Ảnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera giganteaẢnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera gigantea
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU CÚC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BÓN ĐẠM VÀ TUỔI THU HOẠCH
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÂY THỨC ĂN TRICHANTHERA GIGANTEA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU CÚC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BÓN ĐẠM VÀ TUỔI THU HOẠCH
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÂY THỨC ĂN TRICHANTHERA GIGANTEA
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 8.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoan
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Trần Thị Hoan và GS.TS.Từ Quang Hiển với cương vị người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tới sinh viên Nguyễn Việt Trường, Hoàng Đức Trường lớp 46 Chăn nuôi Thú y đã cộng tác với tôi trong thời gian bố trí thí nghiệm và theo dõi thí nghiệm Tôi xin cảm
ơn tới các thầy cô trong trại chăn nuôi gia cầm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học Sự sống, Khoa Chăn nuôi Thú y, bộ phân quản lý đào tạo Sau Đại học thuộc phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn của mình
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Cúc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT HOẶC TÊN KHÁC CỦA vi
CÁC GIỐNG CÂY THỨC ĂN XANH TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về cây T gigantea 3
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn 8
1.2.1 Ảnh hưởng của phân bón 8
1.2.2 Ảnh hưởng của tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt 15
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về cây T gigantea 18
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
2.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 25
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Khí tượng và thành phần hóa học đất khu vực thí nghiệm 27
3.1.1 Khí tượng khu vực thí nghiệm năm 2017 27
3.1.2 Thành phần hóa học đất thí nghiệm 29
3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất, chất lượng T gigantea 30
3.2.1 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất sinh khối 30
3.2.2 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất lá tươi 33
3.2.3 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất vật chất khô 34
3.2.4 Ảnh hưởng của KCC đến thành phần hóa học lá 36
3.2.5 Ảnh hưởng của KCC đến sản lượng 39
3.3 Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất, chất lượng cây thức ăn T gigantea 42
3.3.1 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất sinh khối 43
3.3.2 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất lá tươi 45
3.3.3 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất vật chất khô của lá 47
3.3.4 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến thành phần hóa học 50
3.3.5 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến sản lượng của T gigantea 52
3.3.6 Hiệu lực sản xuất của các mức bón đạm khác nhau 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Tồn tại và đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT HOẶC TÊN KHÁC CỦA CÁC GIỐNG CÂY THỨC ĂN XANH TRONG LUẬN VĂN
Brachiaria brizantha B brizantha Brachiaria decumhens B.decumhens Brachiaria humidicola B humidicola Brachiaria multica B multica
Moringa oleifera M.oleifera Paspalum atratum P atratum Panicum maximum P maximum Trichanthera gigantean T gigantean
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm 1 24Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm 2 25Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 29Bảng 3.3 Năng suất sinh khối của T gigantea ở các khoảng cách cắt
khác nhau 30Bảng 3.4 Năng suất lá tươi của T.gigantea ở các khoảng cách cắt khác nhau 33
Bảng 3.5 Năng suất vật chất khô của T gigantea ở các khoảng cách cắt
khác nhau 35Bảng 3.4 Thành phần hóa học lá T gigantea ở các khoảng cách cắt
khác nhau 37Bảng 3.5 Sản lượng của T gigantea ở khoảng cách cắt khác nhau 39
Bảng 3.8 Năng suất sinh khối của T gigantea ở các mức bón đạm khác nhau 43
Bảng 3.9 Năng suất lá tươi của T gigantea ở các mức bón đạm khác nhau 46 Bảng 3.10 Năng suất vật chất khô của T gigantea ở các mức bón đạm
khác nhau 48
Bảng 3.11 Thành phần hóa học T gigantea ở các mức bón đạm khác nhau 50 Bảng 3.12 Sản lượng của T gigantea ở các mức bón đạm khác nhau 52 Bảng 3.13 Hiệu lực sản xuất của T gigantea ở các mức bón đạm khác nhau 55
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa ở khu vực Thái Nguyên 29
Hình 3.2 Biểu đồ mối quan hệ giữa KCC với năng suất sinh khối 32
Hình 3.3 Biểu đồ mối quan hệ giữa KCC với năng suất lá tươi 34
Hình 3.4 Biểu đồ mối quan hệ giữa KCC với năng suất vật chất khô 36
Hình 3.5 Biểu đồ mối quan hệ giữa KCC và sản lượng VCK 41
Hình 3.6 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm với năng suất sinh khối 45
Hình 3.7 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm với năng suất lá tươi 47
Hình 3.8 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm với năng suất vật chất khô 49
Hình 3.9 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức bón đạm và sản lượng VCK 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ Người chăn nuôi sử dụng thức ăn hỗn hợp kết hợp với thức ăn xanh nhằm giảm chi phí thức ăn, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm Việc nghiên cứu nguồn cây thức ăn xanh
có giá trị dinh dưỡng cao, ít nhiễm mầm bệnh phục vụ cho chăn nuôi là rất cần thiết Trong những năm gần đây, người dân đã trồng và sử dụng nhiều loại cây
thức ăn cho gia súc, gia cầm, trong đó có cây Trichanthera gigantea (T
gigantea) Đây là loại cây cho lá, dễ trồng trên mọi loại đất, có thể sống trong nhiều điều kiện khí hậu và sinh thái khác nhau, có năng suất chất xanh khá cao,
nhiều gia súc, gia cầm thích ăn Cây T gigantea có tỷ lệ protein thô từ 21-27% VCK, hàm lượng sắc tố khoảng 450 mg/kg VCK Cây T gigantea có thân gỗ, dạng thân bụi, lá cây nằm ở trên cao, do đó khả năng nhiễm Salmonella và cầu
trùng ít hơn so với các cây thức ăn nằm sát mặt đất (rau lang, cỏ, rau muống…) Đặc biệt cây thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, Campuchia, Philippine là nguồn thức ăn dồi dào cho gia súc, gia cầm, thuỷ sản và thỏ
Trong chăn nuôi gia cầm, chính vì muốn cải thiện độ vàng của da, lòng đỏ trứng, đồng thời làm tăng hương vị thịt gia cầm, người chăn nuôi đã
bổ sung sắc tố tổng hợp hoặc bột thực vật giàu sắc tố vào thức ăn Tuy nhiên, sắc tố tổng hợp không cải thiện được hương vị thịt, mặt khác sắc tố tổng hợp có thể còn ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người Vì vậy,
bổ sung bột lá cây thức ăn chứa sắc tố để được sản phẩm vừa có màu sắc hấp dẫn người tiêu dùng, vừa đảm bảo an toàn thực phẩm là phương án tối
ưu Hiện nay, các loại bột lá cây thức ăn xanh thường được sản xuất là bột lá
keo giậu, bột hoa cúc, bột cỏ Medicago, bột cỏ Stylo, bột lá sắn, bột lá cây
T gigantea (cây chè đại, chè khổng lồ)…
Trang 12Tuy T.gigantea là loại cây trồng có tiềm năng nhưng lại ít được nghiên
cứu và quan tâm nhiều tới kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác để có được năng suất tốt nhất phục vụ cho việc sản xuất bột lá thực vật Chính vì vậy, để trồng
cây T gigantea có năng suất cao, chất lượng tốt, sử dụng hiệu quả trong chăn
nuôi cần phải nắm vững một số kỹ thuật canh tác cơ bản nhất (mật độ, phân bón, khoảng cách thu hoạch ) và thành phần hóa học cũng như giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn này
Với các lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần hóa học của cây thức ăn Trichanthera gigantea”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định mức bón phân đạm và được tuổi thu hoạch thích hợp để áp dụng
vào canh tác cây T gigantea nhằm đạt được năng suất chất xanh và bột lá cao
- Xác định được thành phần hóa học để làm dữ liệu xây dựng công thức
thức ăn hỗn hợp cho vật nuôi, mà trong đó bột lá T gigantea là một trong
những nguyên liệu thức ăn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành dinh dưỡng và thức ăn động vật những hiểu biết về ảnh hưởng của mức bón đạm và tuổi thu
hoạch đến năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của cây T gigantea
Từ đó, có thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài này có thể ứng dụng trong sản xuất để nâng cao năng
suất chất xanh của cây T gigantean, nâng cao năng suất và chất lượng bột lá
để giảm giá thành sản phẩm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về cây T gigantea
Phân loại thực vật
Cây T gigantea thuộc họ
Acanthaceae (họ Ô rô), họ phụ
Ancanthoideae , bộ Trichanthereae
(chi thực vật có hoa), giống Hera; loài
Trichanthera gigantea, tên khoa học
là Trichanthera gigantea
Cây T gigantea có nguồn gốc ở
chân đồi Andean của Colombia,
nhưng cũng được nhưng cũng được
tìm thấy ở dọc bờ sông và khu vực
đầm lầy từ Costa Rica đến miền Bắc nước Mỹ (Mc Dade, 1983) [65] và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực Amazon, vùng đồng cỏ trên các đảo ở vùng cửa sông Amazon (Record và Hess, 1972) [73] Mutis là người đầu
tiên mô tả về cây T gigantea
Trích dẫn theo Rosales (1997) [75], Kunt đề xuất thành lập giống Trichanther vào năm 1817, sau đó tới năm 1847 Nees dựa trên cơ sở những mô
tả ban đầu đặt tên giống Trichanthera
Đặc tính sinh thái
Cây T gigantea thích nghi được với nhiều điều kiện sinh thái khác
nhau Cây có thể sống ở độ cao khoảng từ 0 đến 2000 m Cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.000 đến 2.800 mm (Acero,
Trang 141985 [49], Murgueitio, 1989, [67], Jaramillo and Corredor, 1989) [61]) Cây T
gigantea phát triển được trong điều kiện đất acid, kém màu mỡ nhưng thoát nước tốt Ở Việt Nam cây T gigantea cho thấy khả năng phát triển tốt ở nơi
có khí hậu nóng ẩm của miền Bắc (Nguyen Ngoc Ha và Phan Thi Phan, 1995) [69] hay ở Miền Trung với lượng mưa hàng năm 3.415 mm, nhiệt độ 21-290C,
ẩm độ 79-91% (Nguyen Xuan Ba và Le Duc Ngoan, 2003) [70] và thích hợp
cả với Miền Nam với lượng mưa hàng năm 1.600 - 1.700 mm, nhiệt độ trung bình 26-280C và ẩm độ 78 - 88% (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1998) [28]
Đặc điểm sinh vật
T gigantea là loại cây bụi hoặc có thể cao đến 5 m Cây có tán tròn, nhánh bậc 2, thân có nhiều mấu lồi nhỏ, phân bố tạo thành 2 - 4 đường bên ở hai phía dọc theo thân Khi còn non thân mềm nhiều nước, sau trồng khoảng 6 tháng, cây sinh trưởng cứng cáp, thân màu nâu, hoá gỗ cứng phía ngoài, phía
trong mềm nhưng không hoá bấc Lá T gigantean hình cánh quạt dài đến 26
cm và rộng 14 cm thuôn nhọn về chót lá, bản hẹp, cuống lá dài 1-5 cm, có màu xanh sẫm, mọc đối chéo chữ thập, lá đơn nguyên, giòn, có lông nhỏ mịn và hơi ráp, khi khô lá ngả mầu đen
Mỗi quả của cây T gigantea có 35 - 40 hạt, có 1.123 quả/kg và 4.050.000
hạt/kg (Acero, 1985) [49] Tuy nhiên, hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm nên tỷ lệ trồng bằng hạt chỉ đạt 0-2% (CIPAV, 1996) [54] nên người ta thường chọn cách nhân giống bằng hom Theo Mc Dade (1983) [65] nguyên nhân
là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn Cây T gigantea có
khả năng ra rễ từ gốc đến ngọn, ngay cả một mẩu lá nhỏ cũng có khả năng ra rễ, tuy nhiên lá không có khả năng tạo thành cây mới Rễ là một trong những bộ
phận giúp cây T gigantea có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí
gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gomez and Murgueitio, 1991) [58]
Trang 15Bên cạnh rễ, người ta còn dùng hom để nhân giống cây T gigantea Cây T
gigantea có khả năng nhân giông vô tính rất nhanh, trong 6 tháng từ một cây con
có thể cho ra ít nhất 100 cây mới Tuy nhiên, khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95% Nhưng khi
sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2-3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20-30 cm) để nhân giống thì tỉ lệ mọc mầm có thể sẽ thấp hơn 50% (Acero, 1985) [49]
Cây T gigantea có hoa nở theo
chu kỳ nhưng cây chỉ ra hoa ở vùng
miền Nam Việt Nam còn vùng miền Bắc
chưa thấy cây T gigantea ra hoa
T gigantea là cây ưa ẩm, chịu
bóng râm vừa, có tốc độ sinh trưởng
đều trong năm Tuy nhiên gặp sương
muối cây bị táp lá và sinh trưởng kém
Hình 1.2 Lá và hoa T gigantea
Cây T gigantea rất nhạy cảm với phân đạm; khi thiếu đạm lá ngả mầu
vàng, nhưng chỉ một lượng nhỏ phân đạm cũng làm lá xanh trở lại
Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành và cành giâm
có thể nẩy mầm tốt ở các mùa trong năm Cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng và to bản nên thoát nước rất mạnh
Cây T gigantea ít bị sâu bệnh nhưng khi trồng với mật độ cao và đất
quá ẩm thì thường bị bệnh thối nhũn lá, hầu hết lá chuyển thành màu xám đen
và nhũn với tốc độ lây lan rất nhanh Tuy nhiên, chữa trị hết sức đơn giản, chỉ cần cắt bỏ những cây bị sâu bệnh, sau đó thu hoạch toàn bộ, làm sạch cỏ, bón
bổ sung phân lân và vôi
Trang 16Giá trị sử dụng trong chăn nuôi
T gigantea là loại cây trồng mới sử dụng làm thức ăn cho gia súc, được
nhập vào Việt Nam năm 1993 từ nước Côlômbia, đây là loại cây thân bụi, lá
to, năng suất khá cao, giàu protein, khoáng và vitamin Hiện nay, cây T
gigantean được trồng nhiều ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thỏ và cá Kết quả cho thấy sử dụng loại cây này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi
Cây T gigantea có hàm lượng nước trong lá cao, từ 80-85% khi lá ở độ
tuổi 30-45 ngày, vì vậy lá mềm mại nhưng lại khó phơi khô; tỷ lệ protein thô trong VCK của lá dao động từ 18-26% tùy thuộc vào tuổi của lá; trong protein hầu hết là protit, nitơ phi protit rất ít; tỷ lệ lipit thấp, khoảng 2-3% VCK; tỷ lệ
xơ thô thấp, khoảng 10-18% VCK tùy theo tuổi của lá; tỷ lệ khoáng rất cao (20-25% VCK), hàm lượng canxi cao hơn rất nhiều so với các loại cây thức ăn
khác, do đó có thể sử dụng bột lá T gigantea như một nguồn cung cấp can xi
cho vật nuôi Tỷ lệ protein và khoáng trong VCK của lá cao đã làm cho tỷ lệ dẫn xuất không chứa nitơ thấp hơn so với một số loại lá khác, nó dao động từ 30-40% VCK Tỷ lệ lipit và dẫn xuất không chứa nitơ trong VCK đều thấp dẫn đến năng lượng của bột lá thấp Đây là điều cần lưu ý khi phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn của vật nuôi; bổ sung thêm dầu, mỡ để bù đắp năng lượng thiếu hụt là yêu cầu bắt buộc khi bổ sung bột lá vào khẩu phần ăn của gia cầm Trong thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales và Galindo,
1987) [74] chứng minh rằng, trong cây T gigantea không có alkaloid hay
tanin, hàm lượng sanponin và steroid thấp Hàm lượng phenol tổng số và steroid là 450 và 6,2 ppm Bằng phương pháp tiêu hóa dạ cỏ để xác định tỷ lệ
tiêu hoá đối với lá cây T gigantea thấy rằng tỷ lệ phân giải chất khô là 77%
Trang 17Cây T gigantea có thể thu hoạch lứa đầu vào lúc 4-6 tháng sau khi trồng,
năng suất đạt 15,64 đến 16,74 tấn/ha (thân lá tươi) với mật độ trồng 40.000 cây/ha (với khoảng cách 0,5m x 0,5m) Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên 50 tấn/ha/năm; khi trồng với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75m x 0,75m) và khoảng cách cắt (KCC) 1,5 - 3 tháng một lần, năng suất bình quân đạt 17 tấn/ha/lứa ở năm thứ 2 trở đi Sản lượng sinh khối (lá tươi và
thân) đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm Cây T gigantea có khả năng tái sinh mạnh
mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua
hoạt động của Mycorrhiza hay những vi sinh vật khác
Cây T gigantea chịu được cắt
liên tục nhiều lần trong năm vì hình
thành nhánh non rất tốt Tuy nhiên,
tốc độ tái sinh chậm nên trong năm
đầu có thể thu được khoảng 4 lứa, các
năm sau khoảng 5-6 lứa/năm
Cắt ngang phần thân lá mà gia
súc có thể ăn được
Hình 1.3 Cây T gigantea sau thu cắt
Sau khi thu cắt nên để héo rồi mới cho gia súc ăn hoặc có thể ủ chua với cám hoặc bột sắn/bã sắn theo tỷ lệ 3 - 5% cám (tính theo khối lượng
lá tươi) Nhiều đối tượng vật nuôi có thể sử dụng thân lá cây thức ăn này, như
bò, dê, lợn, gà, cá
Lá T gigantea giàu protein và sắc tố do đó ngoài cho vật nuôi ăn tươi
còn có thể chế biến thành bột lá bổ sung vào thức ăn của gia cầm Mặc dù
năng suất T gigantea không cao nhưng phân bố sinh khối đều trong năm, đặc biệt có tỷ lệ lá cao vào lúc giáp vụ nên T gigantea là cây thức ăn xanh tốt
Trang 18trong vụ đông - xuân Có thể sử dụng lá T gigantea như là thuốc chữa bệnh
táo bón cho gia súc mà không gây độc hại
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn
Có nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng: khí hậu, đất, giống, nước, sâu bệnh, môi trường, khoảng cách giữa các lần thu cắt, phân bón… trong số đó, yếu tố phân bón và
khoảng cách cắt đóng vai trò quan trọng, cần được nghiên cứu
1.2.1 Ảnh hưởng của phân bón
Phân bón là những chất, hợp chất có chứa một hoặc nhiều nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng, nhằm thúc đẩy sự phát triển, sinh trưởng của cây trồng, cung cấp dinh dưỡng cho đất, có thể làm thay đổi chất đất phù hợp với nhu cầu của loại cây trồng Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của cây trồng
Theo tác giả Từ Quang Hiển và cs (2002) [10] hàng năm chúng ta cần bón
bổ sung một lượng phân bón nhất định cho cây trồng để bù đắp sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất Tác giả cho biết, cứ mỗi năm, một bãi chăn thả với sản lượng cỏ khô khoảng 2,5 tấn/ha/năm (bãi chăn thuộc loại trung bình) sẽ tiêu tốn khoảng 70
kg N; 7,5 kg P; 60 kg K2O và 37 kg Ca/ha do đó phải bù đắp một lượng phân bón lớn hơn thế
1.2.1.1 Phân đạm
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu Cây trồng hấp thu nitơ từ đất dưới 2 dạng ion: nitơ oxy hóa (NO3-) và nitơ khử (NH4+), sau đó ion kết hợp với carbohydratio tạo thành aminoacids, amides, amines; các aminocaid kết hợp lại với nhau tạo thành protein (Ngô Ngọc Hưng và cs 2004) [18] Do vậy, nếu cây được cung cấp nitơ cao thì hàm lượng protein trong cây sẽ cao Tuy nhiên, đây là loại phân bón dễ thất thoát, đặc
Trang 19biệt thường bay hơi khiến lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được chỉ từ 30 - 40% lượng cung cấp Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả, tránh lãng phí là vấn
đề cần được quan tâm
Ngoài ra đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổi nước và carbonic thành đường bột Phân đạm là thức
ăn chính cho cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển, lá có khích thước lớn từ đó tăng khả năng quang hợp và tăng năng suất cây trồng
Đạm ure dùng để bón cho cây (NH2)2CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N Khi gặp nước sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH4+), đây là loại đạm cây có thể hấp thụ được Tuy nhiên lượng amôn lớn, cây trồng không hấp thụ hết thì amôn nhanh chóng thủy phân, phân giải thành amoniac (NH3-)
Theo Nguyễn Văn Viết (2006) [47] ẩm độ trong không khí của mỗi mùa khác nhau trong sinh quyển ở Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của cây trồng Ẩm độ quá thấp, bón phân đạm có thể bị thất thoát do bốc hơi và cây khó hấp thu, nhất là mùa đông ở Bắc bộ Bên cạnh đó, đạm ure còn bị phản nitrat hóa, tạo thành oxit nitơ dẫn đến thất thoát khi sử dụng Ngoài ra còn nhiều yếu tố dẫn đến thất thoát như nhiệt
độ, pH của nước, mực nước trong ruộng
Đạm có mặt ở nhiều nơi trong tế bào cấu tạo nên sự sống Đạm có trong thành phần tất cả các protein đơn giản, phức tạp và các hợp chất khác nhau Đạm là thành phần chính của màng tế bào thực vật, có trong thành phần của diệp lục tố, mà thiếu nó cây xanh không có khả năng quang hợp (Lê Vĩnh Thúc, 2015) [36] Theo Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm (2007) [7] đạm còn có trong thành phần của các gen di truyền ADN, ARN và cả trong các men (enzime) của cây, có vai trò cực kỳ quan trọng trong trao đổi vật chất của các
Trang 20cơ quan thực vật Theo Kanno và Macedo (1999) [62] khi bón thừa đạm sẽ thừa amôn nên cây sẽ phải hút nhiều nước để giải độc vì vậy nước trong thân lá cao, thân lá mềm, vươn dài, che bóng lẫn nhau gây ảnh hưởng tới quang hợp Bón nhiều đạm, tỷ lệ diệp lục cao nên lá thường có màu xanh đậm, cây thành thục muộn do quá trình sinh trưởng (thân, lá) kéo dài, cây phát triển um tùm, mềm oặt nên dễ bị “đổ lốp”, sâu bệnh Ngược lại, nếu thiếu đạm cây sẽ nhanh già cỗi, ra hoa đậu quả kém, lá sớm vàng úa nhanh rụng, năng suất thấp
Jailson Lara Lagundes và cs (2005) [60] thí nghiệm bón đạm với các liều lượng từ 75 - 300 kg N/ha/năm và thấy sản lượng vật chất khô của cỏ tỷ lệ thuận với mức bón đạm tăng Mức bón đạm (liều lượng bón) khác nhau đối với đậu Macroptilium được Lưu Hữu Mãnh nghiên cứu năm 2007 [22] cho biết mức
độ phân bón 30N/ha là phù hợp nhất, với mức độ này cây phát triển tốt và tạo điều kiện cho cây có thể cố định đạm vào những năm tiếp theo
Nguyễn Văn Bình (2004) [3] cho biết phân đạm đã có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng các axit béo trong cỏ Timothy Tăng lượng nitơ bón cho đồng
cỏ Timothy từ 0kg lên 120 kg/ha đã làm tăng rõ rệt axit béo tổng số thức ăn Giai đoạn sinh trưởng phát triển chiều cao ở mức nitơ là 0kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 8,71 (mg/kg chất khô), tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 11,43 (mg/kg chất khô)
Bùi Quang Tuấn (2005a) [44] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân ure khác nhau đến năng suất, thành phần hóa học, cũng như hiệu quả của đầu tư phân bón đối với cỏ Voi, cỏ Ghi nê Kết quả cho thấy mức bón phân urê thích hợp đối với cỏ Voi là 100kg N/ha/lứa cắt, cỏ Ghi nê là 50kgN/ha/lứa cắt Điểm nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỷ lệ protein thô trong cây thức ăn Tuy nhiên, ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn
Trang 21Với mức phân bón 100 kg urê/ha, năng suất chất xanh của cỏ voi đạt 36,30 tấn/ha/lứa cắt, của cỏ ghi nê đạt 23,40 tấn/ha/lứa cắt, còn với mức bón
200 kg urê/ha năng suất của cỏ voi và cỏ ghi nê tương ứng đạt 45,88 tấn và 27,97 tấn/ha/lứa (Bùi Quang Tuấn, 2005b) [45] Năng suất chất xanh lứa 1 của
2 dòng cao lương trong thí nghiệm của Nguyễn Thanh Nhàn năm 2014 cao hơn so với năng suất của cỏ voi, nhưng ở 2 lứa tiếp theo thì thấp hơn
Theo Lưu Hữu Mãnh (2007) [22] ảnh hưởng các mức độ phân đạm lên
hàm lượng dưỡng chất và năng lượng của đậu Macroptilium cho thấy không có
sự khác biệt về sự đáp ứng các mức độ phân bón lên vật chất khô (DM), tro, protein thô (CP), béo thô (EE), chất xơ trung tính (NDF) và xơ acid (ADF)
cũng như năng lượng trao đổi (ME) Theo đó, đối với cỏ Paspalum các mức độ
phân đạm ảnh hưởng không có ý nghĩa lên thành phần hóa học của cỏ, tuy
nhiên hàm lượng CP của Paspalum có khuynh hướng tăng theo mức độ phân
bón từ 10,89% (30N) lên 11,64% (50N) và 12,17% (70N), so với kết quả thí
nghiệm của Cheetarak (2000) [53] hàm lượng CP của cỏ Paspalum trồng dưới
tán cây nhãn khá thấp biến động từ 8,5-8,9% Theo CSIRO và cs (2005) [56]
cỏ Paspalum có hàm lượng CP trung bình là 11% Như vậy, cho thấy cỏ có
nhu cầu về phân đạm, hàm lượng Nitơ cao Cũng theo CSIRO cỏ đáp ứng tốt với mức độ phân bón lên đến 150 đến 200 kg N/ha/năm Mức độ phân bón 50
kg N làm tăng năng suất protein của giống cỏ Paspalum và mức độ 30N tỏ ra phù hợp cho đậu Macroptilium trong điều kiện đất đai ở Trung tâm Giống
Nông nghiệp Ô môn Việc áp dụng chế độ phân bón hợp lý sẽ góp phần nâng cao năng suất chất xanh và protein thu được trên một đơn vị diện tích
Theo Nguyễn Văn Quang và cs [2007a] [31] bón 60 kgN/ha cho cỏ họ đậu khi giai đoạn còn non đạt được năng suất chất xanh là 13,7 tấn/ha (keo giậu K280), 15,9 tấn/ha (Stylo CIAT 184) Cũng theo Nguyễn Văn Quang và cs [2007b) [32]
Trang 22bón 200 kg ure/ha cho năng suất protein đạt 1,8 tấn/lứa cho keo giậu K280; 2,4 tấn/lứa cho Stylo Ciat 184
Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011) [4] đã nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức phân NPK ( công thức 2:1:1) và 3 loại phân hữu cơ đến sự sinh trưởng,
năng suất và chất lượng lá cây M oleifera Kết quả là mức bón 70kg N - 35kg
P2O5 -55kg P2O/ha/năm đã giúp cây sinh trưởng và năng suất chất xanh cao hơn hẳn các mức bón NPK thấp hơn Điều này phù hợp với đặc tính sinh học của cây trồng, khi được cung cấp một lượng dinh dưõng cao, hợp lý sẽ sinh trưởng
tốt hơn Trong các loại phân hữu cơ bón cho M Oleifera, phân gia súc có tác
động đến sinh trưởng và năng suất lớn hơn phân xanh, phân rác
Trần Thị Hoan (2012) [15] khi bón phân đạm cho sắn cho thấy thành phần hóa học của lá sắn thay đổi không lớn Khi bón đạm tăng từ 0 kg N lên 80
kg N/ha/lứa cắt, tỷ lệ lipit, khoáng tổng số, xơ trong VCK giảm dần (tỷ lệ lipit từ 9,09 % xuống 8,18 %; khoáng tổng số từ 14,28 % xuống 13,31 %; tỷ lệ xơ giảm
từ 14,28 % xuống 13,31 %) Do bón đạm tăng làm hàm lượng xơ giảm, điều này giải thích cho việc bón đạm nhiều lá mềm hơn, gia súc thích ăn hơn Khi tăng lượng đạm từ 0 kg lên 80 kg thì hàm lượng dẫn xuất không đạm tăng dần, chứng
tỏ tăng lượng đạm làm tăng khả năng tích lũy dẫn xuất không đạm của lá sắn Điều đặc biệt là khi tăng mức bón đạm lên 80 kg N/ha/lứa cắt thì không những không làm tăng mà còn làm giảm sản lượng lá sắn tươi Theo nghiên cứu thì sản lượng lá sắn tươi đạt cao nhất ở mức bón 60 kg N tương tự cũng mức bón
đó sản lượng protein đạt cao nhất
Mendieta- araica và cs (2013) [66] đã nghiên cứu về mức bón đạm cho
cây M oleifera với 4 nghiệm thức là 0 - 261 - 521 - 782 kg N/ha/năm Kết quả cho thấy khi bón ở mức 521 kg N/ha/năm thì cây M oleifera cho năng suất
chất xanh và VCK cao nhất
Trang 23Khi lượng đạm bón cho đồng cỏ, cây thức ăn tăng, mức nitrat sẽ tăng theo Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác với khả năng ngộ độc nitrat, nếu bón quá liều lượng Do đó, cần xác định mức bón phân đạm thích hợp cho từng loại đất, từng loại cây trồng nhằm tăng năng suất, chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế, không để lại hậu quả cho cây trồng và môi trường
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng (2005) [8]; Công Doãn Sắt và Hoàng Văn Tám (2000) [35] cho thấy tùy thuộc vào loại đất và giống cỏ để bón liều lượng lân cho phù hợp Hàm lượng photpho bón cho đất thích hợp vào khoảng 40 kg đến 120 kg P2O5/ha Phân lân phân giải chậm, vì vậy phải bón toàn bộ lượng phân một lần khi gieo, trồng và bón vào cuối thu hoặc đầu xuân đối với đồng cỏ từ năm thứ 2 trở đi
1.2.1.3 Phân kali
Trong mối quan hệ đất - phân bón, kali đóng một vai trò quan trọng trong
sự sinh trưởng và phát triển của cây Khi cây lớn lên, nhu cầu kali của cây càng tăng đặc biệt là giai đoạn cây trồng trưởng thành và chuẩn bị ra hoa Kali hỗ trợ cho quá trình chuyển hóa năng lượng (tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, do vậy mà hạn chế tích lũy nitrat trong lá) Nó còn giúp cây trồng tăng khả năng quang hợp, tăng cường sự hình thành bó mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây, chống bệnh, chống rét
Trang 24(Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006) [48] Bón đủ kali sẽ tạo điều kiện cho cây có khả năng hút đạm và lân tốt hơn, điều hòa tốt các chất dinh dưỡng là nền tảng cho một vụ mùa bội thu
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Ngoạn (2007) [25] cho thấy tùy thuộc vào hàm lượng kali trong đất nhiều hay ít mà mức bón kali cho sắn dao động từ
80 kg đến 180 kg K2O/ha
Phân kali chủ yếu được bón kết hợp với các loại phân khác như N P liều lượng phân kali bón riêng biệt cho cây thức ăn thường ít được quan tâm
và nghiên cứu, chính vì thế mà ảnh hưởng của phân kali tới các loại cây thức
ăn cũng chính là sự ảnh hưởng của các loại phân bón kết hợp cùng
1.2.1.4 Phân chuồng
Phân chuồng là hỗn hợp các chất do gia súc bài tiết ra (phân và nước giải) cùng với chất độn chuồng và thức ăn thừa của gia súc Do phân chuồng được hình thành từ nhiều thành phần có đặc điểm khác nhau nên các loại phân chuồng cũng khác nhau về thành phần và tỷ lệ các chất dinh dưỡng có chứa trong phân Sử dụng phân chuồng tốt là một biện pháp nâng cao hiệu quả và xử
lý nguồn phế thải gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, phân chuồng chưa phải
là loại phân hoàn chỉnh, để tăng độ phì nhiêu cho đất cần kết hợp với các phân giàu đạm, lân, kali (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007) [2]
Kết quả nghiên cứu giống keo giậu Hawaii trồng trên đất xám có pH = 4,7 của Viện Chăn nuôi Quốc gia phối hợp với Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh tại Thủ Đức cho thấy: Keo giậu Hawaii được bón lót 5 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng phân hóa học N, P, K cho năng suất chất khô là 3,5 tấn/ha/năm Nhưng khi được bón lót 10 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg K2O/ha đã đưa năng suất chất khô đạt 4 tấn/ha/năm Trong đó, số lượng lá chiếm tới 46%, hàm lượng protein trong
Trang 25chất khô chiếm 20,5% và xơ thô chiếm 17,0% (Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận, 1981 [1])
Như vậy có thể thấy rằng, vai trò của phân bón với các cây thức ăn chăn
nuôi là quan trọng Đối với cây T gigantea mặc dù rễ có các nốt sần chứa
Mycorrhiza và các vi sinh vật khác có thể giúp cây cố định hàm lượng nitơ, nhưng vẫn cần phải bón không chỉ lân, kali, phân chuồng mà còn phải bón một lượng đạm nhất định, đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi nốt sần ở rễ chưa hình thành
1.2.2 Ảnh hưởng của tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt
Thời gian giữa các lần thu hoạch kể từ lứa cắt lần thứ nhất trở đi gọi là tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt Ví dụ: Trồng từ tháng 3 đến tháng 7 được cắt đợt thứ nhất, sau khoảng thời gian nhất định để cây tái sinh chồi, dự trữ đủ dinh dưỡng ta tiến hành thu cắt đợt 2 Tiếp tục như vậy thu cắt đợt 3,4,5 thì khoảng thời gian giữa các đợt thu cắt người ta gọi là khoảng cách cắt
Voisin (1963) [79] đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề KCC và khẳng định: Một cây thức ăn nếu được cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không tái sinh được Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng 1/2 tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng thêm 50% thời gian của tuổi thu hoạch thích hợp thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ
Trang 26cây chưa sinh trưởng tối đa đã bị thu cắt, không đủ thời gian cho việc tổng hợp các chất dinh dưỡng dư thừa ở bộ phận trên mặt đất (thân, lá) để vận chuyển ngược xuống phần gốc, rễ dùng cho việc tái sinh tiếp theo Từ Trung Kiên (2011) [20]
Theo NAS (1984) [68] năng suất và chất lượng cây keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở mật độ là 100.000 - 140.000 cây/ha, độ cao thu hoạch của cây là
60 - 70 cm và chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày Trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi với chế độ gieo trồng và thu hoạch như trên thì năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm Cũng theo nghiên cứu của Mares và cs (2002) [64] trên giống keo giậu Peru cho thấy: khai thác ở chiều cao cây 3,0 m với khoảng cách giữa các lần thu hoạch là 8 tuần thì năng suất protein thô đạt 5,3 tấn/ha/năm, trong khi khoảng cách giữa các lần thu hoạch là 12 tuần, chiều cao cây vẫn là 3,0 m thì năng suất protein thô chỉ đạt 4,5 tấn /ha/năm, còn khi khai thác lúc chiều cao cây đạt 3,0 m và khoảng cách giữa các lần thu hoạch là
16 tuần thì năng suất protein của keo giậu đạt 4,7 tấn/ha/năm
Nouman (2012) [71] đã nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách cắt và
thời gian thu hoạch đến năng suất và chất lượng cây Moringa oleifera tại Pakistan Kết quả cho thấy, thu hoạch sau trồng 4 tháng và cắt ở khoảng cách
30 cm tính từ mặt đất lên sẽ cho năng suất ngọn, lá tươi, số chồi trên cây, hàm lượng diệp lục, các chất chống oxi hóa, hàm lượng dinh dưỡng đạt cao nhất; cũng với khoảng cách này hàm lượng đạm, kali, canxi, magiê và phốt pho cũng đạt cao nhất
Cây keo giậu thu hoạch lứa đầu khi cây cao 1,5 - 1,6 m, thông thường mất 4-5 tháng để đạt được độ cao như trên Các lứa tiếp sau, thời gian thu cắt
khoảng 40 - 45 ngày (khi nhánh tái sinh đạt từ 60 - 70 cm) Cây Flemingia
macrophilla (cây Đậu Sơn Tây) có thể thu cắt chất xanh khi thân cao 1m (cắt ngọn lá làm thức ăn cho bò cắt chừa lại gốc cây cách mặt đất 30-35cm
Trang 270,8-để cây tạo tán) Sau lần cắt trước 90 - 100 ngày khi tán cành mọc cao lên 50cm, nếu có nhu cầu sử dụng thì lại cắt tiếp Thân lá cắt được sử dụng làm thức ăn cho dê, làm phân xanh hoặc phủ gốc cây lâu năm để tạo mùn (theo Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [24].
Theo Từ Quang Hiển và cs (2002) [10] đưa ra khoảng cách cắt một số giống cỏ phổ biến như sau: cỏ voi có tuổi thu cắt lứa sinh trưởng (tính từ lúc trồng tới lúc thu hoạch lần đầu - lứa đầu) là khi cây được từ 2 - 2,5 tháng và những lần cắt lứa tái sinh sau đó thì phụ thuộc vào mùa vụ, đối với vụ hè thu
cứ 30 - 50 ngày và vụ đông xuân cứ 50 - 65 ngày cắt một lần; tương tự với cỏ pangola thu hoạch lứa đầu khi cây được từ 2 - 3 tháng, các lứa tiếp theo cũng tùy theo mùa vụ, cắt ở 50 - 60 ngày đối với vụ hè thu và 60 - 90 ngày đối với
vụ đông xuân; cỏ Tây Nghệ An (cỏ ghi nê) cắt lứa đầu lúc cây được 50 - 70 ngày, cắt lứa tiếp theo lúc cây 40 - 50 ngày đối với vụ hè thu và 70 - 80 ngày đối với vụ đông xuân
Bùi Quang Tuấn (2005a) [44] khi tăng tuổi thu cắt của cỏ voi từ 30 ngày tuổi lên 60 ngày tuổi, tỷ lệ chất khô tăng, xơ thô tăng từ, trong khi đó tỷ lệ protein thô giảm Tương tự ở cỏ ghi nê cũng như vậy Còn theo nghiên cứu của
Vũ Chí Cương và cs (2010) [6] cho biết, khi tăng tuổi thu cắt của cỏ voi từ 35 ngày tuổi lên 50 ngày tuổi, tỷ lệ chất khô tăng, xơ thô tăng, nhưng tỷ lệ protein giảm Như vậy, hai kết quả của hai nghiên cứu này trùng khớp với nhau
Theo khảo sát của Nguyễn Thanh Nhàn và cs (2014) [27] thời điểm thu cắt có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng chất khô tích lũy của 2 dòng cao lương OPV86 và OPV88 Giá trị này đạt cao nhất ở thời điểm phân hóa hoa và trước trỗ 5 ngày (thời điểm cho năng suất cao nhất) Khối lượng chất khô tích lũy của dòng cao lương OPV86 tương ứng là 145,02 kg/ha/ngày và 144,75 kg/ha/ngày, dòng OPV88 tương ứng là 154,60 kg/ha/ngày và 138,24 kg/ha/ngày, tương đương khối
Trang 28lượng chất khô tích lũy của cỏ voi là 120,3-185,7 kg/ha/ngày và gấp 3 lần của
cỏ ghi nê là 52,5- 58,8 kg/ha/ngày
Như vậy, có thể thấy tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt không chỉ ảnh hưởng tới năng suất mà còn ảnh hưởng tới chất lượng, thành phần hóa học của cây thức ăn Khoảng cách giữa hai lần cắt vào khoảng 30- 60 ngày, tùy thuộc vào giống cây Ở tuổi như vậy, cây thức ăn vừa đạt được sản lượng cao, vừa đạt được chất lượng tốt, nâng cao tỷ lệ tiêu hóa đồng thời tạo điều kiện cho cây tái sinh tốt hơn và kéo dài tuổi thọ của cây
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về cây T gigantea
Nghiên cứu về cây T gigantea ở trong và ngoài nước chưa nhiều, dưới
đây là một số thông tin chúng tôi thu thập được
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Arango trong thử nghiệm nuôi thỏ New Zealand lấy thịt vào năm
1990 [51], thỏ được nuôi tập trung, đến 35 ngày tuổi trong KPCS được thay thế
bằng tỷ lệ T gigantea là 10%, 20% và 30% cho thấy tỷ lệ tiêu hóa tốt nhất khi
thay thế ở mức 30%, ở tỷ lệ này tăng trọng là 32,12 g/ngày và hệ số chuyển hoá thức ăn là 4,29
Có thể dùng T gigantea với tỷ lệ lên đến 30% thay thế cho protein đậu
nành trong chăn nuôi lợn Trong giai đoạn mang thai của lợn nái vẫn có thể sử
dụng lá T gigantea như một sự thay thế một phần đậu tương trong khẩu phần (Preston,1995) [72] T gigantea có thể sử dụng bằng cách cho ăn tự do hoặc
bổ sung thêm vào KPCS
Hess và Dominguez (1998) [59] đã nghiên cứu sử dụng lá cây T
gigantea làm nguồn thức ăn cho cừu, ông cho biết bột lá cây T gigantea là
một nguồn thức ăn ổn định cho cừu và mức phối hợp bột lá vào khẩu phần của cừu khoảng 20% là phù hợp
Trang 29Sarwatt và cs (2003) [76] đã nghiên cứu sử dụng lá cây T gigantea là
nguồn cung cấp protein chính cho thỏ trong chăn nuôi nông hộ tại Tanzania Kết
quả cho thấy phối hợp bột lá T gigantea vào khẩu phần của thỏ đã nâng cao khả
năng thu nhận thức ăn, sinh trưởng và tỷ lệ phần trăm thịt xẻ
Cây T gigantea có thể thu hoạch sau 4 tháng kể từ khi trồng, năng suất sinh khối lứa đầu tiên đạt khoảng 15 tấn/ha T gigantea có thể được thu hoạch
với khoảng cách cắt từ 2 đến 3 tháng, sản lượng sinh khối trung bình đạt 17 tấn/ha/lứa với chiều cao cắt 1m Trong điều kiện nóng, khô, chiều cao cắt có
thể cao hơn, 1,3-1,5 m Cây T gigantea chịu được cắt thường xuyên, ngay cả
khi không bón phân Người ta cho rằng, mặc dù không phải là cây họ đậu,
nhưng T gigantea có thể tổng hợp được đạm với sự trợ giúp của Mycorrhiza
và các vi sinh vật khác T gigantea có hàm lượng khoáng tổng số trong vật
chất khô khoảng trên 20%, trong đó hàm lượng canxi cao hơn nhiều so với các loài cây thức ăn khác (Rosales, 1997) [75]
Đất cằn cỗi, axit, T gigantea vẫn sinh trưởng được nhưng cho năng suất
thấp, chỉ khoảng 3-4 tấn chất xanh/ha/lứa với mật độ trồng 10.000 - 40.000
cây/ha Cây T gigantea phản ứng tích cực với phân bón; ở mức bón 160 kg
N/ha/năm thì sản lượng lên đến 12 tấn DM/ha/năm (Súarez và cs, 2006;) [78]
Cây T gigantea có thể được trồng thành hàng rào xanh để chống xói
mòn đất Ở Côlômbia, nó ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các chương trình phục hồi rừng ở các đồn điền cà phê và bảo vệ xói mòn xung quang bờ sông và dọc theo bờ sông (Corpoica, 2013) [55] Mặt khác, nó như một cây thuốc để chữa bệnh đau bụng và thoát vị ở ngựa, sót nhau ở bò và hạn chế các bệnh đường ruột ở động vật nuôi Đối với con người, sử dụng thân lá non của cây để chữa bệnh viêm thận, ngoài ra trong thành phần hóa học của cây
T gigantea còn có chất có tác dụng bổ máu nên người ta sử dụng mầm của nó
Trang 30để nấu cháo ngô Ở một số vùng nó được sử dụng như một thức uống lactogenic cho con bú
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Ngọc Hà và cs (1995) [9] cho biết mức bón 160 kgN/ha/năm,
sản lượng sinh khối của T gigantea đạt 63 tấn tươi /ha/năm (tương đương 8,24
tấn VCK), với hàm lượng VCK trong lá tươi là 13,1% và protein thô là 14,4%
trong VCK Tác giả cho biết sản lượng T gigantea phụ thuộc vào mùa trong
năm Mùa mưa (thu hoạch trong khoảng 200 ngày), sản lượng VCK là 5,5 tấn/ha (chiếm 67% sản lượng cả năm) Mùa khô (thu hoạch trong khoảng 165 ngày) sản lượng VCK là 2,74 tấn/ha (chiếm 33,3% sản lượng cả năm) Như
vậy, có thể nói rằng T gigantea cho năng suất sinh khối cao ngay cả trong mùa
khô ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp (tháng 11 và tháng 3)
Đậu Thế Năm (2010) [23] trong bài viết giới thiệu chung về cây T
gigantea cho biết lá cây T gigantea rất giàu đạm, khoáng, sinh tố, tỉ lệ chất xơ
tương đối thấp, là loại thức ăn ngon miệng, bổ dưỡng, rẻ tiền, dễ trồng và chăm
sóc Cây T gigantea ngoài việc cung cấp dinh dưỡng là protein với hàm lượng
cao, còn có tác dụng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi Tác giả còn cho biết
sử dụng T gigantea ở dạng lá tươi hoặc bột lá trong khẩu phần của gia cầm đã
làm giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm Cụ thể là: Bổ sung 2-4%
bột lá T gigantea và 0,2-0,3 carophill vào trong trong khẩu phần của 150 gà đẻ
thương phẩm, 800 chim cút đẻ trong 10 tuần Kết quả thu được là: năng suất trung bình và chất lượng trứng gà và chim cút giữa thí nghiệm và đối chứng không có sự sai khác nhau rõ rệt nhưng giá thành sản phẩm của lô có bổ sung
bột lá T gigantea thấp hơn Một thí nghiệm khác thực hiện với 120 vịt xiêm nuôi từ 30-90 ngày tuổi, khẩu phần được bổ sung bột lá T gigantea, kết quả
cho thấy da vịt của lô thí nghiệm có màu vàng tươi hơn so với lô đối chứng
Trang 31Cây T gigantea rất phù hợp với đất và khí hậu, thời tiết vùng Tây
Nguyên Kết quả nghiên cứu Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây
Nguyên cho thấy T gigantea trồng tại Đắc Lắc sinh trưởng và phát triển tốt,
có khả năng chống chịu hạn trong điều kiện mùa khô không tưới nước, năng suất sinh khối tương đối cao, từ 8 tấn - 13,5 tấn/ha/lứa cắt Có thể trồng xen
T gigantea trong vườn cây ăn quả và vườn điều, tiêu, cao su, cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời đây là loại cây thức ăn có thể chế biến phơi khô, ủ xanh làm thức ăn dự trữ cho gia súc Theo phân tích tại Phòng Nông
hóa thổ nhưỡng thì lá cây T gigantea có tỷ lệ VCK: 21,29%, trong vật chất khô, tỷ lệ protein thô rất cao lên tới 21,66%, lipit thô: 6,92%, xơ thô: 25,42%
Lá tươi và bột lá T gigantea bổ sung vào khẩu phần của gia cầm, gia
súc (bò sữa) đã góp phần giảm chi phí thức ăn nhưng không giảm năng suất,
chất lượng sản phẩm thịt, trứng, sữa Lá cây T gigantea có thể thay thế từ 15 -
30% thức ăn hỗn hợp (khoảng 3-6 kg lá tươi/con/ngày) trong khẩu phần bò vắt sữa giúp tăng lợi nhuận từ 5-10% do giảm chi phí thức ăn hỗn hợp trong khi năng suất, chất lượng sữa và khối lượng cơ thể của bò không bị giảm
Nguyễn Thị Hồng Nhân và Huỳnh Thị Ngọc Trinh (2012) [29] khảo
sát giá trị dinh dưỡng của cây T gigantea tại các vùng sinh thái khác nhau ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cho biết: T gigantea là loài cây có tính thích nghi với điều kiện của đồng bằng sông Cửu Long Cây T gigantea có thể
sống được trong điều kiện đất nghèo dưỡng chất Đây là loại cây thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein, khoáng cao và hàm lượng
xơ của cây tương đối thấp
Tác giả Văn Thị Ái Nguyên (2017) [26] cho biết năng suất chất xanh
năm đầu tiên của cây T gigantea với thí nghiệm trồng ngoài nắng, trồng trong
bóng râm, trồng bằng hom ngọn và hom thân tại Trà Vinh cho thấy cao nhất ở công thức trồng chè đại với nghiệm thức [nắng x hom thân] là 52,52 tấn/ha, 3
Trang 32nghiệm thức trồng còn lại [nắng x hom ngọn], [râm x hom thân] và [râm x hom ngọn] có năng suất lần lượt là 50,26; 14,25 và 14,48 tấn/ha Sự khác biệt về thành phần hóa học trong lá cây ở các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê
Văn Thị Ái Nguyên (2017) [26] thực hiện nghiên cứu xác định mức bột
lá T.gigantea thích hợp trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt, kết quả cho thấy thay thế ở mức 5% T.gigantea (dạng tươi hoặc bột) vào KPCS tự phối
trộn đã giúp giảm chi phí thức ăn nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt của gà Lương Phượng 5- 12 tuần tuổi Đặc biệt, mức sử dụng
5% bột lá T gigantea trong KPCS đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi gà
Lương Phượng tại nông hộ
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng: Cây thức ăn Trichanthera gigantea ở năm trồng thứ nhất
- Địa điểm: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Thời gian: Tháng 3 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến năng suất và thành
phần hóa học của cây T gigantea
- Xác định ảnh hưởng của tuổi thu hoạch đến năng suất và thành phần
hóa học của cây T gigantea
2.3 Phương pháp nghiên cứu
kg K20/ha/năm và phân đạm: 60 kgN/ha/lứa T gigantea được trồng bằng hom,
trồng hàng cách hàng 60 cm, cây cách cây 30 cm (60 cm x 30 cm)
Lứa 1 là lứa sinh trưởng, với các KCC 40, 50, 60, 70, 80 ngày thì thời gian cắt tương ứng của lứa 1 là 100, 110, 120, 130, 140 ngày kể từ khi trồng
Trang 34(lấy NT3 là trung bình, thời gian cắt của lứa này là 120 ngày kể từ khi trồng) Cắt cây cách mặt đất 40 - 50 cm ở lứa đầu
Bố trí thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm 1 Chỉ tiêu Đơn vị NT1 NT2 NT3 NT4 NT5
* Các chỉ tiêu theo dõi
Khí tượng, thành phần hóa học đất, năng suất, sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô, protein thô và thành phần hóa học lá
2.3.1.2 Thí nghiệm 2: Xác định mức bón đạm thích hợp cho cây
* Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức (NT1, NT2, NT3, NT4 và NT5) tương ứng với 5 mức bón đạm, đó là 0 kgN, 20 kgN, 40 kgN, 60 kgN và 80 kgN/ha/lứa Các mức bón đạm được viết ngắn gọn là 0N; 20N; 40N; 60N và 80N Bón phân chuồng 20 tấn, phân lân 40 kg P205, phân kali 80 kg K20 cho 1 ha trong 1 năm đối với cả 5 nghiệm thức
Trang 35Mỗi nghiệm thức được thí nghiệm trên diện tích 24m2 nhắc lại 5 lần (24m2 x 5 = 120 m2) Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu
nhiên T gigantea được trồng bằng hom, trồng hàng cách hàng 60 cm, cây
cách cây 30 cm (60 cm x 30 cm) Cắt lứa thứ nhất sau khi trồng 4 tháng, cắt cây cách mặt đất 40 - 50 cm, các lứa sau thu hoạch cách lứa trước 50 ngày trong mùa mưa, cách 75 ngày trong mùa khô Bố trí thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.2
Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm 2 Chỉ tiêu Đơn vị NT1 NT2 NT3 NT4 NT5
* Các chỉ tiêu theo dõi
Tốc độ sinh trưởng của cây, năng suất và sản lượng sinh khối, lá tươi, bột lá, thành phần hóa học của lá, bột lá, chi phí sản xuất bột lá
2.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
Số liệu khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa) được thu thập tại Trạm quan trắc khí tượng, thủy văn tỉnh Thái Nguyên [43]
Trang 36Thành phần hóa học đất: độ pH, nitơ tổng số, P205 tổng số và dễ tiêu,
K20 tổng số và trao đổi được phân tích theo Đoàn Văn Cung và cs (1998) [5]
Năng suất và sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô được xác định theo Từ Quang Hiển và cs (2002) [10] Cụ thể:
Cắt toàn bộ T gigantea của mỗi ô thí nghiệm và cân để tính năng suất
sinh khối của ô, mỗi ô lấy mẫu 10 kg sinh khối, tách lá ra khỏi cuống và cân lá
để tính năng suất lá, lấy mẫu lá và phân tích vật chất khô để tính tỷ lệ vật chất khô trong lá tươi trên cơ sở đó tính năng suất vật chất khô
Năng suất sinh khối, lá tươi, vật chất khô được tính bằng tạ/ha/lứa cắt Sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô được tính bằng cách cộng năng suất của tất cả các lứa cắt/năm hoặc nhân năng suất trung bình/lứa với số lứa cắt trong năm, sau đó đổi đơn vị từ tạ/ha/năm sang tấn/ha/năm Cách tính thứ 2 có sai số khoảng 1 - 3‰ so với cách thứ nhất
Thành phần hóa học lá được phân tích như sau:
Lấy mẫu theo phương pháp TCVN: 4325 - 2007 [37]
Vật chất khô của mẫu được xác định theo TCVN: 4326 - 2001[38] Hàm lượng protein thô được xác định theo TCVN: 4328 - 2007 [40] Hàm lượng xơ tổng số được tiến hành theo TCVN: 4329 - 2007 [41] Hàm lượng lipit được tiến hành theo TCVN: 4331 - 2001 [42]
Hàm lượng khoáng tổng số được tiến hành theo TCVN: 4327-2007 [39] Năng lượng thô được xác định bằng bomcalorimeter
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả thí nghiệm được xử lý thống kê theo Đỗ Thị Ngọc Oanh và Hoàng Văn Phụ (2012) [30] bằng phần mềm IRRISTART 5.0.2009
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khí tượng và thành phần hóa học đất khu vực thí nghiệm
Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh đôi khi có sương muối, lượng mưa rất thấp, còn mùa hè nắng gay gắt, nhiệt độ cao và lượng mưa cũng cao, do đó sinh trưởng của thực vật ở các mùa
vụ khác nhau có sự khác nhau Kết quả theo dõi về khí tượng tại Thái Nguyên năm 2017 được trình bày tại bảng 3.1
Bảng 3.1 Giá trị trung bình về khí tượng Thái Nguyên năm 2017 Tháng
Nhiệt độ ( o C) Độ ẩm %
Mưa (mm)
Trung
bình
Cao nhất
Thấp nhất
Trung bình
Thấp nhất
Trang 38Số liệu về giá trị trung bình khí tượng Thái Nguyên năm 2017 tại bảng 3.1 cho thấy:
Nhiệt độ trung bình năm của khu vực nghiên cứu là 24,20C Nhiệt độ trung bình vào mùa đông của các tháng 12; 1; 2 có nhiệt độ thấp nhất lần lượt là 17,2; 19,0 và 19,50C (thấp nhất là tháng 12), trong đó có những ngày hoặc từng đợt ngắn ngày hay dài ngày nhiệt độ xuống dưới 8,70C, đồng thời có sương muối Nhiệt độ cao nhất vào bốn tháng là các tháng 5, 6, 7, 8 và tháng 9 lần lượt
là 27,5; 29,3; 28,4; 28,4 và 28,40C (cao nhất là tháng 6), trong đó một số ngày trong tháng, nhiệt độ lên trên 38 - 400C
Ẩm độ không khí trung bình trong năm 2017 là 81 % Giai đoạn tháng 2; 1; 11; 12 là các tháng có ẩm độ không khí thấp, đây là các tháng mùa khô, lượng mưa ít Các tháng từ tháng 6 - 9 là các tháng mùa mưa ẩm độ không khí cao hơn, dao động từ 82 - 86 % Tuy nhiên do ẩm độ không khí trung bình của các
tháng trong năm đều cao nên thuận lợi cho T gigantea sinh trưởng và phát triển
Tổng lượng mưa trung bình cả năm là 2045,9 mm Lượng mưa các tháng trong năm phân bố không đều, lượng mưa khá cao trong các tháng 6, 7, 8, 9 với mức là: 481,1; 303,8; 397,3; và 233,9 mm (cao nhất là tháng 6) Lượng mưa đạt thấp nhất vào các tháng mùa khô (tháng 2, 3, 4, 5, 11, 12) với mức trung bình là 32,1; 80,9; 78,1; 94,6; 9,6 và 44,1 mm (thấp nhất là tháng 11)
Qua đánh giá cho thấy nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa từ tháng 4 - 10 thuận lợi cho cây thức ăn xanh sinh trưởng phát triển, các tháng còn lại kém thuận lợi
hơn, vì thế nên trồng T gigantea vào thời điểm này
Nhiệt độ, ẩm độ trung bình và lượng mưa trong các tháng được minh họa bằng đồ thị dưới đây
Trang 39Hình 3.1 Đồ thị nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa trung bình
3.1.2 Thành phần hóa học đất thí nghiệm
Trước khi tiến hành trồng thí nghiệm chúng tôi tiến hành phân tích một
số thành phần của đất như nitơ tổng số, P2O5 tổng số và dễ tiêu và pH của đất
đã được phân tích Kết quả phân tích được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm
Kết quả phân tích đất tại khu vực thí nghiệm cho thấy độ pH của đất là
6,51 Độ pH này thể hiện đất thuộc loại đất chua ít, đảm bảo cho cây T
gigantea phát triển tốt
Trang 40Tỷ lệ và hàm lượng của một số thành phần dinh dưỡng cơ bản của đất khu vực thí nghiệm như sau: Nitơ tổng số là 0,16%; P2O5 tổng số là 0,13 %;
P2O5 dễ tiêu là 21,05 mg/100 g đất; K2O tổng số là 0,91 %; K2O trao đổi là 59,72 mg/100 g đất Số liệu trên cho thấy: đất thí nghiệm thuộc loại màu mỡ trung bình Để cây thức ăn có năng suất cao và thu hoạch được lâu dài thì cần phải bón phân cho cây thức ăn khi trồng và sau mỗi lứa thu hoạch
3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất, chất lượng T gigantea
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 giai
đoạn tuổi của cây (hay 5 khoảng cách giữa hai lứa cắt), đó là 40 - 50 - 60 - 70 -
80 ngày sau khi cắt lứa trước Mỗi nghiệm thức được bố trí với diện tích 24 m2
nhắc lại 5 lần với khoảng cách trồng 60 m x 30 m đối với cả 5 nghiệm thức Kết quả thu được như sau:
3.2.1 Ảnh hưởng của KCC đến năng suất sinh khối
Năng suất sinh khối là toàn bộ thân, cành, lá của cây thức ăn xanh thu được trên 1 ha trong 1 lứa, đơn vị tính là tạ/ha/lứa Năng suất từng lứa và năng suất trung bình/lứa của các nghiệm thức được trình bày tại bảng 3.3
Bảng 3.3 Năng suất sinh khối của T gigantea ở các khoảng cách cắt