Năm 1979, để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản lý đất đai vào một hệ thống cơ quan chuyên môn, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập là cơ quan t
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ———————————
(Dự thảo)
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————
CHIẾN LƯỢC Phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030
——————————————————
MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,
là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh, quốc phòng Quản lý nhà nước về đất đai là nhu cầu khách quan, là
công cụ bảo vệ và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất đai
Trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành Quản lý đất đai Việt Nam
đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là đã tạo điều kiện để tiềm
năng đất đai trở thành nguồn nội lực phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao
chất lượng cuộc sống, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp
đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp với mục tiêu dân giầu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu, công tác quản lý đất đai vẫn còn bất cập, một số vấn đề về quan hệ đất đai chưa được giải quyết triệt để và thống nhất,
tiềm năng đất đai chưa được khai thác triệt để trong cơ chế thị trường Trong khi
đó, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học công nghệ phát triển
với tốc độ nhanh, sự hình thành của kinh tế tri thức đã có tác động đến xu hướng
phát triển của hệ thống quản lý đất đai các nước trên thế giới
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều cơ hội cũng như thách thức, ngành Quản lý
đất đai cần hoạch định chiến lược phát triển một cách toàn diện với tầm nhìn dài
hạn Vì vậy, xây dựng "Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam
giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến 2030" là quan trọng và cấp bách
"Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 -
2020 và định hướng đến 2030" cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển bền vững đối với lĩnh vực tài nguyên - môi trường trong “Định hướng
chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” trong lĩnh vực quản lý đất đai
Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam đánh giá một cách khách
quan thực trạng phát triển của Ngành, xác định rõ những thách thức mà Việt
Nam đang phải đối mặt, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp để hệ thống quản lý
đất đai của nước ta từng bước trở thành một hệ thống quản lý đất đai hiện đại
Trang 2Phần 1 THỰC TRẠNG VÀ BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN NGÀNH
I Quá trình hình thành và phát triển Ngành
1 Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ
a) Hệ thống tổ chức
Sau khi nước ta giành được độc lập, cơ quan phụ trách về quản lý đất đai của Phủ Toàn quyền Đông Dương là Sở Trước bạ - Văn tự - Quản thủ điền thổ
và Thuế Trực thu được Bộ Tài chính tiếp nhận theo Sắc lệnh số 41 ngày 03 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch nước Sau đó Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ được thành lập trong cơ cấu của Bộ Tài chính, kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở cấp tỉnh nhằm duy trì hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai Từ đó đến năm 1953, các cơ quan quản lý đất đai được sáp nhập vào Bộ Canh nông, rồi trở lại Bộ Tài chính để phục vụ mục đích thu thuế nông nghiệp Hệ thống các cơ quan địa chính, đứng đầu là Sở Địa chính tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ ngành Tài chính đến năm 1958
Sau Cải cách ruộng đất (1953 - 1958), do sự phát triển quan hệ ruộng đất mới
ở nông thôn, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập và chuyển từ Bộ Tài chính sang
Bộ Nông nghiệp Hệ thống quản lý ruộng đất được tổ chức thành 4 cấp: cơ quan quản lý ruộng đất ở Trung ương là Vụ Quản lý ruộng đất; ở cấp tỉnh là Phòng Quản lý ruộng đất; ở cấp huyện là bộ phận Quản lý ruộng đất; ở cấp xã là cán bộ quản lý ruộng đất Hệ thống cơ quan quản lý ruộng đất hoạt động trong cơ cấu ngành Nông nghiệp tới năm 1978
Năm 1979, để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản lý đất đai vào một hệ thống cơ quan chuyên môn, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lý nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đối với tất cả các loại đất Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập theo 3 cấp (tỉnh, huyện và xã) Ở cấp tỉnh có Ban quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; từ sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1987 cho tới năm 1993 hầu hết các địa phương đã chuyển Ban Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành Chi cục Quản lý đất đai hoặc Chi cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Sở Nông - Lâm nghiệp Ở cấp huyện có Phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, một số địa phương tại khu vực đô thị thành lập Phòng Quản lý nhà đất hoặc Phòng Nhà đất; từ năm
1988 - 1993 Phòng Quản lý ruộng đất sáp nhập vào các Phòng Nông Lâm nghiệp hoặc Phòng Kinh tế Ở cấp xã có cán bộ quản lý ruộng đất chuyên trách
Năm 1994, trước yêu cầu về tổ chức lại các cơ quan quản lý nhà nước và tăng cường công tác quản lý đất đai, Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc
và Bản đồ Nhà nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính Tại các địa phương đã thành lập Sở Địa chính trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
Trang 3một số thành phố lớn thành lập Sở Địa chính - Nhà đất Tại cấp huyện, từ năm
1995 cơ quan quản lý đất đai là Phòng Địa chính hoặc Phòng Địa chính - Nhà đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện Tại cấp xã, có cán bộ địa chính
Năm 2002, theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường có 2 đơn vị chuyên trách quản lý nhà nước về đất đai là Vụ Đất đai, Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai Các địa phương thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở sáp nhập Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhà nước về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước Chức năng quản lý nhà nước về đất đai do một số đơn vị cấp phòng trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện Tại cấp huyện có Phòng Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện Tại cấp xã, có cán bộ địa chính
Năm 2008, để tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực của ngành Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập, là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt động quản
lý nhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách Đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 14 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà
nước và 5 đơn vị sự nghiệp Tại cấp tỉnh, một số địa phương tiến hành thành lập
Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấu hoàn chỉnh gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng chức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp Ngoài ra còn có Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Tổ chức Phát triển quỹ đất (hiện tại trong cả nước có 63 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và 55 Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh) Tại cấp huyện, cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi trường Một số đơn vị cấp huyện đã thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (528 Văn phòng) trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường Tại cấp xã có cán bộ địa chính Tuy nhiên, hệ thống cơ quan quản lý đất đai hiện nay về cấu trúc, chức năng nhiệm vụ còn một số điểm chưa hợp lý; năng lực quản
lý đất đai các cấp còn hạn chế
Cơ sở vật chất của Ngành đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện Hiện tại, các cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện đều
có trụ sở làm việc, các trang thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc
b) Đội ngũ cán bộ
Trong giai đoạn 1960 - 1978, biên chế ở Trung ương (Vụ Quản lý ruộng đất) có khoảng 50 người; Phòng Quản lý ruộng đất trong Ty Nông nghiệp có từ
5 đến 6 người; Tổ Quy hoạch và Quản lý ruộng đất trong Ban Nông nghiệp huyện chỉ có 2 người làm công tác quản lý ruộng đất Tại một số địa phương nhiều xã, phường, thị trấn không có cán bộ chuyên trách quản lý ruộng đất
Từ năm 1980, sau khi Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý về đất đai ngành Quản lý đất đai đã nhanh chóng xây dựng một đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Khi mới thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất có gần 50 cán bộ, công nhân, viên chức; tới thời điểm sáp nhập để thành lập Tổng cục Địa chính năm 1994, đội ngũ cán bộ của Ngành đã có 139 người làm việc tại cơ
Trang 4quan Trung ương và gần 3.000 người làm việc tại các cơ quan ở địa phương (không kể cán bộ làm việc tại cấp xã) Trong thời kỳ hoạt động của Tổng cục Địa chính (1994 - 2002), đội ngũ cán bộ quản lý đất đai đã phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Ngành; thời kỳ này đội ngũ cán
bộ trực thuộc Tổng cục lên tới 2.850 người (bao gồm cả cán bộ, công nhân viên thuộc các đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp trắc địa và bản đồ, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đo đạc và lập bản đồ địa chính)
Hiện tại, toàn ngành có trên 33.000 người Trong đó, số cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm công tác quản lý đất đai theo các cấp như sau: Trung ương có trên 450 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 81%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 19%); cấp tỉnh có trên 6.000 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 72%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 28%); cấp huyện có trên 12.000 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 67%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 33%); cấp xã, phường, thị trấn có trên 11.000 cán bộ địa chính, trong đó, gần 73% đã qua các khóa đào tạo chính quy, bán chính quy (đại học 3,4%; trung học chuyên nghiệp 36,1%; sơ cấp 60,5%)
2 Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng của ngành Quản lý đất đai trong suốt quá trình phát triển là thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực đất đai, đó là bảo vệ chế độ sở hữu
và điều tiết lợi ích về đất đai Nhiệm vụ của Ngành được xác định một cách cụ thể để đáp ứng các yêu cầu quản lý và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế,
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
Thời kỳ đầu, nhiệm vụ của Ngành là bảo vệ chế độ sở hữu đất đai, thu thuế điền thổ cho ngân sách Trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Ngành tập trung vào nhiệm vụ huy động thuế nông nghiệp phục vụ kháng chiến Sau thắng lợi của cuộc Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, ngành Quản lý đất đai (Địa chính) đã thực hiện nhiệm vụ tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm diện tích ruộng đất, phục vụ việc kế hoạch hoá và hợp tác hoá nông nghiệp, tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị…
Giai đoạn 1960 - 1978, nhiệm vụ chủ yếu của ngành Quản lý ruộng đất là: "Quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp", ngành Quản lý ruộng đất đã có đóng góp to lớn trong việc mở rộng và sử dụng
có hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, xây dựng kinh tế hợp tác xã và phát triển nông thôn
Sau khi thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (năm 1979), sự kiện đánh dấu bước khởi đầu quá trình thống nhất công tác quản lý đất đai là việc ban hành Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ, trong đó quy định 7 nhóm nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 cũng quy định 7 nhóm nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai, cơ bản như quy định tại Quyết định 201/CP Cho đến nay, Luật Đất đai đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới bốn lần vào các năm 1993, 1998, 2001 và 2003; nội dung quản lý nhà nước về đất
Trang 5đai luôn được kế thừa, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế; cụ thể đã phát triển thành 13 nhóm nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Nhiệm vụ của ngành Quản lý đất đai trong giai đoạn hiện nay gồm: xây dựng trình cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng ký quyền
sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai; quản lý tài chính về đất đai; quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; quản lý, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
II Thực trạng các hoạt động của Ngành
1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai Ngay từ ngày đầu thành lập, công tác xây dựng các chính sách pháp luật đất đai của Ngành đã thể chế hoá được các chủ trương chính sách của Đảng gắn với mục tiêu, yêu cầu của thời đại là "độc lập dân tộc và người cày có ruộng", tạo ra động lực hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và củng cố khối liên minh công nông làm cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam
Hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ xâm lược ở miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1954 -1975) tập trung vào thực hiện mục tiêu hoàn thành cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân; xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Chính sách công hữu hoá đất đai giai đoạn này đã tạo điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật như thuỷ lợi, giao thông nội đồng, giao thông nông thôn; quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh lớn Sau khi đất nước thống nhất (1975), chính sách đất đai chủ yếu nhằm củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, thực hiện hợp tác hoá gắn liền với thuỷ lợi hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước chuyển từ chế độ sở hữu tư nhân về đất đai sang hình thức sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước về đất đai
Hiến pháp năm 1980 với quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân" và "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai" là nền tảng cho xây dựng hệ thống pháp luật đất đai, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các mối quan hệ đất đai Bước chuyển quan trọng của thời kỳ này là việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất theo Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1979 Khái niệm “ruộng đất” đã được mở rộng ra ngoài phạm vi đất nông nghiệp, bao gồm
Trang 6mọi loại đất trong phạm vi ranh giới hành chính Quyết định 201/CP là bước khởi đầu để xây dựng và ban hành Luật Đất đai đầu tiên năm 1987
Năm 1987, trước yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, ngành Quản lý đất đai đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai đầu tiên của nước
ta với điểm đột phá về chính sách là chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài, tạo nên động lực phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa nước ta từ chỗ thiếu đói phải nhập khẩu lương thực
đã sản xuất đủ lương thực bảo đảm an ninh lương thực quốc gia sau hai năm đổi mới và sau bốn năm đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba trên thế giới Luật cũng có quy định để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giao đất ở, đất xây dựng đô thị, phát triển công nghiệp…
Năm 1993, nhận thức được vai trò của đất đai trong việc tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 1993 với đổi mới căn bản là thừa nhận đất đai có giá và được lưu thông như hàng hóa trên thị trường Người sử dụng đất, bên cạnh quyền được sử dụng đất đúng mục đích theo quy định của pháp luật còn có các quyền giao dịch về đất đai, đó là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Giá đất do Nhà nước quy định để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1998 và 2001
Năm 2003, nhằm khắc phục những bất cập, tồn tại và xử lý những vấn đề phát sinh mà pháp luật đất đai năm 1993 chưa quy định, đồng thời tiếp tục đổi mới chính sách đất đai phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2003 Luật này tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền của người sử dụng đất; khắc phục một bước rất quan trọng tình trạng bao cấp về giá đất, thừa nhận cơ chế thị trường trong việc xác định giá đất; đẩy mạnh phân cấp quản lý và tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản
lý nhà nước về đất đai; cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai vào nền nếp
Để triển khai Luật Đất đai, Ngành đã xây dựng, trình Chính phủ và Thủ tướng ban hành nhiều nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị; xây dựng và ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật
Tuy hệ thống chính sách, pháp luật đất đai đã được điều chỉnh, bổ sung thường xuyên, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết một số vấn đề vướng mắc trong thực tế Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nhiều, nhưng chưa đồng bộ, thiếu ổn định Một số văn bản quy phạm pháp luật về đất đai thuộc thẩm quyền địa phương ban hành còn chậm, nhiều văn bản nội dung hướng dẫn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai
2 Điều tra cơ bản về đất đai
Năm 1958, Ngành đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ thổ nhưỡng miền
Trang 7Bắc tỷ lệ 1/1.000.000, sơ bộ phân loại đất và phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam Từ 1961 đến 1964, đã hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng vùng Đồng bằng và Trung du Bắc bộ tỷ lệ 1/50 000 Đến 1974 đã hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh ở phía Bắc Từ 1976 đến 1985 hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh của các tỉnh phía Nam
Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất ở nước ta được bắt đầu từ năm 1968, chủ yếu là phân hạng đất nông nghiệp ở một số tỉnh phía Bắc Đến năm 1980, Ngành đã tổ chức thực hiện phân hạng đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước Kết quả của công tác đánh giá, phân hạng đất, phân hạng đất lúa khái quát toàn quốc để phục vụ cho chương trình phát triển lương thực quốc gia, phân hạng đất lúa nước tại các địa phương để phục vụ cho việc tính thuế sử dụng đất nông nghiệp
Để có giải pháp bảo vệ tài nguyên đất đai, Ngành đã và đang thực hiện điều tra đánh giá thoái hóa đất, chống xói mòn đất, bảo vệ đất tại 5 vùng là Trung du Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả điều tra đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên đất trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
Công tác điều tra, thống kê, kiểm kê đất đai được Ngành thực hiện thường xuyên: Điều tra, phân phối đất đai (1964 - 1965); điều tra thống kê đất nông nghiệp (1966 - 1967); điều tra thống kê đất nông nghiệp, đất có khả năng nông nghiệp và đất chuyên dùng khác (năm 1969); tổ chức điều tra đất hoang hóa tại 2.380 xã thuộc các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ (năm 1977); điều tra thống kê tình hình đất đai trong toàn quốc (năm 1977 - 1978) Từ năm 1990 đến nay, công tác thống kê đất đai hàng năm và công tác kiểm kê đất đai (5 năm một lần) được ngành Quản lý đất đai thực hiện có hiệu quả Ngoài ra, còn tổ chức nhiều cuộc thống kê chuyên đề nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu phục vụ quản lý nhà nước về đất đai Từ đó đã xây dựng được bộ số liệu về đất đai để phục vụ hoạch định chính sách, lập quy hoạch, kế hoạch của các ngành kinh tế -
xã hội, an ninh - quốc phòng
Hạn chế chủ yếu của công tác điều tra cơ bản là chậm đổi mới về phương pháp, công nghệ; độ chính xác chưa cao; điều tra chưa tập trung, còn chồng chéo; kết quả điều tra chưa được chỉnh lý cập nhật thường xuyên Việc xử lý, lưu trữ, thông tin còn bất cập, tài liệu điều tra chưa được khai thác có hiệu quả
3 Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Các hoạt động trên có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, được thực hiện nhằm thiết lập cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất của từng chủ sử dụng đất đến từng thửa đất; làm cơ sở để quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
a) Đo đạc lập bản đồ địa chính
Công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa được thực hiện từ năm 1958 ở một
số địa phương miền Bắc Sau khi thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (năm
Trang 81979), công tác điều tra, đo đạc lập bản đồ giải thửa đã được triển khai trên toàn quốc theo Chỉ thị số 299/TTg Từ năm 1990, với mục tiêu thành lập tư liệu đo đạc bản đồ địa chính có độ chính xác cao, theo hệ thống chuẩn thống nhất, Ngành đã triển khai đo vẽ bản đồ địa chính trong hệ toạ độ quốc gia Đến nay cả nước đã thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính với diện tích 23.200.000 ha, đạt 70,3% tổng diện tích tự nhiên Bản đồ địa chính hiện nay được lập bằng công nghệ số hoặc số hoá bản đồ địa chính lập theo công nghệ cũ
b) Đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
Do đặc điểm lịch sử, những năm trước đây, hồ sơ đất đai ban đầu chưa đầy đủ, phân tán, thiếu chính xác, không đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đất đai Từ năm 1980, để nắm chắc, quản chặt đất đai, ngành Quản lý đất đai đã triển khai công tác đăng ký đất đai, lập bộ hồ sơ địa chính ban đầu Đến nay, trên 92% hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất; đã lập sổ mục kê đất cho 85,9% số xã; lập sổ địa chính cho 79,3% số
xã Việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý là một tiến bộ quan trọng trong công tác quản lý đất đai
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được triển khai từ năm
1987 Từ năm 2009, thực hiện Nghị quyết số 07/2007/QH12 và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ, ngành Quản lý đất đai đã triển khai việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Tính đến tháng 5 năm 2010, cả nước đã cấp được 30.378.713 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với diện tích 17.685.613 ha, trong đó đã cấp chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 86,0%; diện tích đất lâm nghiệp đạt 72,0%; diện tích đất ở nông thôn đạt 81,0%; diện tích đất ở đô thị đạt 71,8%; diện tích đất chuyên dùng đạt 40,1%
c) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Với mục tiêu quản lý đến từng thửa đất bằng công nghệ số từ Trung ương đến đơn vị hành chính cấp xã, Ngành đã từng bước chuẩn hóa dữ liệu địa chính
và xây dựng dữ liệu số đến từng thửa đất Hiện nay, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng thống nhất và bước đầu đã phát huy tác dụng
Công tác lưu trữ, thông tin đất đai đang từng bước được hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu cập nhật, tra cứu, sử dụng cho các mục tiêu khác nhau Công nghệ GIS phát triển đã cung cấp khả năng mới cho việc sử dụng bản đồ địa chính, đó
là xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên cơ sở các loại bản đồ dạng số, đặc biệt là bản đồ địa chính, giúp cho việc xử lý, quản lý và khai thác thông tin đất đai có hiệu quả
Tuy nhiên, công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ
sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai còn một số hạn chế Hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất hiện nay
Trang 9còn mang tính thủ công, thực hiện thiếu thống nhất ở các địa phương Công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất chưa theo kịp tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, do đó hạn chế hiệu quả đầu tư đo vẽ bản đồ Cơ sở dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính thiếu về số lượng và kém về chất lượng, không được cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai và thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện chậm, không đạt được mục tiêu đề ra đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền
sử dụng đất của tổ chức và hộ gia đình cá nhân, hạn chế việc giao dịch quyền
sử dụng đất trên thị trường bất động sản
4 Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch trước đây chủ yếu là phục vụ phân vùng sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và phục vụ phân bổ dân cư, lao động Từ năm 1987, Ngành đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn, phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất, kết quả là đã xây dựng được hệ thống văn bản, tài liệu hướng dẫn về công tác lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất khá đầy đủ, khoa học
Ở cấp quốc gia ngành Quản lý đất đai đã hoàn thành xây dựng, trình Quốc hội phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cả nước giai đoạn 1996 - 2000; quy hoạch
sử dụng đất cả nước đến năm 2010 Ở địa phương, đã có 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ xét duyệt; có 90% huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 80% đơn vị hành chính cấp xã hoàn thành việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 Hiện nay, Ngành đang tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất cả nước và các cấp giai đoạn 2011 - 2020
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện việc kế hoạch hoá quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư, tạo bước đi hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo nguồn cung về quỹ đất cho thị trường bất động sản; việc công khai quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất cấp xã đã từng bước nâng cao dân chủ cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia, giám sát việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên đất đai
Chất lượng lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của các cấp tại địa phương, nhìn chung đã có nhiều tiến bộ nhưng thực sự chưa đạt yêu cầu đề ra Tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, đặc biệt cấp huyện, xã còn chậm; nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn những bất cập như chưa phân định rõ cấp độ, nội dung của quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp; chưa đảm bảo nguyên tắc quy hoạch sử dụng đất cấp trên định hướng cho quy hoạch sử dụng đất cấp dưới; chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng; chưa thực sự gắn với mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo an ninh lương thực; trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thiếu sự giám
Trang 10sát chặt chẽ, chưa tuân thủ triệt để nguyên tắc chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải là chỉ tiêu pháp lệnh; việc áp dụng các công nghệ tiên tiến trong
lập và giám sát quy hoạch còn nhiều hạn chế
5 Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất là thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước về đất đai nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho các đối tượng khác nhau Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa ba khu vực là nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ theo từng thời kỳ Thông qua việc giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất, Nhà nước đảm bảo quyền của người sử dụng đất; người sử dụng đất yên tâm đầu tư trên diện tích đất được giao, được thuê để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Việc giao đất, cho thuê đất làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả Chính sách giao đất, cho thuê đất đã và đang tạo ra sức hút đầu tư trong nước và nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Đến nay tổng diện tích đất đã giao, đã cho thuê là 25,16 triệu ha, chiếm 76,4% tổng diện tích tự nhiên của cả nước Trong đó, diện tích sử dụng theo các nhóm đối tượng: hộ gia đình, cá nhân 12,45 triệu ha, chiếm 49,55%; các tổ chức kinh tế trong nước 5,53 triệu ha, chiếm 21,98%; Ủy ban nhân dân xã 3,71 triệu
ha, chiếm 11,28%; tổ chức, cá nhân nước ngoài, liên doanh với nước ngoài 0,31 triệu ha, chiếm 0,12%; các đối tượng khác 3,42 triệu ha, chiếm 13,59%
Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất còn một số hạn chế: cơ chế thuê đất để thực hiện dự án đầu tư giữa tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân với tổ chức, cá nhân nước ngoài vẫn còn tạo ra sự bất bình đẳng không chỉ về kinh
tế mà cả trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vẫn là một trong những vấn đề vướng mắc ở nhiều địa phương, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, chưa tạo được sự đồng thuận giữa người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền địa phương; việc thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện thiếu sự thống nhất giữa các dự án thu hồi đất để sử dụng vào mục đích vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng với các dự án thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội; các quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người bị thu hồi đất còn thiếu ổn định và có sự khác nhau giữa các địa phương đã gây nên sự mất công bằng đối với người sử dụng đất
6 Tài chính đất đai và thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Ngành Quản lý đất đai đã cùng với ngành Tài chính tham mưu cho Chính phủ quy định phương pháp xác định giá đất, khung giá các loại đất, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng giá đất cụ thể tại địa phương và công bố vào ngày 01/01 hàng năm nhằm phục vụ kịp thời cho công tác quản lý đất đai và bồi thường, giải phóng mặt bằng tại địa phương Hệ thống định giá đất hiện hành có nhiều đổi mới, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, góp phần tăng cường công tác quản lý đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 11Nguồn thu từ đất chủ yếu hình thành từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các loại thuế và phí Nguồn thu từ đất liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trước khi ban hành Luật Đất đai 2003, nguồn thu từ đất chủ yếu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất và thuế chuyển quyền sử dụng đất Trong giai đoạn 1994 - 1998, tổng thu từ đất khoảng 2.000 tỷ đồng mỗi năm; tổng thu năm 1999 đạt 3.641 tỷ đồng Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, tỷ lệ các khoản thu từ đất có rất nhiều thay đổi, nguồn thu chính là tiền sử dụng đất, chiếm khoảng 80% tổng các khoản thu từ đất Tổng thu từ đất năm 2004 là 17.594 tỷ đồng, trong đó tiền sử dụng đất là 14.202 tỷ đồng (chiếm 80,7%) Hiện nay, hàng năm nguồn thu từ giao đất, cho thuê đất chiếm khoảng 7,25% tổng thu ngân sách; năm 2009 thu khoảng 45.405 tỷ đồng, trong đó tiền sử dụng đất là 36.304 tỷ đồng (chiếm 80,0%)
Việc nghiêm cấm mọi hình thức mua bán, chuyển nhượng đất đai được bãi bỏ từ khi ban hành Luật Đất đai 1993 đã làm thay đổi căn bản thị trường quyền sử dụng đất, từ hoạt động không hợp pháp chuyển sang hoạt động công khai, hợp pháp Giao dịch đất đai ngày càng sôi động, đặc biệt ở những nơi có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đưa đất đai thành một nguồn lực tạo vốn mạnh mẽ Các tổ chức môi giới, định giá, tư vấn pháp lý, tín dụng, sàn giao dịch từng bước được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp đã hỗ trợ tích cực cho thị trường bất động sản Thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản khi hoạt động đúng chức năng và vận hành hoàn chỉnh sẽ tạo ra nguồn thu hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước
Những hạn chế trong quản lý tài chính đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản:
Công tác định giá đất chưa đáp ứng được yêu cầu giá quy định sát giá thị trường; hiện nay giá đất do Nhà nước quy định vẫn chỉ bằng từ 30% tới 60% giá đất chuyển nhượng thực tế Chưa tổ chức được hệ thống theo dõi giá đất trên thị trường để làm cơ sở định giá đất phù hợp Công tác thẩm định giá đất còn một
số hạn chế, đội ngũ cán bộ định giá đất chưa được đào tạo cơ bản, hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm, nghiệp dư
Sự phát triển của thị trường quyền sử dụng đất đôi khi còn mang tính tự phát, bị các yếu tố đầu cơ chi phối, tạo nên những biến động thị trường một cách cực đoan, đặc biệt tại các khu vực đô thị, khu công nghiệp và những nơi mà sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đang diễn ra mạnh mẽ Tại khu vực nông thôn, thị trường quyền sử dụng đất chưa phát huy được hết tiềm năng
Nguồn thu từ đất đai chưa tương xứng với tiềm năng quỹ đất Chính sách thuế và phí trong lĩnh vực quản lý đất đai chưa điều tiết hợp lý nguồn thu từ đất vào ngân sách nhà nước; chưa trở thành công cụ quản lý thị trường, chống đầu
cơ về đất đai, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
7 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về
Trang 12đất đai đã giúp chính quyền địa phương chủ động, kịp thời giải quyết dứt điểm
các mâu thuẫn, khiếu kiện, tranh chấp kéo dài; huy động được nhiều lực lượng trong xã hội cùng tham gia Các địa phương đã đặt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đất đai; một số địa phương đã đổi mới công tác tiếp công dân, kiện toàn bộ máy
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
Qua thanh tra, kiểm tra đã xử lý và chấn chỉnh, ngăn chặn các sai phạm; hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Đặc biệt, trong những năm qua công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo, tranh chấp về đất đai đã hạn chế khiếu kiện vượt cấp, tạo niềm tin trong nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội
Mặc dù tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai tuy có giảm nhưng lại diễn biến phức tạp Các vi phạm pháp luật về đất đai, đặc biệt tình trạng tham nhũng trong quản lý đất đai vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương nhưng một số vụ việc chưa được thanh tra, phát hiện và xử lý kịp thời
8 Nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
a) Nghiên cứu khoa học - công nghệ
Trước năm 1983, hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ của Ngành tập trung vào điều tra cơ bản phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp Trong 10 năm (1983 - 1993) ở cấp Trung ương đã thực hiện 2 chương trình nghiên cứu cấp Bộ, ngành: xây dựng tổng sơ đồ quản lý, sử dụng vốn tài nguyên đất dài hạn (1986 - 1990); sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất đai môi trường (1991 - 1995) Từ năm 1983 đến nay (2009) đã thực hiện 126 đề tài, trong đó có 14 đề tài cấp
cơ sở, 110 đề tài cấp bộ, 2 đề độc lập cấp nhà nước, 3 dự án thử nghiệm, 5 dự án phục vụ cho các mục tiêu của ngành Quản lý đất đai Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học - công nghệ được ứng dụng vào thực tế quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương
b) Hợp tác quốc tế
Chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế đã được cụ thể hóa trong các chương trình và kế hoạch hành động của Ngành Trong giai đoạn 1983 - 1993, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã có quan hệ với 17 nước và 3 tổ chức quốc tế Trong giai đoạn 1994 - 2002, Tổng cục Địa chính đã chủ trì thực hiện 19 chương trình, dự
án do Chính phủ Bang Tây Ôxtrâylia, Vương quốc Thụy Điển, Hà Lan, Nhật Bản, Pháp và các tổ chức UNDP, ADB… viện trợ không hoàn lại nhằm tăng cường năng lực quản lý đất đai
Hiện nay, ngành Quản lý đất đai đã mở rộng quan hệ hợp tác với trên 30 quốc gia và tổ chức quốc tế với 8 chương trình, dự án được thực hiện trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với phương châm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 13c) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Công tác đào tạo nguồn nhân lực có bước phát triển đáng kể, từ một vài trường trung cấp trước đây, nay đã có hàng chục trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo chuyên ngành về quản lý đất đai với chất lượng ngày càng cao Trung bình hàng năm đã đào tạo được hàng nghìn cử nhân, kỹ sư và nhiều tiến
sỹ, thạc sỹ đáp ứng cho nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của Ngành Riêng các trường đại học, cao đẳng, trung học trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đào tạo được trên 21.000 cán bộ, hàng nghìn công nhân
Một số hạn chế của công tác nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực: hoạt động nghiên cứu chủ yếu còn giới hạn trong nghiên cứu ứng dụng, chưa có những nghiên cứu đột phá về lý luận hoặc phương pháp luận; công tác đào tạo, xây dựng được đội ngũ cán bộ nghiên cứu chưa đủ mạnh cả về số lượng và trình độ; chưa tạo được mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên với các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu ngoài ngành Quản lý đất đai Mặc dù có nhiều chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài nhưng do đội ngũ cán bộ chuyên môn còn hạn chế về ngoại ngữ nên việc tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm của các đối tác nước ngoài còn hạn chế
Nét nổi bật trong bối cảnh hiện nay là quá trình toàn cầu hóa đang diễn
ra rộng khắp và sâu sắc trên toàn thế giới cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Toàn cầu hóa về kinh tế sẽ kéo theo toàn cầu hóa mọi lĩnh vực tạo nên xu thế chung trong khu vực và quốc tế là hợp tác cùng phát triển Nhu cầu hợp tác chi phối sự lựa chọn chiến lược phát triển của tất cả các ngành nói chung và chiến lược phát triển của ngành Quản lý đất đai nói riêng
Hội nhập quốc tế vừa mang lại cơ hội vừa đặt ra nhiều thách thức Mặc
dù hội nhập quốc tế một cách chủ động, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện các công ước quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu trong điều kiện
Trang 14hạn chế về nguồn lực và kinh nghiệm
Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, tiếp tục phát triển nhảy vọt, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức đã tác động nhiều mặt và làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực về đời sống xã hội của tất cả các quốc gia Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế
là điều khó tránh khỏi
Đất đai bị suy thoái, hủy hoại ngày càng nhanh hơn do nhiều nguyên nhân, đặc biệt do tác động của môi trường, biến đổi khí hậu với nhiều biểu hiện đa dạng như ngập lụt, hoang mạc hóa, xói mòn, sạt lở, rửa trôi, chua hóa, mặn hóa, ô nhiễm, khủng hoảng hệ sinh thái đất… Bên cạnh đó, việc sử dụng đất cũng có tác động không nhỏ tới chất lượng môi trường, làm thay đổi các yếu tố khí hậu
An ninh lương thực không chỉ bị đe doạ bởi tình trạng suy thoái nguồn tài nguyên đất mà còn chịu tác động mạnh mẽ của tình trạng gia tăng dân số và thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm tỷ trọng diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã và đang diễn ra một cách mạnh mẽ
b) Một số xu hướng phát triển công tác quản lý đất đai của các nước trên thế giới
Trong công tác quản lý đất đai, xu hướng phát triển của các nước trên thế giới có một số điểm chính sau đây:
Quản lý đất đai dân chủ là tâm điểm viễn cảnh toàn cầu của các hệ thống quản lý đất đai Sự tham gia của người dân và cộng đồng vào quá trình ra quyết định, sự minh bạch thông tin, sự công bằng quyền lợi giữa các nhóm lợi ích là những tiêu chí cơ bản của quản lý đất đai dân chủ
Quản lý đất đai điện tử và địa chính không gian ba chiều là xu hướng kỹ thuật - công nghệ ngày càng trở nên phổ biến và là hệ quả tất yếu của tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
Xã hội hoá cung cấp dịch vụ công đã được kiểm chứng trong nhiều hệ thống quản lý đất đai Các cơ quan cung cấp dịch vụ công có thể là tổ chức tư nhân được Nhà nước trao quyền để thực hiện một số chức năng công quyền, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động của mình
Quản lý đất đai hướng tới xác định và thực thi các chính sách đất đai, ngày càng quan tâm tới thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa người và đất phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
2 Bối cảnh trong nước
a) Các yếu tố trong nước tác động tới sự phát triển của Ngành
Yếu tố chính sách, pháp luật quyết định tính chất các mối quan hệ đất
đai, đồng thời định hướng sự phát triển hệ thống quản lý đất đai Hạt nhân của các quan hệ đất đai chính là quan hệ sở hữu Chế độ sở hữu quy định những vấn
Trang 15đề cơ bản trong chức năng, nhiệm vụ, quy trình quản lý của hệ thống quản lý đất đai ở Việt Nam
Các công nghệ mới dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin trong đo vẽ bản
đồ, tổ chức và quản lý dữ liệu đất đai, công nghệ mạng máy tính… đã và đang trở nên phổ biến ở Việt Nam Ngành Quản lý đất đai đứng trước cơ hội đồng thời cũng là thách thức phải xây dựng một hệ thống quản lý đất đai điện tử Hệ thống bản đồ và dữ liệu đất đai khác phải được xây dựng dưới dạng số, thiết lập
cơ sở dữ liệu địa chính điện tử, xây dựng hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu, triển khai hệ thống đăng ký đất đai điện tử, đăng ký qua mạng…
Nhu cầu sử dụng đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng do phải đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá, phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo an ninh lương thực Ngoài ra, tình trạng dân số tăng và suy thoái tài nguyên đất càng tạo thêm áp lực lớn đối với công tác quản lý đất đai
b) Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của Ngành
Những thuận lợi, cơ hội
Ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, hệ thống cơ quan quản lý đất đai đã phát triển ở cả bốn cấp hành chính Đội ngũ cán bộ quản lý đất đai rất đông đảo, được đào tạo có hệ thống và kinh qua nhiều hoạt động, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn
Hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, công nghệ được phát triển qua nhiều năm
và từng bước đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Hội nhập thế giới về các mặt kinh tế, công nghệ đã tạo cơ hội cho các ngành nói chung, ngành Quản
lý đất đai nói riêng tiếp thu các phương pháp kỹ thuật, công nghệ hiện đại để hội nhập với sự phát triển của các nước trên thế giới
Đất đai là vấn đề nóng, là tâm điểm chú ý của xã hội Nhà nước và toàn
xã hội đều quan tâm tới chính sách, pháp luật đất đai, tới công tác quản lý đất đai Nhu cầu về phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại là động lực để Nhà nước và toàn xã hội tạo điều kiện, cung cấp các nguồn lực để ngành Quản lý đất đai phát triển
Những khó khăn, thách thức
Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, sự phát triển của ngành Quản lý đất đai cũng phải đối mặt với nhiều thách thức:
Hệ thống tổ chức của ngành được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, đã khẳng định tính phù hợp của cơ cấu tổ chức với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội hiện tại, nhưng chưa khẳng định sự phù hợp với yêu cầu của một
hệ thống quản lý đất đai hiện đại, vận hành trong cơ chế thị trường phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng
Nguồn nhân lực của toàn ngành từ Trung ương đến địa phương hùng hậu về số lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện tại nhưng chưa được đào tạo đầy đủ để đáp ứng yêu cầu vận hành các thiết bị và ứng dụng công nghệ hiện đại Việc đào tạo đội ngũ cán bộ không chỉ đòi hỏi nguồn kinh
Trang 16phí lớn mà còn đòi hỏi nhiều thời gian
Cơ sở hạ tầng trang thiết bị kỹ thuật công nghệ được đầu tư xây dựng, mua sắm từ nhiều nguồn, nhiều chương trình, dự án khác nhau nên mặc dù có đủ tính năng và số lượng nhưng còn thiếu đồng bộ Sự đồng bộ của trang thiết bị là yêu cầu cơ bản để một hệ thống thiết bị vận hành có hiệu quả; tuy nhiên đây lại
là một thách thức lớn bởi vì phải tập trung nguồn kinh phí lớn, đặc biệt vì sự đồng bộ ở nhiều cấp khác nhau
Cơ chế phân cấp ngân sách hiện nay tạo điều kiện cho các địa phương chủ động phân bổ nguồn lực theo khả năng và nhu cầu phát triển của từng địa phương Tuy nhiên, đây cũng là một trở ngại cho việc tập trung nguồn vốn đủ lớn để phát triển đồng bộ một ngành, đặc biệt đối với các địa phương có nguồn ngân sách hạn hẹp
Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai vẫn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành Đầu cơ đất đai đã trở thành phổ biến với những quy mô khác nhau, gây nên những cơn sốt trên thị trường bất động sản, đẩy giá đất tăng cao một cách bất hợp lý, tăng chi phí đầu tư, giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội
Phần 2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH
I Quan điểm phát triển
Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030 được xây dựng trên cơ sở các quan điểm:
1 Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Nguồn tài nguyên đất đai của nước ta rất hạn chế, phải đối mặt với nhiều nguy cơ suy giảm về diện tích và chất lượng, quỹ đất ngày càng khó đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành; vì vậy, việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng phải hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm
2 Phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững là định hướng chủ đạo và yêu cầu xuyên suốt trong công tác quản lý đất đai Việc quản lý, sử dụng đất phải vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo quỹ đất sử dụng lâu dài cho các thế hệ mai sau
3 Ngành Quản lý đất đai phải phát triển theo hướng hiện đại hoá trên cơ
sở ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng mô hình tổ chức tiến tiến Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ phải là một trong những đột phá chiến lược chính để phát triển ngành Quản lý đất đai Mô hình tổ chức phải chuyển đổi phù hợp với
Trang 17quy trình quản lý dựa trên ứng dụng công nghệ hiện đại
4 Nâng tầm đóng góp của đất đai và ngành Quản lý đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng thúc đẩy việc vận dụng các quan hệ kinh tế song song với các quan hệ hành chính trong hoạt động quản lý; xã hội hóa cung cấp dịch vụ công; tăng cường sử dụng các công cụ tài chính nhằm nâng cao nguồn thu ngân sách, đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các lợi ích từ đất đai
5 Con người là trung tâm, là động lực và nhân tố quyết định trong chiến lược phát triển Ngành Việc đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ ngành Quản lý đất đai vừa có chuyên môn, nghiệp vụ cao vừa có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần, thái độ phục vụ tốt đáp ứng được mọi nhu cầu của phát triển bền vững phải được coi là nhiệm vụ then chốt
II Mục tiêu phát triển
1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu phát triển tổng quát của ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 -
2020 là hoàn thiện hệ thống quản lý đất đai, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững Chuyển trọng tâm hoạt động của Ngành từ quản lý chủ yếu bằng các công cụ hành chính sang phối hợp các công cụ quản lý hành chính và kinh tế, xã hội hoá cung cấp dịch vụ công Phấn đấu đến năm 2030 đạt trình độ quản lý đất đai hiện đại, ngang với mặt bằng các nước phát triển trong khu vực
2 Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu phát triển cụ thể của ngành Quản lý đất đai bao gồm nâng cao năng lực của hệ thống cơ quan, đội ngũ cán bộ và hoàn thiện hệ thống các công cụ quản lý, cụ thể như sau:
(1) Hệ thống chính sách, pháp luật đất đai phải là cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, minh bạch nhằm bảo đảm an toàn đối với quyền sử dụng đất, phát huy tối đa tiềm năng đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành và lĩnh vực của một nước công nghiệp phát triển, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội
(2) Hệ thống quy hoạch sử dụng đất phải được hoàn thiện đảm bảo phân bổ tài nguyên đất đai hợp lý, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và thực sự trở thành công cụ quản lý nhà nước về đất đai
(3) Các công cụ tài chính được hoàn thiện đủ mạnh để điều tiết hợp lý lợi ích từ đất đai, tạo nguồn thu ổn định và nâng tỷ lệ đóng góp cho ngân sách, đảm bảo công bằng xã hội; định hướng thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản phát triển một cách lành mạnh
(4) Hệ thống hành chính trong lĩnh vực đất đai được hoàn thiện trên cơ sở tăng cường năng lực cơ quan và đội ngũ cán bộ, cải cách hành chính, thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo giải quyết các thủ tục về
Trang 18đất đai một cách đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện cho người sử dụng đất; tạo
cơ chế cho các tổ chức ngoài hệ thống cơ quan công quyền cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý đất đai Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai; nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật đất đai
(5) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Ngành được phát triển có đầy đủ trang bị thiết bị với công nghệ hiện đại Đẩy mạnh điều tra cơ bản, xây dựng hạ tầng thông tin chuyên ngành đầy đủ, đảm bảo đủ thông tin, tư liệu cần thiết để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai
III Định hướng phát triển đến năm 2030
Định hướng phát triển đến năm 2030 là xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại của một nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển, đạt trình độ ngang mặt bằng của các nước phát triển trong khu vực
Công tác quản lý đất đai phải được ổn định về hệ thống pháp luật, hệ thống tổ chức, cơ chế giám sát và giải pháp tổ chức thực hiện đảm bảo điều chỉnh được mọi quan hệ đất đai trong nền kinh tế công nghiệp phát triển vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp tục xây dựng các luật chuyên ngành về đất đai, tạo cơ sở để xây dựng Bộ Luật đất đai
Tự động hóa, tin học hoá toàn bộ hệ thống quản lý đất đai trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống tư liệu, hồ sơ đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai và các công cụ quản lý khác trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai
Nâng cao tính dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, có sự tham gia tích cực của người dân trong xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật, trong quy trình xây dựng và ban hành các quyết định và trong việc kiểm tra, giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật đất đai
IV Nhiệm vụ phát triển giai đoạn 2010 - 2020
Các nhiệm vụ phát triển của ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 - 2020 tập trung vào 12 điểm chính sau đây:
1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai nhằm giải quyết triệt
để một số vấn đề còn bất cập về cơ chế, chính sách đất đai trong các lĩnh vực: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tài chính đất đai; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai; thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử
lý vi phạm về đất đai; chính sách đất đai đối với đất nông nghiệp, đất giao cho
hộ gia đình;
- Xây dựng và ban hành Luật Đất đai mới thay thế Luật Đất đai 2003, các văn bản hướng dẫn thi hành luật; xây dựng và ban hành một số luật chuyên ngành trong lĩnh vực đất đai như: Luật về định giá đất, Luật về quyền sử dụng