Ảnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleiferaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleifera
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––
LƯƠNG THỊ THU HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BÓN ĐẠM VÀ TUỔI THU HOẠCH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA CÂY THỨC ĂN MORINGA OLEIFERA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHĂN NUÔI
Thái Nguyên – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––
LƯƠNG THỊ THU HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BÓN ĐẠM VÀ TUỔI THU HOẠCH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA CÂY THỨC ĂN MORINGA OLEIFERA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHĂN NUÔI
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số ngành: 8.62.01.05 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Từ Quang Hiển
Thái Nguyên – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài ngiên cứu của luận văn này là một phần đề tài tiến sĩ của nghiên cứu sinh, chúng tôi hợp tác cùng nhau nghiên cứu và đã được sự đồng ý của nghiên cứu sinh về việc công bố các kết quả nghiên cứu trong luận văn này; các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố,
sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này
đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Lương Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn GS.TS Từ Quang Hiển trong suốt qúa trình thực hiện luận văn Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo và các cán bộ bộ môn Cơ sở, các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y
và khoa Sau đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các cán bộ Ban đào tạo Sau đại học - Đại học Thái Nguyên đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đối với Ban lãnh đạo và các cán bộ viên chức của các đơn vị: Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Thư viện trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng năm 2018
Tác giả
Lương Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về cây Moringa oleifera 3
1.1.1 Phân loại và đặc điểm sinh thái của cây thức ăn Moringa oleifera: 3
1.1.2 Đặc điểm sinh vật 4
1.1.3 Khả năng nhân giống 4
1.1.4 Một số giá trị sử dụng của cây Moringa oleifera 5
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây thức ăn gia súc 8
1.2.1 Ảnh hưởng của tuổi thu cắt hay khoảng cách cắt 8
1.2.2 Ảnh hưởng của phân bón 10
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về Moringa oleifera ở trong và ngoài nước 16
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 16
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu ở trong nước 18
Chương II NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3.Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 21
Trang 62.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
2.3.3 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu 23
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 24
Chương III KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25
3.1 Khí tượng và thành phần hóa học đất khu vực thí nghiệm 25
3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất và chất lượng M.oleifera 27
3.2.1 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất sinh khối của M.oleifera 27
3.2.2 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất lá tươi 30
3.2.3 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất vật chất khô 32
3.2.4 Ảnh hưởng của KCC đến thành phần hóa học lá 34
3.2.5 Ảnh hưởng của KCC đến sản lượng 36
3.3 Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất, chất lượng
cây thức ăn xanh M.oleifera 38
3.3.1 Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất sinh khối 38
3.3.2 Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất lá tươi 41
3.3.3 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất vật chất khô 42
3.3.4 Ảnh hưởng các mức bón đạm đến thành phần hóa học 44
3.3.5 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến sản lượng của M.oleifera 46
3.3.6 Hiệu lực sản xuất vật chất khô và protein của các mức bón đạm 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 22
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 23
Bảng 3.1 Khí tượng tỉnh Thái Nguyên năm 2017 25
Bảng 3.2 Thành phần hóa học đất 27
Bảng 3.3.Năng suất sinh khối M.oleifera ở các khoảng cách cắt khác nhau 28
Bảng 3.4 Năng suất lá tươi của M.oleifera ở các khoảng cách cắt khác nhau 31
Bảng 3.5 Năng suất vật chất khô của M.oleifera ở các khoảng cách cắt khác nhau 32
Bảng 3.6 Thành phần hóa học lá M.oleifera ở các khoảng các cắt khác nhau 34
Bảng 3.7 Sản lượng M.oliefera ở các khoảng cách cắt khác nhau (tấn/ha/năm) 36
Bảng 3.8 Năng suất sinh khối của M.oleifera ở các mức bón đạm khác nhau 39
Bảng 3.9 Năng suất lá tươi của M.oleifera ở các mức bón đạm khác nhau 41
Bảng 3.10 Năng suất vật chất khô của M.oleifera ở các mức bón đạm khác nhau 43
Bảng 3.12 Sản lượng của M.oleifera ở các mức bón đạm khác nhau (tấn/ha/năm) 46 Bảng 3.13 Hiệu lực sản xuất vật chất khô và protein thô ở các mức bón đạm khác nhau 49
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Đồ thị nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa ở khu vực Thái Nguyên 26
Hình 3.2: Biểu đồ mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và năng suất sinh khối 29
Hình 3.3: Biểu đồ mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và năng suất lá tươi 31
Hình 3.4: Biểu đồ mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và năng suất VCK 34
Hình 3.5: Biểu đồ mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và sản lượng VCK 37
Hình 3.6: Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm và năng suất sinh khối 40
Hình 3.7: Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm và năng suất lá tươi 42
Hình 3.8: Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm và năng suất VCK 44
Hình 3.9: Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm và sản lượng VCK 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Các chất tạo màu đưa vào thức ăn gia súc, gia cầm tuy cũng làm tăng được sự hấp dẫn của sản phẩm nhưng các chất này có thể gây tổn hại đến sức khỏe của người tiêu dùng Vì vậy, tìm các giải pháp để có được sản phẩm vừa hấp dẫn người tiêu dùng vừa đảm bảo an toàn thực phẩm là hết sức cần thiết Một trong các giải pháp này là sản xuất bột lá giàu protein, giàu sắc tố bổ sung vào thức
ăn của vật nuôi
Trong thời gian vừa qua, các nhà khoa học trong nước đã nghiên cứu theo hướng này và thu được nhiều kết quả tốt Một số cây thức ăn có sản lượng chất xanh cao, giàu protein và sắc tố đã được nghiên cứu như: sắn trồng thu lá, keo giậu, cỏ stylo Bột lá của các cây thức ăn này bổ sung vào thức ăn của gà thịt đã làm cho độ vàng của da gà tăng thêm 3-4 điểm, bổ sung vào thức ăn của
gà đẻ trứng đã làm cho sản lượng trứng tăng 6-8% và độ đậm màu của lòng đỏ trứng tăng thêm 5-6 điểm Để có một ngành công nghiệp sản xuất bột lá bổ sung vào thức ăn của gia súc, gia cầm thì cần phải có một tập đoàn cây thức ăn xanh và cần phải nghiên cứu toàn diện về kỹ thuật canh tác, thành phần hóa học
và giá trị dinh dưỡng của các cây thức ăn này
Cây Moringa oleifera Lam (Chùm ngây) có mặt ở nhiều nơi trên thế giới
như: các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới thuộc châu Mỹ La Tinh, châu Phi, châu Á
Lá của cây Moringa oleifera giàu protein, từ 30 - 40 % vật chất khô tùy theo
tuổi lá và khu vực trồng, giầu sắc tố, carotenoids tổng số khoảng 700 mg/kg vật chất khô(VCK), carotene khoảng 300 mg/kg VCK Vì vậy, lá tươi và bột lá
Moringa oleifera là một nguồn thức ăn quý, giàu protein, sắc tố đối với vật
nuôi.Moringa oleiferalà một trong các cây thức ăn xanh có triển vọng tốt cho
việc sản xuất bột lá bổ sung vào thức ăn cho vật nuôi
Để góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cây Moringa
oleifera sử dụng trong chăn nuôi, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Ảnh
Trang 11hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Moringa oleifera”
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định được mức bón phân đạm và tuổi thu hoạch thích hợp để áp
dụng vào canh tác cây Moringa oleifera (M Oleifera) nhằm đạt được năng suất
chất xanh và bột lá cao
Xác định được thành phần hóa học của lá và bột lá để làm dữ liệu xây
dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho gà mà trong đó bột lá Moringa oleifera là
một trong những nguyên liệu thức ăn
3.Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho ngành thức ăn gia súc những hiểu biết về ảnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất chất xanh
và thành phần hóa học của cây Moringa oleifera Kết quả nghiên cứu này có
thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ứng dụng các kết quả của đề tài này trong sản xuất sẽ nâng cao năng suất chất xanh, bột lá, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về cây Moringa oleifera
1.1.1 Phân loại và đặc điểm sinh thái của cây thức ăn Moringa oleifera:
Cây Moringa oleifera Lam (Chùm ngây) thuộc ngành ngọc lan
Magnoliophyta , lớp ngọc lan Magnoliopsida, bộ Chùm ngây Moringales, họ Chùm ngây Moringaceae, chi Chùm ngây Moringa (Foidl, 2001) [41]
Moringa oleifera là giống cây có xuất xứ từ vùng Nam Á, có tốc độ sinh trưởng nhanh và là cây trồng quan trọng ở nhiều nước như: Ấn Độ, Ethiopia, Philippines hiện đang phát triển tại một số nơi thuộc châu Phi, châu Á nhiệt đới, châu Mỹ latinh, vùng Caribean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Fahey, 2005) [40] cây mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới do có giá trị kinh tế cao
Moringa oleiferathích hợp và phát triển tốt nhất ở nơi có độ cao dưới 600m, chịu hạn, sinh trưởng tốt ở những nơi có lượng mưa hàng năm từ 250 –
1.500 mm Tuy nhiên ở những nơi có độ cao 1.200m cây M oleifera vẫn phát
triển bình thường (Bennett và cs, 2003) [38]
Nhiệt độ môi trường là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng,
phát triển và phân bố cây M oleifera; cây sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt độ
từ25 – 350C; tuy nhiên cây vẫn tồn tại được trong một khoảng thời gian khi nhiệt
độ môi trường cao tới 48oC.Chất lượng, năng suất và thành phần hóa học của lá
cây M oleifera chịu ảnh hưởng rất lớn củasự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa
trong năm
Moringa oleifera trồng ở nơi đất xấu cũng mọc được, chịu được hạn, ưa nắng, ít bị sâu bệnh Tuy nhiên, nóưa đất có khả năng thoát nước hoàn toàn, thích nghi tốt nhất tại những vùng đất mùn pha cát, đất nhiều cát; những vùng đất thoát nước kém cây vẫn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhưng cây không cao, thân nhỏ Cây không chịu được ngập úng, ở những vùng đất ngập
Trang 13úng thường xuyên, đất không được thoát nước, cây dễ chết.Độ pHkcl thích hợp
nhất đối với cây M oleifera từ 5 đến 9
1.1.2 Đặc điểm sinh vật
Moringa oleifera Lam là cây thân gỗ, thân hình trụ, cao từ 5 đến 10m, phân nhiều nhánh.Thân còn non màu xanh và có lông, thân cây già có màu xám
và nốt sần, không có gai Lá dài 30 – 60mm, lá kép hình lông chim 3 lần lẻ, lá
có màu xanh thẫm, mọc cách nhau, lá phụ bậc 1 có từ 5 – 7 cặp lá, lá phụ bậc 2
có từ 4 – 6 cặp lá, lá chét dài 12 – 20 mm hình trứng, mọc đối nhau, cuống lá
có chiều dài khoảng18 – 25 cm
Moringa oleifera thường ra hoa ngay trong năm đầu sau khi trồng khoảng
6 tháng Hoa Moringa oleifera có mầu trắng kem, giống hoa đậu, có mùi thơm
cuống dài 1-2cm, có lông tơ Cụm hoa dạng chùm sim mọc ở nách lá hay ngọn cành Trục phát hoa dài 10 -15 cm mầu xanh, có lông Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông Đài hoa mầu trắng dài 1cm, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng Cánh hoa mầu trắng hơi vàng, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa, nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa Chỉ nhị mầu vàng dài 06, - 1 cm, có lông Bao phấn hình bầu dục, mầu vàng
Bộ nhụy 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn bên, có lông Vòi nhụy màu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông Đầu nhụy hình trụ, màu vàng, có lông (Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007) [48] Quả dạng nang treo, dài 25 – 30 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả
có khía rãnh, quả khô màu vàng xám Hạt màu trắng sữa, tròn, to lớn cỡ hạt đậu
Hà Lan
Cây Moringa oleiferanếu trồng bằng hạt hệ thống rễ sẽ phát triển nhanh
hơn trồng bằng cách giâm, rễ câyMoringa oleifera trồng bằng hạt phình to
như củ, mầu trắng, rễ thưa nhau
1.1.3 Khả năng nhân giống
Khi để giống M oleifera bằng hạt cần lưu ý rằng: Tỷ lệ nẩy mầm của hạt
giảm rất nhanh theo thời gian bảo quản, hạt mới thu hoạch tỷ lệ nẩy mầm là 60
Trang 14– 90 %, sau 2 tháng giảm xuống chỉ còn 48%, sau 3 tháng trong điều kiện bảo quản thông thường thì chỉ còn 7,5%
Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn cây con thường yếu nên cần được chăm sóc tốt và trong điều kiện bóng mát còn đối với biện pháp giâm cành cũng có thể thực hiện, tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, người ta thường tiến hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ
ẩm thích hợp Ở Việt Nam cây trổ hoa nhiều đợt trong một năm Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước hoặc được mang đi bởi những loài động vật ăn hạt
Do M oleifera có khả năng tái sinh chồi mạnh nên người ta thường lựa chọn phương pháp nhân giống in vitro để nhân giống cây M oleifera nhằm khắc
phụcnhững hạn chế của phương pháp trồng bằng hạt hoặc giâm cành Với nguồn nguyên liệu là đoạn chồi từ cây mẹ đã chọn lọc, chỉ trong một thời gian ngắnngười
ta có thể tạo ra lượng lớn cây con có chất lượng tốt, đồng đều, đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và thương mại vớigiá thành sản xuất thấp, phù hợp với sản xuất đại trà
1.1.4 Một số giá trị sử dụng của cây Moringa oleifera
* Giá trị dinh dưỡng:
Hạt Moringa oleifera chứa nhiều dầu, dầu có thể sử dụng làm dầu ăn (chế
biến các món ăn) Dầu có tỷ lệ axit béo khoảng 67,9%, trong đó chủ yếu là axit béo không no, vì vậy nó có thể thay thế các loại dầu ăn quý như dầu oliu Toàn
bộ quả Moringa oleifera được sử dụng để ăn xanh, hạt được rang thành bột,
suy dinh dưỡng So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong lá Moringa
oleifera với một số loại thực phẩm phổ biến hiện nay cho thấy: hàm lượng
Trang 15vitamin C nhiều hơn 7 lần so với quả cam; vitamin A nhiều hơn 4 lần so với cà rốt; canxi nhiều hơn 4 lần so với sữa; chất sắt nhiều hơn 3 lần so với rau cải bó xôi; chất đạm (protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần sovới
quả chuối Ngoài ra, trong lá Moringa oleiferacòn chứa hàm lượng cao
carotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C.Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàu carotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Bennett và cs, 2003) [38] Những chất dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mãn tính
*Giá trị y học, dược liệu
Các bộ phận của câyMoringa oleifera như thân, rễ, lá, hạt Moringa
oleiferađã được dùng để trị nhiều bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.Trong lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim, hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesierol, chống oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh
và chống nấm
*Sử dụng trong công nghiệp
Hạt Moringa oleiferachứa nhiều dầu chiếm khoảng 42% dầu hạt Moringa
oleiferacó màu vàng, ngoài giá trị sử dụng như một loại dầu ăn, thì cũng được
sử dụng khá rộng rãi trong nền công nghiệp sản xuất các thiết bịcần độ chính xác cao, được sử dụng như một chất bôi trơn cho các máy móc thiết bị cần chính xác vì không gây ra hiện tượng ôi và bám dính Ngoài ra, dầu trong hạt
Moringa oleifera còn được biết đến với khả năng hấp thụ và giữ lại các chất dễ bay hơi được sử dụng trong ngành công nghiệp nước hoa dùng để giữổn định mùi hương Hàm lượng axit béo tự do thay đổi từ 0,5 - 3,0%, hàm lượng axit béo no chiếm 13%, axit béo không no chiếm 82%, đặc biệt có lượng axit oleic cao chiếm 40%
Trang 16*Sử dụng lọc nước
Hạt Moringa oleiferacó chứa từ 30 - 42% dầu và lượng protein rất cao
Trong nước bẩn có các chất keo và cationhoạt động như chuỗi điện tử,các cation này có tác dụng trung hoà các chất keo trong nước bẩn bởi vì đa số các chất keo này mang điện tích âm Do đó protein này có thể được sử dụng như một polypeptide tự nhiên không độc hại, làm kết tủa các ionkim loại và các chất hữu cơ trong quá trình lọc nước uống, làm sạch dầu thực vật hoặc làm kết tủa cellulose trong, vừa đắt tiền lại không phù hợp sản xuất bia, nước trái cây;điều này hoàn toàn ngược lại với các chất kết tủa được sử dụng trong công nghiệp như nhôm có thể là chất độc hại đến sức khoẻ con người
Ở Trung Quốc và Ấn Độ người ta đã sớm nhận biếtcác đặc tính của các
polypeptide có trong hạt Moringa oleifera Ở Ai Cập và Sudan người talàm
sạch nước sông Nile để sử dụng làm nước uống bằng cách loại bỏ vỏ
hạtM.oleifera sau đó nghiền thành bột rồi cho vào nước khuấy đều trong 5 phút, sau 1 giờlọc nước qua vải để thu nước tinh khiết hoặccho bột Moringa
oleifera vào túi vải và treo lơ lửng trong nước trong khoảng 10-12 giờ, sau đó gạn lấy nước tinh khiết;sử dụng phương pháp này có thể loại bỏ được trên 99%
các tạp chất trong nước Chỉ cần sử dụng 1g bột hạt Moringa oleifera cho 1 lít
nước hơi đục và 2g cho 1 lít nước đục là có thể lọc được cơ bản các tạp chất
*Sử dụng kích thích sinh trưởng thực vật
Dung dịch chiết xuất thu được từ lá Moringa oleiferatrong ethanol 80% có
chứa chất kích thích sinh trưởng thực vật (thuộc nhóm cytokinin) Chất chiết xuất này có thể được phun trực tiếp lên lá cây để kích sinh trưởng cây con, làm cho thực vật cứng cáp hơn, chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại, cây trồng ra hoa nhiều
hơn, tăng kích thước quả và tăng năng suất Sử dụng dung dịch lá cây Moringa
oleifera được chiết xuất bằng ethanol 80% pha loãng với nước để phun lên lá các cây như mía, lạc, khoai tây giúp cây có tuổi thọ cao hơn, khoẻ mạnh hơn; trọng
lượng rễ, thân và lá cao hơn; hàm lượng đường và kích thước quả lớn
Trang 171.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây thức ăn gia súc
1.2.1 Ảnh hưởng của tuổi thu cắt hay khoảng cách cắt
Kể từ lứa cắt lần thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt Khi cây dự trữ đủ các chất dinh dưỡng thì
ta bắt đầu thu hoạch, cây thức ăn nếu bị cắt sớm trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì tái sinh sẽ gặp khó khăn
và có thể không tái sinh được Một số nghiên cứu cho thấy nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng 1/2 tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng thêm 50% thời gian của tuổi thu hoạch thích hợp thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ chất xơ tăng
Người trồng cỏ mong muốn số lần cắt cỏ trong năm càng nhiều càng tốt, cũng có nghĩa là khoảng cách cắt càng ngắn càng tốt Nhưng theo quan điểm khoa học thì phải căn cứ vào đặc điểm sinh lý học, hình thái học để quyết định khoảng cách cắt cỏ cho hợp lý để không ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và nhiệm kỳ sử dụng của cây thức ăn
Người ta có thể thu hoạch cây thức ăn 2 - 10 lần/năm tùy theo khu vực, phụ thuộc vào vĩ độ và dạng đồng cỏ sinh trưởng Mặc dù số lần thu hoạch có thể khác nhau xong thu hoạch thường đạt đến sản lượng cao nhất và chất lượng tốt nhất tại thời điểm liên quan tới giai đoạn thành thục
Nếu cắt quá ít lần trên năm thì cây thức ăn sẽ bị già, đồng thời ảnh hưởng tới lứa tái sinh sau của cây thức ăn và ảnh hưởng tới sản lượng cũng như chất lượng cây thức ăn trên năm
Nếu cắt quá ít lần trên năm thì cây thức ăn sẽ bị già, đồng thời ảnh hưởng tới lứa tái sinh sau của cây thức ăn và ảnh hưởng tới sản lượng cũng như chất lượng cây thức ăn trên năm Nếu cắt quá nhiều lần trên năm, cây thức ăn chưa
đủ thời gian tích lũy các chất dinh dưỡng để cây sinh trưởng và phát triển, bộ rễ phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng cây dễ bị xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng trên bề mặt đất, nên cây thức ăn nhanh chóng bị thoái hóa, giảm năng suất và chất lượng
Trang 18Cây keo giậu thu hoạch lứa đầu khoảng 4 -5 tháng sau khi trồng, cây cao 1,5 - 1,6 m, các lứa sau thời gian thu cắt khoảng 40 - 45 ngày lúc này nhánh đã
mật độ là 100.000 - 140.000 cây/ha, chu kỳ thu hoạch từ 50 – 60 ngày với chiều cao thu hoạch 60 - 70 cm thì năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm
Cây T gigantea có thể thu hoạch sau 4 tháng kể từ khi trồng, năng suất sinh khối lứa đầu tiên đạt khoảng 15 tấn/ha T gigantea có thể được thu hoạch
với khoảng cách cắt từ 2 đến 3 tháng, sản lượng sinh khối trung bình đạt 17 tấn/ha/lứa với chiều cao cắt 1m
Cỏ voi trồng ở địa điểm khác nhau và khoảng cách cắt khác nhau thì cho sản lượng là khác nhau Sản lượng chất xanh của cỏ đạt được từ 40.000 - 50.000kg/ha khi cắt ở khoảng cách từ 35 đến 40 ngày; dưới điều kiện mưa tự nhiên và được bón 897kg N/ha/năm cỏ có thể cho sản lượng là 84.800kg VCK/ha/năm khi thu cắt cỏ ở 90 ngày Nhưng sản lượng chỉ đạt 35.500kg VCK/ha/năm khi cắt ở 56 ngày
Theo Từ Quang Hiển và cs, (2002) [6] cỏ Pangola thu hoạch lứa đầu sau trồng 2 - 3 tháng, ở vụ hè thu các lứa sau cắt cách nhau 50 - 60 ngày, ở vụ đông xuân cắt cách nhau 60 - 90 ngày Cỏ Tây Nghệ An thu hoạch sau trồng 50 - 70 ngày, sau đó cứ 40 - 50 ngày (hè thu) và 70 - 80 ngày (đông xuân) cắt lứa tiếp theo Cỏ voi thu hoạch sau trồng từ 2 - 2,5 tháng, sau đó ở vụ hè thu cứ 30 - 50 ngày cắt lứa tiếp theo và ở vụ đông xuân cứ 50 - 65 ngày cắt lứa tiếp theo
Theo Điền Văn Hưng, (1964) [13] thì cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng
và sau thu hoạch là trên 60 ngày Cỏ thân bụi thu hoạch sau trồng là 60 ngày, sau cắt là 30 - 45 ngày Cỏ thân bò thu hoạch sau trồng là 50 - 55 ngày, sau cắt
là 30 - 45 ngày
Theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [16] thu hoạch cỏ Stylo lứa đầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc thảm cỏ che phủ kín đất và cỏ cao
Trang 19khoảng 60 cm, khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 – 20 cm Thu hoạch các lứa tiếp theo lúc cây cao 35 – 40 cm, sau khoảng 2 – 2,5 tháng
Cây keo giậu có thể thu hoạch lứa đầu sau khi trồng 4-5 tháng, các lứa tiếp theo thu hoạch với KCC 45 ngày trong mùa mưa và 60-70 ngày trong mùa khô Có thể sử dụng keo giậu như nguồn thức ăn tươi xanh cho gia súc ăn trực tiếp hoặc chăn thả trên đồng cỏ trồng xen keo giậu, cũng có thể phơi sấy khô, nghiền thành bột làm thức ăn cho vật nuôi
Tuổi thu hoạch cỏ có liên quan chặt chẽ với chiều cao thảm cỏ, do đó người
ta dựa vào chiều cao của thảm cỏ để thu hoạch như: đối với cỏ Ghinê ta thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 - 90cm, cỏ lông Para 45 - 60cm, cỏ Pangola cao 35 - 50
Như vậy, khoảng cách giữa hai lần cắt cỏ vào khoảng 30 - 60 ngày, tùy thuộc vào giống cỏ là thích hợp nhất Ở tuổi cỏ như vậy vừa đạt được sản lượng cao vừa đạt được chất lượng tốt
Vậy, xác định được tuổi thu hoạch hợp lý không chỉ nâng cao năng suất chất lượng cây thức ăn mà còn nâng cao tỷ lệ tiêu hóa cây thức ăn, đồng thời tạo điều kiện cho cây thức ăn tái sinh tốt hơn và kéo dài tuổi thọ của cây thức ăn
1.2.2 Ảnh hưởng của phân bón
Vai trò của phân bón là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm đạt năng suất cao, chất lượng tốt, đồng thời bù đắp chất dinh dưỡng cho đất, nâng cao độ phì của đất, góp phần cải tạo đất
Người ta thấy rằng cứ bón 1kg N sẽ làm tăng 20 đến 30kg cỏ khô, bón 1kg P2O5 tăng 7 đến 8kg cỏ khô và bón 1kg K2O tăng 8 đến 10kg cỏ khô; Bón vôi làm tăng sản lượng 5 đến 10 tạ/ha Những bãi chăn có sản lượng cỏ khô 2,5tấn/ha/năm thuộc loại trung bình thì một năm tiêu tốn chừng 70kg N; 7,5kg P; 37kg Ca và 60kg K2O/ha Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn thế để bù đắp cho cây (Từ Quang Hiển và cs, 2002) [6]
Để bón phân có hiệu quả, phải hiểu rõ đặc tính, đặc điểm và tác dụng của từng loại phân bón đối với cây thức ăn xanh Tác động của một số loại phân bón chính đến năng suất và chất lượng cây thức ăn xanh như sau:
Trang 201.2.2.1 Vai trò của phân đạm
Hàm lượng nitơ tổng số trong đất có khoảng 0,05 - 0,25 %, chủ yếu là chứa trong các hợp chất hữu cơ và chiếm khoảng 5% trong mùn, do đó đất càng giàu mùn thì nitơ tổng số càng nhiều (Cao Liêm và Nguyễn Văn Huyên, 1975) [18]
Theo Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, (2006) [36] đạm có trong thành phần chất diệp lục, nguyên sinh chất, đạm có trong thành phần protein, các axit amin và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm còn có trong các men của cây, trong ADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yêm, 2007) [5]
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007) [1] Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành lá, nhánh phát triển mạnh, đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yêm, 2007) [5]
Nếu bón thừa đạm thì cây phải sử dụng nhiều nước để giải độc amon, do
đó tỷ lệ nước trong thân lá cao, thân lá vươn dài, mềm mại, che bóng lẫn nhau và gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của cây Bón nhiều đạm, tỷ lệ diệp lục trong lá cao, lá có mầu xanh thẫm, quá trình sinh trưởng phát triển của thân, lá bị kéo dài, cây thành thục muộn, dễ đổ lốp, dễ mắc sâu bệnh, rễ cây kém phát triển
Nếu thiếu đạm, cây cỏ sẽ cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt,
ít quả Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành chu kỳ sống nhanh, thời gian tích lũy ngắn, năng suất thấp bởi vì lá già sẽ chuyển đạm nuôi các lá non nên lá già rụng sớm
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra ảnh hưởng của nitơ đến sản lượng cây thức ăn xanh đồng thời tìm ra sự tương quan giữa liều lượng N được bón với năng suất chất xanh và hiệu quả bón phân
Đối với cỏ họ đậu: Liều lượng bón tối ưu cho đồng cỏ Alfalfa là 90 -
120kg N/ha/năm, đối với cỏ orchard là 140kg N/ha/năm và cỏ orchard hỗn hợp với cỏ tall fescure là 180 kg N/ha/năm
Trang 21Liều lượng bón hữu hiệu cho cỏ họ đậu khoảng từ 100 - 200kg N/ha/năm, còn cho cỏ hòa thảo khoảng từ 300 - 400kg N/ha/năm Bón liều lượng thấp quá sẽ không nhận thấy sự khác biệt về sản lượng cỏ, bón cao quá lại làm giảm sản lượng cỏ Như vậy, liều lượng đạm bón cho cỏ họ đậu và hòa thảo có
sự khác nhau, với cỏ họ đậu thì thấp hơn, còn với cỏ hòa thảo thì cao hơn
Hiện nay trong quá trình trồng và chăm sóc cây thức ăn xanh người ta thường sử dụng đạm để bón cho cây tuy nhiên sử dụng với lượng bao nhiêu để cây thức ăn tăng năng suất và chất lượng sản phẩm mà không bị tồn dư các chất
có hại cho cây trồng vật nuôi, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên các cây thức ăn xanh khác nhau như Bùi Quang Tuấn và cs, 2011 [32]; Trần Thị Hoan và cs,2011 [11], Từ Trung Kiên và Trần Thị Hoan; 2014 [14 ] Kết quả nghiên cứu cho thấy khi tăng mức bón đạm cho cây thì protein tăng lên,
tỷ lệ chất xơ thô giảm có nghĩa là bón đạm ảnh hưởng đến cây thức ăn xanh
Khi nghiên cứ về cỏ Panicum maximum, Nguyễn Văn Quang và cs
(2012) [22] đã thí nghiệm với 4 mức bón đạm khác nhau từ 120 đến 240 kg N/ha/năm và đưa ra kết luận với mức bón đạm hợp lý nhất của cỏ là 200 – 240 KgN/năm
Bùi Thị Hồng và cs (2012) [12] nghiên cứu về mức bón đạm cho cỏ voi tím với 3 là 180 – 230 – 280 kgN/ha/năm; kết quả cho thấy mức nghiên cứu cho biết 280 kgN/ha/năm là hợp lý nhất, ở mức này cỏ cho sản lượng chất xanh, VCK, protein thô đạt cao nhất
