1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

phan tich kha nang tiep can von cua ho ngheo

64 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhóm khách hàng của NHCSXH dù là hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn hay những người đi xuất khẩu lao động, muốn tiếp cận được nguồn vốn phải qua các tổ tiết kiệm vay vốn bình x

Trang 1

TÓM TẮT

Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang trong năm 2010 Đề tài sử dụng mô hình Probit và mô hình Tobit để ước lượng mức ảnh hưởng của các biến độc lập đến các biến phụ thuộc dựa trên thông tin của hộ nghèo qua kết quả phỏng vấn trực tiếp 152 hộ nghèo tại 3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của huyện Kết quả chỉ ra rằng, khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo bị ảnh hưởng bởi giới tính, tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ và thu nhập bình quân người đầu người của hộ Trong khi đó giới tính, tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ, quen biết với chính quyền địa phương, diện tích đất, thu nhập bình quân, và khoảng cách từ nhà đến chợ xã ảnh hưởng đến lượng vốn vay của hộ nghèo tại huyện Gò Quao

Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp số liệu thứ cấp từ các ngân hàng, UBND huện Gò Quao để phân tích tình hình cấp tín dụng cho hộ nghèo, đánh giá tác động của vốn vay đối với hộ nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Gò Quao

Dựa trên kết quả phân tích, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng ccao khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo tại huyện Gò Quao

Trang 2

ABSTRACT

The study was done to evaluate the influence of factors to access loans for poor households in Go Quao district, Kien Giang province in 2010 The study used Probit model and Tobit model to estimate the effects of the independent variables to the dependent variables based on data from direct interviews with

152 poor households in 3 communes having highest poverty rate in the district

The results show that the ability to access loans for poor households affected by gender, age, education level of the household head and income per capita of households Whereas gender, age, education level of the household head, acquaintance with local authorities, land area, income per capita, and the distance from home to the commune market affect the amount of loan for poor households Go Quao district

In addition, the study also synthesized secondary data from local banks and the People's Committee of Go Quao district to analyze the situation of credit

to the poor and assess the impact of loans on poor households and the poverty reduction in Go Quao district

Based on the results of the analysis, the study suggested some solutions to improve access to loans for poor households in Go Quao district

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG Error! Bookmark not defined

TÓM TẮT iv

ABSTRACT v

MỤC LỤC vi

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4.1 Địa bàn nghiên cứu 3

1.4.2 Thời gian nghiên cứu 3

1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

1.6 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

2.1.1 Khái niệm đói nghèo 5

2.1.2 Tiêu chí về đói nghèo 6

2.1.3 Đặc điểm của người nghèo ở Việt Nam 7

2.1.4 Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo 8

Trang 4

2.1.5 Tín dụng đối với hộ nghèo 8

2.1.6 Lý thuyết về tiếp cận tín dụng 10

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 15

2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 15

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 16

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN GÒ QUAO 23

3.1 MỘT SỐ TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 23

3.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở HUYỆN GÕ QUAO 25 3.2.1 Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) 27

3.2.2 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 28

3.2.3 Ngân hàng thương mại cổ phần 29

3.2.5 Các chương trình đặc biệt của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ 29

3.2.6 Các hình thức tín dụng phi chính thức 30

3.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY HỘ NGHÈO 31

3.3.1 Tình hình cho vay hộ nghèo tại huyện Gò Quao 31

3.3.2 Đánh giá tác động của vốn vay với công tác xoá đói giảm nghèo 32

CHƯƠNG 4 : PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG VÀ LƯỢNG VỐN VAY CỦA HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN GÕ QUAO 35

4.1 MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 35

4.1.1 Thông tin chung về hộ nghèo của mẫu điều tra 35

4.1.2 Thông tin về tình hình vay vốn 36

4.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA HỘ NGHÈO Ở HUYỆN GÕ QUAO 39

4.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG VỐN VAY CỦA HỘ NGHÈO Ở HUYỆN GÕ QUAO 41

Trang 5

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN

TÍN DỤNG CỦA HỘ NGHÈO Ở HUYỆN GÕ QUAO 44

5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 44

5.1.1 Nguyên nhân tồn tại 44

5.1.2 Phương hướng của các cấp về tín dụng hộ nghèo 44

5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN VAY CỦA HỘ NGHÈO Ở HUYỆN GÕ QUAO 45

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

6.1 KẾT LUẬN 48

6.2 KIẾN NGHỊ 48

6.2.1 Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan có liên quan 48

6.2.3 Kiến nghị đối với các TCTD 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.2: Các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong phân tích hồi qui 21 Bảng 3.1: Huy động vốn và dƣ nợ từng TCTD trên địa bàn năm 2010 26 Bảng 3.2: Tình hình vay vốn của hộ nghèo từ năm 2006-2010 31

Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu thống kê từ mẫu khảo sát 35

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NGO’s Tổ chức phi chính phủ

NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội

NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

Trang 8

Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Giảm nghèo là một chính sách an sinh xã hội quan trọng trong chiến lược kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội

Vì vậy, Chính phủ đã đưa ra chiến lược xóa đói giảm nghèo nhằm tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, dịch vụ, nâng cao thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, bảo đảm xóa đói giảm nghèo bền vững bằng nhiều giải pháp chiến lược trong đó chính sách tín dụng cho người nghèo là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ trực tiếp đến người nghèo

Trong những năm gần đây, chính sách tín dụng ưu đãi đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân nông thôn, giúp họ phát triển các loại hình sản xuất Song, trên thực tế, nhiều nông dân, đặc biệt là người nghèo, vẫn không biết tiếp cận nguồn vốn tín dụng bằng cách nào Hiện cả nước có 4 ngân hàng thương mại nhà nước, hơn 40 ngân hàng thương mại cổ phần, gần 1.000 quỹ tín dụng nhân dân

và Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) Tuy nhiên, trong số hàng nghìn tổ chức tín dụng này, chỉ có 2 ngân hàng có ưu tiên cho các chương trình giảm nghèo là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) và NHCSXH Lãi suất cho vay trung bình ở các ngân hàng thương mại hiện nay là khoảng 1,6-1,7%/tháng, trong khi đó, nếu được vay vốn ưu đãi của Nhà nước, người nghèo chỉ phải trả lãi suất 0,65%/tháng Tuy nhiên, không phải người nghèo nào cũng có may mắn tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước

Sau 8 năm hoạt động, đã có 100% số xã trên toàn quốc có hộ nghèo tiếp cận các dịch vụ của NHCSXH Tuy nhiên, tiện ích này không đồng nghĩa với việc dễ “cầm” được nguồn vốn vay Các nhóm khách hàng của NHCSXH dù là

hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn hay những người đi xuất khẩu lao động, muốn tiếp cận được nguồn vốn phải qua các tổ tiết kiệm vay vốn bình xét theo các tiêu chí, năng lực lao động, sức khỏe và hiệu quả sản xuất kinh doanh và được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận là hộ nghèo trước khi tới ngân hàng Hiện nay, NHCSXH có 197.507 tổ tiết kiệm, khoảng 5,7 triệu người nghèo đã được ngân hàng cho vay vốn trong năm qua với tổng dư nợ 43.940 tỉ đồng Tuy nhiên, ngoài 5,7 triệu người nghèo đã tiếp cận nguồn vốn vay vi mô thì còn khoảng 5 triệu hộ nghèo khác và hộ cận nghèo chưa có ngân hàng phục vụ và việc họ tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng quốc doanh và ngân hàng thương mại rất xa vời

Tại huyện Gò Quao, hộ nghèo là 8,88% dân số của huyện với 2.928 hộ, tổng dư nợ cho vay hộ nghèo đạt gần 27,5 tỷ đồng với 1.928 hộ vay Tỷ lệ hộ

Trang 9

nghèo được vay vốn chỉ đạt khoảng 65,47%% Như vậy còn một số lượng lớn hộ nghèo chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng trên địa bàn

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nghèo để đảm bảo hộ nghèo tiếp cận được vốn vay nhiều hơn, các nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nghèo để họ có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao mức sống, thoát nghèo bền vững

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên

Giang làm đề tài tốt nghiệp

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo để đề ra giải pháp phù hợp

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Mục tiêu 1: Phân tích tình hình cho vay hộ nghèo tại huyện Gò Quao;

- Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo trong huyện;

- Mục tiêu 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của hộ nghèo trong huyện;

- Mục tiêu 4: Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo trong huyện

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Thực trạng tình hình cho vay hộ nghèo tại địa phương như thế nào?

- Tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận các nguồn vốn là bao nhiêu?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của họ?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến lượng vốn vay của họ?

- Cần có giải pháp gì để nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo tài địa phương?

Trang 10

1.4 GiỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Địa bàn nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tình hình cho vay hộ nghèo của huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang

Dữ liệu để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo được tiến hành thu thập trên 03 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất huyện là xã Định An, Định Hòa, Thới Quản

1.4.2 Thời gian nghiên cứu

Phân tích tình hình vay vốn đối với hộ nghèo năm 2006 đến năm 2010 Tiến hành phỏng vấn điều tra trực tiếp tới hộ tháng 03,04 năm 2011

Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 02 đến tháng 08 năm 2011

1.5 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Đề tài phân tích tình hình vay vốn và khả năng tiếp cận vốn vay nguồn tín dụng chính thức của hộ nghèo tại huyện Gò Quao

1.6 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

Nghiên cứu Nathan Okurut (2005) về những nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng đối với người nghèo và người da màu ở Nam Phi Nghiên cứu sử dụng số liệu điều tra thu nhập và chi tiêu năm 1995 và năm 2000, bằng việc sử dụng mô hình đa thức Logit và mô hình Heckman Probit, tác giả cho rằng việc tiếp cận tín dụng của người nghèo bị ảnh hưởng bởi tuổi, giới tính của chủ hộ, số thành viên trong hộ, chi tiêu bình quân đầu người, trình độ học vấn và chủng tộc Tác giả cho rằng người nghèo và người da đen ở Nam Phi có hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức Việc tiếp cận tín dụng bán chính thức tác động tích cực bởi số thành viên trong hộ, chi tiêu bình quân đầu người, địa phương và chủng tộc Các yếu tố tác động tiêu cực đến việc tiếp cận tín dụng bán chính thức là giới tính, vị trí nông thôn, hộ nghèo và chủng tộc Việc tiếp cận tín dụng phi chính thức tác động tích cực bởi địa phương và hạn chế bởi trình độ học vấn và chủng tộc

Theo Lê Văn Ngân, Lê Khương Ninh (2005) việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của nông hộ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: diện tích đất, trình độ học vấn, số lao động trong hộ, số người còn phụ thuộc, độ tuổi, giới tính của chủ

hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010) về khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân ở vùng cận ngoại thành Hà Nội, sử dụng mô hình hồi qui hai bước của Heckman để ước lượng ảnh hưởng

Trang 11

của các nhân tố đến việc tiếp cận tín dụng chính thức Nghiên cứu cho thấy, khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ dân bị ảnh hưởng bởi độ tuổi và địa vị xã hội của chủ hộ, tín dụng không chính thức và thủ tục vay vốn rườm rà Trong khi đó, trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất, thu nhập của hộ, tài sản thế chấp và mục đích vay vốn là các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay được

Âu Vi Đức (2008) đã nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo

ở tỉnh Hậu Giang Đề tài đã sử dụng mô hình phân tích Logit và Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và quy mô vốn vay của hộ nghèo Kết quả đề tài cho thấy bằng khoán đất, tổng giá trị tài sản và chi tiêu của

hộ là những yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và quy mô vốn tín dụng của hộ nghèo

Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương (2009) về các nhân tố hỗ trợ và cản trở

hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững, xem xét nguồn vốn có thể vay của hộ theo điều kiện kinh tế cho thấy: Hộ có thu nhập càng cao thì khả năng vay vốn càng lớn Trình độ học vấn cũng là rào cản đối với việc tiếp cận nguồn vốn nhưng nó không phải là rào cản trực tiếp mà gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của hộ Lý do mà các hộ này không vay được vốn có nhiều song chủ yếu vẫn là: thủ tục còn rườm rà, phức tạp, thiếu sổ đỏ để thế chấp vay vốn và thời hạn vay ngắn , trong đó thời hạn cho vay ngắn được coi là rào cản lớn nhất đối với khả năng vay vốn của nông hộ

1.7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI

Bố cục của đề tài gồm những phần chính như sau:

- Chương 1: Giới thiệu đề tài

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Phân tích thực trạng cho vay hộ nghèo tại huyện Gò Quao

- Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo tại huyện Gò Quao

- Chương 5: Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo tại huyện Gò Quao

- Chương 6: Kết luận và Kiến nghị

Trang 12

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Khái niệm đói nghèo

Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng(2009) đã khái niêm về đói nghèo như sau: nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất mát và những đột biến bất lợi, không được người khác tôn trọng đó là những khía cạnh của nghèo

Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định

Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) định nghĩa nghèo theo thu nhập như sau: Nếu một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm ( Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia

Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau

để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access) và nghèo sức mạnh (poverty of power)

2.1.1.1 Nghèo thu nhập

Thu nhập hay mức tiêu dùng bình quân vẫn được đo lường, thông qua các con số và tỷ lệ, mức chuẩn nghèo quốc gia và quốc tế, hệ số Gini, để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia

Tuy nhiên, dù phải dùng những con số để dễ đo lường và định lượng, cũng không thể mô tả hết hình thù nghèo đói cũng như đánh giá mức độ và khả năng thoát nghèo Thậm chí những con số thống kê còn có thể làm hạn chế hiểu biết về tình trạng nghèo đói thực sự

Mức thu nhập chỉ là một dấu hiệu của nghèo hay thoát nghèo, nhưng đã không mô tả được nguyên nhân và tình trạng dễ tổn thương, bấp bênh giữa ranh giới nghèo đói và thoát nghèo Quan trọng hơn thu nhập, cái họ thiếu (hay nghèo) nhất là nguồn tích lũy an toàn cho cuộc sống, thông tin và định hướng về thị trường và những phương cách sản xuất nông sản phù hợp từng thời điểm, nguồn vốn vay an toàn (để không phải “vay nóng”) Những yếu tố này không phải là không có, nhưng người nghèo đã không thể tiếp cận được Chính vì vậy,

