Xuất phát từ nhu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” nhằm
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
ĐINH QUANG TÀI
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN RAU AN TOÀN THEO TIÊU CHUẨN VIETGAP TẠI XÃ ĐỘNG ĐẠT HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Khuyến nông
Khoa: Kinh tế & phát triển nông thôn
Khóa học: 2014-2018
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
ĐINH QUANG TÀI
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN RAU AN TOÀN THEO TIÊU CHUẨN VIETGAP TẠI XÃ ĐỘNG ĐẠT HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Khuyến nông
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Xin chân thành cám ơn Cô giáo hướng dẫn Th.S Trần Thị Ngọc đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Xong do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được
Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Đinh Quang Tài
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ngưỡng giới hạn các vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi 12
Bảng 3.1: Số lượng hộ điều tra mẫu: 31
Bảng 3.2: Thống kê mô tả mẫu khảo sát 32
Bảng 3.3: Thống kê mô tả mẫu khảo sát người tiêu dùng 33
Bảng 4.1: Thống kê tình hình sử dụng đất ở xã Động Đạt 38
Bảng 4.2: thông tin chung về các hộ 40
Bảng 4.3: Đánh giá của người dân về công tác triển khai mô hình 44
Bảng 4.4: Diện tích rau các loại của xã giai đoạn 2017- 2018 46
Bảng 4.5: Một số loại hóa chất BVTV thường dùng và số lần sử dụng/vụ đối với rau của các hộ sản xuất 48
Bảng 4.6: Diện tích một số loại rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP của các hộ điều tra 50
Bảng 4.7: Các hộ tham gia và không tham gia tập huấn năm 2017 52
Bảng 4.8: Mức đầu tư phân bón cho 1 sào RAT theo tiêu chuẩn VietGAP và RTT năm 2017- vụ xuân 2018 53
Bảng 4.9: Thực trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân trong mô hình RAT và RTT 55
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả điều tra về tình hình tiêu thụ RAT theo tiêu chuẩn VietGAP ở 50 hộ 58
Bảng 4.11: Năng suất một số loại rau an toàn trong mô hình ngoài đồng ruộng qua 3 vụ năm 2017 và 2018 61
Bảng 4.12: Giá bán một số loại RAT theo tiêu chuẩn VietGAP, RTT 63
Bảng 4.13: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một sào cải ngọt qua 3 vụ năm 2017-2018 64
Trang 5iii Bảng 4.14: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một sào bắp cải qua 3 vụ năm 2017-2018 65 Bảng 4.15: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một sào dưa chuột qua 3 vụ năm 2017-2018 66 Bảng 4.16: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một sào cà chua qua 3 vụ năm 2017-2018 67
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ cung cấp rau 18Hình 4.1 Các kênh tiêu thụ rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Động Đạt 59
Trang 7NN &PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SX-CB- TT Sản xuất chế biến tiêu thụ
Practices- Thực hành sản xuất Nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Trang 8vi
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
PHẦN 2; TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1 Định nghĩa rau an toàn 5
2.1.2 Tiêu chuẩn rau an toàn 6
2.1.3 Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn 13
2.1.4 Một số lý luận về thị trường 15
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên thế giới 22
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam 22
2.3 Những bất cập và tồn tại của sản xuất RAT ở nước ta 28
2.3.1 Những bất cập trong sản xuất rau an toàn 28
2.3.2 Những tồn tại chính của sản xuất rau an toàn 29
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
Trang 9vii
3.1 Mục đích nghiên cứu: 30
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
3.4.2 Phương pháp điều tra 31
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 33
3.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 34
3.5.1 Các chỉ tiêu định tính 34
3.5.2 Các chỉ tiêu định lượng 34
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 36
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Động Đạt 38
4.2 Nhận thức đánh giá của người dân về mô hình RAT 41
4.2.1 Thực trạng đào tạo, tập huấn kỹ thuật 41
4.2.2 Nhận thức đánh giá của người dân về công tác triển khai dự án 43
4.3 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ rau thường và RAT tại xã Động Đạt 45
4.3.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau thường tại xã Động Đạt 45
4.3.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ RAT theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Động Đạt 49
4.3.3 Thực trạng thị trường tiêu thụ 58
4.4 Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất rau an toàn VietGAP trên địa bàn xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 61
4.4.1 Hiệu quả kinh tế của rau an toàn VietGAP 61
Trang 10viii 4.4.2 Hiệu quả kinh tế của rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP so với rau
thông thường 62
4.5 Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và cung ứng RAT 68
4.5.1 Thuận lợi trong sản xuất, cung ứng RAT 68
4.5.2 Khó khăn trong sản xuất, cung ứng RAT 69
4.6 Một số giải pháp phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng rau và rau an toàn tại địa phương 72
4.6.1 Quy hoạch vùng sản xuất RAT theo tiêu chuẩn VietGAP và xây dựng hệ thống cơ sở vật chất- hạ tầng, hệ thống thông tin về RAT 72
4.6.2 Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất và khuyến khích sản xuất 73
4.6.3 Xây dựng hệ thống quản lí, kiểm tra chất lượng RAT theo tiêu chuẩn VietGAP 73
4.6.4 Tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về RAT theo tiêu chuẩn VietGAP đối với người sản xuất và người tiêu dùng 74
4.6.5 Giải pháp giúp người tiêu dùng nhận diện các sản phẩm rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP 74
4.6.6 Xây dựng và quảng bá thương hiệu RAT theo tiêu chuẩn VietGAP 75
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 111
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc” Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin, các axít hữu cơ, chất khoáng Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau (tương đương với 7,5-8 kg/tháng hay 90-108 kg/năm - Trần Khắc Thi)[5] Như vậy tổng nhu cầu rau của nước
ta sẽ là 8.100 - 9.720 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các loại năm 2014 đạt 15,4 triệu tấn Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể tiến hành trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội: tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình Rau
là cây ngắn ngày, có những loại rau như cải canh, cải củ từ 30-40 ngày đã cho thu hoạch, rau cải bắp 75 - 85 ngày, rau gia vị chỉ 15 - 20 ngày một vụ cho nên một năm có thể trồng được 2 - 3 vụ, thậm chí 4 - 5 vụ Cây rau còn là cây
dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất Cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, 1 ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2 - 5 lần so với trồng lúa Trồng rau là nguồn tạo ra thu nhập lớn cho hộ Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho chế biến Sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc
tế, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cải bắp, cà chua,
ớt, dưa chuột đóng góp một phần đáng kể vào sản xuất chung của cả nước và
Trang 122
mở rộng quan hệ quốc tế Tóm lại, sản xuất rau có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, nguyên 2 liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho người lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, một thị trường lớn với khoảng 5 tỉ người tiêu dùng, chiếm khoảng 95% giá trị thương mại thế giới Hơn nữa, năm 2010 Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu
và nhất là thị trường nông sản Việt Nam sẽ tiếp cận sâu rộng hơn vào hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kì và Nhật Bản Trong đó rau quả được coi là một trong những mặt hàng Việt Nam có lợi thế lớn nhất Những thách thức lớn nhất đối với hàng nông sản Việt Nam khi tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là số lượng, chất lượng, giá thành và vấn đề an toàn thực phẩm Bài toán đặt ra là
“an toàn thực phẩm” để chứng minh với nhà nhập khẩu và người tiêu dùng trên toàn thế giới về độ an toàn và vệ sinh của các sản phẩm nông sản của Việt Nam Trên các trang báo, đài truyền thanh, truyền hình liên tục cập nhật thông tin về thực trạng tại các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm bẩn, làm giả thực phẩm Cùng với đó là lời kêu gọi “Nói không với thực phẩm bẩn”, coi tình trạng kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc là một thứ tệ nạn, một loại tội phạm không thể dung thứ mà đấu tranh quyết liệt cùng những chế 3 tài nghiêm khắc, thậm chí là truy tố trước pháp luật Và hướng dẫn người tiêu dùng cách nhận biết, sử dụng các loại thực phẩm để đảm bảo vệ sinh an toàn nhằm tiến tới phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, đóng dấu thực phẩm sạch, cơ sở sản xuất sạch
Trang 133 Động Đạt là một xã nằm phía Bắc của huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, cung cấp thực phẩm cho toàn xã và các khu vực lân cận Với lợi thế sẵn có, rau là cây trồng được đặt lên hàng đầu Những năm vừa qua sản xuất rau của xã Động Đạt đã tăng nhanh cả về diện tích gieo trồng và năng suất sản phẩm Tuy nhiên, chưa có sự liên kết giữa khâu sản xuất và tiêu thụ nên giá rau còn bếp bênh khiến người sản xuất chịu nhiều thiệt thòi Chất lượng rau còn hạn chế, đặc biệt mức độ an toàn kém do rau vẫn còn dư lượng thuốc BVTV và vi sinh vật gây hại vượt quá ngưỡng cho phép khi tiêu thụ trên thị trường ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng Mất niềm tin vào sản phẩm rau, người tiêu dùng còn gặp khó khăn khi nhận diện sản phẩm an toàn tại thị trường truyền thống Do đó, việc phát triển rau an toàn đang là một yêu cầu cấp bách của xã hội vì sự an toàn cho sức khỏe và môi trường Xuất phát từ nhu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” nhằm nghiên cứu và phân tích nhu cầu sản xuất, đánh giá thuận lợi, khó khăn của người dân trong sản xuất và cung ứng rau an toàn, từ đó đưa
ra giải pháp, khuyến nghị cho các bên liên quan tới vấn đề
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
-Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP
tại xã Động Đạt- huyện Phú Lương-tỉnh Thái Nguyên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
-Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn xã Động Đạt;
Trang 141.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
-Đánh giá khách quan các tác nhân tham gia san xuất rau an toàn, theo tiêu chuẩnVietGAP phân tích lợi ích tài chính đối với các tác nhân
-Giúp các nhà sản xuất, các doanh nghiệp, các cá nhân trong sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tăng khả năng liên kết thực hiện mục tiêu cung cấp cho thị trường, cho người tiêu thụ các sản phẩm rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP
-Khép kín quy trình sản xuất rau nhằm nâng cao chất lượng rau an toàn cũng như chất lương của các mặt hàng nông sản trong nước, hướng tới xuất khẩu sang thị trường trong nước và quốc tế
Trang 155
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Định nghĩa rau an toàn
Rau an toàn: là những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nấm thực phẩm ) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy định kỹ thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép theo quy định Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành ngày 9 tháng 11 năm 2012: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định[1]
Rau an toàn là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất BVTV, song có giới hạn Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng Rau an toàn là rau không có đất, cát, rác hoặc các chất bám vào thân, lá, cành của rau
Rau an toàn là rau được thu hái, sử dụng đúng lúc rau có khả năng cho năng suất, chất lượng cao nhất của từng đợt và từng lứa thu hái
Trang 166 Rau an toàn là rau tươi không chứa các tạp chất khác, có bao bì vệ sinh sạch, bảo đảm đến người sử dụng ăn ngon, tươi và an toàn
Rau an toàn không chứa các dư lượng độc hại vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế không bị nhiễm các hoá chất, thuốc BVTV, hàm lượng nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh khác
Tóm lại: Rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
-Không chứa dư lượng thuốc sâu quá mức cho phép
-Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép
-Không chứa các vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn)
-Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thuỷ ngân (Hg), chì (Pb) quá ngưỡng cho phép theo “Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn”
2.1.2 Tiêu chuẩn rau an toàn
Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm
2012, điều kiện sản xuất rau an toàn phải đảm bảo:
-Điều kiện sản xuất rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hoặc theo quy trình kỹ thuật sản xuất rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc theo các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm trong VietGAP hoặc các GAP khác
-Điều kiện sơ chế rau: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với rau, quả trong sản xuất, sơ chế
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Trang 177 -Điều kiện chế biến rau, quả: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-09:2009/BNNPTNT về cơ sở chế biến rau, quả - điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm
Tiêu chuẩn vùng sản xuất rau an toàn
Đất canh tác có tính lý hoá phù hợp với sự phát triển của cây rau, thườngxuyên được bón phân, duy trì độ phì của đất, có nguồn nước tưới sạch không ô nhiễm do sản xuất trước đây Riêng các loại rau trồng ruộng nước: rau muống, rau nhút, sen thì không bị ô nhiễm bởi nguồn nước
Nước tưới: Nguồn nước tưới cho vùng rau không bị ô nhiễm các loại hoá chất và vi sinh vật gây hại, không dùng nước thải của sản xuất công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước ao tù tồn đọng chưa qua xử lý v.v
* Điều kiện kỹ thuật
Tối thiểu 90% số hộ trồng rau đồng thuận sản xuất RAT phải được tập huấn kỹ thuật về sản xuất RAT do Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tổ chức và cấp giấy chứng nhận, hộ hoặc các nhóm hộ phải cơ bản đồng thuận sản xuất theo quy trình kỹ thuật RAT[2]
Đảm bảo 95% diện tích trồng rau trong vùng thực hiện đúng quy trình sản xuất RAT của Bộ NN & PTNN Phải áp dụng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít độc hại cho con người và môi trường
Trang 188 Giống: Chọn giống tốt sạch mầm bệnh, khuyến khích sử dụng các giống mới có chất lượng và năng suất cao
Biện pháp canh tác: Thực hiện theo quy trình của Bộ NN & PTNN ban hành chú ý chế độ luân canh lúa - rau màu hoặc xen canh, luân canh giữa các loại rau khác nhau để giảm lây lan sâu bệnh
Thuốc BVTV: Sử dụng khi thật sự cần thiết và luân phiên các loại thuốc BVTV Tuyệt đối không dùng các thuốc cấm và hạn chế sử dụng ở Việt Nam đã được Bộ NN&PTNN ban hành Khuyến khích sử dụng thuốc sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc có độ độc thấp (nhóm III, IV), thuộc nhóm nhanh chóng phân huỷ ít ảnh hưởng đến các loài sinh vật có ích trên đồng ruộng Phân bón: Không sử dụng phân tươi, phân hữu cơ chưa ủ hoai Tuỳ từng loại rau mà số lượng, chủng loại phân cân đối, hợp lý và có thời gian cách ly an toàn khi thu hoạch Việc sử dụng phân đạm và các loại phân khác đảm bảo không tạo ra dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép theo quyết định số 67/1998/QĐ-BNN- KHKT ngày 28/4/1998 của Bộ NN & PTNN về Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn
* Điều kiện sản xuất
Vận động các hộ trồng rau trong vùng thành lập tổ sản xuất, có ban điều hành do tập thể bầu ra để thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, tiếp thu chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm
Trong thời gian 3 tháng sau khi tập huấn, Chi cục BVTV sẽ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên các mẫu trên đồng ruộng và sau thu hoạch khi tất cả các mẫu đạt tiêu chuẩn RAT sẽ đề nghị sở NN & PTNN ra quyết định công nhận vùng RAT
* Tiêu chuẩn về hình thái
Trang 199 Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu từng loại rau (đúng
độ già kỹ thuật hay thương phẩm), không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp
* Tiêu chuẩn về các chỉ tiêu nội chất trong rau
Tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau an toàn đều phải nằm dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) hoặc của một số nước tiên tiến như: Nga, Mỹ
Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:
* Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Khi phun thuốc BVTV, có một phần lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi
là dư lượng thuốc Lượng thuốc tồn dư này ở một mức độ nhất định sẽ gây ngộ độc cho người ăn Người bị ngộ độc có thể sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề trước mắt hoặc lâu dài tuỳ thuộc vào nồng độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể
Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt của lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước Hiện nay, Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 22 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2008)[7]
Rau có nhiều chủng loại, do vậy sâu hại cũng đa dạng, thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10 - 40% đôi khi còn tới 100% nếu có dịch hại Do thói quen sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của các loại hoá chất BVTV nên nông dân sử dụng quá nhiều (0,4 - 0,5 kg a.i - a.i là lượng
Trang 2010 hữu cơ hữu hiệu) trong khi đó liều lượng cho phép không quá 0.2 - 0.25 kg a.i (Bùi Bảo Hoàn và cộng sự, 2000)
Một số nguyên nhân quan trọng khác nữa là khoảng cách thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các loại rau thu hoạch liên tục như cà chua, đậu cô
ve, dưa chuột…
Ngoài ra nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu có độc tố cao (nhóm I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu mọt như hạt mùi, tía
tô, rau dền, rau muống
Biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để làm cho hàm lượng thuốc BVTV trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp và sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý nhất
* Hàm lượng nitrat tồn dư trong rau (NO3-)
Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau Khi đất trồng có quá nhiều đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tích luỹ trong rau dưới dạng Nitrat (NO3-) Khi đi vào cơ thể con người NO3- sẽ bị khử thành NO2, NO2 làm chuyển hoá chất Oxyhemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành một chất không hoạt động được gọi là methahemoglobin, làm cho máu thiếu oxy Trong cơ thể, lượng nitrat ở mức cao sẽ gây phản ứng với anmin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin Có thể nói hàm lượng nitrat vượt ngưỡng là triệu chứng nguy hiểm cho sức khoẻ con người (Bùi Bảo Hoàn và cộng sự, 2000).[11]
Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO và cộng đồng Y Tế Châu Âu (EC) giới hạn lượng nitrat trong nước uống là 50mg/lít Trẻ em thường xuyên uống nước có hàm lượng nitrat cao hơn 45 mg/lít sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng kháng bệnh Tổ chức Y Tế Thế Giới khuyến cáo hàm lượng nitrat trong rau không vượt qúa 300 mg/kg rau tươi
Trang 2111 Theo tác giả (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2005)[5], rau bán trên thị trường hiện nay có thể chia ra làm 3 nhóm chính:
- Nhóm I: Có tồn dư NO3 rất cao ≤ 1200 mg/kg rau tươi gồm cải xanh, cải cúc, cải bẹ, rau dền, rau day, cải đắng…
- Nhóm II: Có tồn dư NO3 từ 600 - 1200 mg/kg rau tươi gồm: cải bắp, cải củ, mồng tơi, xà lách, rau cải ngọt, su hào, mướp, bầu bí và các loại rau gia vị…
- Nhóm III: Là loại rau tồn dư N03 ≤ 600 mg/kg rau tươi gồm: hành, rau muống, cải xoong, bí đỏ, dưa chuột, cà rốt…
* Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu
Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự tích luỹ trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái Các kim loại nặng như asen, chì, thuỷ ngân nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho
cơ thể, hạn chế sự phát triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hoá
Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ yếu do trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau Mặt khác, nguồn nước thải của các thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng cũng được chuyển trực tiếp vào rau tươi
Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất là khuyến cáo tuyệt đối không sản xuất rau ở khu vực có chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, các khu vực đất đã bị ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó gây ra Tuyệt đối không
sử dụng nước gần khu công nghiệp, các nhà máy để tưới
* Mức độ ô nhiễm do sử dụng nước tưới không sạch
Trang 2212 Các sản phẩm rau đều chứa một lượng nước rất lớn song nếu sử dụng nguồn nước không sạch thì sẽ gây góp phần gây ô nhiễm Nước có thể gây ô nhiễm cho sản phẩm bằng hai cách:
Bảng 2.1: Ngưỡng giới hạn các vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi Sản phẩm Loại vi sinh vật
Giới hạn vi sinh vật (trong 1g hay 1ml thực
S.aureus Giới hạn bởi GAP
Cl Perfringens Giới hạn bởi GAP
Các vùng trồng rau dùng phân tươi để tưới trực tiếp đó cũng là một hình thức truyền tải mầm bệnh trứng giun và các vi sinh vật gây bệnh khác
Trang 2313 Các vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm cho con người có thể kể đến vi khuẩn E.coli gây bệnh đường ruột hay vi khuẩn samonella gây bệnh thương hàn
2.1.3 Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, các biện pháp kỹ thuật canh tác và sản xuất rau an toàn phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thuỷ canh,
kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn và kỹ thuật trồng rau ngoài đồng ruộng
2.1.3.1 Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch - Hydroponics)
*Hệ thống thuỷ canh tĩnh:
-Hệ thống này đã được áp dụng ở nhiều nơi trên cả nước với quy mô khác nhau Tại một số trường Đại học và viện nghiên cứu như: trường Đại học Nông Nghiệp I, Đại học Tự Nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện nghiên cứu rau quả Vật chứa dung dịch là hộp xốp có kích thước khác nhau,
có tác dụng cách nhiệt, tránh ánh sáng cho bộ rễ Giá thể để cây là một trấu hun Hộp trồng cây được để trong nhà cách ly với côn trùng gây hại Hệ thống này có ưu điểm là không phải đầu tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành thấp Nhược điểm chính thường thiếu ôxi trong dung dịch
và giảm độ pH gây độc cho cây (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2005)[6]
*Hệ thống thuỷ canh động:
-Là hệ thống mà quá trình cây trồng trong dung dịch dinh dưỡng có chuyển động, chi phí cao hơn nhưng dung dịch không thiếu ôxi Các mô hình trồng rau thuỷ canh được thực hiện các khu nông nghiệp cao của Hà Nội, Hải Phòng, Viện nghiên cứu rau quả tại Mộc Châu theo hướng thuỷ canh mở (Rtw) cho năng suất cà chua trên 100 tấn/ha/vụ, ớt ngọt, dưa chuột đạt 60 - 80 tấn/ha/vụ Mô hình thuỷ canh kín của hệ thống thuỷ canh động, trong đó có sự tuần hoàn trở lại nhờ một hệ thống bám hút dung dịch từ bể chứa, được thực
Trang 2414 hiện tại Viện nghiên cứu rau quả, trường Đại học Nông Nghiệp I năng suất 3 -
5 kg/m/vụ mỗi vụ 15 - 30 ngày đặc biệt có thể trồng rau trong điều kiện mùa
hè (Nguyễn Quang Thạch và cộng sự, 2005) Sản xuất rau bằng kỹ thuật thuỷ canh là mộ dạng ứng dụng công nghệ cao, phù hợp với sản xuất nông nghiệp
đô thị nơi đất canh tác giảm dần, môi trường canh tác ô nhiễm và thị trường yêu cầu sản phẩm chất lượng cao Đây là loại hình canh tác đang được nghiên cứu hoàn thiện trong điều kiện Việt Nam và rất có triển vọng trong tương lai
2.1.3.2 Kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn (nhà lưới, nhà nilon, nhà màn, polyetylen phủ đất)
Cách trồng này sẽ hạn chế được sâu bệnh hại, cỏ dại, sương muối nên
ít phải sử dụng thuốc BVTV, đồng thời rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất cũng được nâng cao Tuy nhiên các vật liệu xây dựng vật liệu che chắn
và nilon phủ đất hiện nay giá thành cao người nông dân vẫn chưa đủ vốn đầu
tư để sản xuất lớn Phương pháp này trên thế giới sử dụng khá phổ biến Ở nước ta vùng rau Đà Lạt có diện tích 500 ha, Hà Nội 42,7 ha hầu hết các vùng rau của tỉnh, thành phố và khu công nghiệp lớn đều có dạng hình canh tác này
2.1.3.3 Trồng rau an toàn ngoài đồng ruộng
Đây là phương thức canh tác chủ yếu của ngành sản xuất rau nước ta Mục tiêu lớn nhất là hơn 600 ngàn ha trồng rau được canh tác theo quy trình
an toàn Cho đến nay việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển RAT chủ yếu tập trung theo hướng này Ngoài quy trình chung do Bộ NN &PTNT ban hành, các địa phương đều có xây dựng quy trình cụ thể cho từng cây hàng vạn
hộ nông dân được tập huấn kỹ thuật được áp dụng tại khu vực này là: Sử dụng các sản phẩm sinh học (bón phân, BVTV) trong canh tác hạn chế các sản phẩm hoá học Thả thiên địch (bọ xít ăn mồi) phòng trừ rệp, bọ trĩ Sử dụng màn phủ nông nghiệp trừ cỏ dại, phòng rệp và giữ ẩm cho đất
Trang 2515 Tóm lại, dù áp dụng phương thức canh tác nào thì quy trình kỹ năng phải đáp ứng được yêu cầu là đạt năng suất cao, phẩm chất rau tốt dư lượng hoá chất đảm bảo dưới ngưỡng cho phép và dễ áp dụng với nưuời nông dân
2.1.4 Một số lý luận về thị trường
2.1.4.1 Khái niệm về thị trường
-Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa -Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó
-Thị trường là một biểu hiện của sự phân công lao động, hễ khi nào và
ở đâu có sự phân công lao động xã hội và sản xuất thì khi ấy sẽ có thị trường -Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa
-Thị trường là khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản xuất hàng hóa, là thước đo khách quan của phát triển và căn cứ lập kế hoạch, của mọi doanh nghiệp, là môi trường kinh doanh cạnh tranh tốt nhất để thúc đẩy sản xuất
-Nhưng cho dù định nghĩa nào đi nữa cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là: thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời điểm và một không gian nhất định
2.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm Rau an toàn
Trang 2616
đã ảnh hưởng tới ưu tiên trong tiêu dùng đối với rau an toàn của người dân Rất nhiều chiến dịch khác nhau đã cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin về lợi ích đối với sức khoẻ từ việc ăn rau an toàn Các nghiên cứu khoa học, các chiến dịch thông tin cộng đồng đều khẳng định vai trò của rau, khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm rau an toàn Một thay đổi nữa trong xu hướng tiêu dùng đó là xu hướng gia tăng nhu cầu với các sản phẩm trái vụ Người tiêu dùng có thu nhập cao sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm rau an toàn trái vụ Xu hướng tăng cường chế độ ăn kiêng của người dân cũng khuyến khích ăn nhiều rau an toàn vì rất có lợi cho sức khoẻ
- Cung sản phẩm rau an toàn: có tính đa dạng cả về chủng loại, số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn và về đối tượng tiêu dùng Vì vậy tính không hoàn hảo của thị trường rau thể hiện đặc trưng của sản phẩm nông nghiệp Khi số lượng cung của một sản phẩm tăng lên sẽ làm cho cầu sản phẩm đó giảm xuống và ngược lại Để tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, các nhà sản xuất kinh doanh phải hiểu rõ được các đối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, chất lượng và về đối tượng khách hàng
- Giá là yếu tố quan trọng, là thước đo sự điều hoà cung cầu trong nền kinh tế thị trường Giá cả tăng cho thấy sản phẩm đó đang khan hiếm, cầu lớn hơn cung và ngược lại Tuy nhiên khi xem xét yếu tố giá cả cần chú ý đến: + Chất lượng rau an toàn: rau đã được qua kiểm nghiệm hay chưa? Vì điều đó có lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng Đối với người sản xuất chất lượng rau tốt tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng, nếu là rau
an toàn thực sự thì người tiêu dùng sẵn sàng trả mức giá cao hơn gấp 1,5-2 lần
so với rau thường, mặt khác còn tạo được lòng tin đối với khách hàng cả trong hiện tại và tương lai đặc biệt là làm tăng lợi nhuận Đối với người tiêu dùng tạo cho họ một sự an tâm khi sử dụng sản phẩm, và đảm bảo có sức khoẻ tốt
Trang 2717 + Loại sản phẩm thay thế rau an toàn: khi giá cả rau an toàn tăng lên làm nh cầu sản phẩm thay thế có thể tăng lên như hoa tươi, rau thường
+ Loại sản phẩm bổ sung: là những sản phẩm mà khi sử dụng một loại sản phẩm nay phải sử dụng kèm theo loại sản phẩm khác như: trái cây
Ngoài ra cần phải chú ý tới một số chỉ tiêu: hệ số co giãn của cầu rau an toàn so với giá, thu nhập, hệ số co giãn chéo từ đó người sản xuất có thể có chiến lược kinh doanh phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể
b Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ rau an toàn:
- Nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật: bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, đường sá giao thông, các phương tiện thiết bị vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi, hệ thống thông tin liên lạc Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lưu thông nhanh chóng, kịp thời, an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn, hệ thống chế biến với những dây chuyền công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng thêm giá trị của rau Công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch của sản phẩm rau an toàn càng hiện đại càng tránh được sự hao hụt mất mát trong quá trình thu hoạch, làm tăng thêm giá trị chất lượng sản phẩm và vẫn không làm mất đi các chất dinh dưỡng Đổi mới công nghệ chế biến còn tạo nên sản phẩm rau an toàn và đổi mới tập quán tiêu dùng truyền thống, kích thích và mở rộng tính đa dạng trong tiêu dùng sản phẩm rau an toàn
- Nhóm nhân tố về trình độ tổ chức tiêu thụ: trong nền kinh tế thị trường khả năng tiêu thụ rau an toàn của người tiêu dùng phụ thuộc vào trình
độ và năng lực tổ chức sản xuất của người sản xuất, kinh doanh, nghệ thuật và khả năng tiếp thị, marketing, tổ chức hệ thống tiêu thụ rau an toàn đến người
Trang 2818 tiêu dùng Vì vậy việc đào tạo bồi dưỡng trình độ kiến thức kinh tế quản lý cho các nhà sản xuất kinh doanhlà rất cần thiết và hết sức quan trọng
c, Kênh tiêu thụ
Thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan
hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Kênh tiêu thụ là
hệ thống mối quan hệ tồn tại giữacác tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán Kênh tiêu thụ là đối tượng tổ chức, quản lý như một đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
• Các kênh tiêu thụ rau trên thị trường
Hình 2.1: Sơ đồ cung cấp rau
Kênh tiêu thụ (hoặc kênh phân phối) là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện
Người Sản Xuất
Bán tại chợ
Bán cho người thu gom
Bán cho siêu thị
Người tiêu dùng
Bán cho cửa hàng rau sạch
Trang 2919 các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau Người sản xuất
có thể tiêu thụ sản phẩm của mình qua các kênh khác nhau như: bán tại chợ, bán qua đầu mối thu gom hoặc bán cho các đại lý các siêu thị, qua những kênh này sản phẩm sẽ đến tay người tiêu dùng
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về RAT đã được nhiều cơ quan, tổ chức phối hợp thực hiện Bộ NN & PTNT là cơ quan quản lý điều hành mọi hoạt động liên quan đến hoạt động sản xuất trồng trọt của cả nước, trong đó việc ban hành quy định tạm thời về sản xuất RAT là một bước đi thể hiện sự quan tâm của các cấp các ngành đối với việc canh tác và sản xuất rau an toàn Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự phối hợp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu của các Viện, trường Đại học, các tổ chức quốc tế, các dự án phát triển nông thôn được tiến hành trong suốt những năm vừa qua Những nghiên cứu về phát triển rau an toàn đã được bắt đầu triển khai từ những năm 1990 với sự góp mặt của Bộ NN & PTNN, Viện nghiên cứu rau quả, Viện BVTV và Đại học Nông nghiệp I Hà Nội[3]
Từ những năm 1993, Lê Đình Lương (Đại học Quốc gia Hà Nội), Nguyễn Quang Thạch (Đại học Nông nghiệp I Hà Nội) đã phối hợp với Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Hồng Kông tiến hành nghiên cứu toàn diện các yếu tố kinh tế - kỹ thuật để áp dụng vào điều kiện Việt Nam[10] Địa bàn được chọn tiến hành các nghiên cứu là các vùng chuyên canh sản xuất ra với
số lượng lớn của cả nước như Đà Lạt (Lâm Đồng), Củ Chi (thành phố Hồ Chí
Trang 3020 Minh), Đông Anh (Hà Nội ) và một số địa phương có thế mạnh và diện tích trồng rau lớn khác như Bình Dương, Cần Thơ, An Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu
Viện nghiên cứu rau quả Việt Nam là trung tâm tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài, dự án về rau quả nói chung và RAT nói riêng trên địa bàn cả nước Các công trình nghiên cứu của Viện tập trung vào các đối tượng rau quả truyền thống như cà chua, khoai tây, thanh long bên cạnh việc nghiên cứu và thí điểm tính thích ứng với các điều kiện của từng địa phương khác nhau của một số giống rau, quả nhập nội, lai tạo Viện chiến lược và chính sách phát triển nông thôn Việt Nam năm 2008 tiến hành điều tra, đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh rau an toàn tại Bảo Lộc, Lâm Đồng nhằm nghiên cứu và tìm ra thị trường xuất khẩu cho cây rau nơi đây Đây được coi
sẽ là những tư liệu quý giá cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách trong việc đưa sản xuất rau an toàn trở thành lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có giá trị
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới hiện nay, hầu hết các nước có nền nông nghiệp tiên tiến
và chuyên hoá cao đều đạt chuẩn mực về sản xuất rau an toàn Nhật Bản, Mỹ, các nước EU là những thị trường rất khắt khe trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Cũng chính bởi lẽ đó mà diện tích rau của các nước này tuy không quá lớn nhưng chất lượng luôn đảm bảo Phần lớn các quốc gia trên thế giới hiện nay đều thực hiện quy trình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP, với trình độ kỹ thuật cao, các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Hà Lan trồng rau hoàn toàn trong nhà lưới, nhà kính, không bón phân hữu cơ và
cơ khí hoá, tự động hoá từ khâu gieo mầm cho đến khi thu hoạch
Châu Á là một trong những châu lục đi đầu trong công tác nghiên cứu
và phát triển rau quả Viện nghiên cứu rau châu Á (AVRDC) đã thực hiện
Trang 3121 đúng chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong việc nghiên cứu, phát triển và mở rộng về diện tích, chất lượng các chủng loại rau cho các quốc gia trong châu lục Hàng nghìn công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên khắp châu Á đã làm phong phú thêm kho tàng tri thức về nghiên cứu rau quả trên thế giới Đặc biệt, với các quốc gia đang phát triển, AVRDC chú trọng nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp về thị trường, về sản xuất gắn với bảo
vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững Đa số các báo cáo về tình hình sản xuất, tiêu thụ rau an toàn ở các nước đang phát triển đều có chung một nhận định cho rằng vấn đề mà các nước này đang gặp phải đó là thay đổi tập quán canh tác của nông dân, tiếp cận và làm chủ các quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Nhắc đến các công trình nghiên cứu về rau an toàn ở các nước đang phát triển, không thể không nói đến dự án VEGSYS do Uỷ ban châu Âu tài trợ kéo dài 4 năm và kết thúc vào tháng 12 năm 2005 Với các đối tác có kinh nghiệm như Viện dinh dưỡng đất Tứ Xuyên - Trung Quốc, Viện BVTV Tứ Xuyên - Trung Quốc, Đại học Hanover Đức, Đại học Wageningen của Hà Lan tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam Mục đích chung của dự án là góp phần vào việc phát triển các hệ thống sản xuất rau quy mô nông hộ tại Đồng bằng sông Hồng Việt Nam trên cơ sở không làm tổn hại nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung, nói đến tình hình nghiên cứu về RAT trên thế giới hiện nay, người ta có thể chia ra làm hai lĩnh vực nghiên cứu tương ứng với trình
độ phát triển của các quốc gia Nghiên cứu về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, các công việc liên quan đến marketting, tiếp thị sản phẩm đối với các quốc gia
có trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật Mặt khác, với các quốc gia còn kém phát triển về khoa học kỹ thuật (các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh ) tập trung nghiên cứu về khả năng áp dụng và xác định các khó khăn
Trang 3222 trở ngại trong việc sản xuất rau an toàn có tính đến sự phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu rau xanh của người dân quốc gia đó
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên thế giới
Trong vòng hai thập kỷ qua thương mại rau quả trên thế giới có bước phát triển mạnh mẽ Theo Tổ chức Nông nghiệp quốc tế (FAO), giá trị sản lượng của sản xuất RAT thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân hàng năm tăng 11,7% Theo Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, do tác động của sự thay đổi yếu
tố như: cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000- 2010, đặc biệt là các loại rau ăn lá Theo USDA nếu như nhu cầu các loại rau diếp, rau xanh khác tăng khoảng 22-23% thì tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác tăng sẽ chỉ tăng khoảng 7-8%, giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ.[9]
Nhu cầu nhập khẩu dự báo sẽ tăng 1,8%/năm Các nước phát triển như Đức, Pháp, Canada vẫn là những nước nhập khẩu rau an toàn Các nước đang phát triển đặc biệt Trung Quốc, Thái Lan và các nước Nam bán cầu vẫn
là các nước cung cấp rau tươi trái vụ chính Do nhu cầu thị trường thế giới những năm tới sẽ rất lớn vì vậy sẽ tạo động lực cho các nước phát triển sản
xuất rau an toàn đồng thời phải tăng cao việc đảm bảo chất lượng VSATTP
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam
2.2.4.1 Tình hình sản xuất
Sản xuất RAT là một ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Theo (Trần Khắc Thi và cộng sự, 2008)[7], bình quân 1 ha rau tại đồng bằng sông Hồng cho thu nhập 22,5 triệu đồng/vụ, gấp 4 lần so với trồng lúa Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay Vì vậy diện tích trồng rau ở nước ta hàng năm tăng lên đáng kể
Trang 3323 Trong báo cáo về thực trạng an toàn rau, củ, quả trên thị trường Việt Nam năm 2014, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng đã chỉ ra: Sản xuất rau ở Việt Nam, tạo nhiều việc làm và thu nhập cao cho người sản xuất so với một số cây trồng hàng năm khác Cùng với nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm rau ngày càng cao đă kéo theo sản xuất rau trong những năm vừa qua tăng lên cả vệ số lượng, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Việt Nam
có khả năng sản xuất rau quanh năm với số lượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng 60-80 loại rau trong vụ đông xuân, 20- 30 loại rau trong vụ hè thu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
Theo số liệu Tổng cục Thống kê bình quân sản lượng rau trên đầu người thu ở đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực, đạt 141,49 kg/người/năm, tuy nhiên, phân bố không đều có những tỉnh như Lâm Đồng bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ (800-1.100) kg/người trên năm Đây là vùng sản xuất rau hàng hoá lớn nhất cả nước cung cấp rau cho cả nội tiêu và xuất khẩu, tỉnh Hưng Yên là tỉnh có bình quân cao hơn bình quân cả nước có khả năng cung cấp rau tiêu dùng nội địa và 1 phần cung cấp rau cho chế biến xuất khẩu Sơn La bình quân rau trên đầu người thấp chỉ khoảng (40-55 ) kg/người/năm đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và 1 phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội
Cũng theo trung tâm nghiên cứu và tiêu dùng: Bình quân lượng rau tiêu thụ của các nhóm, hộ điều tra dao động từ (1,791-1,817) kg/hộ/ngày Như vậy bình quân rau tiêu thụ người/ngày của các nhóm giao động từ (450-620) gram Nhiều vùng RAT đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lạt)
Trang 3424 Theo đánh giá của Viện nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao
Hiện nay, rau được sản xuất theo hai phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở hai khu vực:
-Vùng rau chuyên canh: tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn của sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
-Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất
đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường
Hai khu vực là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long dẫn đầu cả nước về diện tích và sản lượng sản xuất rau Do những điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, trình độ tập quán canh tác nông nghiệp ở hai vùng này cao hơn hẳn các vùng khác trong cả nước Cục BVTV thuộc Bộ
NN & PTNN cho biết: trong tổng số trên 186.000 ha của 5 tỉnh Hà Nội, Hải
Trang 3525 Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hiện có khoảng 16.000 ha sản xuất rau an toàn, chiếm khoảng 8,4% [9]
2.2.4.2 Tình hình tiêu thụ
Trong báo cáo về thực trạng an toàn rau, củ, quả trên thị trường Việt Nam năm 2014, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng đã chỉ ra: 93% hộ tiêu thụ quả, các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95%
số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%) Mức tiêu thụ rau quả bình quân của Việt Nam là 71 kg người/ năm Rau chiếm 3/4 (54 kg), trong khi quả chỉ chiếm phần còn lại (17 kg)
Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống - chiếm 31% tổng số lượng rau tiêu thụ, và chuối - chiếm 50% lượng quả tiêu thụ Giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người hoặc 529.000 đồng/hộ, mặc dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dùng Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống (chiếm 31% tổng số) và chuối (chiếm 17%), giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người (hay 529.000 đồng/hộ), mặc dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dung.[9]
Rau là một loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe người dân đang được đặt ra ngày càng nóng bỏng, trong đó nhu cầu về rau xanh đạt tiêu chuẩn an toàn ngày càng tăng, nhất là tại các thành phố lớn, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Thực tế các thành phố lớn trong
cà nước mới chỉ tự cung cấp khoảng 50 %- 60% nguồn rau sạch cho thị
Trang 3626 trường, phần còn lại phụ thuộc vào các tỉnh lân cận và rau từ Trung Quốc Song, do lượng rau đó gần như không kiểm soát được nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nên rau xanh từ lâu đã trở thành vấn đề bức xúc của hầu hết người tiêu dùng tại các thành phố lớn nói riêng và cả nước nói chung
Một trong những vấn đề quan trọng trong sản xuất RAT là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên cây thực phẩm, đặc biệt là rau quả còn tùy tiện không đúng kỹ thuật, xem thường sức khỏe người tiêu dùng, nhiều khi mang tính vụ lợi nhiều loại rau quả khi bán và sử dụng còn dư lượng thuốc trừ sâu vượt mức cho phép.Việc kiểm soát chất lượng và vệ sinh
an toàn thực phẩm đối với rau xanh còn rất hạn chế, TP.HCM chỉ kiểm soát được 20 % -30% nhu cầu rau xanh của TP
Trong những năm gần đây Nhà nước và các tổ chức quốc tế như JiCA, CIDA đã triển khai nhiều Chương trình, dự án sản xuất rau, củ, quả an toàn và
đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất rau an toàn tại các địa phương trong cả nước Các dự án sản xuất rau an toàn đƣợc triển khai trong thời gian qua đã làm thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp theo tập quán cũ, người dân dần thay đổi những thói quen cũ trong sản xuất, vệ sinh đồng ruộng thường xuyên, bón phân, phun thuốc BVTV đúng quy trình, đúng nguyên tắc, hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, an toàn và bền vững Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày Việc ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc biệt
là rau ăn lá đã ảnh hưởng trước mắt cũng như lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng Sản xuất và cung ứng rau an toàn đang là vấn đề được các cấp, ngành
và cộng đồng quan tâm
Rau an toàn Việt Nam chủ yếu sản xuất để tiêu dùng nội địa Về mặt giá trị, tiêu thụ rau an toàn chiếm khoảng 0,56% tổng chi tiêu bình quân của các hộ gia đình
Trang 3727 Mức tiêu thụ RAT theo đầu người cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng Nếu như mức tiêu thụ rau an toàn chỉ có 7,5kg/năm ở vùng núi phía Bắc thì tại hai thành phố lớn như: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh mức tiêu thụ lên tới 32,4 kg/người Mức tiêu thụ bình quân ở các vùng đô thị nói chung cũng ở mức 31-38,58 kg/người/năm, trong khi đó người dân nông thôn chỉ tiêu thụ 3,1-5,6 kg/người/năm Qua điều tra này cho thấy các hộ gia đình có thu nhập cao hơn thì tiêu dùng số lượng sản phẩm sạch nhiều hơn Mức tiêu thụ rau an toàn của nhóm hộ giàu nhất gấp thường gấp 5 lần so với hộ gia đình ở nông thôn.[9]
Gần đây một số siêu thị lớn tại Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện các loại rau qua chế biến được làm sạch đóng hộp và ngâm dấm: nấm, ngô, đậu, dưa chuột mà người tiêu dùng có thể nhanh chóng sử dụng
mà không phải mất nhiều thời gian chuẩn bị Với xu hướng đô thị hoá nhu cầu tiêu dùng những loại rau sơ chế sạch sẽ tăng nhanh tại các vùng đô thị với những người có thu nhập trung bình hoặc cao
Hệ thống phân phối tiếp thị rau an toàn ở Việt Nam phát triển tương đối mạnh nhưng chủ yếu là về số lượng Hình thức mua bán hợp đồng trực tiếp giữa nông dân và công ty chế biến- tiêu thụ đã xuất hiện nhưng còn hạn chế và chỉ đối với sản phẩm chế biến phục vụ cho xuất khẩu như: cà chua, rau cao cấp Hình thức mua bán hợp đồng ở miền Bắc phổ biến hơn ở miền Nam chủ yếu thông qua hợp tác xã hoặc các nông hộ thuộc nông trường của Nhà nước Hệ thống tiếp thị rau an toàn tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào loại sản phẩm được tiêu thụ, phần lớn rau an toàn được tiêu thụ ở những vùng gần nơi sản xuất (ví dụ vùng sản xuất RAT lớn: ĐBSH, ĐBSCL) Mặc dù điều kiện, phương tiện vận chuyển hiện nay rất thuận lợi nhưng rất ít sử dụng xe lạnh do chi phí cao, vì vậy đã hạn chế phạm vi thị trường mà loại rau an toàn có thể tiếp cận được Rau an toàn được thu hoạch và vận chuyển đến các vùng xung
Trang 3828 quanh bằng các phương tiện vận tải đơn giản và sau đó được bán tại các chợ bán buôn đầu mối ở các đô thị lớn hoặc ở các chợ nông sản có qui mô nhỏ hơn Nhìn chung mạng lưới phân phối và tiêu thụ rau thông thường là những người sản xuất trực tiếp mang sản phẩm tới các chợ nội ngoại thành giao dịch trực tiếp với người bán buôn, bán lẻ
Tại các tỉnh phía Bắc, rau an toàn được phân phối và tiêu thụ chủ yếu theo cách thức thông qua các chợ bán lẻ, chợ bán buôn hay giao theo hợp đồng Tại các tỉnh phía Nam cũng đều áp dụng các phương thức trên ngoài ra còn áp dụng thông qua những người bán buôn nhỏ lẻ trung gian
2.3 Những bất cập và tồn tại của sản xuất RAT ở nước ta
2.3.1 Những bất cập trong sản xuất rau an toàn
Theo quan điểm của Lê Thủy tại tạp chí Kinh tế và dự báo, Bộ Kế hoạch và đầu tư, những bất cập trong sản xuất rau an toàn đã được các địa phương, các bộ ban ngành quan tâm và đưa ra thảo luận, tuy nhiên, tóm lại những khó khăn bất cập phổ biến của sản xuất rau an toàn như sau:
- Kinh phí sản xuất rau an toàn còn dàn trải, có khi còn hạn chế bởi kiến thức và cả lương tâm nghề nghiệp Việc triển khai sản xuất rau an toàn ngoài đồng ruộng với diện tích quá ít nên còn bị lẫn sản phẩm rau an toàn và không an toàn
- Chưa liên doanh, liên kết các hộ sản xuất rau an toàn với nhau ngay trong một vùng miền
- Nhiều vùng sản xuất rau an toàn mặc dù thu được một số kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn chưa có thương hiệu hoặc có thì cũng chưa có thị trường
để tiêu thụ
- Việc sản xuất rau an toàn còn mang tính hình thức chứ chưa mang tính thực tiễn sản xuất phục vụ nhân dân
Trang 39để ra sản phẩm rau an toàn thực sự theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của châu Âu (EurepGAP)
2.3.2 Những tồn tại chính của sản xuất rau an toàn
-Chất lượng rau kém do nông dân vẫn sử dụng thuốc hóa học với mục đích kích thích ra hoa, ra quả trái vụ hoặc làm đẹp mẫu mã sản phẩm rau -Chưa có thương hiệu sản phẩm rau an toàn, thậm chí nhãn hiệu, mẫu
mã bao bì cũng chưa đăng ký mã số, mã vạch
-Giá thành rau an toàn còn cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của khách hàng, lý do là chất lượng rau không ổn định, các vấn đề liên quan đến tiêu thụ
-Chưa có chiến lược xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường xuất khẩu, cụ thể là chưa có chiến lược lâu dài sản xuất rau an toàn
-Những tồn tại, bất cập trên ảnh hưởng không nhỏ đến việc mở rộng diện tích sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau an toàn Trong thời gian tới, ngành trồng rau nước ta cần tiếp cận với hệ thống tiêu chuẩn tiên tiến của thế giới, phải có sự đổi mới về tư duy của cả người quản lý và người sản xuất Xây dựng một chiến lược và kế hoạch cụ thể, có tính đến sự liên kết giữa các ngành nhằm phát triển ngành trồng rau an toàn, bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng
Trang 4030
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Giúp nông dân sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP với quy
mô tập trung và có sản phẩm an toàn hướng tới nền nông nghiệp bền vững, sạch và thân thiện với môi trường
3.3 Nội dung nghiên cứu
-Đánh giá thực trạng việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn xã Động Đạt
- Phân tích ảnh hưởng của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn xã Động Đạt;Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn trên địa bàn xã Động Đạt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập thông qua báo cáo tổng kết hàng năm của UBND xã Động Đạt về thực trạng sản xuất rau an toàn trên địa,
dữ liệu tác giả thu thập bao gồm: diện tích trồng, năng suất,
Bên cạnh đó, những dữ liệu được công bố tại các nguồn chính thức của các tạp chí khoa học, các cơ quan cũng sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu