ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH TIẾN LONG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT NGỌT KHÔ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH TIẾN LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT
NGỌT KHÔNG HẠT (Citrus unshiu Marc) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH TIẾN LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CHO GIỐNG QUÝT
NGỌT KHÔNG HẠT (Citrus unshiu Marc) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN MINH TUẤN
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là quá trình rất quan trọng giúp cho mỗi sinh viên hoàn thiện kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp làm việc, trau dồi thêm kiến thức và kỹ năng thực tế vào trong công việc nhằm đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, nhu cầu nhân lực ngày càng cao của xã hội
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) tại Thái Nguyên”, sau một thời gian làm việc nghiêm
túc và hiệu quả cho đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập, đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo TS Nguyễn Minh Tuấn,
người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người luôn hỗ trợ, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của tôi có thể được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đinh Tiến Long
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MUC CÁC CỤM TỪ, TỪ VIẾT TẮT vii
Phần I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Nguồn gốc của quýt ngọt không hạt 5
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của quýt 6
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới và trong nước 9
2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới 9
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trong nước 12
2.5 Tình hình nghiên cứu cam, quýt trên thế giới và Việt Nam 15
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây có múi trên thế giới 15
2.5.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống ở cam quýt 15
2.5.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt 16
2.5.1.3 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại 21
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cam quýt ở Việt Nam 21
Trang 52.5.2.1 Nghiên cứu và chọn tạo và thử nghiệm giống cam quýt 21
2.5.2.2 Nghiên cứu phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại 24
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27
3.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên 32
4.1.1 Đặc điểm hình thái giống quýt ngọt không hạt 32
4.1.2 Thời gian sinh trưởng lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 33
4.1.3 Động thái tặng trưởng lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 34
4.1.3.1 Động thái tăng trưởng của lộc xuân 34
4.1.3.2 Động thái tăng trưởng của lộc hè 36
4.1.4 Đặc điểm lộc của 2 giống quýt trong thí nghiệm 37
4.1.4 Thời gian ra hoa hình thành quả cả 2 giống quýt trong thí nghiệm 38
4.1.5 Tình hình sâu bệnh hại của 2 giống quýt 39
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên 39
4.2.1 Thành phần các loại sâu, bệnh hại trên giống quý thí nghiệm 39
Trang 64.2.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến chất lượng lộc giống quýt ngọt không
hạt 40
4.2.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian ra hoa hình thành quả giống quýt ngọt không hạt 41
4.2.4 Hiệu lực của thuốc BVTV đến tỷ lệ cây bị sâu vẽ bùa 42
4.2.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại 43
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.1.1 Khả năng sinh trưởng và phát triển của giống quýt ngọt không hạt 45
5.1.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt tài Thái Nguyên 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 10
Bảng 2 2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng Châu Á 11
Bảng 2 3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt ở các vùng năm 2014 13
Bảng 4 1 Đặc điểm hình thái của 2 giống quýt 32
Bảng 4 2 Thời gian sinh trưởng lộc của 2 giống quýt 33
Bảng 4 3 Đặc điểm lộc của 2 giống quýt 37
Bảng 4 4 Ảnh hưởng của giống quýt đến thời gian ra hoa giống quýt ngọt không hạt 38
Bảng 4 5 Ảnh hưởng của giống quýt đến số hoa và số quả hình thành/cây 38
Bảng 4 6 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính 39
Bảng 4.7 Thành phần các loại sâu, bệnh hại trên giống quýt 39
Bảng 4 8 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến chất lượng lộc giống quýt ngọt không hạt 40
Bảng 4 9 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian ra hoa, quả giống quýt ngọt không hạt 41
Bảng 4 10 Hiệu lực của thuốc BVTV đến tỷ lệ cây bị sâu vẽ bùa 42
Bảng 4 11 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại 44
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4 1 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc xuân 34
Hình 4 2 Động thái tăng trưởng đường kính lộc xuân 35
Hình 4 3 Động thái tăng trưởng số lá/lộc xuân 35
Hình 4 4 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 36
Hình 4 5 Động thái tăng trưởng đường kính lộc hè 36
Hình 4 6 Động thái tăng trưởng số lá/lộc hè 37
Trang 9DANH MUC CÁC CỤM TỪ, TỪ VIẾT TẮT
CV : Hệ số biến động
FAO : (Food and Agriculture Organization of the United Nations)
Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc
LSD05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức độ tin cậy 95%
CT : Công thức
BVTV : Bảo vệ thực vật
CS : Cộng sự
CTV : Cộng tác viên
Trang 10Phần I
MỞ ÐẦU 1.1 Tính cấp thiết của ðề tài
Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi con người cũng như nền kinh tế cả nước Ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp nước ta nói chung và của mỗi vùng miền nói riêng Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm đã tạo nên sự dạng về sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển trồng cây ăn quả Trong những năm qua, nghề trồng cây ăn quả đã góp vai trò hết sức quan trọng vào nền kinh tế nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo cũng như tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn nhân lực trong nước, làm thay đổi bộ mặt kinh tế của một số vùng như Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, …
Cam quýt là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi, các axit hữu cơ từ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác quýt không hạt có thể dùng ăn tươi để giải khát, chữa bệnh, chữa say tàu xe…
Hiện nay đã có rất nhiều các tiến bộ nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất, tuy nhiên cho đến nay năng suất và chất lượng quả của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp hơn nhiều so với một số nước khu vực và trên thế giới Về chất lượng còn nhiều hạn chế như: Quả vẫn còn nhiều hạt và mã chưa đẹp Do vậy việc nghiên cứu chọn tạo ra giống cây ăn quả có múi ít hạt và không hạt
là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của công tác giống cây ăn quả có múi Xu hướng giống cam quýt trên thế giới ngoài việc chọn các giống
có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường,
Trang 11sâu bệnh thì mục tiêu còn hướng tới chọn tạo ra các giống ít hạt hoặc không hạt Mặc dù quýt ngọt không hạt là giống được trồng rất phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì lại chưa được phổ biến cho lắm Vì vây, việc nghiên cứu và đưa giống quýt ngọt này về trồng thử nghiệm và phát triển mở rộng là rất cần thiết cho sản xuất cây có múi nói chung và cây quýt ngọt nói riêng Ngoài đặc tính không hạt ra đây còn giống chín sơm rất thích hợp cho trong rải vụ nâng cao hiệu quả kinh tế
Huyện Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên có quỹ đất rất lớn phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, trong
đó tổng diện tích đất tự nhiên là 57,848ha, trong đó có tổng diện tích đất hiện đang sử dụng vào mục đích là 93,8% còn lại là 6,2% diện tích đất chưa sử dụng Không những có quỹ đất dồi dào mà tại đây có lượng mưa nhiều nên
ẩm độ trung bình từ 70 – 80%, nhiệt độ trung bình dao động từ 22–270c đây chính là những điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất cây ăn quả có múi nói chung và quýt ngọt không hạt nói riêng Xuất phát từ thực tiễn chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển
và biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) tại Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài
Trang 121.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu thời gian sinh trưởng các đợt lộc, chất lượng lộc, đặc
điểm hình thái cây và thời gian ra hoa, đậu quả, giống quýt ngọt không
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến thời gian sinh trưởng lộc, chất lượng lộc, và thời gian ra hoa, đậu quả giống quýt ngọt không hạt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại
và khả năng phòng trừ một số loại sâu bệnh hại quýt ngọt không hạt
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung những tư liệu khoa học về
đặc điểm một số giống quýt tại Thái Nguyên
- Các vật liệu từ công trình nghiên cứu này có ý nghĩa góp phần vào công tác tạo quả chất lượng cao đối với cây có múi
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập về cây có múi nói chung
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa trong việc đánh giá lựa chọn
được giống quýt ngọt có khả năng sinh trưởng tốt cho sản xuất, đồng thời có được những biện pháp kỹ thuật thích hợp giúp người sản xuất có được cây quýt có khả năng sinh trưởng phát triển tốt ngay từ giai đoạn đầu tiên, tạo tiền
đề cho sự phát triển sản xuất quýt ở giai đoạn kinh doanh cho các vùng trồng cam quýt ở Thái Nguyên nói riêng và các khu vực có khí hậu tương tự tỉnh Thái Nguyên ở trên cả nước nói chung
Trang 13Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cõ sở khoa học của đề tài
Cây ăn quả được xem là cây trồng quan trọng trong việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, nhất là ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Trong đó, quýt đang được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Quýt không hạt hoặc ít hạt thường do giống trồng có nhiễm sắc thể là tam bội, do sự bất dục đực hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất tương hợp trong
đó có sự bất tương hợp do tự thụ phấn
Đối với cuộc sống của bà con Thái Nguyên, cây cam quýt đã mang lại giá trị về kinh tế cao, vừa là cây xóa đói giảm nghèo, vừa là cây làm giàu của bà con nơi đây Trong quá trình sản xuất bà con nông dân đã dần chủ động chuyển nhiều diện tích cam, quýt từ trồng quảng canh và bán thâm canh sang thâm canh, tất cả các diện tích trồng mới hiện nay hầu hết cũng chú trọng vào phương thức thâm canh, nhưng do trình độ chưa đồng đều, việc trồng quýt chủ yếu do kinh nghiệm truyền lại Người dân trồng những giống quýt nhiều hạt, chưa có các giống quýt ngọt không hạt nên mặc dù có năng suất, chất lượng cao nhưng do đặc tính nhiều hạt nên không phát huy được hết vai trò và giá trị kinh tế của loại cây này Giống quýt ngọt không hạt có khả năng thích ứng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, việc nghiên cứu lựa chọn được giống quýt thích hợp cho vùng sinh thái tại địa điểm nghiên cứu là cần thiết Sâu bệnh hại là một trong yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây ngay cả giai đoạn kiến thiết và giai đoạn kinh doanh Sử dụng thuốc BVTV phun vào các thời điểm thích hợp có tác dụng làm giảm sự phát sinh phát triển sâu bệnh gây hại cho cây, giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt
Trang 14Chính vì vậy giống quýt ngọt không hạt đã được đưa vào thử nghiệm đầu tiên tại địa điểm là thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ nhằm mở ra một hướng
đi mới cho bà con nơi đây
2.2 Nguồn gốc của quýt ngọt không hạt
Cây có múi nói chung là những loài cây phân bố rất rộng, gần như có mặt hầu hết các lục địa và ở mỗi vùng tùy theo điều kiện tự nhiên mà có những giống thích hợp, những đặc tính riêng Cam quýt có sự phân bố rộng là do khả năng dễ thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau, do khả năng dễ lai tạo giữa các chủng để tạo ra những chủng mới có khả năng thích nghi cao hơn Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang được trồng hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu A (Tanaka, 1979) [25] đã vạch đường ranh giới xuất xứ của giống thuộc chi citrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy Hymalya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản
Một số báo cáo gần đây đã nhận định tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng Tại đây còn tìm
thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại Loài chanh yên, phật thủ (Citrus
medica) có nguồn gốc tại miền Nam Trung Quốc, là loài cây ăn quả được
mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ I sau Công Nguyên Những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây Các loài chanh vỏ mỏng
(Lime, C auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam
Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu, v.v
Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu
Á, gồm miền Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những
người đi biển mang đến trồng ở Ấn Độ Quýt (Citrus reticulata) được trồng ở
Trang 15vùng Địa Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805
Quýt ngọt (Citrus sinensis L.) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam
Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonecia, sau đó được mang về trồng ở châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ
Quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) có nguồn gốc từ Nhật Bản
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng loại quả này có nguồn gốc từ Trung Quốc
và được trồng cách đây 2400 năm
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của quýt
- Nhiệt độ
Do có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới nên cây có đặc tính thích nghi với điều kiện khí hậu không có sự quá chênh lệch giữa mùa đông và mùa hè Cho nên cam quýt thường thích ấm và chịu lạnh kém, nhiệt độ thích hợp nhất
từ 23- , cây ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 13 và chết khi -5 (Vũ Mạnh Hải và cs, 1988) [7]
Cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ
12 - 39 , nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27 Tại nhiệt độ thấp -5 có một
số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn khi nhiệt độ cao 40 , kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo (Trần Thế Tuc, 1980) [16]
Nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động sinh trưởng, phát triển của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Đối với những vùng mùa hè quá nóng và mùa đông quá lạnh, nhiệt độ bình quân năm >15 , tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển có độ cao từ 1.700 - 1.800m so với mực nước biển thì không nên trồng cam quýt, vì những vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới
Trang 16Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon,
mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn
- Ánh sáng
Nhìn chung cam quýt cũng như các thực vật khác, để hoàn thành chu
kỳ phát dục Cây quang hợp để tích lũy chất khô dự trữ cho quá trình sinh trưởng, cây cần một lượng ánh sáng nhất định, thiếu ánh sáng thì lá to và mỏng, cành mềm yếu, cành vượt phát triển mạnh và vấn đề hình thành mầm hoa sẽ khó khăn
Vũ Công Hậu và một số tác giả khẳng định rằng; cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/ , ứng với ánh sáng lúc 8-9h sáng và 4-5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh Giống khác nhau thì nhu cầu ánh sáng cũng khác nhau; cam và bưởi cần nhiều ánh sáng hơn so với chanh, chanh đòi hỏi ánh sáng ít hơn
- Nước và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây không những cần nhiệt độ cao mà còn cần ẩm độ cao, ẩm độ không khí thấp hoặc biến động nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước của cây, cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con, thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển Tuy ưa ẩm nhưng cam quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ là cho cây rụng lá, hoa, quả theo (Bùi Huy Kiểm, 2000) [10], (Trần Thế Tục, 1980) [16], (Nitsch, J P, 1963) [23] Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ
ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho
Trang 17năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ
ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả theo (Trần Thế Tục và cs, 2001) [17]
Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
đủ thỏa mãn nhu cầu nước của cây (1.400-2.500 mm/năm), nhưng do sự phân
bố không đồng đều giữa các tháng trong năm ảnh hưởng không nhỏ tới năng xuất, phẩm chất của quả Chính vì vậy việc đáp ứng nhu cầu nước cho cây cam quýt là biện pháp kỹ thuật rất có hiệu quả Lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500mm, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [18]
-Gió
Quy luật hoạt động của gió bão là một hiện tượng cần lưu ý trong việc
bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt (Nguyễn Duy Lâm, Lương Thị Kim Oanh, Lê Hồng Sơn, 2001) [8] Ở nước ta vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [18], (Bùi Huy Kiểm, 2000) [10]
Trang 18ngầm thấp dưới 0,8m Cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau ở Việt Nam: đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn (Trần Thế Tục, 1980) [16]
Cam quýt có thể trồng được trên đất có độ PH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử > 300 mV ở độ PH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ PH cho đất đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng
và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ
là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam
2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới và trong nước
2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trên thế giới
Qua bảng số liệu cho thấy tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới trong những năm gần đây có xu hướng tăng cả diện tích, năng suất và sản lượng
Năm 2012 diện tích quýt toàn thế giới là 2297,6 (nghìn ha), năng suất trung bình đạt 12,1 (tấn/ha) và sản lượng đạt 27769,3 (nghìn tấn) Đến năm
2016 các chỉ tiêu đều tăng với diện tích là 2609,1 (nghìn ha) tăng lên 11,9%, năng suất đạt 12,5 (tấn /ha) tăng lên 3,3% và sản lượng đạt 32792,5 (nghìn tấn) tăng lên 15,3%
Trang 19So sánh về tình hình sản xuất cam quýt của 5 châu lục vào năm 2016 có thể sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau: Châu Đại Dương (22,3 tấn/ha)
> Châu Phi (18,4 tấn/ha) > Châu Âu (18,1 tấn/ha) > Châu Mỹ (16,5 tấn/ha) > Châu Á (11 tấn/ha)
Bảng 2 1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Chỉ
tiêu Năm
Các châu lục trên thế giới
Thế giới Châu
Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018 [21]
Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành
Trang 20muộn hơn so với vùng khác, nhưng do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nên công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển mạnh Nhưng nhìn chung trong khoảng thời gian từ năm 2012-2016 chỉ có sản lượng là tăng lên đáng kể còn năng suất và diện tích cũng tăng nhưng vẫn ở mức độ chậm
Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của quýt, hầu hết các nước châu
Á đều sản xuất quýt Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất so với các châu lục khác trên thế giơi (năm 2016 có tổng diện tích là 2005,9 nghìn ha), chiếm 76,87 % tổng diện tích toàn thế giới, tuy nhiên năng suất bình quân qua các năm lại thấp nhất so với các châu lục khác trên thế giới, năng suất bình quân từ năm 2012 đến năm 2016 chỉ đạt khoảng từ 10,6 tấn/ha đến 11 tấn/ha
Bảng 2 2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng Châu Á
Vùng lãnh
thổ
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Trang 21Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Châu Á trong khoảng thời gian từ năm 2014 – 2016 cho thấy Trung Quốc là nước dẫn đầu trong 2 năm liên tiếp
về diện tích lần lượt là 515,9 (nghìn ha) và 565,6 (nghìn ha) đến năm 2016 thì
Ấn Độ vươn lên một cách ngoại mục và vượt qua cả Trung Quốc với diện tích
là 643,4 (Nghìn ha) Nhưng nói đến năng suất đạt được thì Nhật Bản lại là nước đáng chú ý nhất trong khu vực Châu Á, tuy có diện tích quýt nhỏ nhất trong khu vực nhưng là nước đâu tiên có thể khiến cho năng suất tăng gấp 3 lần so với diện tích sản xuất, đến năm 2016 diện tích có giảm đi nhưng năng suất thu về lại tăng gấp 4 lần và đây xứng đáng là quốc gia để cho các nước trong khu vực châu Á học tập
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt trong nước
Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước
Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến
Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông
Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta
Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng Tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác
500 ha
Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam Đồng
Trang 22bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2014 là 75,600 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 39,200 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 15,700
ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8,100 ha
Bảng 2 2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt ở các vùng năm 2014
STT Vùng trồng
Diện tích trồng (nghìn ha)
Diện tích thu hoạch (nghìn ha)
Năng suất (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê - Source: General Statistics Office [20]
Số liệu bảng 2.3 cho thấy diện tích lớn nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 51,85% so với cả nước, vùng có diện tích thấp nhất là Tây Nguyên 1,32% Như vậy có thể thấy diện tích phân bố cam quýt ở nước ta chưa được đồng đều giữa vùng đứng đầu và vùng cuối có cách biệt rất lớn khi
Trang 23mà diện tích cam quýt ở Tây Nguyên chỉ bằng 2,55% so với đồng bằng sông Cửu Long
Đến nay các vùng trồng cây ăn quả có múi lớn của nước ta đã hình thành như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Phủ Quỳ - Nghệ An, vùng cam Cao Phong - Hoà Bình, vùng cam Tuyên Quang và Hà Giang Vùng núi và cao nguyên Bắc Bộ, ở miền Bắc nước ta có thể thích hợp với trồng nhiều giống cây ăn quả có múi chất lượng cao, không hạt, ít hạt như Valencia, Navel, Satsuma và Clementine So sánh tổng lượng nhiệt năm ở các vùng trong nước với các vùng trồng cây có múi chính trên thế giới kết hợp với tính toán nhu cầu về nhiệt của các giống ta thấy hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc như vùng núi và Trung du Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang có những điều kiện nhiệt độ tương tự như các vùng trồng cam nổi tiếng trên thế giới như Florida, Arizona (Mỹ), Rio de Janeiro, Sao Paulo (Braxin) Vùng núi cao của ta có nhiệt độ thấp vào mùa đông, đủ kích thích cây ra hoa, đồng thời không quá thấp gây chết cây như vùng ôn đới Mùa hè ở đây lại ấm áp, mưa nhiều, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển Mùa thu-đông nhiệt độ thấp tạo ra chất lượng quả và màu sắc quả đẹp (Đỗ Năng Vịnh, 2008) [19]
* Vùng Đồng bằng sông cửu long: gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng có vị trí từ 9o15’ đến 10o30’ vĩ độ Bắc, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3 -5m so với mặt biển Các yếu tố khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm ở vùng này rất thích hợp cho việc phát triển sản xuất cây có múi Cam ở Nam Bộ thường là loại trái lớn, hương
vị thơm ngon, vượt xa các loại cam mang từ Trung Quốc vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều ở khu vực này là cam sành, cam mật, quýt hồng, quýt xiêm, quýt đường, bưởi Năm roi Do có điều kiện khí hậu
Trang 24thích hợp nên năng suất của các giống kể trên tương đối cao (Gurdwer Haicnic USA, 1967) [22]
* Vùng khu 4 cũ: Gồm các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh trải dài
từ 18o đến 20o30’ vĩ độ Bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là Phủ Nghệ An Các giống cam quýt ở khu vực này có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất luôn ổn định, trong đó giống Sunkiss và Xã Đoài là những giống có
Quỳ-ưu thế về tiềm năng năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu (Trần Thế Tục và Trần Đăng Kết, 1994) [12]
* Vùng miền núi phía Bắc: Đây là nơi có tập đoàn cam quýt đa dạng do
có địa hình sinh thái phong phú Các tỉnh có diện tích trồng cam lớn ở vùng này gồm Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kan, Cao Bằng, Lạng Sơn Tại đây, cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Trong đó huyện Bắc Quang – Hà Giang là một vùng sản xuất cam quýt lớn của miền Bắc có thể hình thành nên vùng trồng cam xuất khẩu, với giống cam sành chất lượng ngon, màu sắc đẹp cung cấp một lượng cam lớn cho miền bắc vào dịp tết cổ truyền và sau tết
2.5 Tình hình nghiên cứu cam, quýt trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây có múi trên thế giới
2.5.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống ở cam quýt
Trên thế giới, các giống cam quýt chỉ có một tỉ lệ nhỏ là được tạo ra bằng phương pháp lai tạo còn đâu hầu hết được chọn lọc từ những đột biến trong tự nhiên Có một số loại cam quýt được chọn lọc bằng phương pháp tự nhiên như: Quýt satsuma (Vũ Công Hậu, 1996) [9] Đặc điểm không hạt mà trên cây ăn quả nói riêng và các giống cam quýt nói chung là đặc điểm vô cùng quý giá đối với thị trường trái cây tươi, ngay cả với nước ép Bởi thì theo nghiên cứu của (Ollitrault và ctv, 2007) [24] đã chỉ ra là khi ép cam quýt
Trang 25kèm cả hột thì nước sẽ có vị đắng Theo như nghiên cứu của (Varoquaux và
cs, 2000) [26] những trái mà có số hạt nhỏ hơn năm thì được xem như là không hạt
2.5.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng thân, cành:
Sinh trưởng cành của cây cam quýt phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trường và kỹ thuật chăm sóc Nhìn chung, những cây trẻ chưa cho quả sinh trưởng của cành (phát sinh lộc) thường xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thường có nhiều đợt cành xuất hiện Khi cây trưởng thành đã cho quả thì thường chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông
Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu, không có lộc đông
- Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm Số lượng cành xuân thường nhiều, chiều dài cành tương đối ngắn Thường cành xuân là cành
ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả
- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thường xuất hiện không tập trung, sinh trưởng không đều, cành thường to, dài, đốt thưa Cành
hè là cành sinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cành quả và là cành mẹ của cành thu Tuy nhiên, nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dưỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậy cần phải cắt tỉa để lại một số lượng cành thích hợp
- Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa hè Cành thu thường mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng cường khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy
số lượng và chất lượng của cành thu có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cành xuân, cành mang quả của năm sau
Trang 26- Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cành này ít, cành ngắn, lá vàng xanh Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả
- Nghiên cứu về đặc tính sinh lí ra hoa và đậu quả:
Hoa cam quýt là hoa chùm hoặc tự bông Nụ, hoa cam quýt nhỏ hơn
so với bưởi Tràng hoa có từ 3 - 5 cánh tách biệt, cánh hoa có từ 3 - 6 cánh, dày có màu trắng Nhị đực có từ 22 - 47 cái, nhụy cái có một do các bộ phận đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy cấu tạo thành Đầu nhụy thường to, cao hơn bao phấn Với cấu tạo này bưởi được coi là cây thụ phấn, khai hoa dễ dàng Hoa cam quýt từ khi nở đến khi tàn khoảng hơn một tháng, khả năng ra hoa của bưởi rất cao, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả lại thấp (1 - 2%) Thời điểm ra hoa của mỗi giống là khác nhau và phụ thuộc vào thời tiết của từng năm Quá trình ra hoa của cam quýt trải qua các giai đoạn:
- Cảm ứng và phân hoá hoa: Ở một số cây trồng, một quang chu kỳ tới hạn hoặc xử lý xuân hoá hoặc là cả hai điều kiện trên sẽ tạo ra một chất kích thích ra hoa giả định nào đó Cảm ứng ra hoa có thể bị chi phối bởi nhiều yếu
tố như: sự có mặt của một số chất kích thích ra hoa, sự tích luỹ sản phẩm quang hợp Có thể ở từng loài thực vật, quá trình ra hoa được kích thích bởi một yếu tố cảm ứng ra hoa khác nhau Với cây bưởi quá trình hình thành hoa diễn ra khi xuất hiện yếu tố hoạt hoá cho sự sinh trưởng của chồi đỉnh và sự
có mặt của yếu tố cảm ứng hình thành hoa Cảm ứng ra hoa bắt đầu với sự ngừng sinh trưởng sinh dưỡng trong mùa đông - thời kỳ sinh trưởng không rõ ràng ở vùng á nhiệt đới hoặc thời kỳ khô ở vùng nhiệt đới Nhìn chung, trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng chồi ngừng lại và tốc độ sinh trưởng rễ giảm khi nhiệt độ giảm vào mùa đông mặc dù nhiệt độ không dưới C Trong thời kỳ này các lộc sinh dưỡng phát triển khả năng ra hoa Vì thế, sự cảm ứng liên quan đến việc định hướng chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang tạo các
Trang 27chùm hoa Trên đồng ruộng, cần có thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày để một số lượng lộc hoa có cảm ứng ra hoa đáng kể Hiện nay, việc gây hạn nhân tạo đã được sử dụng như là một phương tiện để xúc tiến sự cảm ứng ra hoa ở cây cam quýt, ở nước ta vùng đồng bằng sông Cửu Long nông dân trồng cây
ăn quả cũng thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cho cây ra hoa theo ý muốn
- Sự ra hoa: Sự ra hoa xảy ra sau khi cảm ứng và phân hoá hoa khi có nhiệt độ và độ ẩm đất thích hợp Nhiệt độ ngưỡng tối thiểu cho ra hoa là
C hoặc thấp hơn đáng kể nhiệt độ tối thiểu cho sinh trưởng sinh dưỡng Trên cây cam quýt thường có 5 loại cành hoa: (i) cành hoa không có lá mọc từ chồi sinh trưởng từ vụ trước; (ii) cành hỗn hợp có một vài hoa và lá; (iii) cành hỗn hợp có nhiều hoa và một vài lá; (iv) cành hỗn hợp có một vài hoa và nhiều lá; và (v) chồi sinh dưỡng chỉ có lá Những cành có tỷ lệ hoa, lá cao như loại (iv) có tỷ lệ đậu quả và giữ được tỷ lệ quả đến thu hoạch cao nhất Tuy nhiên, lá mới hình thành 4 - 6 tuần sau ra hoa có thể làm giảm sự đậu quả Hoa cam quýt mọc thành chùm kiểu sim, thường các hoa ở phía gốc chùm nở trước sau đó lần lượt đến các hoa ở giữa và đỉnh chùm nở sau, hoa đỉnh chùm
sẽ nở cuối cùng Kích thước hoa nhìn chung giảm từ hoa nở đầu tiên đến hoa cuối cùng Do vậy, hoa thứ hai tính từ đỉnh chùm hoa thường nhỏ nhất nhưng lại có tỷ lệ đậu quả cao nhất trên chùm hoa Hoa nở muộn sinh trưởng nhanh hơn và bền hơn hoa nở sớm Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các yếu tố sinh lý nào điều khiển sự ra hoa ở cây cam quýt Các yếu tố có liên quan nhất đến sự nở hoa là hydrat cacbon, hormon, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng Cơ sở của hydrat cacbon có tác động đến sự nở hoa là khi khoanh vỏ làm tăng cảm ứng ra hoa, tăng khả năng đậu quả Sự ảnh hưởng của hormon tới ra hoa cam quýt cũng đã được nghiên cứu sâu trong nhiều năm Một số nghiên cứu sử dụng hormon nội sinh với chồi cây bưởi và được đánh giá bằng
Trang 28mức độ ra hoa Dinh dưỡng của cây liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự ra hoa của cây cam quýt Hàm lượng N trong lá cao, đặc biệt đối với cây non gây ra sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh và ức chế sự ra hoa Ngược lại, hàm lượng N trong lá thấp kích thích ra hoa sớm Tuy nhiên, cây thiếu N nghiêm trọng thì ra ít hoa Người ta đã nghiên cứu thấy rằng, nên duy trì hàm lượng N trong lá ở mức tối ưu khoảng 2,5 - 2,7% sẽ tạo ra số hoa vừa phải và cho tỷ lệ đậu quả và năng suất cao nhất Stress nước và nhiệt độ thấp làm tăng hàm lượng amôn trong lá và sự ra hoa
- Quá trình thụ phấn và đậu quả: Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thụ phấn do trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của ống phấn Tốc độ nảy mầm và sinh trưởng của ống phấn để chui vào vòi nhụy, đưa tinh tử vào thụ tinh cho tế bào trứng rất thích hợp trong khoảng nhiệt độ
từ 25 - C và bị giảm xuống hoặc ức chế hoàn toàn ở nhiệt độ thấp <
C Các giống cây cam quýt ra rất nhiều hoa khoảng 100.000 - 200.000 hoa trên một cây trưởng thành, tuy nhiên chỉ 1 - 2% số hoa đậu quả cho thu hoạch, số còn lại bị rụng đi Ngoài những hoa, quả rụng do không được thụ phấn, thụ tinh thì rất nhiều quả non khác phải rụng bớt đi, người ta gọi là rụng quả sinh lý Thường có 2 lần rụng quả sinh lý: lần rụng đầu tiên xảy ra từ khi
nở hoa cho đến 3 - 4 tuần sau nở hoa; lần hai xảy ra vào tháng 5 khi quả có đường kính từ 0,5 - 2,0 cm Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hormon và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước và người ta đã chứng minh được rằng, khi nhiệt độ không khí tăng trên C và ẩm độ giảm xuống dưới 40% có thể gây
ra rụng quả hàng loạt Từ năm 1992 - 1993 người ta đã tiến hành quan sát sơ
bộ quy luật ra hoa, quả của cam quýt ghép trên gốc cam quýt chua có tuổi từ 9 đến 10 tuổi Theo các tác giả thì số nụ rụng chiếm 21,6% tổng số hoa, số hoa
Trang 29rụng chiếm 78,6% tổng số hoa Thời gian rụng hoa tương đối ngắn, tập trung trong giai đoạn từ khi hoa nở đến 13 ngày sau Giai đoạn rụng quả sinh lý tương đối dài Thời kì rụng quả sinh lý lần thứ nhất bắt đầu từ ngày 10 - 14 sau khi hoa nở rộ Thời kì này, quả rụng mang theo cuống, đường kính cắt ngang của quả nhỏ hơn 1cm Thời gian tuy ngắn song ở thời kì này số quả rụng lại rất lớn, ước tính khoảng 72% tổng số quả non rụng Rụng quả sinh lí lần 2 bắt đầu sau rụng quả lần thứ nhất đến 60 ngày sau khi hoa nở rộ Quả rụng lần này không mang cuống Tỷ lệ rụng ước đạt 16,9% tổng số quả rụng, trong đó 9% quả có đường kính dưới 1cm rụng vào giai đoạn từ ngày thứ 14 -
20 sau khi hoa nở rộ, 5,2% số quả có đường kính từ 1 - 3cm rụng vào giai đoạn từ ngày 21 đến ngay 25 sau hoa nở rộ, 2,7% số quả có đường kính từ 3 - 5cm rụng vào giai đoạn từ ngày 30 - 60 ngày sau hoa nở rộ Từ nghiên cứu trên cho thấy, 81% quả non rụng lúc đường kính quả chưa đạt 1cm, vì vậy tác giả cho rằng để giữ quả thì vấn đề then chốt là tác động vào giai đoạn rụng quả sinh lý lần thứ nhất Giữ được quả đạt tới đường kính 5 cm là có thể yên tâm Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khả năng đậu quả của các giống khác nhau là khác nhau, có giống chỉ có thể đậu quả khi có sự thụ phấn chéo, có giống có khả năng tự thụ phấn Nghiên cứu cây ăn quả ở Quảng Đông Trung Quốc đã chứng minh rằng, khi cam quýt giao phấn với cam quýt chua thì tỷ lệ đậu quả nâng từ 1,99% lên 25% Nghiên cứu sự đậu quả của cam quýt ở Thái Lan đã cho thấy rằng, tỷ lệ đậu quả khi tự thụ phấn rất thấp (từ 0 - 2,8%), nhưng khi giao phấn giữa các giống thì tỷ lệ đậu quả tăng từ 9 - 24% Vị trí kết quả cũng được các tác giả theo dõi Đối với cây trẻ, đại đa số quả thường
ở dưới tán cây, và ở bên trong tán trên các cành quả mùa xuân khi cây dần lớn tuổi vị trí này được chuyển lên phía trên và ra ngoài tán Điều này đặc biệt có
ý nghĩa trong kĩ thuật cắt tỉa cho cây cam quýt
Trang 302.5.1.3 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam quýt nói riêng có khá nhiều sâu bệnh hại, đặc biệt có những bệnh rất nguy hiểm gây huỷ diệt hàng loạt như bệnh tristeza, greening ở Brasil, Tây Ban Nha và Venezuela
Ở Nhật Bản đã ghi nhận 240 loài côn trùng và nhện hại; tại 14 tỉnh miền nam Trung Quốc ghi nhận 489 loài chân khớp gây hại trên cam quýt; Đài Loan có 167 loài, Malaysia có 174 loài, ở Ấn Độ có 250 loài
Kết hợp các biện pháp hoá học và sinh học tạo ra một hình thức gọi là quản lý phòng trừ tổng hợp (IPM) đang là xu hướng chung các nước hướng tới Ở Cu Ba áp dụng IPM trên cam quýt đã giảm được 50% lượng thuốc hoá học và làm tăng 20% lượng quả xuất khẩu Một số nước có kỹ thuật sản xuất cây ăn quả có múi tiên tiến như: Úc, Hàn Quốc đã áp dụng IPM trên cây ăn quả có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO để phòng trừ tập đoàn chích hút, sâu vẽ bùa kết hợp với phòng trừ các loại bệnh hại khác, bảo vệ tập đoàn thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường
Tiến bộ đáng ghi nhận nhất trong phòng chống bệnh đó là kỹ thuật xét nghiệm chuẩn đoán các bệnh virus, siêu vi khuẩn bằng PCR và ELISA Hiện nay những kỹ thuật này đã được sử dụng như là 1 phương tiện chủ yếu để xét nghiệm chuẩn đoán bệnh cũng như sàng lọc bệnh trong sản xuất cây sạch bệnh, đồng thời việc kết hợp các phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng, nuôi cấy mô phân sinh với xét nghiệm sàng lọc bệnh bằng PCR và ELISA đã trở thành một khâu bắt buộc trong sản xuất cây sạch bệnh ở các nước trồng cam quýt trên thế giới
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cam quýt ở Việt Nam
2.5.2.1 Nghiên cứu và chọn tạo và thử nghiệm giống cam quýt
Cây ăn quả có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) là loại cây ăn quả quan trọng của nhiều nước trên thế giới và được sản xuất với khối lượng lớn nhất
Trang 31trong các loại cây ăn quả Ở nước ta cây ăn quả có múi cũng được coi là một trong những cây ăn quả chủ lực để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa Tuy nhiên, sản xuất quả có múi ở nước ta nói chung và ở miền Bắc nói riêng còn nhiều khó khăn, hạn chế cần được giải quyết, trong đó phải kể đến là giống, kỹ thuật canh tác và phòng chống sâu, bệnh Hiện tại, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất quả có múi như kỹ thuật cắt tỉa, tạo hình, kỹ thuật bón phân và sử dụng phân bón, kỹ thuật tưới nước và quản lý độ ẩm đất v.v ở các vùng trồng cam quýt còn rất hạn chế và rất ít kinh nghiệm; việc phòng chống và quản lý sâu, bệnh hại, đặc biệt là các bệnh virus và tương tự virus còn gặp khá nhiều khó khăn
Mặc dù có khá nhiều giống cây ăn quả có múi nhưng hầu hết là giống địa phương, năng suất và chất lượng kém, không ổn định, trong đó vấn đề nhiều hạt luôn được xem xét là một nhược điểm lớn nhất ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoa quả có múi ở nước ta Do vậy việc tuyển chọn hoặc tạo các giống năng suất, chất lượng cao, không hạt hoặc ít hạt, có thời vụ thu hoạch khác nhau luôn là mục tiêu xuyên suốt của công tác chọn tạo giống cây có múi nói chung và chọn tạo giống cam, quýt nói riêng Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của các nước trồng cây có múi trên thế giới
Việc chọn tạo ra được các giống cây ăn quả có múi không hạt có thể áp dụng rất nhiều phương pháp Tuy nhiên, với những phương pháp tiên tiến và hiện đại đòi hỏi phải có thiết bị và trình độ khoa học công nghệ cao với thời gian thực hiện kéo dài, từ 10 đến 15 năm, do vậy, bên cạnh việc ứng dụng các phương pháp chọn tạo giống hiện đại, việc nhập nội khảo nghiệm các giống tốt từ nước ngoài và điều tra tuyển chọn các biến dị tốt trong tự nhiên, đặc biệt là các biến dị tạo quả không hạt ở các dạng như: bất tự hòa hợp (self-incompatibility), bất dục đực (male sterile), bất dục cái (ovule sterile) và Parthenocarpy là con đường ngắn nhất, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất
Trang 32kỹ thuật hiện có, nhất là trong bối cảnh cần phải có nhanh các giống tốt, ít hạt hoặc không hạt phục vụ sản xuất
Từ những lý do này, nhóm nghiên cứu do ThS Nguyễn Duy Hưng, Viện Nghiên cứu Rau quả đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu tuyển chọn và phát triển giống cam, quýt không hạt ở phía Bắc” Đây là
đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm chủ lực
Sau 39 tháng (10/2012 - 12/2015) triển khai nghiên cứu, đề tài đã thu được kết quả như sau:
- Đã điều tra tuyển chọn được 4 dòng cam, quýt có đặc tính ít hạt Xác định được nguyên nhân ít hạt của các cây tuyển chọn: Quýt ngọt (QN-1) là do
tự bất hòa hợp; các dòng Cam Xã Đoài (XM-2), Cam mật (H-1) và Quýt Cao (QC-1) là do bất dục đực
- Các giống cam, quýt nhập nội khảo nghiệm đều có khả năng sinh trưởng phát triển, ra hoa đậu quả trong điều kiện miền Bắc Trong số 4 giống cam: NO-1, NO-2, NO-3, RNO-1 và 3 giống quýt: SM-1, A-1, A-2 khảo nghiệm đã chọn được 02 giống có khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng tốt nhất là giống cam NO-3 và giống quýt SM-1 Các giống đã được Hội đồng công nhận giống Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc
+ Giống cam NO-3 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt không mẫn cảm với các loại sâu bệnh nguy hiểm Giống sớm cho thu hoạch bói quả (chỉ sau 3 năm trồng) với năng suất đạt 5,1-6,0 kg/cây, đặc điểm ra hoa, đậu quả, thời vụ thu hoạch trùng với mùa vụ cây có múi ở phía Bắc Quả hình thuôn gần cầu, khối lượng 320-350 g, màu sắc hấp dẫn, chất lượng tốt khi Brix đạt 11,2-11,3, Đường TS 7,79-8,05 %, Axit 0,47- 0,55% và đặc biệt là không hạt
Trang 33+ Giống quýt SM-1: có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt không mẫn cảm với các loại sâu bệnh nguy hiểm Giống sớm cho thu hoạch bói quả (chỉ sau 3 năm trồng) với năng suất đạt 5,2-9,4 kg/cây, đặc điểm ra hoa, đậu quả, thời
vụ thu hoạch trùng với mùa vụ cây có múi ở phía Bắc Quả hình cầu hơi dẹt, khối lượng 83-85 g, màu sắc hấp dẫn, chất lượng tốt khi Brix đạt 11,3-11,5, Đường TS 7,29-7,62 %, Axit 0,47-0,60%, có trung bình 3,6-4,0 hạt/ quả
2.5.2.2 Nghiên cứu phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại
Việt Nam được ghi nhận cũng là một trong những địa danh nguồn gốc của cam quýt Việt Nam có điều kiện sinh thái phù hợp đối với cam quýt sinh trưởng, phát triển và cam quýt được trồng khắp mọi nơi trong cả nước, chính
vì vậy sâu bệnh hại cam quýt ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong vài chục năm gần đây tình hình sâu bệnh hại đã và đang là mối đe doạ, thách thức nghiêm trọng trong nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất
Với hàng loạt các dự án, đề tài được tài trợ bởi các cơ quan trong và ngoài nước, từ năm 1990 đến nay Viện Bảo vệ thực vật và Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã xác định được nguyên nhân và mô tả triệu chứng bệnh greening trên cây cam, quýt, bưởi Gần đây Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cây sạch bệnh và xây dựng mô hình thâm canh và IPM vườn sạch bệnh tại một số địa phương ở Đồng bằng Sông Cửu Long Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu các nhà khoa học cũng đã khuyến cáo, nên sử dụng một số giống gốc ghép chịu được một số bệnh nguy hiểm như: Chấp Thái Bình, chanh sần, cam ba lá, cam chua Hải Dương, quýt Cleopatre trong nhân giống cây ăn quả có múi Đây là những thành quả đáng khích lệ, góp phần thúc đẩy phát triển ổn định cây ăn quả có múi ở Việt Nam (Nguyễn Văn Cảm, 1999) [2]
Theo kết quả nghiên cứu về thành phần các loại sâu hại cây có múi từ trước đến nay ở nước ta đã ghi nhận được 169 loại sâu hại (N.T.T Cúc, 2000)
Trang 34[5] Các loại sâu hại trên cây ăn quả có múi chủ yếu được chia làm các nhóm sau: Sâu chích hút nhựa ở lá và lộc: nhện đỏ cam, rầy chổng cánh, các loài rệp muội, rệp sáp các loại, bọ phấn… Nhóm sâu ăn lá non: các loại phổ biến là sâu nhớt, sâu vẽ bùa Nhóm sâu hại quả và hoa: giòi đục nụ, các loài bọ trĩ, nhện rám vàng, bọ xít xanh vai nhọn, ruồi đục quả, ngài hút quả, rệp sáp các loại Nhóm sâu đục thân và đục cành: các loài xén tóc
Rầy chổng cánh phát sinh và phát triển liên quan chặt chẽ với các giai đoạn phát lộc của cây Rầy không chỉ gây hại trực tiếp cho cây cam mà nguy hiểm hơn chúng là môi giới truyền vi khuẩn gây bệnh vàng lá greening ở hầu hết các vùng trồng cam trong cả nước (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5] Phòng trừ rầy chổng cánh bằng việc chăm sóc cây cam ra lộc tập trung, dễ phòng trừ Với rầy chổng cánh, cần loại bỏ các nguồn cây bị bệnh trong vườn là một trong biện pháp phòng trừ tổng hợp cho rầy chổng cánh Trồng cây giống sạch bệnh và chăm sóc hợp lý, tỉa cành tạo tán trồng hàng cây chắn gió Nuôi kiến vàng ở đồng bằng sông Cửu Long là biện pháp sinh học hữu hiệu trừ rầy chổng cánh, rệp muôi và một số sâu non bộ cánh vẩy (Vũ Công Hậu, 1999) [8]
Một số tác giả nghiên cứu về loài nhện nhỏ hại quýt như sau: Nguyễn Thị Thủy (2003) [15] đã tìm ra được 6 loại nhện hại trên quýt vùng ngoại thành Hà Nội Tuy nhiên trong đó chỉ có 2 loài gây hại trên quýt là nhện đỏ và nhện rỉ sắt Cũng theo tác giả trên nhện đỏ chú yếu hại ở lá già và lá bánh tẻ, khi mật độ cao chúng hại trên cả lá non và quả quýt Nếu bị hại hại năng trên quả quýt thì quả sẽ bị chuyển thành màu giám Nhện đỏ thích cư trú trên về mặt lá và những nơi nhiều ánh sáng Nhện rỉ sắt gây hại trên tất cả các vùng cam trong cả nước đặc biệt là vùng Hà Nội, Hà Giang và Hòa Bình… (Nguyễn Văn Đĩnh, 1992) [6] Nhện có thời gian sinh trưởng rất ngắn nên khả năng tích lũy quần thể nhanh Nhện thích sống ở mặt dưới lá và những nơi ít ánh sáng
Trang 35Trong quá trình nghiên cứu ở Hà Giang (Trần Thị Bình, 2002) [1] đã tìm ra 66 loài sâu và nhện ở đây, chủ yếu là nhện đỏ, nhện trắng, rầy chổng cánh, sâu đục cành và sâu nhơt Theo (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5], cho biết sâu vẽ bùa là nguyên nhân gây bệnh loét vi khuẩn Có thể sử dụng thuốc hóa học một cách hợp lý để hạn chế sự gây hại của sâu vẽ bùa và bảo vệ thiên địch bằng cách phun vào đầu các đợt lộc chồi mới nhú 2cm bằng Trebon, sherpa…và phun đợt 2 và 3 sau mỗi lần phun bảy ngày Cũng theo tác giả (Vũ Công Hậu, 1999) [8] việc tạo tán góp phần làm giảm mật độ nhện đỏ, giảm mật độ rầy chổng cánh, bên cạnh đó việc tưới nước cũng làm giảm đáng kể nhện đỏ
Theo (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [5] thì rầy chổng cánh liên quan mật thiết đến các giai đoạn phát lộc của cây Rầy không chỉ gây hại trực tiếp cho cây quýt mà nguy hiểm hơn chúng là mô giới chuyện bệnh vàng lá greening ở hầu hết các vùng trồng quýt trên cả nước Phòng trừ rầy chổng cánh bằng việc chăm sóc cây cam ra lộc tập trung, dễ phòng trừ Với rầy chổng cánh, cần loại
bỏ các nguồn cây bị bệnh trong vườn là một trong biện pháp phòng trừ tổng hợp cho rầy chổng cánh Trồng cây giống sạch bệnh và chăm sóc hợp lý, tỉa cành tạo tán trồng hàng cây chắn gió Nuôi kiến vàng ở đồng bằng sông Cửu Long là biện pháp sinh học hữu hiệu trừ rầy chổng cánh, rệp muôi và một số sâu non bộ cánh vẩy (Vũ Công Hậu, 1999) [8]
Một kết quả nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thu Cúc cho rằng sâu vẽ bùa xuất hiện hầu hết các tỉnh trồng cam quýt và chúng có khả năng tấn công 100% số cây trong vườn vào các giai đoạn ra lá non Trên cam quýt trồng ở miền Bắc Viêt Nam sâu vẽ bùa là loại tiêu biểu và phổ biến, sâu vẽ bùa là một ðối týợng gây hại rất nghiêm trọng trên cam tại nông trýờng Thanh Hà tỉnh Hòa Bình Sâu vẽ bùa phân bố hầu hết tỉnh Hà Giang nơi trồng cây có múi như: Cam, chanh, quýt, bưởi trong đó phổ biến nhất là huyện Bắc Quang, Vị Xuyên Tại Đồng bằng sông Cửu Long sâu vẽ bùa xuất hiện hầu hết trên địa bàn trồng cam quýt như Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang…
Trang 36PHẦN III ÐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống quýt ngọt không hạt ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây 2 năm tuổi
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Trebon 10EC: Hoạt chất: Etofenprox 10% quy cách 100ml Là thuốc trừ sâu trên lúa, chè, vải, ngô, bông, cam, quýt dùng cho các loại sâu như: Sâu cuốn lá, sâu vẽ bùa, sâu xanh, sâu khoang, rầy xanh, rầy nâu, bọ trĩ, bọ cánh
tơ, bọ xít muỗi và rệp
Newsgard 75WP: Thành phần: Cyromazine 75%ww, Phụ gia 25%
ww Là thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, tác động tiếp xúc vị độc, và lưu dẫn mạnh trong cây Diệt được cả trứng và ấu trùng, phòng trừ hữu hiệu sâu
vẽ bùa, dòi đục lá Newsgard 75 WP kéo dài hiệu quả tiêu diệt, phá vỡ quá trình lột xác và trứng đẻ ra bị ung không nở được Có tính chọn lọc cao, có độ độc thấp với thiên địch và an toàn với môi trường nên rất phù hợp với chương trình IPM và sản xuất rau quả sạch
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống, tình hình sâu bệnh hại và
kỹ thuật phòng trừ cho giống quýt ngọt không hạt tại thị trấn Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thời gian sinh trưởng lộc, khả năng ra hoa đậu quả của giống quýt ngọt không hạt
Trang 37- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sinh trưởng phát triển của cây và khả năng phòng trừ sâu bệnh hại cho giống quýt ngọt không hạt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của giống
quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm hai công thức được bố
trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với ba lần nhắc lại, mỗi công thức 10 cây, tổng số cây trong thí nghiệm 60 cây
Công thức 1: Giống quýt địa phương
Công thức 2: Giống quýt ngọt không hạt
- Nền thí nghiệm:
- Phân nền: vôi bột 1 kg/cây, và Phân vô cơ: Urê: 0,5 kg/cây + Super lân Lâm Thao 0,5 kg/cây + Kali (KCl) 0,3 kg/cây, được chia đều làm 3 lần/năm
- Bón phân khoáng: Rải phân xung quanh gốc tại hình chiếu mép tán Chú ý khi bón phân đất phải đủ ẩm hoặc sau khi bón xong phải tưới chú ý khi
Trang 38bón phân đất phải đủ ẩm hoặc sau khi bón xong phải tưới nước Không bón khi nhiệt độ quá cao trên 390C hoặc quá thấp dưới 150C
* Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Chỉ tiêu về đặc điểm hình thái:
+ Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến điểm cao nhất của tán cây, đo toàn bộ số cây theo
+ Đường kính tán (cm): Đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán cây theo hướng Đông-Tây-Nam-Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình, đo toàn bộ số cây theo dõi
- Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng các đợt lộc:
+ Thời gian ra lộc (ngày): Được tính từ khi có 5% số cành/cây bật lộc, tính thời gian ngày xuất hiện lộc
+ Thời gian ra lộc rộ (ngày): Được tính khi 50% số cành/cây bật lộc, tính thời gian ngày ra lộc rộ
+ Thời gian kết thúc ra lộc (ngày): Được tính khi trên 80% số cành/cây
bật lộc, tính thời gian ngày kết thúc ra lộc
- Chỉ tiêu về số lượng lộc (lộc/cây): đếm số lượng lộc trên cây theo từng đợt ra lộc
- Chỉ tiêu về đặc điểm hình thái lộc: đo 4 lộc/cây khi lộc thành thục,
làm với 3 lần nhắc lại
+ Chiều dài lộc (cm): Đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành + Đường kính lộc (cm): Đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về động thái tăng trưởng các đợt lộc: đo 4 lộc/cây, 1 tuầnđo
1 lần, làm với 3 lần nhắc lại
+ Chiều dài lộc (cm): Đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành
Trang 39+ Đường kính lộc (cm): Đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về thời gian ra hoa
+ Thời gian bắt đầu ra hoa (ngày) Tính từ khi có 5% số hoa, quả xuất hiện
+ Thời kỳ nở hoa rộ (ngày): Khi có 75% hoa nở
+ Thời kỳ kết thúc nở hoa (ngày): Khi có >80% hoa rụng cánh
- Chỉ tiêu về sâu bệnh hại: Theo dõi thành phần, tần suất xuất hiện sâu
bệnh hại: điều tra theo 5 điểm trên đường chéo góc, 1 tháng đo 1 lần
Tần xuất bắt gặp (%) = Số lần bắt gặp của mỗi loài x 100
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thuốc BVTV
đến khả năng phòng trừ sâu bệnh hại và sinh trưởng phát triển giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 3 cây, tổng số cây trong thí nghiệm 27 cây
Công thức 1: Phun nước lã
Công thức 2: Phun Trebon 10EC
Công thức 3: Phun Newsgard 75WP
Phun thuốc khi sâu non mới xuất hiện theo các đợt lộc ra có độ dài từ 1,5-2
cm
Trang 40Chỉ tiêu theo dõi:
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến số lượng lộc/cây: đếm số lượng lộc
trên cây sau khi phun thuốc BVTV theo từng đợt ra lộc
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đặc điểm hình thái lộc: đo 4
lộc/cây khi lộc thành thục, làm với 3 lần nhắc lại
+ Chiều dài lộc (cm): Đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành + Đường kính lộc (cm): Đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
+ Số lá/lộc (lá): đếm số lá trên lộc theo dõi
- Chỉ tiêu về sâu bệnh hại: Phương pháp lấy mẫu, cách tiến hành thí nghiệm và
chỉ tiêu đánh giá được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01-38:2010/BNNPTNT)
- Theo dõi thành phần, tần suất xuất hiện sâu bệnh hại: điều tra theo 5 điểm trên đường chéo góc, 1 tuần điều tra 1 lần
Tần suất bắt gặp (%) = Số lần bắt gặp của mỗi loài x 100