Điểm đặc biệt so với quy định trong các điều ước quốc tế là ở đây, sự phânbiệt đối xử trẻ em được gắn với sự phân biệt đối xử với cha mẹ, người giám hộ haycác thành viên trong gia đình c
Trang 1Đề bài: QUYỀN CỦA TRẺ EM THEO QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT QUỐC TẾ
“Trẻ em là những thông điệp sống mà chúng ta gửi gắm vào tương lai” làcâu nói hàm chứa đầy đủ ý nghĩa về trẻ em Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, làtương lai của đất nước, là người kế tục sự nghiệp của dân tộc Vì vậy, chăm sóc,giáo dục và bảo vệ trẻ em để tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện về cả thểlực lẫn trí lực là vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút được sự quan tâm củacộng đồng quốc tế hiện nay
Tuy nhiên, hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn còn tình trạng trẻ em phải
tự lao động kiếm sống, bị lừa gạt bạo lực, bóc lột sức lao động, sa vào các tệ nạn
xã hội và đang có chiều hướng gia tang Điều này làm cho quyền và lợi ích của trẻ
em bị xâm phạm nghiêm trọng, trở thành vấn đề nhức nhối của gia đình, nhàtrường, xã hội, Nhà nước và toàn cộng đồng Những khẩu hiệu “ Trẻ em hôm nay,thế giới ngày mai”, “ Hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em mà mìnhcó”… đã và đang là khẩu hiệu hành động của cả thế giới
Bởi vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề quyền trẻ em được đặt ra như một nhu cầubức bách cần được giải quyết, nhằm giành lại cho các em quyền được sống, quyềnđược học hành, vui chơi, được chăm sóc và bảo vệ…
I) Định nghĩa trẻ em:
Từ lâu, trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thươngnhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ
Mặc dù vậy, trong thời kỳ trước đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em
về cơ bản xuất phát từ các góc độ tình thương, lòng nhân đạo hoặc sự che chở chứkhông phải dưới góc độ nghĩa vụ bảo vệ quyền Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời
kỳ trước về cơ bản chưa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và ràng buộc
về nghĩa vụ với mọi đối tượng trong xã hội
Trang 2Đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới được đề cập saucuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ( 1914 – 1918 ) Sự ra đời này đã mở rộng
cơ sở của các hoạt động bảo vệ trẻ em từ các khía cạnh đạo đức, xã hội sang khíacạnh pháp lý
Sau khi thành lập, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề quyền trẻ em phát triển lênmột bước ngoặt mới Với mệnh đề mở đầu phổ biến trong Tuyên ngôn toàn thế giới
về quyền con người năm 1948 và hai công ước về các quyền dân sự, chính trị vàcác quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 là mọi người có quyền hoặc bất cứngười nào đều có quyền…trẻ em được thừa nhận là chủ thể bình đẳng với ngườilớn trong việc hưởng tất cả các quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong luậtquốc tế
Năm 1959, Liên hợp quốc đã thông qua một văn kiện riêng về quyền trẻ em( Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em) Tuyên bố này là tiền đề để Liênhợp quốc xây dựng và thông qua Công ước về quyền trẻ em ( CRC) vào ngày 20-11-1989 Và tính đến thời điểm hiện nay, CRC vẫn là văn kiện quốc tế cơ bản
Theo điều 1, trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc giaquy định khác
CRC không quy định từ khi nào được coi là trẻ em, nhưng theo Lời nói đầuthì: “ Trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thíchhợp về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời” Quy định này hàm nghĩarằng, việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phải thực hiện ngay từ những giai đoạn
“trứng nước” chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời
II) CRC – văn kiện quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em:
CRC là điều ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc có số lượngquốc gia thành viên cao nhất từ trước đến nay
Tư tưởng xuyên suốt và cũng là thể hiện cách tiếp cận của Công ước là:
Trang 3+ Trẻ em là những chủ thể của các quyền và của quá trình triển chứ khôngphải là đối tượng được hưởng sự quan tâm, thương hạu hay lòng từ thiện thuần túy.
+ Trẻ em là những con người nhưng là một nhóm xã hội dễ bị tổn thương, cónhững nhu cầu đặc biệt, và có quyền được hưởng sự chăm sóc, bảo vệ một cáchđặc biệt
Về nội dung, so với văn kiện trước đó về quyền trẻ em, CRC có những điểmnổi bật:
+ Công ước đưa ra định nghĩa chung về trẻ em mà có thể áp dụng cho mọi
xã hội trên thế giới mà không có sự phân biệt về bất cứ yếu tố nào về chính trị,kinh tế, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán
+ Công ước xác lập một tập hợp các quyền trẻ em mà có nhiều quyền trước
đó chưa từng được pháp điển hóa trong luật quốc tế, nhằm bảo đảm cho trẻ emđược bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả và được phát triển toàn diện cả về thểchất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội
+ Công ước đề cập việc bảo vệ những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệtkhó khăn ( chứ không chỉ đến trẻ em nói chung ) như trẻ em tàn tật, trẻ em bị mấtmôi trường gia đình, trẻ em mại dâm, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em trong xungđột vũ trang
+ Công ước đề cập việc giải quyết những thách thức cấp bách mà trẻ emđang gặp phải như lạm dụng tình dục trẻ em, bóc lột lao động, buôn bán trẻ em, trẻ
em bị buộc cầm súng, tác động của ma túy với trẻ em
+ Công ước xác lập một cơ chế pháp lý để theo dõi, giám sát sự tiến bộ củacác quốc gia trong việc bảo đảm các quyền trẻ em
+ Công ước xác lập một cơ chế pháp lý để theo dõi, giám sát sự tiến bộ củacác quốc giâ trong việc bảo đảm các quyền trẻ em
Theo các chuyên gia về quyền trẻ em, có bốn nguyên tắc cơ bản làm nềntảng cho CRC:
+ Trẻ em cũng là những con người: Nguyên tắc này xác định vị thế bình
đẳng của trẻ em với người lớn về phương diện chủ thể của quyền Nó khẳng định
Trang 4trẻ em cũng có những giá trị như người lớn và do đó, phải được công nhận và bảo
vệ các quyền ngay từ giai đoạn thơ ấu
+ Không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này hàm ý rằng tất cả trẻ em trên thế
giới đều được hưởng các quyền quy định trong CRC, bất kể dân tộc, chủng tộc,giới tính, tôn giáo, dòng dõi gia đình, tài sản
+ Lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em: Nguyên tắc này đòi hỏi trong mọi hoạt
động liên quan đến trẻ em, Nhà nước, các bậc cha mẹ và chủ thể khác phải lấy lợiích của trẻ em là mục tiêu hàng đầu
+ Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em: Nguyên tắc này nhằm bảo đảm
rằng trẻ em thực sự là chủ thể của quyền Nó đòi hỏi các chủ thể khác phải tôntrọng các quyền tự do ý kiến, tự do diễn đạt, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng và tự
do lập hội của trẻ em
III) Những nội dung chủ yếu của CRC:
1) Không phân biệt đối xử:
Vấn đề này được nêu ở Điều 2 và là một trong bốn nguyên tắc của Côngước Điểm đặc biệt so với quy định trong các điều ước quốc tế là ở đây, sự phânbiệt đối xử trẻ em được gắn với sự phân biệt đối xử với cha mẹ, người giám hộ haycác thành viên trong gia đình của trẻ
Ủy ban về quyền trẻ em – cơ quan giám sát việc thực hiện CRC – trong Bìnhluận chung số 4 và số 6 cho rằng ngoài những yếu tố trên thì xu hướng giới tính,tình trạng sức khỏe ( bao gồm việc bị nhiễm HIV và bị thiểu năng tâm thần ), tìnhtrạng vô thừa nhận, mồ côi cha mẹ, vị thế là người nhập cư, tị nạn cũng có thể lànền tảng của sự phân biệt đối xử
2) Lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em:
Đây là một trong bốn nguyên tắc của Công ước, được nêu ở Điều 3 và đượcnhắc lại trong nhiều khoản khác của CRC, bao gồm các Điều 9, 18, 20, và 21
Trang 5Theo nguyên tắc này, lợi ích của trẻ em phải được ưu tiên xem xét trong mọihoạt động có liên quan đến trẻ em của mọi chủ thể, chứ không chỉ giới hạn trongcác tiến trình lập pháp, hành pháp hay tư pháp của các cơ quan Nhà nước.
Về khía cạnh này, Điều 3 xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc nuôidưỡng, chăm sóc trẻ em trong trường hợp cha mẹ hoặc những chủ thể có liên quankhác không thể thực hiện hoặc hoàn thành trách nhiệm ấy
3) Sự sống còn và phát triển của trẻ em:
Điều 6 thừa nhận quyền sống như là một quyền cố hữu của trẻ em và quyđịnh trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo đảm sự sống còn và phát triểncủa trẻ ở mức cao nhất
Tại Điều 6, có hai khía cạnh nổi bật là:
+ Thứ nhất, “sống còn” là một trong những thuật ngữ đặc thù được sử dụng
trong Công ước về quyền trẻ em Do trẻ em là những chủ thể còn non nớt cả về thểchất và tinh thần nên khác với người lớn, việc bảo vệ sự sống còn của trẻ không chỉđòi hỏi các biện pháp thông thường cần thiết để bảo vệ tính mạng, mà còn bao gồmcác biện pháp phòng ngừa về sức khỏe như tiêm chủng, dinh dưỡng, chăm sóc
+ Thứ hai, sự phát triển của trẻ em cần được hiểu một cách toàn diện, theo
đó không chỉ bao gồm phương diện thể chất, mà còn về các phương diện trí tuệ,tình cảm, đạo đức, xã hội
Về vấn đề trên, trong các Bình luận chung số 4 và số 7, Ủy ban quyền trẻ emnêu rằng sự sống còn và phát triển của trẻ em liên quan đến một loạt các quyềnkhác như quyền được có lương thực thực phẩm thích đáng; quyền đạt được sứckhỏe ở mức cao nhất có thể; quyền được bảo vệ trước sự xâm hại về tính mạng,thân thể, danh dự, nhân phẩm,…
4) Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em:
Nội dung của Điều 12 đồng thời cũng là một trong bốn nguyên tắc cơ bảncủa CRC
Trang 6Điều này thừa nhận trẻ em có quyền bày tỏ ý kiến, quan điểm riêng củamình về các vấn đề liên quan đến trẻ, trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong hoạt động
tố tụng
Đồng thời yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo cho trẻ em có khả năng
và cơ hội hình thành và nói lên những ý kiến, quan điểm của mình cũng như phảitôn trọng những quan điểm, ý kiến của trẻ một cách thích đáng với độ tuổi và mức
độ trưởng thành của trẻ
Việc bày tỏ ý kiến, quan điểm của trẻ có thể được thực hiện ở mọi môitrường ( trong gia đình, cộng đồng và ngoài xã hội ) một cách trực tiếp hoặc giántiếp thông qua người đại diện, dưới nhiều hình thức thích hợp chẳng hạn: phát biểutại các cuộc họp, viết thư, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Quy định này không có nghĩa là cha mẹ, Nhà nước và các chủ thể khác phảinghe theo các ý kiến, quan điểm của trẻ trong mọi trường hợp, mà chỉ đặt ra nghĩa
vụ cho các chủ thể phải lắng nghe, tôn trọng, nghiêm túc xem xét và thực hiện các
ý kiến, quan điểm đó nếu thấy chúng hợp lý và có thể áp dụng
Ủy ban Quyền trẻ em cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên thực hiệncác biện pháp thích hợp để thúc đẩy các bậc cha mẹ và những chủ thể có tráchnhiệm khác tạo cơ hội cho trẻ em được bày tỏ ý kiến, quan điểm và tôn trọng các ýkiến, quan điểm của trẻ
5) Nghĩa vụ quốc gia:
Điều 4 yêu cầu các quốc gia thành viên phải từng bước bảo đảm các quyềncủa trẻ em trong Công ước
Nhà nước phải sử dụng một cách tối đa các nguồn lực sẵn có để bảo đảm cácquyền kinh tế, xã hội, văn hóa của trẻ em
Trong Bình luận chung số 5, Ủy ban về quyền trẻ em cho rằng, điều này đòihỏi các quốc gia thành viên phải huy động sự tham gia của tất cả các thành phầntrong xã hội, bao gồm cả trẻ em, cũng như phải xây dựng những cơ chế đặc biệt vàthành lập các cơ quan điều phối, giám sát để thu thập dữ liệu, nâng cao nhận thức
Trang 7của xã hội và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dịch vụ thích hợpnhằm đảm bảo hiện thực hóa các quyền trẻ em
6) Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ:
Điều 18 quy định rõ, trong gia đình, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái làtrách nhiệm chung của các bậc cha mẹ và trong việc này, lợi ích của trẻ em phải làmối quan tâm hàng đầu của họ
Liên quan đến vấn đề này, trong Bình luận chung số 7, Ủy ban khuyến nghịcác quốc gia thành viên cần phải nỗ lực hết sức để giảm thiểu số trẻ em bị bỏ rơi vàtrẻ em mồ côi
Cũng đề cập đến vai trò này và trách nhiệm của các bậc cha mẹ nhưng ởkhía cạnh tinh thần, Điều 5 CRC yêu cầu các quốc gia thành viên phảo tôn trọngtrách nhiệm, quyền và nghĩa vụ các bậc cha mẹ, hoặc trong trường hợp thích hợp,của các thành viên khác trong gia đình hay của những người giám hộ pháp lý trong
việc chỉ bảo và hướng dẫn thích hợp cho trẻ em thực hiện những quyền được thừa nhận trong CRC, theo cách thức phù hợp với mức độ phát triển về năng lực của
trẻ.
7) Cách ly với cha mẹ:
Mặc dù Công ước coi việc sống với cha mẹ là một quyền cơ bản của trẻ em
nhưng vẫn dự kiến khả năng cho phép chủ động cách ly trẻ em khỏi cha mẹ trong
một số hoàn cảnh đặc biệt
Theo điều 9 CRC, nguyên tắc cần tuân thủ trong vấn đề này là việc cách lytrẻ em khỏi cha mẹ chỉ có thể thực hiện nếu như điều đó mang lại lợi ích tốt nhấtcho trẻ em
Ngoài ra, Khoản 4 Điều 9 CRC còn đề cập những hoàn cảnh mà trẻ em bị
cách ly khỏi cha mẹ một cách bị động, cụ thể là do kết quả của việc cha, mẹ hoặc
Trang 8cả cha và mẹ của trẻ em, hay chính bản thân trẻ em, bị giam giữ, bỏ tù, trục xuất,lưu đày đi xa hay bị chết.
Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên:
+ Cung cấp cho cha mẹ, cho đứa trẻ những thông tin cần thiết về địa chỉ củamột hay nhiều thành viên vắng mặt của gia đình, trừ khi việc cung cấp thông tinnhư thế có thể gây tổn hại đến cuộc sống của đứa trẻ
+ Phải đảm bảo rằng, việc đề ra yêu cầu như vậy sẽ không tự nó gây nênnhững hậu quả có hại cho người ( hoặc những người ) có liên quan
8) Đoàn tụ gia đình:
Theo điều 10, trẻ em có cha mẹ mà mỗi người cư trú ở các quốc gia khácnhau phải có quyền được duy trì quan hệ và tiếp xúc trực tiếp, đều đặn với cả cha
và mẹ, trừ những những hoàn cảnh đặc biệt không cho phép như vậy
Các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền này bằng cách xem xét thủ tụcxuất, nhập cảnh cho trẻ em và cha mẹ một cách tích cực, nhân đạo và nhanh chóng.Thêm vào đó, các quốc gia thành viên cũng phải bảo đảm rằng, việc đưa một yêucầu về đoàn tự gia đình như thế sẽ không gây ra những hậu quả có hại cho nhữngngười đứng đơn yêu cầu và cho các thành viên gia đình họ
9) Cấm đưa trẻ em ra nước ngoài một cách bất hợp pháp và không mang trở về:
Theo Điều 11, các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp để ngănchặn việc cha, mẹ hay một bên thứ ba theo yêu cầu của cha, mẹ mang trẻ em ranước ngoài một cách bất hợp pháp
Cũng theo quy định ở Điều 11, biện pháp quan trọng mà các quốc gia thànhviên cần tiến hành để thực hiện Điều này là ký kết, tham gia các điều ước songphương hoặc đa phương nhằm kiểm soát chặt chẽ việc xuất, nhập cảnh
10) Họ tên và quốc tịch:
Trang 9Quyền có họ tên và quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảmcho trẻ em được hưởng sự bảo vệ và hỗ trợ của Nhà nước cũng như tham gia vàođời sống xã hội, kể cả trong thời thơ qấu cũng như đến khi trưởng thành Thực tế ởkhắp nơi trên thế giới cho thấy, việc bị tước quyền có họ tên và quốc tịch đồng thờitước bỏ của trẻ em cơ hội hưởng thụ những quyền cơ bản nhất như quyền được họctập, quyền được chăm sóc y tế
Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên:
+ Điều 7 CRC quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việcbảo đảm quyền có họ tên và quốc tịch của trẻ em, thông qua những hành động vụthể như đăng ký họ tên, quốc tịch cho trẻ em ngay sau khi sinh, bảo đảm quyền củatrẻ em được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ chăm sóc sau khi ra đời
+ Trong Bình luận chung số 6, các quốc gia thành viên không chỉ giới hạn sựbảo vệ với những trẻ em là công dân nước mình, mà còn có trách nhiệm bảo vệnhững trẻ em tị nạn, trẻ em nhập cư, di cư – bất kể những trẻ em đó có quốc tịchnước nào hay không quốc tịch và bất kể các em đến nước đó bằng cách nào
+ Tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp của các quốc gia đều cónghĩa vụ với những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em không cha mẹ, và nghĩa vụ củacác quốc gia trong vấn đề này bao gồm cả ba dạng: tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ
+ Phê chuẩn hoặc gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan, trong đó baogồm hai Nghị định thư tùy chọn bổ sung CRC, để tạo lập một môi trường pháp lýthuận lợi cho việc bảo vệ và giúp đỡ những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em khôngcha mẹ
11) Duy trì bản sắc:
Khái niệm “bản sắc” của trẻ em trong Điều 8 được hiểu thông qua các khíacạnh như quốc tịch , họ tên và quan hệ gia đình… tức là rộng hơn nhiều so vớicách hiểu thông thường là những gì thuộc về phong tục, tập quán của một dân tộcnhất định Ở đây, bản sắc của trẻ em là tổng hợp những yếu tố thuộc về bản sắc của
Trang 10dân tộc và những đặc thù của gia đình ( truyền thống, vị thế, hoàn cảnh,…) cũng
như của cá nhân ( thể hình, tính cách, họ tên, năng lực,…) của trẻ em
Điều 8 CRC quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên phải bảo vệ
và giúp đỡ trẻ em khôi phục bản sắc trong trường hợp bản sắc của các em bị mất
12) Các tự do cá nhân:
Các Điều 13,14,15,17 CRC quy định các quyền tự do cá nhân của trẻ em baogồm tự do biểu đạt; tự do tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng; kết giao, hội họp một cáchhòa bình
Tự do biểu đạt (Điều 13) thể hiện ở việc trẻ em có quyền bày tỏ ý kiến vềcác vấn đề liên quan
Tự do tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng (Điều 14) thể hiện ở việc trẻ em có quyềntin vào những điều mình cho là đúng, theo hoặc không theo một tôn giáo, tínngưỡng nào
Tự do kết giao, hội họp một cách hòa bình (Điều 15) thể hiện ở việc trẻ emđược có quyền được gặp gỡ với những trẻ em khác và gia nhập, thành lập các tổchức của trẻ em
Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên: Đảm bảo cho trẻ em được tiếp cậnvới thông tin, sách vở, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau (báo, đài, vô tuyến,internet…), cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế Những thông tin và tài liệu cung cấpcho trẻ em phải được chọn lọc để bảo đảm chúng có lợi cho việc phát triển nhâncách, khả năng về thể chất, trí tuệ của trẻ em cũng như phù hợp với mục đích kháctrong giáo dục trẻ em nêu ở Điều 29 CRC
13) Bảo vệ sự riêng tư:
Bất kỳ ai cũng có quyền được riêng tư Trẻ em là lứa tuổi nhạy cảm nên việcbảo vệ sự riêng tư của trẻ em là điều cần thiết Đó là bảo vệ đời sống cá nhân, yếu
tố về gia đình, thư từ, nhật ký, quan hệ bạn bè, giao tiếp của trẻ em
Trang 11Điều 16 CRC thừa nhận trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sựcan thiệp tùy tiện vào cuộc sống riêng tư cũng như những sự công kích bất hợppháp vào danh dự và thanh danh.
14) Bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng, sao nhãng:
Vấn đề này được đề ập trong hai Điều 20, 21 và 25 của CRCĐiều 19 xácđịnh trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em khỏi những hình thức bạolực về thể chất, xúc phạm danh dự nhân phẩm, bị lạm dụng (tình cảm, sức lao độnghay lạm dụng tình dục), bị bỏ mặc hoặc sao nhãng sự chăm sóc, bị ngược đãi hoặcbóc lột, kể cả khi trẻ em đang sống với cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc với bất
kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em
Biện pháp: ngoài những thủ tục phát hiện, điều tra, chuyển cấp, xử lý, kể cả
xử lý về tư pháp, trong chừng mực thích hợp cần bao gồm những biện pháp phòngngừa như xây dựng các chương trình xã hội để hỗ trợ trẻ em và những người chămsóc trẻ em nhằm hạn chế nguy cơ trẻ em bị lạm dụng, sao nhãng
15) Bảo vệ trẻ em bị mất môi trường gia đình:
Điều 20 yêu cầu các nhà nước dành sự bảo vệ và trợ giúp đặc biệt cho nhữngtrẻ em bị mất môi trường gia đình (tạm thời hay vĩnh viễn) hoặc vẫn còn cha mẹnhưng cần được tách khỏi gia đình vì lợi ích tốt nhất của các em đó, bằng cáchcung cấp cho trẻ em sự chăm sóc thay thế Các hình thức chăm sóc thay thế có thể
là gửi nuôi, nhận làm con nuôi (trong hoặc ngoài nước), hình thức Kafala theo luậtHồi giáo hoặc đưa trẻ và các cơ sở chăm sóc trẻ em (do Nhà nước hay các tổ chức
từ thiện điều hành)
Bổ sung các Điều 21 và 22, Điều 25 yêu cầu các quốc gia thành viên khôngđược lãng quên, bỏ rơi những trẻ em đang được nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế tạicác gia đình và các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em Theo quy định của Điều