Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu - Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung rất quan trọng, cần thiết trong việc gâ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÒ VĂN QUÂN
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG NHÓM CÂY: (ĐINH VÀNG, THÔNG TRE, BÁCH XANH, SƯA ĐỎ, DẺ) TRONG VƯỜN THỰC VẬT CHUYỂN VỊ TẠI MÔ HÌNH
KHOA LÂM NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
TháiNguyên-2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÒ VĂN QUÂN
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG NHÓM CÂY: (ĐINH VÀNG, THÔNG TRE, BÁCH XANH, SƯA ĐỎ, DẺ) TRONG VƯỜN THỰC VẬT CHUYỂN VỊ TẠI MÔ HÌNH
KHOA LÂM NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõnguồngốc
TháiNguyên,ngày 04 tháng 06 năm2018
Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan
PGS.TS TRẦN QUỐC HƯNG Lò Văn Quân
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã trang bị cho mình kiến thức cơ bản về chuyên môn dưới sự giảng dạy và chỉ đạo tận tình của toàn thể thầy cô giáo Để củng cố lại những kiến thức đã học cũng như làm quen với công việc ngoài thực tế thì việc thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng, tạo điều kiện cho sinh viên cọ sát với thực tế nhằm củng cố lại những kiến thức đã tích lũy được trong nhà trường đồng thời nâng cao tư duy hệ thống lý luận để nghiên cứu ứng dụng một cách hiệu quả những tiến độ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS.TS Trần Quốc Hưng, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên Cưu Và Đánh Gía SinhTrưởng Nhóm Cây: Đinh Vàng,
Sủa Đỏ, Thông Tre, Bách Xanh, Dẻ”để hoàn thành khóa luận này em đã
nhận sự giúp đỡ tận tình các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, đặc biệt
là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS.Trần Quốc Hưng đã giúp đỡ em trong suốt quá trình làm đề tài
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Trần Quốc Hưng đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt bản khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế vì vậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy
em rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của thầy cô giáo và toàn thể các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2018
Sinh viên
Trang 5Lò Văn Quân DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tổng hợp tỷ lệ cây sống và cây chết 36 Bảng 4.2: Tổng hợp số liệu đường kính gốc (D00) của 5 loài cây bản địa 38 Bảng 4.3: Tổng hợp số liệu chiều cao (Hvn) của 5 loài cây bản địa 41 Bảng 4.4: Kết quả sinh trưởng số lá của 3 loài cây bản địa 43 Bảng 4.5: Chất lượng của 5 loài cây 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cây bách xanh 22
Hình 2.2 Cây Sưa đỏ 23
Hình 2.3 Cây đinh vàng 24
Hình 2.4 Cây thông tre 25
Hình 2.5 Cây Dẻ 26
Hình 4.1 Gắn mã thể lên cây 36
Hình 4.2 Đo đường kính gốc cây 37
Hình 4.3 Biểu đồ sự phát triển của 5 loài cây bản địa 39
Hình 4.4 Đo chiều cao vút ngọn cây 40
Hình 4.5 Biểu đồ phát triển (Hvn) của 5 loài cây bản địa 42
Hình 4.6 Sau ăn lá 45
Hình 4.7 Vàng lá 45
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.3 Khái quát chung đặc hình thái của 5 loại cây bản đia 22
2.3.1 Cây Bách xanh (Calocedrus Macrolepis) 22
2.3.2 Cây Sưa Đỏ (Dalbergia Tonkinensis) 23
2.3.3 Cây đinh vàng (Femandoa Collignonii) 24
2.3.4 Cây thông tre (Podocarpus Neriifolius) 25
2.3.5 Cây Dẻ (Castanea sativa) 26
Trang 92.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 28
2.3.1 Đất đai 28
2.3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 29
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Quy hoạch phân lô trồng 31
3.3.2 Nghiên cứu sinh trưởng 31
3.4 Xử lý số liệu 32
3.4.1 Thu thập số liệu 32
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Quy hoạch phân lô và mã hóa số cây 34
4.2 Nghiên cứu sinh trưởng của 5 loài cây bản địa 36
4.2.1 Tỷ lệ sống của 5 loài cây bản địa trong vườn thực vật tại mô hình khoa Lâm nghiệp 36
4.2.2 Kết quả sinh trưởng đường kính của 5 loài cây bản địa trong vườn thực vật tại mô hình khoa Lâm nghiệp 37
4.2.3 Kết quả sinh trưởng chiều cao của (Hvn) của 5 loài cây bản địa trong vườn thực vật tại mô hình khoa Lâm nghiệp 40
4.2.4 Kết quả sinh trưởng về số lá của 3 loài cây bản địa 43
4.3.Đánh giá tình hình sâu bệnh hại 45
4.4 So sánh tình trạng sinh trưởng tại vườn thực vật và nơi sinh sống vốn có của chúng 46
Trang 104.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho cây bản địa 47
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Tồn tại và đề nghị 49
5.2.1 Tồn tại 49
5.2.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 11Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây bản địa
Trong sự phát triển của xã hội loài người, rừng được coi là một nguồn tài nguyên có vai trò vô cùng quan trọng bởi những ảnh hưởng mang tính toàn cầu của nó Rừng không chỉ cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà còn có nhiều
ý nghĩa lớn hơn ơ trong nhiều lĩnh vực như: Bảo vệ môi trường sinh thái, du lịch cảnh quan, nghiên cứu khoa học, các giá trị nhân văn, v.v Tuy nhiên, sự tàn phá rừng trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống con người, mất rừng gây nên sự biến đổi theo hướng tiêu cực của khí hậu toàn cầu, đất đai bị rửa trôi xói mòn nặng nề, các lòng sông lòng hồ bị bồi lấp, an ninh lương thực bị đe doạ, các sản phẩm từ rừng đang dần bị cạn kiệt trong khi nhu cầu của xã hội luôn tăng theo thời gian,.v.v Đứng trước tình hình đó, trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, việc khôi phục lại lớp thảm thực vật đã bị mất đi đang được coi là một yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ
Trang 12hết với một yêu cầu bắt buộc là lớp thảm thực vật gây trồng được phải đảm bảo chức năng bền vững lâu dài
Trong những năm gần đây, chính phủ đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng kinh tế với hiệu quả ban đầu tương đối khả quan Song do chạy theo xu thế phát triển kinh tế, vốn đầu tư còn hạn chế nên các chươngtrình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập trung vào các loài cây mọc nhanh như: Keo, Bạch đàn, Bồ đề, v.v những loài cây này mới chỉ đáp ứng được mục tiêu kinh tế chứ đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, tính bền vững chưa cao.Trong chiếnlược phát triển Lâm nghiệp, ngành Lâm nghiệp đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng được hé mở
Ngày nay, người ta đã biết được những lợi ích to lớn mà các loài cây bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn
là những loài cây "của tự nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân thiện với môi trường sinh thái" Ngoài ra, chúng mang những
ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ có nhiều phần lợi hơn Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành gây trồng mô hình trồng một số loài cây bản địa, theo đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng
cụ thể nào nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa này
mà mới chỉ có điều tra sơ bộ để đánh giá và chọn ra một số loài có triển vọng tại khu rừng trồng Trước những thực trạng trên, để bảo vệ hợp lý tài nguyên
Trang 13rừng nói chung và một số loài cây bản địa nói riêng, để nâng cao hiệu quả bảo tồn một số loài cây bản địa tại mô hình trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên, việc thực hiện đề tài:“ Nghiên Cưu Và Đánh Gía SinhTrưởng Nhóm Cây: Đinh Vàng, Sủa Đỏ, Thông Tre, Bách Xanh, Dẻ tại mô hình khoa Lâm
Nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”là thực sự cần thiết để đưa ra
những đánh giá, giải pháp phù hợp trong việc phát triển, bảo vệ các loài cây bản địa hiệu quả
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Nghiên cứu xây dựng và tạo ra mô hình rừng cây bản địa, nhằm mục đích tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa, tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu góp phần lựa chọn được một vài loài cây như: Bách xanh, Dẻ, Đinh vàng, Thông Tre, Sưa Đỏ, tốt nhất để đưa vào mô hình tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa cho trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung rất quan trọng, cần thiết trong việc gây trồng ở địa điểm mới, nhằm đưa ra được kết quả chúng có phù hợp với khu vực để đưa các loài cây này vào công tác xây dựng vườn thực vật và đồng thời mở rộng diện tích và cả quy mô
- Vườn thực vật chuyển vị nơi chứa đựng rất nhiều loài cây quý hiếm và
có tên trong các danh lục đỏ hay nghị định đang đứng trên bờ vực nguy hiểm, với mục đích bảo tồn về nguồn gen và xây dựng nơi nghiên cứu khoa học cho mọi người thì việc xây dựng vườn thực vật rất cần thiết với thực trạng hiện nay
- Khái niệm về biển pháp chuyển vị: Là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học Biện pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của chúng Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy
mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân
- Trên cơ sở đang xây dựng 1 vườn thực vật trong mô hình khoa Lâm nghiệp giống như hình thành 1 tế bào nhỏ và sẽ nuôi tế bào ấy lớn mạnh theo thời gian để các loài cây bản địa luôn được giữ và bảo tồn Đó cũng là 1 trong những mục tiêu để phát triển rừng một cách bền vững
Trang 152.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Do trồng rừng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu nhằm tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau trong đó đa số là sử dụng cây bản địa Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm và trồng rừng hỗn loài thành công bằng loài cây này Sau đây là một số công trình nghiên cứu điển hình:
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:
Tại Malaysia, năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 – 15 tuổi và 2 – 3 tuổi
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong rừng tự nhiên, trên mỗi băng người ta có thể trồng 6 hàng cây bản địa
và trồng 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng Thí nghiệm đối với rừng Keo tai tượng dự án chia thành 2 khu:
Khu chặt theo băng:
Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa;
Khu chặt theo hàng:
Chặt 1 hàng Keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng Keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Chặt 4 hàng Keo trồng 4 hàng cây bản địa;…
Kết quả cho thấy, trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng
có 3 loài cây gồm: Shorea roxburrghii; S.ovalis; S.leprosula có khả năng sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất Tỷ lệ sống giữa các công thức
Trang 16khôngkhác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng trong băng 10m và băng 40m tốt hơn băng 20m Kết quả thí nghiệm trồng theo hàng đã chỉ ra rằng trồng 1 hàng cho tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng chiều cao cao hơn nơi trồng từ 2 – 4 hàng Về khả năng sinh trưởng đường kính lại tốt ở công thức trồng 6 hàng và 16hàng Dự án cònvạch ra kế hoạch điều chỉnh các công thức trồng tại những thời điểm 2, 8, 12, 18, 28, 34, 41, 47 năm sau khi trồng (dẫn theo Lê Minh Cường, 2007)
Tại Bayern - Đức, Vân sam (Abies) trồng hỗn loài với Sồi (Terminalia
Catappa) có sản lượng cao hơn trồng thuần loài, nhưng ngược lại Sồi lại mọc
tốt hơn trong các quần thụ thuần loài Hỗn giao của loài Bạch dương (Bulô)
với Vân sam đã nâng cao sản lượng lên từ 135-160% (dẫn theo Nguyễn Đức
Thế, 2007) Linh sam Douglas (Pseudotsuga menziesii) trong quần thụ hỗn giao với Tuyết tùng đỏ (Cryptomeria Japonica) cũng đạt tới 217m3/ha, so với các quần thụ thuần loài Linh sam Douglas chỉ đạt 203m3/ha và Tuyết tùng đỏ cũng chỉ đạt 175m3/ha Điều này chứng tỏ trồng hỗn loài có năng suất cao hơn trồng thuần loài
Tại Đan Mạch, thông qua nghiên cứu sinh trưởng của Jensen (1983)
cho thấy rằng Vân sam (Abies) trồng hỗn giao với Linh sam bạc (Abies alba)
có sản lượng cao hơn chính nó trồng thuần loài Tương tự, Bulô hỗn giao với Thông tốt hơn Bulô thuần loài Hỗn giao giữa Betula pendula với Abies theo
tỷ lệ 25-50% đã làm tăng sản lượng của Abies ở tất cả các tuổi (dẫn theo Nguyễn Đức Thế, 2007)
Tại Costa Rica, ba kiểu rừng trồng, mỗi kiểu rừng trồng là hỗn giao của 4 loài cây bản địa chịu bóng khác nhau trong vùng đất thấp ẩm ướt cho thấy từ 2 - 4 6 năm tuổi, đường kính ngang ngực trong các quần thụ hỗn giao lớn hơn trong các quần thụ thuần loài của những loài mọc nhanh (dẫn theo Nguyễn Đức Thế, 2007)
Trang 17Một nghiên cứu khác tại Costa Rica, Haggar.J và J.Ewel (1995) đã trồng hai loài cây Hyeronima alchorneoides và Cordia alliodora ở vùng đất thấp theo hai phương thức khác nhau là thuần loài và hỗn loài Các tác giả đã nhận định rằng cả hai loài trồng hỗn giao với nhau đều sinh trưởng tốt hơn trồng thuần loài Hơn nữa, hai loài cây này trồng phối hợp với nhau khá thích hợp Bởi vì, sự phân bố của hệ thống rễ cũng như tán lá ở các vị trí khác nhau trong không gian tạo nên sự phối hợp hỗ trợ lẫn nhau nhiều hơn là cạnh tranh không gian dinh dưỡng Cũng hai tác giả này, khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của loài Cordia alliodora trong rừng hỗn loài ở Costa Rica thì thấy loài này sinh trưởng nhanh hơn so với các quần thụ thuần loài (7,9m trong hỗn giao và 4,9m trong thuần loài ở giai đoạn 2 năm tuổi) (Nguyễn Đức Thế, 2007)
Tại Nga, G.S A.A Montanoop đã nghiên cứu sinh trưởng của loài Dẻ với một số loài khác theo các băng có chiều rộng khác nhau 20m, 50m, 100m, 200m Kết quả cho thấy Dẻ sinh trưởng ở băng 50m là tốt nhất [5]
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác về trồng rừng dưới tán, trồng theo băng, rạch với độ tàn che nhẹ và có sử dụng cây bản địa Điển hình ở các nước Nigieria, Congo, Camorun… đây là những công trình đã đạt được nhiều thành công do lợi dụng được thảm che tự nhiên, chúng đã hỗ trợ tốt cho cây bản địa trong giai đoạn đầu
Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình là Mathew (1995), ông đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh lâm phần rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng cũng rất quan trọng Các tác giả Ball, Wormald và Russo (1994) đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm bớt sự
Trang 18cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy, sau khi được tác động các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa thì các loài cây mục đích đã được tạo điều kiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn [10]
Không chỉ có vậy, khi nghiên cứu trồng rừng hỗn loài cũng cần lưu ý đến cấu trúc tầng thứ Vì thế, nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng cũng
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Trong lĩnh vực này điển hình là tác giả Bennar Dupuy (1995), tác giả cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh học và tính hợp quần của các loài cây trong trong lâm phần (dẫn theo Hoàng Văn Thắng, 2007) Điều này cho thấy, để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa vào khả năng sinh trưởng cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp Đây là cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài
Kolexnitsenko (1997) khi nghiên cứu về sự phối hợp giữa các loài cây
gỗ trong trồng rừng hỗn loài đã đúc kết được 5 nguyên tắc lựa chọn loài cây trồng, đó là:
• Nguyên tắc kinh nghiệm
• Nguyên tắc kiểu lâm hình học
• Nguyên tắc lý sinh
• Nguyên tắc sinh vật dinh dưỡng
• Nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ
Có thể nói đây là những nguyên tắc rất cơ bản và tương đối toàn diện
về các lĩnh vực của rừng trồng hỗn loài Để xây dựng thành công các mô hình rừng trồng hỗn loài cần phải dựa vào 5 nguyên tắc trên Trong đó, nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ là rất quan trọng và cần phải có thời gian dài nghiên cứu Nhìn chung, các nguyên tắc này phản ánh được mối quan hệ bên
Trang 19trong và có tính chi phối tới sự tồn tại và sinh trưởng của các loài Sự phân loại theo đặc điểm hoạt hóa của chúng như kích thích, ức chế hoặc kìm hãm quá trình sống thông qua ảnh hưởng của phitonxits là căn cứ để quyết định tỷ
lệ tổ thành các loài cây trong lâm phần hỗn loài Nghiên cứu về vấn đề này tác giả đã đề nghị mật độ loài cây trồng chính trong mô hình trồng rừng hỗn loài không nên ít hơn 50%, loài cây hoạt hóa không nên quá 30 – 40%, loài cây ức chế không quá 10 – 20% trong tổng số các loài cây được lựa chọn để trồng [6]
Với đặc thù riêng của rừng nhiệt đới người ta thường tác động theo các hướng sau (dẫn theo Hoàng Đức Doanh, 2007):
a Hướng thứ nhất:
Từ những lâm phần rừng tự nhiên hỗn giao lá rộng, thông qua sự tác động của những biện pháp kỹ thuật lâm sinh trở thành những lâm phần có cấu trúc ít phức tạp Ưu thế thuộc về một số loài cây có giá trị kinh tế, tuổi ít chênh lệch nhau Tại một số nước Châu Phi thuộc khu vực nói tiếng Pháp, người ta sử dụng phương thức trồng dặm dưới tán theo kiểu quảng canh Fomy (1956) đã tóm tắt kinh nghiệm thu được về kiểu rừng trồng dặm và nêu
ra một số điểm cần thiết về kỹ thuật để đi đến thành công như sau:
1 Đặt cây theo khoảng cách hẹp, dọc trên rạch trồng để có được sự lựa chọn về số cây cần giữ lại và hạ được chi phí về nhân công chăm sóc
2 Chỉ dùng những loài cây ưa sáng
3 Thiết kế rạch trồng theo hướng Đông - Tây để tận dụng được tối đa ánh sáng
4 Phương pháp không đem lại hiệu quả gì nếu có thú lớn
5 Không bao giờ đánh giá thấp sự cạnh tranh của rễ cây và bóng rợp ở trên đầu và bên sườn
Trang 20b Hướng thứ hai:
Thay thế hoàn toàn lâm phần cũ bằng lâm phần mới (phương pháp cải tạo triệt để) đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tạo diện tích rừng đều tuổi thuần loài có giá trị kinh tế cao
Theo tài liệu của Baur và Catino đã giới thiệu và đánh giá các phương thức tái sinh rừng tự nhiên và nhân tạo ở Châu Phi, Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á đều đi đến kết luận rằng việc đưa cây rừng vào các thảm rừng
tự nhiên nhằm bổ xung tổ thành, nâng cao chất lượng rừng tùy thuộc vào cách xử lý, điều kiện ánh sáng, xử lý các thảm rừng cũ một cách thích hợp đối với đặc tính sinh thái của từng loài ở từng giai đoạn tuổi khác nhau mới
có thể đem lại hiệu quả (dẫn theo Hoàng Đức Doanh)
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lá kim với cây bản địa
lá rộng
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây lá kim phục vụ cho công tác trồng rừng như ở Anh, Pháp, Úc, Canada, Đan Mạch… Đa số các công trình tập trung chủ yếu là nghiên cứu các quy luật phân bố, quy lụât tăng trưởng, cấu trúc, đặc tính cơ lý gỗ, một số tính chất lý hoá học đất, tính chất hoá học của nhựa…Về trồng rừng hỗn loài giữa cây lá kim và cây lá rộng bản địa đã có một số nước nghiên cứu về vấn đề này song chưa nhiều
Nghiên cứu trồng cây lá kim hỗn giao với cây bản địa điển hình là ở Đài Loan và một số nước Châu Á Sau khi trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán Kết quả cho thấy đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất [4]
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về cây bản địa và trồng rừng hỗn loài trên thế giới tuy chưa nhiều, song với những thông tin thu thập được về cách
Trang 21lợi dụng độ tàn che tầng cây cao, cách sử dụng cây phù trợ và các phương thức bố trí loài cây trong các mô hình thí nghiệm và với những thông tin về tiểu hoàn cảnh rừng … là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm
có giá trị
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:
Ở Việt Nam, vấn đề trồng rừng hỗn loài đã được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Maurand (người Pháp) ở Đồng Nai vào những năm 30 của thế kỷ trước, tác giả đã sử dụng các
loài Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên (Anisoptera costata) để xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài, cho đến
nay các mô hình này vẫn còn giá trị tham khảo nhất định
Trong giai đoạn 1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài và nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một
số loài cây thuộc họ Dầu Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả số lượng loài cây và diện tích rừng trồng Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước Các loài cây lá rộng bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao
Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây nguyên và Nam
bộ như: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia oliveri), Căm xe (Xylia xylocarpa), Tếch (Tectona grandis) và được trồng chủ yếu tại các
trạm thực nghiệm Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, Lang Lanh và Măng Linh tỉnh Lâm Đồng, Ekmat tỉnh Đắc Lắc, Tân Tạo Thành Phố Hồ Chí Minh Ở miền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Lim xanh
(Erythurophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis), Giổi xanh
Trang 22(Mechelia mediocris), Re gừng (Cinamomum ilcidioides), Mỡ (Manglietia
conifera), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Ràng
ràng mít (Ormosia balansae), Xoan đào (Prunus arborea), Vạng trứng (Endospermum chinense)
Trồng rừng hỗn loài là một phương thức đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, điển hình là nhà khoa học người Pháp, Maurand (1931) đã thử nghiệm là giầu rừng thứ sinh nghèo kiệt bằng các loài cây bản địa ở Trảng Bom – Đồng Nai Rừng thứ sinh nghèo kiệt được xử lý thực bì theo rạch, lúc ban đầu rạch được phát dọn theo đường đồng mức rộng
từ 1 -2m Sau khi trồng một thời gian, rạch được mở rộng 5m
Loài cây bản địa thử nghiệm gây trồng rừng hỗn loài là Sao đen (Hopera odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên (Anisoptera costata) Sau 2 năm thí nghiệm, do rạch quá hẹp, cây bản địa trồng dưới tán
đã bị che lấp bởi tầng cây cao, tác giả đã cải tiến bằng cách cho tiến hành phát quang các tầng trên và chỉ để lại loài cây ưu thế Phương pháp này được gọi là phương pháp “trồng rừng dưới tàn che cao và nhẹ” Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu trồng cây bản địa trên đất trống đồi trọc và sử dụng các
loài cây phù trợ gồm Muồng đen (Cassia siamea), Đậu tràm (Indigofora
teysmanii) Kết quả cho thấy việc dùng cây che phủ ban đầu kết hợp với cây
che phủ trung gian đạt kết quả khá tốt (dẫn theo Hoàng Đức Doanh, 2007)
Trong một nghiên cứu khác ở Đồng Nai, Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm (1985) đã thí nghiệm trồng hỗn loài các cây bản địa: Sao
đen(Hopera odorata), Dầu nước (Dipterocapus Alatus), Gõ đỏ (AfZelia
xylocapa), Cẩm lai (Dalbergia basiaensis), Căm xe (Xylia xyclocarpa) trồng
theo băng và theo rạch, với các loài cây phù trợ là Muồng đen (Cassia
siamea), Keo lá tràm (Acacia auricoliformis), Đậu tràm (Indigofora teysmanii) và Keo dậu (Leucaena leucocephala)
Trang 23Thí nghiệm được bố trí với cự ly 4x4m, cứ 1 hàng cây bản địa mục đích thì trồng xen 1 hàng cây phù trợ Ngoài ra, tác giả đã trồng các loài cây phù trợ trước khi trồng cây bản địa, sau đó tỉa thưa theo băng, băng chặt rộng
từ 10 - 20m và băng chừa cũng rộng từ 10 – 20m Sau 1 năm trồng cây bản địa mục đích trên các băng chặt, kết quả cho thấy cây phù trợ đã có tác dụng,
tỷ lệ sống của cây bản địa đạt khá cao, nhưng chưa ảnh hưởng rõ tới khả năng sinh trưởng ở các băng có kích thước khác nhau [1]
Năm 1962, các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tiến hành thí
nghiệm trồng rừng hỗn loài, lấy cây Mỡ (Manglietia glauca) làm đối tượng
chính của rừng hỗn loài và dùng các loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ
(Manglietia glauca) + Lim Xanh (Erythrophloeum); Mỡ (Manglietia glauca) + Xà cừ (Khay senegalensis), Mỡ (Manglietia glauca) + Tếch (Tectona
grandis) Mỗi loài trồng 1 hàng, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 2m, kết
quả cho thấy Xà cừ và Tếch không thích hợp với phương thức trồng này nên tốc độ sinh trưởng chậm và bị các loài cây khác cạnh tranh, cuối cùng chỉ còn
Mỡ thuần loài Đối với Lim xanh, 2 năm đầu sinh trưởng kém, nhưng giai đoạn tiếp theo Lim xanh phát triển chiều cao nhanh hơn, đến tuổi 10 – 12 Lim xanh đã vươn lên cùng tầng với Mỡ Trần Nguyên Giảng đã nhận xét rằng Lim xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ nhưng chưa tìm được tỷ lệ thích hợp Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh có thể là cây cải tạo đất khá tốt, nhưng Xà cừ và Tếch thể hiện tác dụng này chưa rõ [1]
Trang 24cho thấy năng suất của rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phù trợ tăng 15 – 20% so với rừng Bồ đề trồng thuần loài Lượng thảm mục dưới tán rừng trồng hỗn loài cũng được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa
lá rộng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nổi bật là công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá Chất (1994) Tác
giả đã trồng hỗn loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) với một số loài cây lá rộng bản địa như: Lim xẹt (Peltophorum tonkinense), Giổi xanh (Michelia
mediocris), Thôi chanh (Alangium barbatum), Lõi thọ (Gmelina Arborea),
Ràng ràng (Orosia Pinnata) nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô
hình này được theo dõi đến năm thứ 10 kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài
Khi nghiên cứu trồng rừng cung cấp nguyên liệu gỗ lạng ở Tây Nguyên, Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (1990) đã sử dụng cây Đậu tràm
(Indigofora teysmanii) và Muồng đen (Cassia siamea) như là cây phù trợ để trồng rừng hỗn giao với Tếch (Tectona grandis) Kết quả bước đầu cho thấy
Tếch sinh trưởng khá tốt và phân cành muộn hơn so với Tếch trồng thuần loài Hơn nữa, cỏ dại dưới tán rừng trồng cũng hạn chế hơn nhiều, độ ẩm đất dưới tán rừng trong mùa khô cũng cao hơn ở nơi trồng Tếch thuần loài [1]
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nhận thấy việc chọn loài phối hợp với Lát hoa đang còn khoảng trống cơ sở lý luận và thực tiễn Thí nghiệm trồng hỗn
giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia fagraeo), Nghiến (Burretiodendron
13 tonkinense), Bứa (Garcinia oblongifolia)… ở tuổi 5 chưa thấy có ảnh
hưởng đến sinh trưởng của Lát hoa [9]
Nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài nhiều tầng, Trần Ngũ Phương (2000) đã đề xuất mô hình thiết kế rừng hỗn loài nhiều tầng cho mục đích
Trang 25phòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như: Hỗn loài giữa cây cao và cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ các công trình nghiên cứu về quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên Miền Bắc – Việt Nam tác giả cũng đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu Trong đó, có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng
và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng
Khi đánh giá một số mô hình trồng rừng hỗn loài giữa cây bản địa với Keo tai tượng ở các tỉnh phía Bắc, Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) đã
có nhận xét rằng hầu hết cây trồng chính trong các mô hình rừng hỗn loài đều
đã và đang bị cây phù trợ (Keo tai tượng) lấn át mạnh Nhưng đối với mô hình trồng rừng hỗn loài trong nghiên cứu đã điều chỉnh được cây phù trợ kịp thời nên bước đầu đã tạo điều kiện cho cây trồng chính sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao từ 80 – 93% Tỷ lệ sống chung cho cả lâm phần đạt trên 90% Tác giả còn đề xuất được 2 mô hình có triển vọng nhất đó là mô hình trồng hỗn loài với thảm che Keo tai tượng 7 tuổi ở Ngọc Lặc - Thanh hóa và mô hình trồn hỗn loài với cây phù trợ Keo tai tượng trồng trước 1 năm ở Cầu Hai – Phú Thọ
Một nghiên cứu khác của Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) về
trồng rừng hỗn giao giữa Keo trắng (Paraserianthes falcataria) với Lõi thọ (Gmelia arboria) ở Lương Sơn - Hoà Bình, trên đất rừng sau nương rẫy với
độ dốc từ 150 - 200 Kết quả cho thấy cả Keo trắng và Lõi thọ đều sinh trưởng tốt, chưa thấy xuất hiện sâu, bệnh hại, Lõi thọ đã bắt đầu ra hoa, có thể chuyển hoá thành rừng giống
Trang 26Khi nghiên cứu trồng rừng hỗn loài giữa các loài cây lá rộng bản địa với cây ngoại nhập (Eucalyptus urophylla) ở Đoan Hùng – Phú Thọ, Nguyễn
Đức Thế (2007) đã cho thấy cây Giổi xanh (Michelia mediocris) trồng xen với Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) có khả năng sinh trưởng cao gấp 1,5 lần
so với trồng thuần loài
Ngoài các công trình nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng còn có một số công trình nghiên cứu tạo ra rừng hỗn loài giữa cây lá kim với cây lá rộng, giữa các loài cây ngoại nhập với nhau Điển hình là công trình nghiên cứu của Phùng Ngọc Lan (1986) đã cho thấy rừng hỗn loài ở Núi Luốt (Trường Đại học Lâm nghiệp – Xuân Mai)
giữa Thông đuôi ngựa với Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) theo các tỷ lệ, mật độ, phương thức, thời
điểm khác nhau Kết quả cho thấy sau 2 năm sinh trưởng của Thông trồng hỗn loài tốt hơn so với Thông trồng thuần loài Tỷ lệ hỗn giao chưa có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Thông trên các công thức thí nghiệm Đất dưới tán rừng được cải thiện tốt hơn, giun đất phát triển nhiều hơn so với nơi trồng thuần loài Điều này chứng tỏ đất dước các mô hình trồng rừng hỗn loài thì các tính chất của đất đã được cải thiện rõ rệt Với thí nghiệm trên sau 2 năm, kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao của Thông trồng thuần loài đạt 2,53m trong khi đó chiều cao Thông được trồng hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 1:1 là 2,8m và tỷ lệ 1:2 là 2,72m Sinh trưởng đường kính của Thông trồng hỗn loài với Keo theo tỷ lệ 2:1 cũng lớn hơn và nhanh hơn [1]
Các nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán rừng trồng:
Đa số rừng trồng trong những năm trước đây là rừng thuần loài, mà rừng trồng thuần loài rất kém bền vững, nhất là ở những khu vực phòng hộ xung yếu hay ở những khu rừng đặc dụng Vì thế, việc nghiên cứu trồng các loài cây bản địa dưới tán các khu rừng trồng thuần loài là rất cần thiết trong
Trang 27giai đoạn hiện nay, nhất là trong tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu Do tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu trồng cây bản địa dưới tán, điển hình là một số công trình nghiên cứu sau đây:
Phạm Xuân Hoàn (2002) đã đề xuất 10 loài cây bản địa gồm: Gội
trắng (Aphanamixis grandifolia), Re hương (Cinnamomum iners), Nhội (Bischofia trifoliate), Trám (Cinnamomum sp), Sấu (Dracontomelon
duperreanum), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim xanh (Erythrophloeum),
Lim xẹt (Peltophorum tonkinense), Dẻ (Castanopsis) và Kim giao
(Podocarpus fleurgi) để trồng dưới tán các lâm phần Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium) ở Vườn quốc gia Cát Bà - Hải
Phòng theo phương thức trồng hỗn giao theo hàng Tác giả đã nhận thấy rằng dưới tán rừng Keo tai tượng các loài cây bản địa sinh trưởng kém hơn dưới tán rừng Keo lá tràm Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng hỗn giao dưới tán Keo tai tượng đạt 79,1%, thậm chí loài Sấu chết hoàn toàn Trong khi đó,
ở dưới tán Keo lá tràm tỷ lệ sống đạt tới 95,3% Lượng tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa dưới tán Keo lá tràm cũng cao hơn so với dưới tán rừng Keo tai tượng Ví dụ như Gội trắng có lượng tăng trưởng bình quân về đường kính gốc 0,61cm, tăng trưởng bình quân về chiều cao vút ngọn đạt 0,45m và tăng trưởng đường kính tán lá đạt 0,8 m Tác giả cho rằng tầng cây cao là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa trồng dưới tán Hoàng Vũ Thơ (1998) cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố
sinh thái đến sinh trưởng của cây Lim xanh (Erythrophloeum) trồng dưới tán
rừng, kết quả cho thấy Lim xanh sinh trưởng tốt nhất ở độ tàn che tầng cây cao từ 0,1- 0,4 [3]
Nguyễn Đức Thế (2007) đã nghiên cứu 10 loài cây bản địa dưới tán
rừng Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium) tại Vườn
Trang 28quốc gia Cát Bà Kết quả thấy rằng sau một năm trồng các loài cây bản địa bước đầu sinh trưởng tương đối tốt, nhưng sang năm thứ 2 thì cây trồng dưới tán rừng Keo lá tràm sinh trưởng tốt hơn trồng dưới tán rừng Keo tai tượng
Việt nam là một nước đa dạng về hệ thực vật, song đó là sự khai thác các loài thực vật cũng rất lớn đã đẩy sự đa dạng của Việt Nam đang giảm dần, vì vậy nhà nước cũng đẩy mạnh việc xây dựng mới các vườn thực vật hoặc bổ sung mở rộng diện tích các vườn thực vật đã được xây dựng từ lâu như Thảo cầm viên xây dựng từ năm 1864, Thảo Cầm Viên có 1800 cây gỗ thuộc 260 loài, không những thực vật mà còn có cả động vật khoảng 26 loài với diện tích hiện nay khoảng 17 hecta Bên cạnh đó thì một số vườn thực vật được xây dựng ngay trong các khu bảo tồn vừa phục vụ bảo tồn lại vừa lồng ghép tham quan giải trí, giáo dục đem lại nguồn kinh tế ví dụ như vào năm
2012 vườn thực vật tại thôn Cà Đâng, xã Tà Bhinh diện tích xây dựng vườn thực vật này khoảng 50,3 ha trên khu đất nương rẫy trồng cây hàng năm Vườn thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng có diện tích trên 40ha
Cùng với đó chúng ta đã xây dựng các vườn thực vật ngay trong trường giúp học sinh-sinh viên có nơi học tập ngoài giờ lý thuyết khô khan, tất nhiên đồng thời vẫn có thể bảo tồn các loài thực vật như vào năm 2008 trường tiểu học Lương Thế Vinh (Thủ Đức) có diện tích khoảng 300m2 với hơn 100 các loại cây và các trường tiểu học khác gần vùng lân cận trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Dù trên thế giới hay trong nước thì sự cấp thiết của việc bảo tồn các loài thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng là việc cấp bách, bên cạnh đó ta có thể tạo nơi học tập nghiên cứu, tham quan giải trí cho mọi người với thực trạng hiện nay thì việc xây dựng thêm các vườn thực vật đảm bảo cho việc bảo tồn, tăng sự đa dạng sinh học, và hoàn toàn có thể thu được nguồn lợi từ các vườn thực vật như nguồn tri thức, kinh tế và rất nhiều giá trị vô vàn nữa
Trang 29Nguyễn Thanh Bình (2003) [1] đã đề cập đến một số đặc điểm lâm học của loài Giổi ăn quả phục hồi tự nhiên ở Bắc Giang Kết quả nghiên cứu đã đưa
ra được những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc tái sinh tự nhiên của loài, tác giả cho rằng phân bố N/H và D/H đều có chung một đỉnh
Các nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus
massoniana Lamb) Thực tế đã chứng minh rằng rừng trồng thuần loài, nhất là
rừng trồng một số loài Thông ở nước ta trong những năm qua rất kém bền vững, dịch sâu róm thông thường xuyên xuất hiện không những hạn chế sinh trưởng và khả năng cung cấp nhựa mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái khá rõ cụ thể như:
Từ năm 1937 sâu róm thông đã phá hoại mạnh trên nhiều diện tích trồng Thông thuộc dẫy núi Nham Biền (Yên Dũng - Bắc Giang) Tháng 8 -
1958 sâu róm thông phá hại nghiêm trọng ở Phú Nham, Phú Điền, Sơn Viện thuộc tỉnh Thanh Hoá, diện tích bị sâu ăn trụi lá Thông khoảng gần 100 ha Năm 1958 và 1959 ở Bắc Giang, sâu róm thông lại phát dịch đã gây hại 160
ha rừng Thông đuôi ngựa tại dãy núi Neo thuộc huyện Yên Dũng, sâu còn ăn
cả cây con mới đem trồng được 2 năm, làm thiệt hại khá nhiều cho công tác trồng rừng nơi đây Từ năm 1959 - 1960 ở Nghệ An đã phát sinh nạn dịch sâu róm thông rất lớn làm trụi 515 ha rừng Thông Không chỉ có sâu hại thông mà còn thường xảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như: Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông… đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng ngàn ha rừng và sản xuất lâm nghiệp ở nước ta [7]
Để khắc phục vấn đề này, gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu trồng một số loài cây bản địa dưới tán rừng Thông nhằm chuyển hóa rừng Thông thuần loài thành rừng hỗn loài, điển hình là một số công trình nghiên cứu sau đây:
Trang 30Tại Núi Luốt – Đại học Lâm Nghiệp – Xuân Mai, Phạm Xuân Hoàn (2002) đã nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông đuôi ngựa và Keo lá tràm Hai loài cây này được sử dụng để tạo lập hoàn cảnh ban đầu từ năm 1985, khi độ tàn che của rừng đạt 0,7 – 0,8 vào các năm 1990 – 1991 thì các loài cây bản địa được đưa vào trồng dưới tán rừng Tại khu thực nghiệm này, số loài cây bản địa được đưa vào trồng dưới tán rừng Keo và Thông là
165 loài khác nhau Dưới tán rừng Thông trồng gồm 27 loài, dưới tán rừng Keo trồng gồm 21 loài, số còn lại được trồng dưới tán rừng hỗn loài Thông – Keo lá tràm, Thông – Keo tai tượng và Bạch đàn…Kết quả sau 10 năm trồng cây bản địa dưới tán cho thấy tỷ lệ sống của cây bản địa dưới tán rừng Thông đạt 93,2% và dưới tán rừng Keo lá tràm đạt 91,2% Tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân của cây bản địa có sự phân hóa rõ rệt ở các loài Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là một số loài cây thường được đánh giá là sinh trưởng chậm như Đinh thối, Re hương, Lim xanh, Sưa…nhưng ở giai đoạn chịu bóng dưới tán rừng Thông và Keo lại có tăng trưởng khá nhanh, cụ thể là: Re hương có ZDoo = 0,5cm, ZHvn = 0,5m, ZDt = 0,2m; Lim xanh có ZDoo = 0,5cm, ZHvn = 0,45m, ZDt = 0,15m Tác giả còn nhận xét khả năng sinh trưởng và phát triển các loài cây bản địa trên chịu sự chi phối, ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố độ tàn che của tầng cây cao (giai đoạn chịu bóng…), cường độ ánh sáng, đất đai Cũng tại Trường Đại Học Lâm nghiệp
- Xuân Mai đã xây dựng vườn thực vật với gần 300 loài cây bản địa trồng
dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massoniana), và Keo tai tượng (A
mangium) Sau nhiều năm nghiên cứu đã tìm ra một số loài cây thích hợp
trồng dưới tán rừng như: Đinh thối (Fernandoa brilletii), Máu chó (Knema
pierrei), Tai chua (Garcinia cowa), Re hương (Cinnamomun camphora)…
Ngoài ra, ở đây cũng đã xác định đượcmột số loài không thích nghi trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (dẫn theo Lê Minh Cường, 2007) Nghiên cứu về
Trang 31đặc điểm sinh lý, sinh thái của một số loài cây gỗ bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại Núi Luốt – Trường Đại học Lâm Nghiệp - Xuân Mai,
Đỗ Thị Quế Lâm (2003) cũng đã nhận định các loài Lim xanh
(Erythrophloeum fordii), Re hương (Cinnamomum iners), Đinh thối (F
brilletii) có khả năng sinh trưởng tương đối tốt ở giai đoạn chịu bóng Tuy
nhiên, trong từng giai đoạn khác nhau yêu cầu về độ tàn che cũng khác nhau Tại khu vực nghiên cứu, loài Lim xanh sinh trưởng thích hợp nhất ở độ tàn che từ 0,47 - 0,52; loài Đinh thối sinh trưởng thích hợp nhất với độ tàn che từ 0,51 - 0,58; Re hương sinh trưởng tốt nhất với độ tàn che trong khoảng 0,48 - 0,52 Trong giai đoạn hiện nay, loài Lim xanh có nhu cầu về ánh sáng cao nhất, sau đó đến Re hương, nhu cầu về ánh sáng của Đinh thối thấp nhất Khi nghiên cứu trồng cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ ở Đại Lải-Vĩnh Phúc, Lê Minh Cường (2007) đã đề xuất được 3 loài cây bản địa có triển
vọng trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) gồm: Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Re hương (Cinnamomum iners Reinw) và Sao đen (Hopea odorata Roxb) Trong đó, Lim xanh là loài cây có khả năng sinh
trưởng tốt nhất dưới tán rừng Thông mã vĩ Đây là cơ sở có thể ứng dụng cho những vùng có điều kiện sinh thái tương tự Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ở trên đây cho thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn giao, trồng rừng cây lá rộng bản địa dưới tán rừng cây lá kim nói chung và rừng Thông mã vĩ nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đã thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể khác nhau, loài cây bản địa khác nhau, kỹ thuật cũng có thể khác nhau Việc
áp dụng trong hoàn cảnh cụ thể ở một địa phương nước ta cần phải xem xét thận trọng hơn Đặc biệt, trong các côngtrình nghiên cứu đã đề cập ở trên còn
1 số tồn tại cần phải đặt ra để tiếp tục nghiên cứu như sau: