận thức cảm tính dựa vào các đồ vật gắn liền với đời sống hằng ngày của HS Vì vậy, dạy học giai đoạn này nhất thiết phải sử dụng các yếu tố trực quan

+ Giai đoạn cuối cấp (lớp 4, 5)

Nhận thức của HS ở giai đoạn này bắt đầu chuyển sang nhận thức lý tính trên cơ sở quan sát, phân tích, so sánh các sự vật và hiện tượng trong học tập và trong đời sống Vì vậy, khi dạy học ở giai đoạn này cần giảm dần về thời gian sử dụng và mức độ trực quan của yếu tố trực quan

Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động trò chơi trong một giờ học toán giai đoạn này là không bắt buộc, tuy nhiên nên khuyến khích việc tổ chức các hoạt động trò chơi mang tính trí tuệ, trò chơi xử lý tình huống trong học tập và trong

cuộc sống

Trang 35

Kết luận chương 1

Trong quá trình dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học, kĩ năng lập

đề toán có vai trò quan trọng trong việc tạo ra hệ thống các bài toán phong phú, đáp ứng mục tiêu dạy học đề ra Việc phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh cho GV tiểu học tạo điều kiện cho GV nâng cao được năng lực sư phạm, tự tạo ra được những tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy phù hợp với tình hình thực tế Từ đó, giúp HS phát triển được kiến thức, kĩ năng cũng như thái độ học tập môn Toán

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số khái niệm công cụ về kĩ năng

và kĩ năng lập đề toán; phân tích được mục đích và ý nghĩa của việc lập đề toán

ở tiểu học, đề xuất được quy trình cũng như những yêu cầu khi lập đề toán bằng tiếng Anh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu về đăc điểm nhận thức của HS tiểu học Qua đó khẳng định ý nghĩa của kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của

GV tiểu học Để tìm hiểu rõ về thực trạng phát triển kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của GV tiểu học hiện nay, chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng của

GV một số trường tiểu học Nội dung này được trình bày trong chương 2 của luận văn

Trang 36

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

2.1 Dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

2.1.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán

Mục tiêu dạy học môn Toán tiểu học nhằm giúp học sinh:

- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số,

số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí

và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Ngoài ra, môn Toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất các đạo đức của người lao động trong xã hội hiện đại

2.1.1.2 Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh tiểu học

Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực kể cả lĩnh vực giáo dục đã đưa tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng Tiếng Anh là công

cụ giao tiếp là chìa khóa dẫn đến kho tàng nhân loại Mặt khác việc ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin đã làm cho việc học tiếng Anh trở thành cấp bách

và không thể thiếu Vì vậy việc học tiếng Anh của HS các cấp nói chung, cấp Tiểu học nói riêng được HS, phụ huynh HS, GV hết sức quan tâm Tiếng Anh

đã trở thành môn học chính yếu trong chương trình học của HS

Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù sáng tạo của cả người học lẫn người dạy Đặc biệt trong tình hình cải cách giáo

Trang 37

dục như hiện nay, dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp được nhiều người ủng hộ Theo phương pháp này HS có nhiều cơ hội để giao tiếp với bạn bè, với GV để rèn luyện ngôn ngữ, chủ động tích cực tham gia vào các tình huống thực tế: Học

đi đôi với hành

Dạy và học tiếng Anh ở tiểu học được xem là nền tảng quan trọng góp phần hình thành cho HS những kĩ năng giao tiếp cơ bản, giúp các em có thêm nhiều kiến thức, hiểu biết, áp dụng khi lên các cấp học cao hơn Yêu cầu cần đạt đặt ra với HS tiểu học về năng lực sử dụng ngoại ngữ là đạt bậc 1 (khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam)

2.1.1.3 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

Việc dạy và học song ngữ được xem là cơ hội giúp HS thực hành ngoại ngữ Đây là mô hình mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập cho HS khi môi trường học tập ngày càng rộng mở

Mục đích của việc dạy toán bằng tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượng nhân lực để đẩy mạnh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời giúp GV

và HS tăng cường năng lực ngoại ngữ, có khả năng tiếp cận và khai thác nguồn tài liệu khoa học và chuyên môn bằng tiếng Anh phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó tăng thêm cơ hội việc làm và phát triển sự nghiệp cho người học

Trên thực tế, việc định hướng cho HS học Toán bằng tiếng Anh ngay từ cấp tiểu học không chỉ giúp trẻ có một tư duy Toán học mạch lạc, tiếp thu ngôn ngữ tiếng Anh một cách chủ động, mà còn giúp các em thấy Toán học và tiếng Anh trở nên thu hút hơn

Không những thế, HS còn có thêm cơ hội để tham gia các kỳ thi Toán học trong nước và quốc tế Đây chính là chiếc “chìa khóa” giúp các em mở các cánh cửa đầy triển vọng trong tương lai

2.1.2 Nội dung dạy học Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học

Hiện nay chưa có một quyết định chính thống nào quy định về chương trình học toán bằng tiếng Anh ở cấp tiểu học Tuy nhiên, ở một số trường tiểu

Trang 38

học Việt Nam chất lượng cao và trường tiểu học quốc tế tại Hà Nội đang chú trọng và triển khai tốt việc dạy học môn Toán bằng Tiếng Anh Có hai hình thức triển khai đối với các trường tiểu học: dạy chương trình song ngữ Toán – Tiếng Anh (theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo) hoặc dạy theo chương trình của nước ngoài (dưới hình thức tăng cường hoặc chính thức)

2.1.2.1 Nội dung chương trình dạy song ngữ

Một số trường tiểu học dạy chương trình song ngữ Toán - Tiếng Anh thì nội dung dạy học toán bằng tiếng Anh được triển khai song song với với nội dung môn toán bằng tiếng Việt đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai, cụ thể

Sử dụng các dấu = (bằng), < (bé hơn), > (lớn hơn)

- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép cộng

- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép trừ

- Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10

- Số 0 trong phép cộng, phép trừ

- Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ

- Tính giá trị biểu thức số có đến dấu hai phép tính cộng, trừ

1.2 Các số đến 100 Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100

- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100 Giới thiệu hàng chục, hàng đơn

vị Giới thiệu tia số

- Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100 Tính nhẩm và tính viết trong trong phạm vi 100

Trang 39

- Tính giá trị biểu thức số có đến hai phép tính cộng, trừ (các trường hợp đơn giản)

2 Đại lượng và đo đại lượng:

- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăngtimet: Đọc, viết, thực hiện phép tính với các số đo theo đơn vị đo xăngtimet Tập đo và ước lượng độ dài

- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: tuần lễ, ngày trong tuần Bước đầu làm quen với đọc lịch (loại lịch hàng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ (khi kim phút chỉ vào số 12)

3 Yếu tố hình học:

- Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn

- Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình; đoạn thẳng

- Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông, gấp, cắt hình

4 Giải bài toán:

- Giới thiệu bài toán có lời văn

- Giải các bài toán bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là các bài toán trêm, bớt một số đơn vị

- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ

- Giải bài tập dạng: “Tìm x biết: a + x = b, x - a = b, a - x = b (với a, b là các số có đến 2 chữ số)” bằng sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của phép tính

Trang 40

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép chia: lập phép chia từ phép nhân

có một thừa số chưa biết khi biết tích và thừa số kia Giới thiệu số bị chia, số chia, thương

- Lập bảng nhân với 2, 3, 4, 5 có tích không quá 50

- Lập bảng chia cho 2, 3, 4, 5 có số bị chia không quá 50

- Nhân với 1 và chia cho 1

- Nhân với 0 Số bị chia là 0 Không thể chia cho 0

- Nhân, chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính Nhân số có đến 2 chữ số với số có 1 chữ số không nhớ Chia số có đến 2 chữ số cho số có 1 chữ số, các bước chia trong phạm vi các bảng tính

- Tính giá trị biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ hoặc nhân, chia Giải bài tập dạng: “Tìm x biết: a × x = b; x: a = b (với a là số có 1 chữ số, khác 0; b là số có 2 chữ số)”

- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (dạng 1

𝑛, với n là các số tự nhiên khác 0 và không vượt quá 5)

2 Đại lượng và đo đại lượng

- Giới thiệu đơn vị đo độ dài đêximet, met và kilomet, milimet Đọc, viết các số đo độ dài theo đơn vị đo mới học Quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài: 1m

Ngày đăng: 17/03/2019, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Áng (chủ biên), Dương Quốc Ân, Hoàn Thị Phước Hảo (2013), Toán bồi dưỡng HS giỏi lớp 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán bồi dưỡng HS giỏi lớp 4
Tác giả: Nguyễn Áng (chủ biên), Dương Quốc Ân, Hoàn Thị Phước Hảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
2. Nguyễn Áng (chủ biên), Dương Quốc Ân, Hoàng Thị Phước Hảo, Phan Thị Nghĩa (2013), Toán bồi dưỡng học sinh lớp 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán bồi dưỡng học sinh lớp 5
Tác giả: Nguyễn Áng (chủ biên), Dương Quốc Ân, Hoàng Thị Phước Hảo, Phan Thị Nghĩa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
6. Phan Văn Các (1987), Từ điển Hán - Việt (dùng trong nhà trường), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
7. Phan Văn Các (2008), Từ điển Hán - Việt, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
8. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển tâm lí học, NXB từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lí học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: NXB từ điển Bách Khoa
Năm: 2008
9. Lê Thảo Dương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thanh Thảo (2018), Rèn kĩ năng giải toán có lời văn bằng tiếng Anh cho học sinh tiểu học, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên. Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng giải toán có lời văn bằng tiếng Anh cho học sinh tiểu học
Tác giả: Lê Thảo Dương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thanh Thảo
Năm: 2018
11. G.Polya (1976), Sáng tạo Toán học, Tập 1 (Sách dịch), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo Toán học
Tác giả: G.Polya
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1976
12. G.Polya (1997), Giải một bài toán như thế nào? (sách dịch), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Tác giả: G.Polya
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
13. Phạm Thu Hà (2014), Vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo, http://fpt.utb.edu.vn/index.php/tin-bai-anh/tin-tuc-su-kien/169-vi-tri-vai- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo
Tác giả: Phạm Thu Hà
Năm: 2014
14. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu, Sách giáo khoa Toán 1, NXB Giáo dục (sách song ngữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 1, "NXB Giáo dục (
Nhà XB: NXB Giáo dục ("sách song ngữ)
15. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu, Sách giáo khoa Toán 2, NXB Giáo dục (sách song ngữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 2, "NXB Giáo dục (
Nhà XB: NXB Giáo dục ("sách song ngữ)
16. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu, Sách giáo khoa Toán 3, NXB Giáo dục (sách song ngữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 3", NXB Giáo dục (
Nhà XB: NXB Giáo dục ("sách song ngữ)
17. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu, Sách giáo khoa Toán 4, NXB Giáo dục (sách song ngữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 4", NXB Giáo dục (
Nhà XB: NXB Giáo dục ("sách song ngữ)
18. Đỗ Đình Hoan (Chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái Lai, Đỗ Trung Hiệu, Sách giáo khoa Toán 5, NXB Giáo dục (sách song ngữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 5", NXB Giáo dục (
Nhà XB: NXB Giáo dục ("sách song ngữ)
19. Đào Thị Hồng (2013), Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp, http://thuviengiaoan.vn/giao-an/y-nghia-cua-day-hoc-theo-quan-diem-tich-hop-33390/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp
Tác giả: Đào Thị Hồng
Năm: 2013
20. Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thụy (2001), Các phương pháp giải toán ở Tiểu học tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp giải toán ở Tiểu học tập 1
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
21. Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thụy (2001), Các phương pháp giải toán ở Tiểu học tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp giải toán ở Tiểu học tập 2
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
22. Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng (2013), “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 12 (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, "Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Tác giả: Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng
Năm: 2013
23. Hà Sĩ Hồ, Đỗ Đình Hoan, Đỗ Trung Hiệu (1995), Phương pháp dạy học Toán, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán
Tác giả: Hà Sĩ Hồ, Đỗ Đình Hoan, Đỗ Trung Hiệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
24. Bùi Văn Huệ, Giáo trình Tâm lý học Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w