M.oleifera cũng đã được Mendieta – araica và cs (2013) [43] nghiên cứu
về mức bón đạm với 4 nghiệm thức là 0 – 261 – 521 – 782 kgN/ha/năm và kết
quả cho biết khi bón đạm cho M.oleifera ở mức 521 kgN/ha/năm thì cây cho
năng suất chất xanh và VCK cao nhất
Bón đạm đã nâng cao chất lượng và tính ngon miệng của cỏ Tuy nhiên, khi lượng đạm bón cho đồng cỏ tăng sẽ đồng thời làm tăng tỷ lệ nitrat trong cỏ,
do đó cần đề phòng bón đạm với liều lượng cao sẽ dẫn đến tích tụ nitrat trong
cỏ và gây ngộ độc cho gia súc
Trang 22Tóm lại: xác định được mức bón phân đạm hợp lý sẽ giúp cho ta có cơ
sở để bổ sung hàm lượng cho cây giúp cây thức ăn tăng năng suất và phẩm chất
lá làm nguồn bổ sung thức ăn trong chăn nuôi
1.2.2.2 Vai trò của phân lân
Photpho là một nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng, nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật
Tác dụng của phân lân thể hiện ở vai trò của nguyên tố photpho đối với thực vật Photpho tham gia tạo nên các vật chất di truyền (ADN, ARN, axit nucleic), các hợp chất cao năng (ADP, ATP, ) Photpho có tác dụng làm tăng cường sự phát triển của bộ rễ (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng) Cây đủ photpho,
bộ rễ phát triển sớm, lông hút xum xuê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc để cây hút chất dinh dưỡng và phát triển tốt Thiếu photpho ảnh hưởng không tốt đến quá trình hình thành và chắc hạt, nên năng suất hạt giảm rõ rệt (Nguyễn Công Vinh, 2002) [34]
Đối với đồng cỏ họ đậu: Mức bón phân cho đồng cỏ alfalfa chủ yếu là bón hàng năm với lượng tương đương với lượng P, K bị mất do thu hoạch
Nhiều nghiên cứu cho rằng cần phải bón liều lượng phân lân lớn cho đồng
cỏ mới gieo hoặc trồng lần đầu tiên, liều lượng này vào khoảng 300 - 500kg super photphat tương đương với 60 - 100kg P2O5/ha
Từ năm thứ 2 trở đi, có thể bón lân với liều lượng thấp hơn, khoảng từ
150 đến 300kg super photphat, tương đương với 20 - 60kg P2O5/ha/năm
Tùy thuộc vào loại đất và giống cỏ để bón liều lượng lân cho phù hợp, đồng thời phân lân phân giải chậm vì vậy phải bón toàn bộ lượng phân một lần khi gieo, trồng và bón vào cuối thu hoặc đầu xuân đối với đồng cỏ từ năm thứ 2 trở đi
1.2.2.3 Vai trò của phân kali
Kali là một khoáng đa lượng vô cùng thiết yếu cho cây sinh trưởng Nó được
sử dụng với số lượng lớn hơn photpho Trong mô cây sống, tỷ lệ của kali lớn hơn của photpho khoảng 8 - 10 lần; trong đất, tỷ lệ K2O tổng số có thể từ 0,5 -
Trang 233% (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [35] Đất nhiệt đới chứa kali ít hơn đất ôn đới, vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ bị rửa trôi Rất nhiều vùng đất ở Việt Nam cần phải bón phân kali (Lê Văn Căn, 1978) [2] Khi cây lấy đi lượng lớn kali, đất phải được cung cấp thêm kali
Kali làm tăng sức trương, tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào Nó còn giúp cây trồng chống bệnh, chống rét có thể lấy được từ đá mẹ trong đất hoặc lấy từ phân chuồng (Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006) [36]
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bó mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây
Kali giúp cho cây trồng không hút đạm ồ ạt, nói một cách khác là chống bội thực đạm của cây, tránh hiện tượng lá thì nhiều, mà hạt và quả thì
ít Cùng một lượng đạm, nếu ta tăng dần lượng phân kali, thì ở liều thấp kali cho bội thu rất cao Thế nhưng, cứ tăng kali đến một ngưỡng nào đó, thì năng suất lại giảm đột ngột
Tỷ lệ kali trong cây biến động trong phạm vi từ 0,48 - 1,85% so với tổng khối lượng chất khô (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007) [1]
Ảnh hưởng của liều lượng phân kali bón riêng biệt cho cỏ thường ít được chú trọng và nghiên cứu, mà thường được bón kết hợp với các loại phân khác như N P và ảnh hưởng của phân kali tới các loại cỏ cũng gắn liền với
sự ảnh hưởng của các loại phân bón kết hợp cùng
Lượng phân kali nên được bón hàng năm cho cỏ Orchard theo tỷ lệ kali
mất đi Tỷ lệ nitơ cao sẽ tăng lượng kali được hút và thông thường tăng lượng kali hấp thu sẽ có thể làm giảm Mg hấp thu
Ở Orocovis, Puerto Rico, đồng cỏ được bón phân dùng để thu cắt mất đi trung bình hàng năm 328kg nitrogen, 54kg phốtpho, 422kg kali, 128kg canxi
và 75kg magie/ha/năm Lượng phân bón thông thường là 15: 5: 10 (N: P: K)
trộn và bón 5 tạ/ha hàng năm cho cỏ Pennisetum purpureum và 3,75 tạ/ha với
cỏ Digitaria decumbens, Cynodon nlemfuensis, Brachiaria ruziensis, Eriochloa
Trang 24punctata , Panicum maximum, Brachiaria mutica Một tấn vôi được bón cùng
với 1 tấn hỗn hợp phân cho đất loại này
Ở vùng á nhiệt đới ẩm, lượng mưa từ 625 - 1.500mm, bón khoảng 100 - 200kg/ha super photphat/năm và cứ 3 - 4 năm một lần thì phải bón muối molipden và muối kali với liều lượng 50 - 100kg/ha/năm
Cỏ E curvula được bón hàng năm 450kg N/ha + 38kg P2O5/ha + 58kg
K2O/ha, thì sản lượng cỏ đạt được là 5.930kg vật chất khô/ha/năm
Sản lượng vật chất khô của cỏ đạt được 28.282 kg/ha qua 5 lứa cắt khi được bón 220 kg N, 22 kg P2O5 và 55 kg K2O/ha/năm
Như vậy, phân kali trong tổ hợp phân bón (N.P.K) có ảnh hưởng tốt đến
cỏ, cụ thể là đã làm tăng sản lượng cỏ
Liều lượng phân bón được sử dụng trong nghiên cứu rất khác nhau Tuy nhiên, liều lượng bón thông thường vào khoảng 50 - 60 kg K2O/ha/năm
1.2.2.4 Vai trò của phân chuồng
Phân chuồng là hỗn hợp các chất do gia súc bài tiết ra cùng với chất độn chuồng Thành phần của chúng phụ thuộc nhiều vào loài gia súc và phương pháp bảo quản Bón phân chuồng thường có tác dụng ngay, vì trong phân chuồng có một lượng đạm nhất định (Lê Văn Căn, 1978) [2] Tuy nhiên, phân chuồng chưa phải là loại phân hoàn chỉnh, vì vậy khi dùng phân chuồng phải kết hợp với các phân giàu đạm, lân, kali để tăng độ phì nhiêu cho đất (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007) [1]
Bón nhiều phân chuồng cũng có tác dụng khử chua của đất, amoniac trong nước tiểu và các sản phẩm mang tính kiềm cao có trong phân chuồng cũng làm cho đất mất chua, đồng thời không ảnh hưởng tới các chất dinh dưỡng khác trong đất (Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006) [36]
Bón phân chuồng có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây, làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng Đặc biệt, bón phân hữu cơ làm tăng số lượng và cường độ hoạt động của vi sinh vật trong đất, góp phần làm tăng thêm hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng
Trang 25Đối với cỏ voi khi bón N.P.K với tỷ lệ 250 : 80 : 80kg/ha/năm và chu kỳ thu hoạch bình quân 6 tuần tuổi đã cho kết quả tốt Đầu tư bón phân hữu cơ cao
40 tấn/ha, năng suất cỏ voi thu cắt đạt 200 tấn/ha/năm
Nguyễn Văn Quang (2002) [20]đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trong mô hình trồng xen với cây ăn quả trên
đất đồi Bá Vân - Thái Nguyên, trong đó gồm 3 giống cỏ là Brachiaria
decumbens ,Setaria splendida, Panicum maximum TD58, phân vô cơ N.P.K bón
với tỷ lệ 160 : 80 : 80 kg/ha Kết quả cho thấy 3 giống cỏ trên đạt sản lượng cỏ tươi 15 - 19,7 tấn/ha/năm khi bón 10 tấn phân chuồng, nhưng khi bón 20 tấn phân chuồng/ha thì sản lượng đạt là 75,2 - 94,7 tấn/ha/năm
Nếu tăng mức bón phân chuồng gấp đôi so với khuyến cáo hiện nay thì lượng đạm, khoáng từ phân hóa học có thể giảm xuống một nửa Đó là hệ quả của việc tăng dung tích hấp thu, tạo diện tích thừa để giữ ion NH4+, đồng thời quá trình này sẽ làm tăng lượng phức chất, làm tăng pH đất và làm giảm độ chua của đất, mặt khác, nó cũng giải phóng lân và tăng độ hòa tan của lân Chính vì vậy, tăng lượng phân chuồng bón cho đất sẽ tăng độ phì của đất và tăng khả năng sử dụng của cây trồng
Như vậy, bón phân chuồng đã cung cấp cho đất mùn, các khoáng đa, vi lượng và đã làm tăng sản lượng cỏ
Liều lượng phân chuồng thường được sử dụng bón cho cỏ trồng ở Việt Nam vào khoảng từ 10- 20 tấn/ha/năm
Tóm lại: xác định được mức bón phân đạm hợp lý sẽ giúp cho ta có cơ
sở để bổ sung hàm lượng cho cây giúp cây thức ăn tăng năng suất và phẩm chất
lá làm nguồn bổ sung thức ăn trong chăn nuôi
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về Moringa oleifera ở trong và ngoài nước
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Cây Moringa oleifera được nghiên cứu khá nhiều về sinh trưởng, kỹ thuật
canh tác, thành phần hóa học của cây sử dụng trong nông nghiệp và công nghiệp tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về giống và chọn tạo giống.Tại
Trang 26TrườngĐại học Nông nghiệp Tamil Nadu, Periyakulam, miền Nam Ấn Độ đã
tạo ra hai giống câyMoringa oleiferavà đặt tên là Periyakulam 1 (PKM-1) và
Periyakulam 2 (PKM-2), kết quả phân tích cho thấy hai giống này có nhiều đặc điểm ưu thế hơn hẳn các giống có tại địa phương
Muhl (2011) [45]đã nghiên cứu trong điều kiện nhà kính về ảnh hưởng
của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển cây Moringa oleifera với ba chế độ
nhiệt 10/20°C, 15/25°Cvà 20/30°C ứng với đêm và ngày Kết quả cho thấy ở chu kỳ nhiệt 20/30°Ccho tỷ lệ nảy mầm, tốc độ nảy mầm của hạt giống, sinh trưởng cây con trong vườn ươm và ngoài đồng ruộng như chiều cao cây, chu vi thân, diện tích lá đạt cao nhất và đây là tiền đề cho Chùm ngây đạt năng suất và chất lượng lá tốt nhất
Mật độ trồng và khoảng cách trồng Moringa oleifera đã được nhiều nhà
khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu như: Foidl và cs (2001) [41], Amaglo (2006) [37], Sanchez(2006) [47]…các tác giả đã chỉ ra rằng mật độ
trồng Moringa oleifera không những ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát
triển của cây mà còn ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lá Foidl và cs
(2001) [41] đã thử nghiệm trồng Moringa oleifera ở mật độ khác nhau để xác
định giá trị sinh khối cao nhất Foidl và cs (2001) [41] cho biết mật độ càng dày thì năng suất sinh khối càng cao tuy nhiên mật độ trồng cao (trên một triệu cây/ha) sẽ khó thực hiện vì khâu thu hoạch mất nhiều thời gian
Để trả lời câu hỏi cây M.Oleifera trồng với mật độ khác nhau có cho năng suất khác nhau không, các nhà khoa học đã thí nghiệm trồng Moringa
oleiferavới các mứctừ 10.000 cây/ha đến 16.000.000 cây/ha để lấy lá, kết quả cho thấy mật độ trồng tốt nhất là 1.000.000 cây/ha tương ứng với khoảng cách
là 10x10cm, ở khoảng cách này Moringa oleifera có thể cho năng suất sinh
khối lên đến 270 tấn/ha/năm nếu được chăm sóc tốt Tuy nhiên tại Managua và Nicaragua khi nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng ở 3 mức khác nhau là 250.000, 500.000 và 750.000 cây/ha, kết quả là ở năm thứ nhất sản lượng của các nghiệm thức không sai khác nhau rõ rệt.Nhưngđến năm thứ hai thì sản lượng của nghiệm thức với mật độ trồng 500.000 cây/ha đạt cao nhất
Trang 27Tại Khoa Nông học, trường Đại học Kwame Nkumah, Kumasi, Ghana đã nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách trồng 5 x 5 c m , 5 x 1 0 c m , 5 x 1 5 cm
và chu kỳ thu hoạch 30, 35 và 40 ngày tới sinh trưởng và năng suất lá cây M
Oleifera, kết quả đãchỉ ra rằng khoảng cách trồng M Oleiferathích hợp nhất là
5 x 15cm (1,33 triệu cây/ha) trên đất cát pha thoát nước tốt và chu kỳ thu hoạch thích hợp nhất là 35 ngày, ở thời điểm này cây cho năng suất lá và hàm lượng dinh dưỡng cao nhất
Moringa oleifera có năng suất chất xanh cao chỉ khi cung cấp đủ dưỡng
chất Lá M oleifera rất giàu protein và khoáng chất, điều này có nghĩa là đất
canh tác phải đáp ứng đủ đạm và khoáng chất cho sự sinh trưởng và phát triển Nên kết hợp phân hoá học với phân chuồng hoặc phân hữu cơ để có thể cung cấp các dưỡng chất cần thiết đồng thời cải thiện cấu trúc đất Bón phân chuồng hoặc phân hữu cơ khicày bừa đất, trước khi gieo hạt
Tại Pakistan đã nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cắt và thời gian thu
hoạch đến năng suất và chất lượng cây Moringa oleifera kết quả cho thấy
khoảng cách cắt và thời gian thu hoạch ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất ngọn và lá tươi, trong lượng khô, hàm lượng diệp lục, hàm lượng phenolic tổng
số và các chất chống oxihóa Trong đó với thời điểm thu hoạch sau trồng 4 tháng và cắt ởkhoảng cách 30 cm cách mặt đất cho năng suất ngọn và lá tươi, hàm lượng diệp lục, các chất chống oxi hóa , hàm lượng dinh dưỡng đạt cao nhất; cũng với khoảng cách này hàm lượng đạm, kali, canxi, magiê và phốt pho đạt cao nhất Năng suất ngọn và lá tươi, số chồi trên cây, hàm lượng vitamin A đạt cao nhất ở độ cao thu hoạch 30cm, kế đến là 90cm, thập nhất là 150cm theo
Nouman (2012) [46]
1.3.2.Một số kết quả nghiên cứu ở trong nước
Ở Ninh Thuận và Đồng Nai có hai loạiM oleifera, một loại có lá nõn màu
xanh và một loại màu tím Loại có nõn màu tím có thể do quá trình lai tự nhiên hoặc nhập nội từ Thái Lan và theo người dân địa phương thì loại này có sức sinh trưởng mạnh, năng suất cao hơn loại nõn xanhnhưng ăn không ngon bằng loại nõn xanh Để biết được chắc chắn loại nào có năng suất, hàm lượng dinh
Trang 28dưỡng, dược liệu cao hơn loại nào đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này
Ở Việt Nam các nhà khoa học nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách trồng (40 x 20, 40 x 30, 40 x40cm) đến sinh trưởng, năng suất ngọn và lá tươi
Moringa oleifera đã kết luận: Khoảng cách trồng không ảnh hưởng đến chiều
cao và năng suất Moringa oleifera Nghiên cứu cũng cho biết có thể thu hoạch
nhiều lần trong một năm và năng suất lá có thể đạt từ 42 – 53 tấn/ha/năm tuy nhiên ở những lần cắt sau năng suất thường thấp hơn lần cắt trước và
câyMoringa oleifera có thể phát triển trên đất chua nhưng cây con không thích
nghi với điều kiện ngập nước kéo dài
Khi nghiên cứu đặc điểm lâm học và khả năng gây trồng Moringa oleifera
tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Dương Đức Tiến (2012) [30]cho biết mật độ trồng ảnh hưởng đến chiều cao cây, đường kính thân cây Nói chung, tuỳ vào mục đích sử dụng của cây mà khoảng cách, mật độ
trồng và chu kỳ thu hoạch cũng khác nhau Khi trồngMoringa oleifera làm rau
thì nên trồng ở khoảng cách 10 x10cm tương ứng với mật độ 1 triệu cây/ha và chu kỳ thu hoạch từ 33 đến 40 ngày/lần
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ cắt (4, 5, 6, 12 tuần) và chiều cao
cắt (50, 100, 150cm) đến năng suất ngọn và lá tươi Moringa oleifera trong điều
kiện mùa mưa và mùa khô Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện mùa mưa ở chu kỳ cắt từ 4 - 6 tuần, cắt ở độ cao 150cm cho năngsuất cao nhất, tuy nhiên năng suất đạt thấp nhất khi cắt ở 12 tuần với độ cao cắt 150cm Trong
điều kiện mùa khô kết quả sự khác biệt đáng kể, năng suất Moringa oleifera đạt
cao nhất ở chu kỳ cắt 12 tuần ởđộ cao cắt 100cm
Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011)[3] đã nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức phân NPK (công thức 2:1:1) và 3 loại phân hữu cơ đến sự sinh trưởng,
năng suất và chất lượng lá câyM oleifera Kết quả là mức bón 70kg N – 35kg
P2O5 -55kg P2O/ha/năm đã giúp cây sinh trưởng và năng suất chất xanh caohơn
Trang 29hẳn các mức bón NPKthấp hơn.Điều này phù hợp với đặc tính sinh học của cây trồng, khi được cung cấp một lượng dinh dưỡng cao, hợp lý sẽ sinh trưởng tốt
hơn Trong các loại phân hữu cơ bón cho M Oleifera, phân gia súc có tác động
đến sinh trưởng và năng suất lớn hơn phân xanh, phân rác
Theo Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011) [3], cây Moringa oleifera sinh
trưởng tốt nhất khi đốn ở độ cao 100 cm Ở độ cao này cây chịu ít tác động nhất, khả năng phục hồi nhanh khi đốn xuống 50cm và 30cm Đối với việc sử dụng chất kích thích ra chồi, sau khi đốn nếu được phun urê 1% thì cây
Moringa oleifera tái sinh tốt, số lượng chồi lớn hơn so với các nghiệm thức đối chứng không được phun chất kích thích Năng suất thực thu đạt cao nhất (1.801,6kg/2 lần thu/ha) ở nghiệm thức đốn ở độ cao 100cm và phun urê 1%
Nhận xét chung phần tổng quan tài liệu
Cây Moringa oleifera đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về khả năng
sinh trưởng hay đặc tính sinh lý của cây đối với con người tuy nhiên chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về kỹ thuật canh tác cũng như giá trị dinh dưỡng của lá, bột lá đối với vật nuôi Vì vậy, nghiên cứu các kỹ thuật canh tác và giá
trị dinh dưỡng của lá và bột lá cây Moringa oleifera sử dụng trong chăn nuôi là
cần thiết và không có sự lặp lại các nghiên cứu trước đây
Trang 30Chương II
NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây thức ăn xanh M.oleifera ở năm trồng thứ nhất
*Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm, tỉnh Thái Nguyên trong năm 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài có 2 nội dung nghiên cứu như sau:
- Xác định ảnh hưởng của tuổi thu hoạch (khoảng cách thời gian giữa 2
lứa cắt) đến năng suất và thành phần hóa học của cây Moringa oleifera
- Xác định ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến năng suất và thành
phần hóa học của cây Moringa oleifera
2.3.Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Bố trí thí nghiệm
* Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm 1
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức (NT), tương ứng với 5 khoảng cách cắt khác nhau, NT1: 30, NT2: 40, NT3: 50, NT4: 60 và NT5: 70 ngày Mỗi nghiệm thức được trồng trên diện tích 24m2 với 5 lần nhắc lại (24m2 x 5 = 120m2), bố trí thí nghiệm theo mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên Phân bón cho 5 nghiệm thức như nhau, cụ thể: Phân chuồng 20 tấn, phân lân: 40kgP205, phân kali: 80kg
K20/ha/năm và phân đạm: 60kgN/ha/lứa Cây con được ươm bằng hạt trong bầu, trồng sau khi ươm 1 tháng, trồng hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 20cm (60cm x 20cm) thu hoạch sau khi trồng khoảng 3 tháng Cắt cây cách mặt đất 40 – 50cm ở lứa đầu Bố trí thí nghiệm được tóm tắt tại Bảng 2.1
Trang 31Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 Chỉ tiêu Đơn vị NT1 NT2 NT3 NT4 NT5
* Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm 2
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức (NT1, NT2, NT3, NT4 và NT5) tương ứng với 5 mức bón đạm, đó là 0kgN, 20kgN, 40kgN, 60kgN và 80kgN/ha/lứa Trong luận văn này các mức bón đạm được viết ngắn gọn là 0N; 20N; 40N; 60N và 80N Bón phân chuồng 20 tấn, phân lân 40kg P205, phân kali 80kg K20 cho 1 ha trong 1 năm đối với cả 5 nghiệm thức
Mỗi nghiệm thức được thí nghiệm trên diện tích 24m2 nhắc lại 5 lần (24m2 x 5 = 120m2) Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên
Moringa oleifera được ươm bằng hạt trong bầu Cây con được trồng sau khi tra hạt vào bầu ươm 1 tháng Trồng hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 20cm (60
cm x 20 cm) cắt cây cách mặt đất 40 – 50cm Bố trí thí nghiệm được tóm tắt lại tại Bảng 2.2
Trang 32Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 Chỉ tiêu Đơn vị NT1 NT2 NT3 NT4 NT5
2.3.2.Các chỉ tiêu theo dõi
Khí tượng, thành phần hóa học đất, năng suất, sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô, protein thô và thành phần hóa học lá
2.3.3.Phương pháp theo dõi chỉ tiêu
Số liệu khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa) được thu thập tại trạm quan trắc khí tượng, thủy văn tỉnh Thái Nguyên [33]
Thành phần hóa học đất: độ pH, nitơ tổng số, P205 tổng số vàdễ tiêu, K20 tổng số và trao đổi được phân tích
Năng suất và sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô được xác định theo Từ Quang Hiển và cs, 2002 [6] Cụ thể:
Cắt toàn bộ M.oleifera của mỗi ô thí nghiệm và cân để tính năng suất
sinh khối của ô, mỗi ô lấy mẫu 10kg sinh khối, tách lá ra khỏi cuống và cân lá
để tính năng suất lá, lấy mẫu lá và phân tích vật chất khô để tính tỷ lệ vật chất khô trong lá tươi trên cơ sở đó tính năng suất vật chất khô
Trang 33Năng suất sinh khối, lá tươi, vật chất khô được tính bằng tạ/ha/lứa cắt Sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô được tính bằng cách cộng năng suất của tất cả các lứa cắt/năm hoặc nhân năng suất trung bình/lứa với số lứa cắt trong năm, sau đó đổi đơn vị từ tạ/ha/năm sang tấn/ha/năm Cách tính thứ 2
có sai số khoảng 1 - 3‰ so với cách thứ nhất
Thành phần hóa học lá được phân tích như sau:
Lấy mẫu theo phương pháp TCVN: 4325 - 2007 [26]
Vật chất khô của mẫu được xác định theo TCVN: 4326 - 2001[24]
Hàm lượng protein thô được xác định theo TCVN: 4328 - 2007 [27] Hàm lượng xơ tổng số được tiến hành theo TCVN: 4329 - 2007 [28] Hàm lượng lipit được tiến hành theo TCVN: 4331 - 2001 [25]
Hàm lượng khoáng tổng số được tiến hành theo TCVN: 4327 - 2007 [29] Năng lượng thô được xác định bằng bomcalorimeter
Các chỉ tiêu trên được phân tích tại Viện khoa học sự sống Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên
2.3.4.Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả thí nghiệm được xử lý thống kê theo Đỗ Thị Ngọc Oanh và Hoàng Văn Phụ 2012 [19] bằng phần mềm IRRISTART 5.0.2009
Trang 34Chương III KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Khí tượng và thành phần hóa học đất khu vực thí nghiệm
Khu vực thí nghiệm nằm trong tỉnh Thái Nguyên, khí tượng của tỉnh trong năm 2017 [33] Khí tượng của tỉnh Thái Nguyên năm 2017 được tóm lược trong Bảng 3.1
Bảng 3.1 Khí tượng tỉnh Thái Nguyên năm 2017
Chỉ tiêu Nhiệt độ
Trung bình 0 C
Ẩm độ Trung bình (%)
Nhiệt độ trung bình năm là 24,2oC, nhiệt độ trung bình tháng từ tháng 4 đến 10 dao động trong khoảng 24,2 – 25,20C, các tháng còn lại dao động từ 12 – 21,70C, nhiệt độ cao nhất là 400C (tháng 6), thấp nhất là 7,8oC (tháng 12)
Ẩm độ trung bình năm là 81 %, tháng cao nhất là 87% (tháng 8), tháng thấp nhất là 73% (tháng 2 và tháng 12)
Tổng lượng mưa cả năm là 2045,9 mm, lượng mưa khá cao trong các tháng 6, 7, 8, 9, từ 233,9mm đến 481,1mm, các tháng còn lại lượng mưa rất thấp, từ 9,6 – 170,4mm
Nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa thì từ tháng 4 - 10 thuận lợi cho cây thức ăn xanh sinh trưởng phát triển, các tháng còn lại kém thuận lợi hơn
Nhiệt độ, ẩm độ trung bình và lượng mưa trong các tháng được minh họa bằng đồ thị dưới đây
Trang 35Hình 3.1: Đồ thị nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa ở khu vực Thái Nguyên
*Thành phần hóa học đất(oc)
Độ pH của đất thí nghiệm là: 6,51 Độ pH này thể hiện đất trung tính,
phù hợp với cây M.oleifera
Tỷ lệ và hàm lượng của một số thành phần dinh dưỡng cơ bản của đất khu vực thí nghiệm như sau: Nitơ tổng số: 0,16%, P2O5 tổng số: 0,13%, P2O5
dễ tiêu: 21,05mg/100 gam đất, K2O tổng số: 0,91%, K2O trao đổi: 59,72 mg/100 gam đất Số liệu trên cho thấy: đất thí nghiệm thuộc loại màu mỡ trung bình Để cây thức ăn có năng suất cao và thu hoạch được lâu dài thì cần phải bón phân cho cây thức ăn khi trồng và sau mỗi lứa thu hoạch Kết quả phân tích thành phần hóa học đất của viện khoa học sự sống được tóm tắt lại và trình bày tại Bảng 3.2
Trang 36% mg/100 gam đất
6,51 0,16 0,13 21,05 0,91 59,72
3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất và chất lượng M.oleifera
Khoảng thời gian giữa hai lứa thu hoạch của cây thức ăn xanh được gọi
là khoảng cách cắt (KCC), thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến trên thế giới Khoảng cách cắt đồng nghĩa với tuổi thu hoạch của cây thức ăn xanh từ sau lứa thu hoạch thứ nhất trở đi
Số lứa thu hoạch trong một năm phụ thuộc vào khoảng cách cắt, nếu khoảng cách cắt ngắn thì số lứa thu hoạch nhiều và ngược lại Trong năm thứ nhất số lứa cắt của NT1 là 7 lần, của NT2 là 6 lần, NT3 là 5 lần, của NT4 và NT5 đều là 4 lần
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất của
M.oleifera trong năm thứ nhất được trình bày trong các mục dưới đây
3.2.1 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất sinh khối của M.oleifera
Năng suất sinh khối là toàn bộ khối lượng thân, cành, lá của cây thức ăn thu được trong 1 lứa cắt, đơn vị tính là tạ/ha/lứa
Năng suất sinh khối của các nghiệm thức được trình bày tại Bảng 3.3
Trang 37Bảng 3.3Năng suất sinh khối M.oleiferaở các khoảng cách cắt khác nhau
Lứa 3 có sự khác biệt với lứa 1 và 2, đó là các nghiệm thức 1, 2 và 3 vẫn nằm trong mùa mưa, còn nghiệm thức 4 và 5 đã có một nửa thời gian tái sinh nằm trong mùa khô Do đó, năng suất sinh khối của NT2 vẫn cao hơn 37,0% so với NT1, nghiệm thức 3 cao hơn 24,2% so với NT2, (gần tương tự như lứa 1 và 2) nhưng năng suất sinh khối của NT4 chỉ cao hơn 18,4% so với NT3 và NT5 chỉ cao hơn 5,6% so với NT4 (thấp hơn so với lứa 1 và 2)
Lứa 4 năng suất sinh khối có diễn biến khác với lứa 1, 2 và 3, năng suất sinh khối của NT2 thấp hơn 10,6% so với NT1, nghiệm thức 3, 4 và 5 thấp hơn
Trang 38so với NT1 lần lượt là 14,5; 2,2 và 5,2% Nguyên nhân là NT1 vẫn nằm trong mùa mưa, các nghiệm thức còn lại do kéo dài khoảng cách cắt nên đã đẩy lùi thời gian tái sinh lứa 4 vào mùa khô từ đó đã dẫn đến giảm năng suất sinh khối của cây thức ăn
Tăng khoảng cách cắt từ 30 lên 70 ngày đã tăng năng suất sinh khối
trung bình/lứa của M.oleifera từ 130,68 lên 381,45 tạ/ha/lứa Năng suất sinh
khối trung bình/lứa của các nghiệm thức sai khác nhau khá rõ rệt với p < 0,01 Nếu các nghiệm thức có cùng số lứa cắt trong một năm thì năng suất bình quân/lứa tăng cũng có nghĩa là tăng sản lượng/ha/năm nhưng trong thí nghiệm này số lứa cắt trong năm của các nghiệm thức khác nhau nên năng suất không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới sản lượng của cây thức ăn xanh mà sản lượng còn phụ thuộc vào yếu tố thứ 2, đó là số lứa cắt trong 1 năm
Mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và năng suất sinh khối còn được minh họa bằng biểu đồ dưới đây
Hình 3.2: Biểu đồ mối quan hệ giữa khoảng cách cắt và năng suất sinh khối
Trang 39Năng suất sinh khối trung bình/lứa của cả 5 nghiệm thức của M.oleifera
là 253,82 tạ/ha/lứa Năng suất sinh khối trung bình của keo giậu là 151
tạ/ha/lứa (Trần Thị Hoan và cs, 2017) [10], của Stylosanthes guianesis CIAT
184 là 194 tạ/ha/lứa (Từ Quang Hiển và cs, 2017) [9], của sắn trồng thu lá là
174 tạ/ha/lứa (Từ Quang Hiển và Từ Quang Trung, 2016) [8] Như vậy, năng
suất sinh khối trung bình/lứa của M.oleifera trong thí nghiệm nàycao hơn năng
suất sinh khối trung bình/lứa của một số cây thức ăn xanh được thông báo bởi các tác giả nêu trên Các cây này được xếp hàng đầu trong việc sản xuất bột lá
bổ sung vào thức ăn cho gà
3.2.2 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất lá tươi
Năng suất lá tươi được tính trên cơ sở nhân năng suất sinh khối với tỷ lệ giữa lá tươi/sinh khối Tỉ lệ lá tươi/sinh khối của 5 nghiệm thức có sự khác nhau ở các KCC khác nhau Tỷ lệ này của NT1 đến NT5 lần lượt là 42,79; 43,92; 38,68; 29,28 và 24,72% Lúc 30 ngày tuổi, lá non chiếm đa số nhưng thân cây vẫn còn bé nên lá chiếm tỷ lệ khá lớn so với toàn bộ sinh khối của cây; lúc 40 ngày tuổi phần lớn lá đã trưởng thành về diện tích và độ dày của lá, do
đó tỷ lệ lá/sinh khối cao hơn giai đoạn 30 ngày tuổi; lúc 50 ngày tuổi thân cây phát triển mạnh, đồng thời lá non vẫn còn tiếp tục tăng sinh nên tỷ lệ lá/sinh khối có giảm nhưng không lớn; lúc 60 ngày tuổi thân cây tiếp tục tăng trưởng mạnh nhưng phần lớn lá đã ổn định không tăng sinh thêm, do đó tỷ lệ lá/sinh khối giảm mạnh Lúc 70 ngày tuổi, diễn biến về tăng trưởng của thân và lá tương tự như lúc 60 ngày tuổi nhưng phần lá ở gốc đã già, chuyển sang màu vàng, phần lá này bị loại bỏ, vì vậy tỷ lệ lá trên sinh khối chỉ còn 24,72%, giảm 19,2% so với KCC 40 ngày Năng suất lá tươi của các nghiệm thức được trình bày tại Bảng 3.4
Trang 40Bảng 3.4 Năng suất lá tươi của M.oleiferaở các khoảng cách cắt khác nhau
(30 ngày)
NT2 (40 ngày)
NT3 (50 ngày)
NT4 (60 ngày)