Trang 13

nghèo đói về thu nhập liên quan rất chặt chẽ đến tình trạng nghèo tiếp cận trong

chính họ hay không

Người nghèo không chỉ nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, họ còn đang rất nghèo sức mạnh Họ chưa đủ sức lên tiếng chất vấn về những lý do mình “có sổ” hay “mất sổ” hộ nghèo, chưa biết tìm chỗ để hỏi “tôi nên trồng gì, nuôi gì để không bị thua lỗ nữa”, người dân ở khu quy hoạch vẫn chưa đủ sức đối thoại với nhà đầu tư và Nhà nước về quyền lợi và phương kế mưu sinh bền vững mà các

dự án có thể đem lại cho họ

2.1.2 Tiêu chí về đói nghèo

Một trong những tiêu chí để đánh giá tình tình đói nghèo là chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu

Chuẩn nghèo quốc gia là mức chi phí cho một loạt nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực và phi lương thực thiết yếu, cho phép con người có một cuộc sống khỏe mạnh Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau

để đánh giá mức độ giàu nghèo

Để đảm bảo tính so sánh quốc tế của chỉ tiêu tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo, Ngân hàng Thế giới đưa ra 2 mức chuẩn là thu nhập dưới 1 đô la Mỹ 1 ngày và thu nhập dưới 1 đô la Mỹ 1 ngày được chuyển đổi theo sức mua tương đương (PPP - Purchasing Power Parity) của đô la Mỹ năm 1993, có nghĩa là tương đương với mức 1,08 USD/ngày/người và mức 1,16 USD/ngày/người của năm 2002

Trang 14

Tiêu chuẩn được Tổng cục Thống kê sử dụng trong các cuộc điều tra mức sống dân cư là mức tiêu thụ 2.100 ca-lo/ngày/người giống như một số quốc gia khu vực

Năm 2000, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra ngưỡng nghèo mới làm căn cứ xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho giai đoạn 2001- 2005 Ngưỡng nghèo đó được ấn định cho từng khu vực: nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006-2010 là từ 200.000 và 260.000 đồng một người một tháng trở xuống tương ứng với khu vực nông thôn và thành thị

Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

2.1.3 Đặc điểm của người nghèo ở Việt Nam

Người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống khác hẳn với những khách hàng khác thể hiện:

- Người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp

- Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường Do đó, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa và đối tượng sản xuất kinh doanh thường thay đổi

- Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hóa của người nghèo cũng tác động tới nhu cầu tín dụng

- Khoảng cách giữa ngân hàng và nơi người nghèo sinh sống đang là trở ngại, người nghèo thường sinh sống ở những nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém

Trang 15

- Người nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu hoặc những ngành nghề thủ, công buôn bán nhỏ Do vậy, mà nhu cầu vốn thường mang tính thời vụ

2.1.4 Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo

Nước ta đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu, tình trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu xã hội, gắn liền với mục tiêu xóa đói giảm nghèo Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển

Hỗ trợ cho người nghèo là một tất yếu khách quan Xuất phát từ lý do của

sự đói nghèo có thể khẳng định rằng: mặc dù kinh tế đất nước có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về xóa đói giảm nghèo thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo được

Hiện nay, chính phủ đã có các chính sách, giải pháp để tạo cơ hội cho hộ nghèo vươn lên như tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ tiếp cận với thị trường và cộng đồng; kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN với các chương trình khác như chương trình khuyến nông, chương trình phát triển các ngành công nghiệp

và dịch vụ, chương trình phủ xanh đồi núi trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước sạch nông thôn…

Thực tế cho thấy, có rất nhiều hình thức hỗ trợ để thực hiện chương trình XĐGN nhưng hình thức tín dụng có hoàn trả là hiệu quả hơn cả Để thấy tính ưu việt của nó, chúng ta hãy tìm hiểu vai trò của kênh tín dụng đối với hộ nghèo

2.1.5 Tín dụng đối với hộ nghèo

2.1.5.1 Khái niệm

Tín dụng là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay Hay nói cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn, thu hồi món vay … Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan

Trang 16

Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội

Về mặt bản chất, tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới là:

- Người nghèo quá nhiều (hàng tỷ) Họ vừa là vấn đề phải giải quyết, họ cũng chính là phương tiện giải quyết vấn đề Hay nói cách khác, họ phải tự giúp

họ

- Người nghèo, nếu có cơ hội làm ra tiền, sẽ thanh toán nợ (tất nhiên tâm

lý xù nợ ở người nghèo là có, nhưng sẽ có cách kiểm soát)

- Tài chính vi mô (microfinance) sẽ là trung gian tài chính để đưa vốn đến người nghèo

2.1.5.2 Vai trò của tín dụng đối với hộ nghèo

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu và

cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là

“chìa khoá” để người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói Do không đáp ứng đủ vốn nhiều người rơi vào tình thế lẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất mong đảm bảo được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe dọa họ Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn

là một cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ gia đình nghèo Khi đó, giải quyết được vốn cho người nghèo có tác động hiệu quả thiết thực

- Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói

- Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn

- Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

- Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội

- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới

Trang 17

2.1.6 Lý thuyết về tiếp cận tín dụng

2.1.6.1 Các phương pháp tiếp cận tín dụng

Có nhiều quan điểm khác nhau về phương pháp tiếp cận tín dụng, đặc biệt

là đối với hộ nghèo Theo Lê Khương Ninh (2004) thì có những phương pháp tiếp cận tín dụng sau:

a Phương pháp tiếp cận cổ điển

Tại các nước đang phát triển, thị trường không hoàn hảo hạn chế vai trò của các trung gian tài chính trong thị trường tín dụng Phương pháp tiếp cận cổ điển cho rằng, ở các nước đang phát triển, thu nhập thấp giới hạn tiềm năng tiết kiệm Vì thế, vai trò của Chính phủ trong việc tăng tiết kiệm, tạo tín dụng và cấp vốn cho những nơi cần thiết là vô cùng quan trọng Về mặt nhu cầu tín dụng, tín dụng được xem là đầu vào quan trọng trong sản xuất và việc không sẵn có vốn là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm tăng trưởng và làm giới hạn cơ hội đầu tư của người dân cũng như doanh nghiệp

Do đó, nền nông nghiệp ở những nước đang phát triển cũng sẽ tăng trưởng chậm lại vì thiếu nguồn cung tín dụng Mặt khác, lãi suất trên thị trường tín dụng quá cao so với những hộ vay nhỏ Điều này buộc họ phải tìm nguồn vốn thiết yếu khác cho đầu tư tăng năng suất Từ đó, nó tạo ra khe hở cho những người cho vay độc quyền kiếm lời Vì vậy, phương pháp tiết kiệm cổ điển chú trọng việc khuyến khích giá đầu vào Tức là việc giảm lãi suất sẽ làm giảm chi phí đầu vào trong sản xuất và tạo nên sự khuyến khích cần thiết cho việc hình thành vốn sản xuất Điều này sẽ làm tăng tốc độ học hỏi của người dân trong việc đầu tư và cải thiện kỹ thuật trong sản xuất Trong trường hợp này, trường phái cổ điển ủng hộ cho các chính sách tín dụng lãi suất thấp như lãi suất trần, luật chống cho vay nặng lãi và lãi suất trợ cấp, … Theo trường phái này, vai trò của các chương trình tín dụng của Chính phủ trở nên rất quan trọng trong việc can thiệp vào việc lập ngân quỹ cho từng vùng cụ thể, đặc biệt là nông nghiệp, từng nhà sản xuất cụ thể, đặc biệt là các công ty nhỏ và nông dân vì đây là những thành phần dễ bị ảnh hưởng nhất của thị trường chưa hoàn hảo

b Phương pháp tiếp cận kìm hãm tài chính

Cũng giống như trường phái cổ điển, trường phái kìm hãm tài chính cũng cho rằng, thị trường tín dụng bị phân khúc và kém hoàn hảo Tuy nhiên, trường phái kìm hãm tài chính cũng phản bác lại những lập luận của trường phái cổ điển, trường phái kìm hãm tài chính cho rằng, các chính sách tài chính của chính phủ đã kìm hãm thị trường tài chính phát triển theo đúng hướng của nó Họ cho rằng, Chính phủ đã can thiệp quá sâu vào giá cả trên thị trường tự do

Trang 18

Việc ấn định lãi suất thấp trong cho vay chính thức đã phá hỏng cân bằng

về cung - cầu trong hệ thống tài chính và bóp méo nhu cầu về các khoản vay Do

đó, tín dụng rơi vào những khách hàng vay lớn, vào những người có quyền lực chính trị và vào những người có sự bảo trợ

Cho nên, lý thuyết kìm hãm tài chính tập trung vào cả hai mặt: lượng tiền tiết kiệm và lượng tiền cho vay trong thị trường tài chính Về nguồn cung tín dụng, lý thuyết này căn cứ vào lập luận là các cá nhân sẽ chú trọng đến lợi nhuận khi họ gửi tiền trong điều kiện có rủi ro Trong đó, lợi nhuận là lãi suất của các khoản tiết kiệm và rủi ro gửi tiền là tỷ lệ lạm phát

Do đó, theo phương pháp tiếp cận “sự co giãn lãi suất” cho rằng, lãi suất thực cao và sự cố định giá cả là điều kiện cho việc thu hút các nguồn tiền tiết kiệm Ngược lại, lãi suất tín dụng thấp sẽ kìm hãm sự phát triển của các tổ chức tài chính chính thức Vì có trần lãi suất, các ngân hàng không thể tăng nguồn huy động tiết kiệm, họ phụ thuộc phần lớn vào khung cấp tín dụng của ngân hàng trung ương Từ đó, họ không thể huy động được những nguồn tiết kiệm khác, đặc biệt là khu vực nông thôn

Ngoài ra, trong bất kỳ trường hợp nào, mức lãi suất thấp và không cân bằng sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng trong chỉ định các nguồn cung ứng tín dụng Theo một số kết quả nghiên cứu cho rằng, chính sách lãi suất thấp

sẽ dẫn đến tăng nhu cầu về các khoản vay, tạo nên áp lực về đầu cơ và buộc phải đưa ra các cơ chế không định giá Điều này làm cho các ngân hàng cung cấp “tín dụng lãi suất thấp”, nhưng thực tế lại khác, mặc dù lãi suất danh nghĩa có thể thấp, nhưng chi phí tiền mặt và chi phí cơ hội của người vay trong suốt thời gian thực hiện thủ tục vay vốn là rất cao

Bên cạnh đó, với mức lãi suất bắt buộc, các tổ chức tài chính tái phân phối lại danh mục tín dụng cho những hộ lớn quen biết hơn là lập quan hệ với những

hộ vay nhỏ và các khách hàng có rủi ro cao hơn Hơn nữa, tín dụng lãi suất thấp cũng là cơ hội cho những kẻ tìm kiếm khe hở độc quyền Điều này không chỉ dẫn đến thị trường tín dụng hoạt động kém hiệu quả và bị xuyên tạc mà còn cản trở việc vay vốn của người nghèo và làm tăng cơ hội cho tham nhũng và quan liêu

Mặt khác, theo trường phái kìm hãm tài chính cho rằng, với một lượng nhỏ quỹ, người nông dân chỉ có thể đầu tư kỹ thuật lạc hậu và họ sẽ nhận phần lợi nhuận thấp Ngược lại, nếu anh ta có đủ vốn, anh ta sẽ tiếp cận với kỹ thuật hiện đại Từ đó, lợi nhuận sẽ cao và sẽ làm cho mức tiết kiệm tích lũy của anh ta vượt xa ngưỡng thấp nhất ban đầu Cho nên, lãi suất cao sẽ khuyến khích người gửi tiền mà không kiềm hãm đầu tư

Trang 19

Vì vậy, các cách giải quyết chính sách theo lý thuyết kiềm hãm tài chính

là giải phóng tự do cho tài chính và hạn chế sự can thiệp của Chính phủ vào mọi mặt trên thị trường tài chính Điều này cũng bao gồm việc hạn chế mọi hình thức quản lý giá như lãi suất trần, hạn ngạch tín dụng, ngân quỹ cho vay và bù lỗ, …

c Phương pháp tiếp cận hiện đại

Trường phái này cho rằng nguồn vốn cho vay trong thị trường tài chính nông thôn phải được hình thành chủ yếu từ nguồn tiết kiệm Do đó, tích cực huy động tiết kiệm để tạo nguồn cho vay là rất quan trọng Hơn nữa, chính sách tạo ra những cơ hội tiết kiệm tốt giúp đỡ người nghèo hiệu quả hơn chính sách lãi suất thấp Vốn tiết kiệm sẽ giúp người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói (thu nhập thấp, không dư thừa cho tiết kiệm, không đầu tư, năng suất thấp, thu nhập thấp) Ngoài ra, huy động vốn tốt có nghĩa là nguồn vốn trong xã hội được sử dụng hiệu quả hơn và đảm bảo tính phát triển bền vững của các tổ chức tài chính vì nó giảm sự phụ thuộc của ngân hàng đối với các nguồn vốn bên ngoài và đáp ứng được nhu cầu tín dụng của khách hàng, đánh giá tốt hơn về khả năng tín dụng của khách hàng, đồng thời cũng giảm chi phí và khả năng đổ vỡ tín dụng thấp hơn

Ngoài ra, trường phái này chỉ ra rằng thị trường tài chính nông thôn thường bị phân đoạn và hoạt động không hoàn hảo Sự cố gắng của Chính phủ trong việc mở rộng mạng lưới các tổ chức tài chính, tín dụng nông thôn vẫn không thể đáp ứng hết nhu cầu dịch vụ tài chính, tín dụng đa dạng của người dân Bên cạnh đó, việc hạn chế tín dụng tồn tại ngay cả trong thị trường cạnh tranh tự

do vì cơ chế lãi suất đã không đủ khả năng cân bằng giữa cung và cầu của tín dụng Mặt khác, do thiếu các định chế tài chính chính thức ở thị trường tài chính nông thôn nên những người có nhu cầu vay nhỏ, đặc biệt là những người nghèo, thường không gia nhập được thị trường tài chính chính thức

Vì vậy, hai hướng giải quyết của trường phái tiếp cận hiện đại là tổ chức lại các định chế tài chính truyền thống, xây dựng các định chế tài chính mới để các định chế này hoạt động năng động hơn, gần khách hàng hơn nhằm giảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả hoạt động Hướng giải quyết thứ hai là thực hiện mối liên kết giữa thị trường tài chính chính thức và phi chính thức Các tổ chức tín dụng chính thức sẽ sử dụng các tổ chức tín dụng phi chính thức như là kênh dẫn vốn của mình Ở nhiều nước đang phát triển như Đài Loan, Indonesia, … Việc vận dụng các lý thuyết mới đã giúp hệ thống tài chính nông thôn phát triển vững mạnh và hoạt động có hiệu quả, đóng góp nhiều vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Đặc biệt là cung ứng tốt các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng cho các hộ nông dân và các hộ nghèo

Trang 20

2.1.6.2 Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo

Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng được đánh giá trên hai tiêu chí là khả năng nhận được các khoản vay và tổng số tiền vay mà hộ nhận được Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau có thể chia thành các nhóm chính như sau:

a Các nhân tố thuộc đặc điểm của hộ

Bao gồm các nhân tố như: Tuổi, giới tính, trình độ học vấn, địa vị xã hội, dân tộc của chủ hộ, diện tích đất, giá trị tài sản, số lao động, số người phụ thuộc, thu nhập của hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích vay vốn, nơi cư

trú của hộ,…

b Các nhân tố thuộc các tổ chức tín dụng, nơi cho vay

Bao gồm lãi suất cho vay, thủ tục vay vốn, thời hạn cho vay, quy mô của

* Những nhân tố thúc đẩy việc tiếp cận nguồn vốn sinh kế

Tỷ lệ hộ vay vốn tại địa bàn có các dự án chia sẻ là khá cao, đặc biệt là tỷ

lệ hộ nghèo vay được vốn là tương đối lớn Có được điều này là do có 3 sự tác động hỗ trợ:

- Thứ nhất, trên các địa bàn có nhiều nguồn tín dụng mà các hộ nông dân

có thể tiếp cận như Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, các quỹ hỗ trợ phát triển, các dự án

- Thứ hai, có sự đóng góp rất lớn của Ngân hàng Chính sách Xã hội thông qua việc áp dụng chính sách cho vay tín chấp với lãi suất ưu đãi

- Thứ ba là sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội thông qua việc đứng ra bảo lãnh tín chấp cho nông dân vay vốn và hướng dẫn làm thủ tục vay vốn

Nhìn chung, thủ tục vay vốn đơn giản, thời gian làm thủ tục vay vốn ngắn, bình quân khi vay vốn mỗi hộ phải đến ngân hàng 2,3 lần và thời gian trung bình

từ lúc nộp hồ sơ đến lúc vay được là 19 ngày, có được điều này là do trong những năm qua các ngân hàng đã tinh giảm tối đa các thủ tục rườm rà khi cho

Trang 21

nông hộ vay vốn và đặc biệt là do có sự hỗ trợ làm thủ tục vay vốn, đứng ra bảo lãnh tín chấp của các đoàn thể chính trị xã hội Qua điều tra cho thấy, nhiều phụ

nữ, người dân tộc thiểu số, người không biết chữ - những người không có khả năng làm thủ tục vay vốn đều được các đoàn thể đứng ra hướng dẫn làm thủ tục vay vốn Sự tồn tại của các đoàn thể chính trị xã hội thực sự là nhân tố hỗ trợ đối với việc tiếp cận vay vốn của hộ nông dân, đặc biệt là hộ nghèo, dân tộc thiểu số, phụ nữ và người mù chữ

* Những nhân tố cản trở việc tiếp cận nguồn vốn sinh kế

Xem xét nguồn vốn có thể vay của hộ nông dân theo điều kiện kinh tế cho thấy: Hộ có thu nhập càng cao thì khả năng vay vốn càng lớn Mặc dù đa số người nghèo đều có thể vay được vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội nhưng khả năng vay được vốn của họ từ tất cả những nguồn vốn khác rất kém, bên cạnh

đó việc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội luôn gặp phải những rào cản như: phải có đợt cho vay, hạn mức cho vay thấp, người vay vốn phải là người

tham gia các tổ chức đoàn thể… Do vậy, thu nhập thấp cũng là rào cản trong

việc vay vốn

Trình độ học vấn cũng là rào cản đối với việc tiếp cận nguồn vốn nhưng

nó không phải là rào cản trực tiếp mà gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của nông hộ Chúng ta đã biết, mặc dù tại các địa phương luôn có các tổ chức đoàn thể hỗ trợ rất tích cực trong việc làm thủ tục vay vốn cho các nông hộ, các

tổ chức đoàn thể không những giúp đỡ được phụ nữ và người nghèo có trình độ thấp vay vốn mà còn giúp đỡ được cả những người mù chữ, người không biết nói tiếng phổ thông vay vốn

Lý do mà các hộ không vay được vốn có nhiều song chủ yếu vẫn là: thủ tục còn rườm rà, phức tạp, thiếu sổ đỏ để thế chấp vay vốn và thời hạn vay ngắn , trong đó thời hạn cho vay ngắn được coi là rào cản lớn nhất đối với khả năng vay vốn của nông hộ Thông thường thời gian vay vốn của các hộ chỉ được khoảng 3 năm, với khoảng thời gian này các hộ không kịp quay vòng thì đã phải trả cả lãi lẫn gốc, trong khi đó một số tổ chức tín dụng cho các hộ nông dân vay vốn với thời gian dài nhưng yêu cầu phải có tài sản thế chấp, lãi suất lại cao, nếu người nông dân vay được ở những nguồn vay thì cùng khó có khả năng trả nợ bởi lãi ngân hàng có thể cao hơn cả lãi của người sản xuất Bên cạnh đó, không

có sổ đỏ hoặc thủ tục rườm rà, thời gian xét duyệt lâu cũng là những lý do đáng

kể để hộ không vay được vốn Đây thực sự là rào cản trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay phục vụ cho nhu cầu sản xuất của bà con nông dân

Mặc dù các ngân hàng và tổ chức tín dụng đã tinh giảm tối đa các thủ tục vay vốn rườm rà, phức tạp và các hộ nông dân luôn có các tổ chức đoàn thể ở bên cạnh hỗ trợ nhưng vẫn còn tình trạng khó khăn trong khi làm thủ tục vay

Trang 22

vốn, nguyên nhân chính là do năng lực xây dựng phương án xin vay của cả nông

hộ và cán bộ hướng dẫn vẫn còn nhiều hạn chế Đây cũng là một rào cản làm giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính của nông hộ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Gò Quao là huyện vùng sâu, có nhiều xã có hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên với thời gian và kinh phí hạn chế, đề tài chỉ chọn thu thập dữ liệu tại 3 xã Định An, Định Hòa, Thới Quản vì đây là 3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất huyện

và có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống

2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

2.2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo năm của Ngân hàng Nông nghiệp, NHCSXH, Ngân hàng Kiên Long trên địa bàn, các báo cáo năm của UBND huyện, từ Niên giám thống kê Gò Quao năm 2008 và 2010

2.2.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

Như vậy với cỡ mẫu tối thiểu 130 là có thể đáp ứng nghiên cứu của đề tài

b Phương pháp chọn mẫu và thu mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu hạn mức theo tiêu thức địa bàn cư trú Dựa vào danh sách hộ nghèo của UBND xã cung cấp, chọn đối tượng theo xóm

ấp có hộ nghèo cư trú đông, sống liền cư để tiến hành phỏng vấn trực tiếp

Trang 23

c Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập số liệu sơ cấp bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu điều tra để thu thập các thông tin cần nghiên cứu trên địa bàn 03 xã có tỷ lệ

hộ nghèo cao của huyện Gò Quao, cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Thống kê địa bàn điều tra

Xã Số hộ Số hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo (%) Số mẫu điều tra

Nguồn: Thống kê từ số liệu điều tra năm 2011

Tiến hành thu thập dữ liệu trong tháng 03,04 năm 2011 bằng cách phỏng vấn trực tiếp tại nhà của hộ dân, người phỏng vấn thực hiện phỏng vấn đáp viên thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn viên điền vào phiếu điều tra

2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

2.2.3.1 Đối với mục tiêu 1

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả thông qua phân tích tần suất, tần suất tích lũy, so sánh để phân tích tình hình cho vay hộ nghèo tại huyện Gò Quao trong thời gian qua (cho mục tiêu 1) và phân tích thông tin của mẫu thu thập được

2.2.3.2 Đối với mục tiêu 2

Sử dụng mô hình Probit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vón tín dụng của hộ nghèo

Mai Văn Nam, Phạm Lê Thông, Lê Tấn Nghiêm, Nguyễn Văn Ngân (2004) đã trình bày mô hình Probit tổng quát như sau:

Y chưa biết, nó được gọi là biến ẩn Chúng ta xem xét biến giả

Yi được khai báo như sau :

Trang 24

Yi là biến phụ thuộc, đây là một biến giả, nó có giá trị là 1 nếu hộ nghèo

có tiến cận được vốn vay, là 0 nếu nghèo không tiếp cận được vốn vay

Xij là các biến độc lập, đây là các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn

vay của hộ nghèo

2.2.3.3 Đối với mục tiêu 3

Trong mô hình Probit, chúng ta xem xét biến giả phụ thuộc chỉ nhận hai giá trị 0 hoặc 1 Tuy nhiên, chúng ta có thể mở rộng như sau :

*

X0

i

Y bị kiểm duyệt

Mô hình Tobit dùng để nghiên cứu mối tương quan giữa mức độ (số lượng) biến động của biến phụ thuộc với các biến độc lập Trong đề tài này, mô hình Tobit dùng để phân tích mối tương quan giữa lượng vốn vay được (biến phụ thuộc) và các nhân tố ảnh hưởng (biến độc lập)

Trang 25

Sử dụng thống kê z thay vì thống kê t Bảng phân phối chuẩn chuẩn hoá với giá trị tới hạn (critical value Z và mức ý nghĩa / 2 cho kiểm định hai đuôi)

c Kiểm định ý nghĩa chung của toàn bộ mô hình

Sử dụng thống kê Chi bình phương thay vì thống kê F

LR= Likelihood ratio= 2(LLFUR - LLFR)

so sánh với giá trị tới hạn thống kê chi bình phương với mức ý nghĩa cho trước và df = số biến độc lập trong mô hình

2.2.3.5 Giải thích các biến đưa vào mô hình

Sự tiếp cận tín dụng có thể bị ảnh hưởng bởi một số biến giải thích như là giá trị tài sản của chủ hộ, diện tích đất, tuổi của chủ hộ, trình độ văn hoá của chủ

hộ, giới tính chủ hộ và thu nhập của hộ, Mỗi biến có thể ảnh hưởng đến những mức độ tiếp cận tín dụng khác nhau Mức độ ảnh hưởng của những biến này đối với những hộ có vay vốn thì khác biệt so với mức độ ảnh hưởng của những hộ không có vay vốn

Giới tính là giới tính của chủ hộ Đây là một biến giả, nhận giá trị là 1

nếu chủ hộ là nam, ngược lại nhận giá trị là 0 nếu chủ hộ là nữ Theo điều tra mức sống dân cư và theo một số nghiên cứu khác cho rằng tại các nước Châu Á thì phụ nữ nói chung và nhất là phụ nữ ở các khu vực nông thôn ít có điều kiện tiếp cận với thông tin, tín dụng, giáo dục do tư tưởng “trọng nam” nên hệ quả là phụ nữ có cơ hội ít hơn trong quá trình tiếp cận với tín dụng Tuy nhiên, theo Nathan Okurut (2005), trong tài chính vi mô, đối với hộ nghèo, chủ hộ là nữ thì

dễ tiếp cận vốn vay hơn chủ hộ là nam vì họ thường xuyên sinh hoạt trong các câu lạc bộ phụ nữ, từ đây họ có nhiều thông tin về nguồn vốn và có nhiều cơ hội tiếp cận được nguồn vốn tín dụng hơn nam

Tuổi của chủ hộ là biến số tuổi chủ chủ hộ tính từ năm sinh Tuổi của chủ

hộ càng cao thì chủ hộ càng có tài xoay sở, kinh nghiệm, có nhiều uy tín và càng

có nhiều trách nhiệm trong gia đình Vì thế tuổi của chủ hộ càng lớn thì họ càng đồng tình trong việc tiếp cận vay vốn dễ dàng hơn Ngược lại, những người trẻ tuổi thường có khuynh hướng tiêu dùng nhiều hơn tiết kiệm Theo kết quả nghiên cứu thì các chủ hộ trẻ tuổi khó có thể vay vốn bởi vì họ ít có tiếng tâm và thiếu kinh nghiệm Tuy nhiên, theo Nathan Okurut(2005), những người trong nhóm tuổi từ 35 đến 44 có khả năng tiếp cận vốn vay cao hơn các nhóm tuổi còn lại

Số người phụ thuộc là biến số người phụ thuộc của hộ Biến này được

tính theo số người không có hoạt động tạo thu nhập cho gia đình, hay sống phụ thuộc vào các thành viên lao động khác Các thành viên phụ thuộc là các thành

Trang 26

viên có độ tuổi dưới 15 và trên 60 tuổi hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng không còn sức lao động Theo Pham, B D, Izumida( 2002), nếu hộ có số người phụ thuộc cao, thì dường như khó tiếp cận với tín dụng bởi vì họ thường bị coi là khả năng sản xuất hay lao động thấp Về phía cầu, các hộ có tỷ lệ phụ thuộc cao thì đồng nghĩa với việc cần một lượng tín dụng cao cho chi tiêu trong gia đình Nó bao gồm các chi phí sinh hoạt, tiêu dùng và tiền học phí Bởi vì các

tổ chức tín dụng chính thức như ngân hàng thường không cho vay với mục đích tiêu dùng nên các hộ khó tiếp cận với nguồn vốn vay này

Dân tộc là biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ là dân tộc Kinh, ngược lại nhận

giá trị 0 nếu hộ thuộc dân tộc thiểu số Theo điều tra mức sống hộ dân cư phối hợp cùng với UNDP và theo dữ liệu thu được có sự khác biệt về thu nhập, chi tiêu, trình độ văn hoá của dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số Do đó, thường các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer thường nằm trong diện xoá đói giảm nghèo nhiều hơn dân tộc Kinh, điều này khác biệt về điều kiện tự nhiên, xã hội dẫn đến sự khác biệt về kinh tế của các hộ gia đình dân tộc Do vậy, các dân tộc thiểu số hay Khơme sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng và được chấp nhận cho vay từ phía các tổ chức tín dụng hơn là dân tộc Kinh, bởi vì họ luôn được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ của Chính phủ từ các chương trình xoá đói, giảm nghèo

Trình độ học vấn được hiểu là số năm đến trường của chủ hộ Theo Tinh

Doan, John Gibson, Mark Holmes (2010), những chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì khả năng tính toán đầu tư hiệu quả hơn và khả năng đem lại thu nhập cũng cao hơn Theo nghiên cứu cho thấy những chủ hộ có trình độ học vấn

càng cao thì khả năng tiếp cận vốn vay của họ nhiều hơn

Làm trong chính quyền là biến giả, biến này nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có

người thân làm trong chính quyền địa phương hoặc có quen biết làm trong chính quyền địa phương, nhận giá trị là 0 nếu ngược lại Biến này thể hiện địa vị xã hội của chủ hộ Theo Nathan Okurut (2005) những hộ có địa vị xã hội thì dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay do quen biết nhiều và được ngân hàng tin tưởng hơn những hộ không có chức vụ Những hộ có địa vị xã hội thường nắm thông tin nhanh hơn và cũng có uy tín nhất định nên việc vay vốn đối với họ tương đối dễ dàng

Diện tích đất là diện tích đất của chủ hộ được tính theo đơn vị m2 Biến này bao gồm đất ruộng, đất vườn, đất thổ cư, diện tích ao nuôi cá và những loại đất khác Đất có thể được dùng cho việc thế chấp để vay vốn như là điều kiện đảm bảo việc vay vốn từ phía ngân hàng Những hộ gia đình có một diện tích đất càng lớn có khả năng vay được vốn của Ngân hàng cao hơn

Trang 27

Quy mô của hộ là số thành viên trong hộ Số thành viên trong hộ càng

đông thì chi tiêu của hộ càng cao dẫn đến nhu cầu vay vốn của hộ cũng cao Tuy nhiên, những hộ có nhiều thành viên cuộc sống thường khó khăn hơn so với những hộ ít thành viên, do đó tuy họ có nhu cầu vay vốn nhưng do cuộc sống khó khăn nên họ có thể khó có khả năng tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức Theo Nathan Okurut (2005), số thành viên trong hộ có tác động tốt đến khả năng tiếp cận tín dụng

Thu nhập là thu nhập bình quân đầu người của hộ, tính bằng nghìn

đồng/tháng Khi quyết định cho vay, các TCTD luôn phải xem xét khả năng trả

nợ của người vay nên hộ có thu nhập cao sẽ vay được nhiều hơn do khả năng trả

nợ tốt hơn (theo Lê Khương Ninh, (2011)) Tuy nhiên theo Pham B D, Izumida( 2002) những chủ hộ có thu nhập cao sẽ có nhu cầu vay vốn thấp bởi vì họ có đủ nguồn cho việc sản xuất và tiêu dùng của họ

Khoảng cách đến chợ, khoảng cách huyện là khoảng cách từ nhà của hộ

đến trung tâm huyện, thị tứ, chợ xã, khoảng cách này tính bằng km Theo Lê Khương Ninh (2011), do các TCTD thường chỉ mở chi nhánh hay phòng giao dịch đến chợ huyện hay thị tứ nên các hộ ở gần đó có nhiều thông tin tín dụng hơn và chi phí đi vay cũng thấp hơn Mặt khác các TCTD dễ thẩm định năng lực trả nợ và kiểm soát hoạt động sử dụng vốn của các hộ ở gần nên sẽ cho họ vay nhiều hơn Tuy nhiên, đối với hộ nghèo, chủ yếu vay vốn NHCSXH mà NHCSXH đã mở điểm giao dịch tại xã và thủ tục hồ sơ vay vốn NHCSXH chủ yếu do Hội đoàn thể xã hướng dẫn làm và thẩm định, trình UBND xã xét duyệt sau đó gửi lên ngân hàng nên khoảng cách này chỉ tính từ nhà đến chợ xã

Qua các giải thích về các biến độc lập được sử dụng trong mô hình Probit

và Tobit, các kỳ vọng về các biến giải thích được trình bày trong bảng sau:

Trang 28

Bảng 2.2: Các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong phân tích hồi quy

Biến độc lập Ký hiệu Đơn vị

Dấu kỳ vọng mô hình Probit

Dấu kỳ vọng mô hình Tobit

Từ diễn giải các biến độc lập nêu trên, ta xây dựng được mô hình các nhân

tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo ở huyện Gò Quao như sau:

Trang 29

Hình 2.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của

hộ nghèo tại huyện Gò Quao

Làm trong CQĐP

Khả năng tiếp cận và lượng vốn vay

Khoảng cách

Trình

độ học vấn Giới tính

Dân tộc

Tuổi chủ hộ

Trang 30

Chương 3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN

GÒ QUAO 3.1 MỘT SỐ TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Gò Quao cách trung tâm Thành Phố Rạch Giá khoảng 45 km, có quốc lộ

61 đi ngang qua từ cầu Cái Tư đến xã Định Hòa với chiều dài 22,5 km Gò Quao nằm ở phía Đông phần giữa của tỉnh Kiên Giang Phía Tây giáp với huyện An Biên, phía Đông giáp thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), phía Bắc giáphuyện Giồng Riềng, phía Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, phía Nam giáp huyện Vĩnh Thuận, phía Đông Nam giáp huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) Địa hình của huyện bằng phẳng và có nhiều kênh rạch chằng chịt, có sông Cái Tư và Cái Bé bao quanh Toàn huyện có 10 xã và 01 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 43.947ha

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Gò Quao

Trang 31

Về lịch sử

Ngày 20-05-1902, Pháp lập quận Gò Quao, thuộc tỉnh Rạch Giá, gồm 2 tổng là: tổng Kiên Định có 5 làng, tổng Thanh Biên có 7 làng Ngày 24-11-1925, chuyển tổng Thanh Biên sang quận An Biên, quận Gò Quao còn lại tổng Kiên Định Sau năm 1956, giải thể quận Gò Quao để thành lập quận Kiên Bình Sau 30-04-1975, Gò Quao trở thành tên huyện của tỉnh Kiên Giang, gồm có 7 xã là: Vĩnh Hoà Hưng, Vĩnh Phước, Vĩnh Tuy, Thới Quản, Thủy Liễu, Định Hoà, Định

An

Cuối năm 2004, huyện Gò Quao có thị trấn Gò Quao và 10 xã là: Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Hoà Hưng Nam, Định Hoà, Thới Quản, Định An, Thủy Liễu, Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng

Gò Quao là huyện có nhiều dân tộc cùng cư trú: Kinh (67,56%) Khmer (30,56%), Hoa (1,95%), là 1 trong 3 huyện có đông dân tộc Khmer nhất ở tỉnh Kiên Giang Từ 2006, thực hiện Chương trình (CT) 135 của Chính phủ, Gò Quao tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ vốn nhằm giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer của địa phương Cùng với xây dựng kết cấu hạ tầng, các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) trong huyện còn được tiếp cận chính sách tín dụng ưu đãi, hiện có 7 ngàn hộ Khmer

Về kinh tế

Gò Quao là huyện vùng sâu của tỉnh Kiên Giang, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng bình quân trên 10%, cơ cấu từng lĩnh vực kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các chỉ tiêu chủ yếu cơ bản đạt và vượt

kế hoạch, tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm từ 62,47% xuống 55%, Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 10,27% lên 14%, Thương mại - Dịch vụ tăng từ 27,26% lên 31%

Về văn hoá

Gò Quao là địa bàn có nhiều đồng bào Khmer cư trú Hàng năm lễ hội Ok

Om Bok được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, thu hút đông đảo nhân dân địa phương tham gia đặc biệt là đồng bào Khmer Rất nhiều lễ hội khác trên địa bàn huyện như lễ hội cúng đình rằm tháng giêng ở đình Vĩnh Tuy, các lễ hội tín ngưỡng dân gian khác Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức trong các ngày lễ này tạo không khí vui tươi, phục vụ đông đảo công chúng Tuy nhiên một số lễ hội chưa được tổ chức phong phú đa dạng vì gặp khó khăn về kinh phí

Những năm qua, ngành Văn hoá của huyện Gò Quao đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng và tổ chức tốt đời sống văn hóa cho đồng bào Hiện nay đã

có nhiều đội Văn nghệ quần chúng được thành lập và hoạt động thường xuyên tại

Trang 32

cơ sở Một số đội văn nghệ của đồng bào Khmer được đầu tư các đạo cụ nhạc cụ truyền thống để đảm bảo giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Để tổ chức tốt đời sống văn hoá cơ sở cho nhân dân trên địa bàn, huyện Gò Quao đã đặt ra mục tiêu rất lớn phấn đấu đến năm 2015, toàn huyện sẽ có 30/96 ấp có tụ điểm sinh hoạt văn hoá và vui chơi giải trí, xây dựng 6 Trung tâm văn hoá cấp xã, 6 trạm truyền thanh xã và 30 nhà văn hóa ấp Từ nay đến năm 2015, huyện Gò Quao cũng sẽ phấn đấu có 90% gia đình văn hoá, 85% ấp (thị trấn) văn hóa, 85% tổ văn hoá và

3 xã văn hoá Bên cạnh đó, huyện sẽ chú trọng cả công tác đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về văn hoá, thể thao có trình độ đại học và trung cấp cho cơ sở để tạo điều kiện giúp các xã nâng cao đời sống văn hoá cơ sở

Về xã hội

Gò Quao là huyện có nhiều dân tộc cùng cư trú: Kinh (67,56%) Khmer (30,56%), Hoa (1,95%), là 1 trong 3 huyện có đông dân tộc Khmer nhất ở tỉnh Kiên Giang Từ 2006, thực hiện Chương trình (CT) 135 của Chính phủ, Gò Quao tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ vốn nhằm giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer của địa phương Cùng với xây dựng kết cấu hạ tầng, các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) trong huyện còn được tiếp cận chính sách tín dụng ưu đãi, hiện có 7 ngàn hộ Khmer được vay 35 tỷ đồng Đầu năm 2009, Gò Quao còn 1.799 hộ Khmer nghèo, chiếm 53,3% so với tổng số hộ nghèo trên địa bàn

Cùng với phát triển kinh tế, các chính sách về y tế, giáo dục trong vùng đồng bào Khmer cũng được quan tâm Hiện trong huyện có 1 trường dân tộc nội trú quy mô đào tạo 250 học sinh Các điểm trường phổ thông ở vùng đồng bào Khmer được đầu tư xây dựng khang trang, tỷ lệ trẻ em dân tộc Khmer trong độ tuổi đến trường đạt trên 96% Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng được quan tâm và thực hiện tốt Bệnh viện đa khoa huyện, trạm y tế các xã và thị trấn

đã được xây dựng và nâng cấp sửa chữa, trang thiết bị được cung cấp đạt chuẩn Năm 2007, toàn huyện có 174 giường bệnh, trong đó bệnh viện huyện có 80 giường bệnh, có 11/11 trạm y tế có bác sĩ, 65/96 ấp có tổ y tế, 160 cộng tác viên, bình quân 1 vạn dân có 10 -1 2 giường bệnh, 10,63 cán bộ y tế và 1,75 bác sĩ, 10/11 xã - thị trấn được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về y tế Huyện có 41 y bác sĩ dân tộc Khmer, tăng 15 người so với năm trước Nhờ vậy, hằng năm có gần 37 nghìn lượt đồng bào dân tộc thiểu số được khám và điều trị bệnh Đối với các hộ Khmer nghèo, huyện đã cấp 5.740 thẻ bảo hiểm y tế và thực hiện nhiều chương trình y tế khác

3.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở HUYỆN GÕ QUAO

Ngày đăng: 17/03/2019, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Âu Vi Đức (2008), Phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo tại tỉnh Hậu Giang, Luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo tại tỉnh Hậu Giang
Tác giả: Âu Vi Đức
Năm: 2008
2. Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng(2009), Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống Kê. TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê. TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
3. Lê Khương Ninh (2004), Tài chính vi mô – Cơ hội cho mọi người, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính vi mô – Cơ hội cho mọi người
Tác giả: Lê Khương Ninh
Năm: 2004
4. Lê Khương Ninh (2011), Các yếu tố quyết định lượng vốn vay tín dụng chính thức của nông hộ ở Hậu Giang, Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố quyết định lượng vốn vay tín dụng chính thức của nông hộ ở Hậu Giang
Tác giả: Lê Khương Ninh
Năm: 2011
5. Mai Văn Nam, Phạm Lê Thông, Lê Tấn Nghiêm, Nguyễn Văn Ngân (2004). Giáo trình Kinh tế lượng, Nhà xuất bản Thống kê, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế lượng
Tác giả: Mai Văn Nam, Phạm Lê Thông, Lê Tấn Nghiêm, Nguyễn Văn Ngân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
7. Nguyễn Văn Ngân (2004), Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của nông hộ ở nông thôn huyện Châu Thành A tỉnh Cần thơ, Đề tài nghiên cứu cấp Trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của nông hộ ở nông thôn huyện Châu Thành A tỉnh Cần thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Ngân
Năm: 2004
8. Nguyễn Văn Ngân, Lê Khương Ninh (2005), Những nhân tố quyết định đến việc tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố quyết định đến việc tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Ngân, Lê Khương Ninh
Năm: 2005
9. Phạm Bảo Dương (2009), Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững,Viện Chính sách Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn - Bộ Nông nghiệp và PTNT.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững
Tác giả: Phạm Bảo Dương
Năm: 2009
1. Francis Nathan Okuruk (2005), Access to credict by the poor in Africa: Evidence from Household Survey Data 1995 and 2000, Botswana University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Access to credict by the poor in Africa: "Evidence from Household Survey Data 1995 and 2000
Tác giả: Francis Nathan Okuruk
Năm: 2005
2. Pham, B D and Y. Izumida (2002). Rural Development Finance in Vietnam: A Microeconomics Analysis of Household Surveys, World Development Vol.30, No.2, p:319-335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Microeconomics Analysis of Household Surveys
Tác giả: Pham, B D and Y. Izumida
Năm: 2002
4. Tinh Doan, John Gibson, Mark Holmes( 2010), What determines credict participation and credict constraints of the poor in pere-urban areas, Vietnam?, Waikato University Sách, tạp chí
Tiêu đề: What determines credict participation and credict constraints of the poor in pere-urban areas, Vietnam
6. Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Khác
3. Tabachnick, B. G., & Fidell, L. (1996) Using multivariate statistics (3rd ed.). New York: HarperCollins Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm