1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo cử nhân luật ở một số nước trên thế giới và khả năng ứng dụng vào tiến trình đổi mới đào tạo cử nhân luật ở việt nam trong điều kiện hội nhập

171 178 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 16,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- v ề chương trình đào tạo: nội dung chương t r ì n h đào tạo cử nhân luật ở cả hai nước còn nặng về giang dạy lý thuyết và các quy phạm pháp luật thực định trong khi xem nhẹ kỹ năng ngh

Trang 1

BỘ r ư P H Ấ P

*>Ể T Ả I K H O A H Ọ C CẤP TE 0 ?.;G

ĐÀO TẠO CỬ: ,'HÁN LUẬT ơ MỘT sể NƯỚC T&ẺN THỂ GIỚI

KHẢ NĂNG ỨNG ĐỤNG VÀO TIẾN TRÌN H i ĩ ổ ĩ MỚI

ĐAO TẠO CỬ NHÂN LƯẴr?1 Ở VIÊT NAM

TRO N G ĐĨỂU Ẳ ÍỆN H Ộ I Ệ m ị Q IIỠ C TẾ

Chủ ữMệ T đề ấàiỉ T;S N guyfii Thị Ánh v âĩi

Trung íẮ.~r» Uiật 20 sáõk, Đ f i học Luâr Hà Nộí

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Chủ nhiệm đ< tài: TS N guyễn Thị Ảnh Vân

Trung tâm L uật so sánh, Đại học Luật Hà Nội

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

M Ã SỐ: LH - 09 - 17/ĐHL - HN

HÀ NỘI, 2010

Trang 3

N H Ũ N G N G Ư Ờ I TH A M GIA T H ự C H IỆN ĐÊ TÀI■ •

Trang 4

MỤC LỤC

N hổm 1: Tổng quan về đào tạo cử nhân luật trong truyền

Khái quát về đào tạo đại học nói chung và đào tạo cử nhân

luật nói riêng trong truyền thống Civil Law và com m on Law 54

TS Nguvễn Thị Ánh Vân

Vài so sánh khái quát về đào tạo cử nhân luật trong truyền

TS Nguyễn Thị Ánh Vân

N hóm II Kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật ở m ột sổ nước

Châu Ả có hệ thống pháp luật thuộc truyền th >ng Civil Law 89

hoặc Common Law

Th.s Cao Xuân Phong

Đào tạo cử nhân luật ở Thái Lan

TS Phạm Hồng Quang 102

Đ 0 tạo cử nhân luật ở M alaysia

TS Nguyễn Thị Vân Anh 119Đào tạo cử nhân luật ở Philippines

TS Nguyễn Văn Quang 129

N hóm III Thực trạng và giải p h áp đổi mới đào tạo cử nhân

Thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam: vài 143điểm hạn chế

Th.s Nguyễn Đức Ngọc

Một số giải pháp đổi mới đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam

TS Nguyễn Thị Ánh Vân

Trang 5

PHẦN I

BÁO CÁO TỐNG THUẬT

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong vài thập kỷ gần đây, Việt Nam đã và đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong quá trình hội nhập đó, cùng với cơ hội họp tác đế phát triến, các quốc gia còn bị đặt trước thách thức của những cuộc cạnh tranh khốc liệt trên nhiều lĩnh vực mà thực tiễn đã minh chứng, lợi thế luôn thuộc về quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Như vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, cac quốc gia cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có nguôn nhân lực công tác trong lĩnh vực pháp luật

H ội nhập kinh tế quốc tế, một mặt, làm cho nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài được thu hút vào thị trường nội địa một cách dễ dàng bơn, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh trong nước và tạo điều kiện thuận lợi đế các doanh nghiêp trong nước thiết lập các quan hệ hợp tác kinh doanh với các

4 Ạ • f 7 r ^ • r-r-1 1 • /\ 1 A ■ 1 1 » 1 Ạ _ Ã J Ã ~ 1 _ _ ^ z _

đôi tác ơ nước ngoài Tuy nhiên, hội nhập kinh tê quôc tê cũng buộc các doanh nghiệp trong nước phải đương đầu với những hệ thống “phòng thủ thương mại’" và thậm chí, trong một số trường hợp, phải tham gia tranh tụng tại các cơ quan tài phán nước ngoài với tư cách bên nguyên hoặc bên bị và vì vậy, cần đến sự hỗ trợ đắc lực của đội ngũ cán bộ pháp lý trong nước Trong bối cảnh đó, có thể dễ dàng nhận thấy, quá trình hội nhập giữa nước ta với các quốc gia khác đã đặt ra những yêu cầu mới đối với những ngưcu làm công tác pháp luật ở Việt Nam: không thể làm tốt công việc của mình trên

cơ sở nền tảng kiến thức thuần tuý về pháp luật trong nước mà còn phải nắm bắt được những kiến thức nhất định về pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tể; thậm chí trước đó, khi còn ngồi ở giảng đường của trường luật, cái

mà họ cần không phải là học thuộc lòng nội dung pháp luật thực định mà quan trọna; hơn là phải có khả năng nghiên cứu các quy định pháp luật và có

kỹ năng phân tích các vấn đề pháp lý, và kỹ năng tranh luận Đc đáp ứng được những đòi hỏi mới này của thực tiễn, cần phải có những đổi mới căn bản trong công tác đào tạo luật nói chung, mà trước hết là đổi mới ở bậc đào tạo cử nhân luật, nơi trang bị những hành trang tối thiểu cho các cán bộ pháp

lý tương lai của đất nước

Trang 6

Với lý do trên, việc lựa chọn đề tài “Đ ào tạo cử nhân luật ở một sô nước

trên thế giới và khả năng ứng dụng vào tiến trình đôi mới đào tạo cử nhân luật ở Việt N am trong điều kiện hội nhập quốc t ế ” là việc làm thiễt thực và

cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Cho đến nay, trong số các công trình khoa học đã được công bố, hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về đào tạo luật ở các nước trên thế giới để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

có khả năng ứng dụng vào cải cách đào tạo luật ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập Hiện, chỉ có môt số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, viết về đào tạo luật ở một vài nước phát triển trên thế giới Ví dụ:

bài viết của PGS TS Đào Thị Hằng “Đào tạo một sổ chức danh tư pháp ở

Cộng Hoà Liên bang Đ ức” (Tạp chí Luật học số 4/1998); bài viết của thạc

sỹ Nguyễn V ăn Nam “Tìm hiểu về đào tạo luật và nghề luật ở CHLB Đ ức”

(Tạp chí N ghiên cứu Châu Àu số 5/2005); bài viết của thạc sỹ Lê Thu Hà

“Chế độ đào tạo luật gia tại Hoa Kỳ” (tạp chi nghiên cứu Lập pháp số

2/2005); và bài viết của TS Nguyễn Thị Á nh Vân “X u hướng m ới trong đào

tạo luật ở N h ậ t Bản và vài gợi mở cho đỏi mới đào tạo luật ở Việt N am ”

(Tạp chí N hà nước & Pháp luật số 7/2009) Tuy nhiên, có rất ít bài viết trong số đó m ang tính nghiên cứu về những đổi mới trong quy trình đào tạo

cử nhân luật của nước ngoài để rút ra bài học kinh nghiệm, có khả năng ứng dụng vào tiến trình đổi mới đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đ a số các bài viết chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin cho người đọc về cách thức và mô hình đào tạo luật mà chủ yếu là dạy nghề (đào tạo nghề luật) hoặc thậm chí về một vài khía cạnh nhỏ của công tác đào tạo

nghê luật ở m ột quôc gia nào đó trên thê giới

Đầu tháng 2 năm 2009 Trung tâm Luật So sánh (Đại học Luật Hà Nội)

cũng đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Đào tạo Luật ở một & quốc gia trên thế g iớ i” Cuộc hội thảo xoav quanh 9 mô hình đào tạo luật ở 9 hệ thống

pháp luật khác nhau.1 Mặc dù ban tổ chức hội thảo dự định nội dung hội thảo sẽ bao quát toàn bộ quy trình đào tạo luật ở các nước, bao gồm đào tạo

Trang 7

giảng dạy theo học chế tín chỉ ở bậc đào tạo đại học Điều này hoàn toàn dễ hiểu, khi cuộc hội thảo được tô chức trong bối cảnh T rường Đại học Luật Hà Nội đang trong giai đoạn xày dựng dự thảo chương trình đào tạo cử nhân luật theo học chế tín chỉ Trong hoàn cảnh đó, các báo cáo viên của hội thảo

I Ạ 1 / 1 • 1 A 1 A 1 ? • 1 9 4 A r • Ạ r p 1 ' Ạ 1 /\ • , 1 ■» _Ạ _ w ,hâu như quá bị hâp dân bởi chủ đê nói trên Tuy nhiên, cuộc hội thảo van gặt hái được những thành công nhất định do kết quả nghièn cứu và thảo luận có tác dụng phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chương trình đào tạo cử nhân luật theo học chế tín chỉ của Trường Hơn nữa, những vấn đề đưa ra bàn bạc tại hội thảo cũng có tác dụng m ở mang tầm hi- u biết cho những người tham

dự hội thảo về một số vấn đề như học liệu sử dụng trong đào tạo sau đại học,

cơ quan quản lý đào tạo luật ở trường đại học và cơ quan quản lý các cơ sở dạy nghề luật ở một số nước trên thế giới; cũng như những cải cách lớn trong đào tạo luật ở N hật Bản thời gian vừa q u a

Như vậy, việc nghiên cứu m ột cách có hệ thống và toàn diện về đào tạo

cử nhân luật ở các nước thuộc hai truyền thong pháp luật lớn trên thế giới (Civil Law và Com m on Law ) lứiam đúc rút kinh nghiộm phục vụ cho công tác đổi mới toàn diện công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam, đáp ứng yêu/V 1 /V • 1 /\ ' .11 A r • 1 ã 1 Ạ ^ 1 * 1 ?

câu hội nhập, có thê 1101, hâu như vân còn bị bỏ ngỏ

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật trong m ột số hệ thống pháp luật thuộc hai truyền thống pháp luật lớn trên thế giới: Civil Law

và Common Law, trong đó ưu tiên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong khu vực C hâu Á; nghiên cứu xu hướng chung ve cải cách đào tạo luậl trong những năm gần đây ở các quốc gia này

- Làm rõ thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt N am trong quá khứ và hiện tại và chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới đào tạo cử nhân luật

ở Việt Nam

- Xem xét khả năng và mức độ vận dụng kinh nghiệm đào tạo cừ nhân

1 Ạ , ? 1 ~ 1 A ,1 Á 1 / 1 A 4 « 1 • « _ r A Ạ _ 4 Ạ • / •luật ở những hệ thông pháp luật đa nghiên cửu vào công cuộc đoi mới đào tạo cử nhân luật ở V iệt Nam

- Đưa ra một số đê xuất nliằm hoàn thiện công tác đào tạo cử nhân luật

ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trang 8

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Trong khuôn khổ một đề tài khoa học cấp trường, đề tài này không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ quy trình đào tạo luật Đào tạo luật là khái niệm rộng, bao gồm cả đào tạo ở bậc đại học, đào tạo sau đại học

và dạy nghề Đe tài này chỉ tập trung nghiên cứu đào tạo luật ở các trường đại học và đào tạo luật ở bậc đại học (đào tạo cử nhân luật) chứ không nghiên cứu về đào tạo luật ở bậc sau đại học và đào tạo nghề luật

- Đề tài này sẽ không và cũng không thể bao quát hết các mô hình đào tạo cử nhân luật ở tất cả các nước trên thế giới mà chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu mô hình đào tạo cử nhân luật ở một số quốc gia Châu Ả là những nước có nền văn hoá va điều kiện kinh tế - xã hội (những nhân tố ảnh hưởng lớn tới nền giáo dục) tưưng đối gần gũi với Việt Nam Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, đề tài cũng tham khảo kinh nghiệm đào tạo của một vài nước phát triển phương tây dưới dạng nghiên cứu tổng quan về mô hình đào tạo cử nhân luật trong hai truyền thống pháp luật lớn trên thế giói: Civil Law và Common Law (và chỉ tập trung vào 2 cặp hệ thống pháp luật tiêu biểu cho mỗi truyền thống pháp luật trên là Pháp - Đức và Anh - M ỹ) nhằm góp

ph in xác định một hướng đi đúng đắn và hiệu quả trong tiến trinh đỏi mới đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam

- Đề tài này cũng không được triển khai nghiên cứu dưới giác độ sư phạm học mà chỉ nghiên cứu dưới giác độ luật học, và chỉ nghiên cứu

về một số khía cạnh quan trọng của đào tạo cử nhân luật ở một số quốc gia nói trên

5 Phương pháp nghiên cứu:

Với mục đích và phạm vi nghiên cúu đã trình bày ở trên, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn tất đề tài nghiên cứu gồm:

Phương so sánh luật học được sử dụng như phương pháp chủ đạo nhằm nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt trong đào tạo cử nhân luật giữa các hệ thống pháp luật trong cùng một truyền thống pháp luật; và giữa các hệ thống pháp luật thuộc hai truyền thống pháp luật khác nhau tập trung chủ yếu ở khu

Trang 9

vực C hâu Á, có tham khảo kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của m ột số nước phát triển ở phương tây.

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên C iru khác như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, hệ thống hoá, và

ở những nơi cần thiết phương pháp lịch sử cũng được khai thác để làm rõ những đổi mới trong đào tạo luật của các nước được lựa chọn nghiên cứu và nguyên nhân dẫn đến những đôi mới đó

6 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu k h á i quát về đào tạo cử nhân luật trong hai truyền thống pháp luật: Civil Law và Common Law, để rút ra những sự khác biệt điển hình trong đào tạo cử nhân luật ớ hai truyền thống pháp luật này;

và để bước đầu xác đinh hướng di thích hợp cho đổi mới đào tạo cử nhân luật ở V iệt Nam

- Nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của một số nước trong khu vực có hệ thống pháp luật thuộc một trong hai truyền thống Civil Law hoặc Comm on Law Lựa chọn những nước có điều kiện kinh tê, văn hoá, xă hội khá tương đồng với Việt Nam để nghiên cửu và học hỏi, các tác giả hy vọng sẽ có thể tiếp thu được nhiều kinh nghiệm quý báu đưa vào áp dụng trực tiếp tại Việt Nam

- Nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở \ lệt Nam trong quá khứ và hiện tại, tìm ra những khiếm khuyết và từ đó chỉ ra sự cần thiết phải đổi m ới công tác đào tạo luật nhằm đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế

- Đúc rút kinh nghiệm đào tạo củ nhân luật của các nước dã được chọn lọc để nghiên cứu và xem xét khả năng vận dụng những kinh nghiệm

đó vào công cuộc đổi mới toàn diện công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập

7 Các kếv quả nghiên cứu chu yếu

K t quả nghiên cứu đề tài được thể hiện trong 3 nhóm, gồm 8 chuyênđề:

Trang 10

N hỏm / Tông quan về đào tạo cử nhân luật trong truyên thông Civìl Law và Common Law, gồm 2 chuyên đề:

1 Khái quát \ ề đào tạo đại học nói chung và đào tạo cử nhân luật nói

riêng trong truyền thống Civil Law và Common Law

2 Vài so sánh khái quát về đào tạo cử nhân luật trong truyền thống Civil Law và Common Law

N hóm JI Kinh nghiệm đào tạo cử nhăn luật ở m ột số nước Châu A có

hệ thông p h á p luật thuộc truyên thông Civỉl Law hoặc Common Law,

gồm 4 chuyên đề:

1 Đào tạo cử nhân luật ở Hàn Quốc

2 Đào tạo cư nhân luật ở Thái Lan

3 Đào tạo cử nhân luật ở Malaysia

4 Đào tạo cử nhân luật ở Philippines

N hóm JII Thực trạng và giải pháp đổi m ới đào tạo cử nhân luật ở Việt

* r ~ 9 - r _ r s \ Ậ Ị Ạ • f _ A r \ 1 _ A -4 A

N am đáp ứng y ê u câu hội nhập, gom 2 chuyên đê:

1 Thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam: một số đi m hạn chế

2 M ột số giải pháp đổ mới đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

8 Cơ cấu nội dung báo cáo tổng quan về kết quả nghiên cứu đề tài:

Báo cáo tổng quan gồm 6 phần:

- Phần m ở đầu

- Phần 1: Tổng quan về đào tạo cử nhân luật trung truyền thong Cỉvil Law và com m on Law

- Phần 2: Kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của một số nước Châu Á

có hệ th< ng pháp luật thuộc truyền thống Cỉvil Law hoặc Common Law

- Phần 3: Thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam

- Phần 4: M ột số giải pháp đối mới đào tạo cử nhân luật ở Viêt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

- K ết luận

Trang 11

PHẦN I: TỎNG QUAN VÈ ĐÀO TẠO c ử NHÂN LUẬT TRONG TRUYỀN TH Ố NG CIVIL LAYV VÀ CỎM M ON LAW

Đào tạo cử nhân luật là một công đoạn trong đào tạo luật Đào tạo luật

là một khái niệm rộng, bao hàm: đào tạo luật ở bậc đại học, đào tạo luật ở bậc sau đại bọc và dạy nghề Nhìn chung, tất cả các nước trên thế giới đều bóc tách đào tạo luật ở bậc đại học và sau đại học thành những công đoạn riêng Tuy nhiên, đối với hoạt động đào tạo luật ở bậc đại học và dạy nghê, cũng có quốc gia không có sự bóc tách rành mạch Thông thường, ở những quốc gia có sự phân tách rành mạch giữa giai đoạn đào tạo cử nhân luật và đào tạo nghề, việc đào tạo cử nhân luật thường chỉ nhằm trang bị những kiến thức lý luận khoa học pháp lý thuần tuý và nội dung pháp luật thực định cho người học; phần kỹ năng nghề nghiệp không được coi trọng và hầu như không được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc đào tạo cử nhân luật Kiểu đào tạo này thường thấy ở những nước có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil Law như ở các nước Châu Âu lục địa và một số nước Châu Á, Châu Mỹ La-tinh Ngược lại, ở những quốc gia không có sự bóc tách rành mạch giữa giai đoạn đào tạo cử nhân luật và đào tạo nghề, nội dung chương trình đào tạo cử nhân luật thường chú trọng tới việc trang bị các kỹ năng làm V iệc cho người học như kỹ năng phân tích luật, kỹ năng tư duy có phê phán, kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng lập luận, kỹ năng tranh tụng, kỹ năng tư vấn pháp luật Mỹ và ở mức độ thấp hơn, ở một số quốc gia có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Common Law (như ú c , Canada, New Z ealand trừ Vương quốc Anh) thường đi theo mô hình đào tạo này Để m inh chứng cho nhận định trên, phần dưới đây sẽ điểm qua về đào tạo cử nhân luật ở hai quốc gia tiêu biểu cho truyền thống Civil Law và hai quốc gia tiêu biêu cho truyền thống Common Law

1 Đào tạo cử nhân luật trong truyền thống Civil Law: khảo sát trường họp của Pháp và Đức dưới góc nhìn so sánh

- v ề cách thức tuyển sinh và sàng lọc sinh viên trong quá t r ì n h đào tạo: cả hai quốc gia việc tuyển sinh được thực hiện thông qua xét tuyển thay vì thi tuyển Điều đó có nghĩa là học sinh tốt nghiệp phổ thông, có kết quả học tập tốt và có nguyện vọng vào học tại một khoa luật của một trường đại học đ< 1

có thể làm thủ tục nhập học tại một khoa luật mình muốn Cách ihức tuyển sinh không m ang tính cạnh tranh cao nhưng để tốt nghiệp khoa luật, sinh viên luật phải vượt qua quá trình đạo tạo hết sức khắt khe Sinh viên phả: vượt qua được các kỳ thi hết môn để được chuyển lên học những năm tiếp theo và cuối cùng phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp đòi hỏi lượng kiến thuc

Trang 12

khá rộng mới có thể giành được tấm bằng cử nhân luật Thời gian học để lấy bằng cử nhân luật kéo dài trong ba năm trong trường hợp của Pháp và bổn năm trong trường hợp của Đức.

- v ề mục tiêu đào tạo: ở cả hai quốc gia, mục tiêu đào tạo cu nhân luật đều không phải là nhằm “sản sinh” ra đội ngũ luật sư mà là nhằm trang bị kiến thức đại cương cho người học, điển hình là những lĩnh vực kiến thức như: lịch sử, triết học, kinh tế học, ngôn ngữ học và pháp luật

- v ề chương trình đào tạo: nội dung chương t r ì n h đào tạo cử nhân luật ở cả hai nước còn nặng về giang dạy lý thuyết và các quy phạm pháp luật thực định trong khi xem nhẹ kỹ năng nghề nghiệp với các m ôn học bắt buộc là chủ yếu và sinh viên ít có cơ hội lựa chọn m ôn học trong số lượng hạn hẹp các môn tự chọn Ở cả hai nước, chính phủ can thiệp khá sâu vào việc xây dựng nội đung chương trình đào tạo, các tổ chức xã hội nghề nghiệp như đoàn luật sư, hội luật g ia không có vai trò đáng kể nào trong lĩnh vực này

- v ề phương pháp đào tạo: ở cả hai quốc gia, phương pháp thuyết giảng trên thực tế vẫn là phương pháp chủ yếu và gần như duy nhất để truyền đạt kiến thức tới người học Cách thức tổ chức giảng dạy là hình th íih những lớp học

cỡ lớn với hàng trăm sinh viên tham dự bài thuyết trình của các giáo sư luật một cách thụ động Cơ hội tương tác giữa sinh viên với giảng viên va giữa sinh viên với nhau trên lớp hầu như không có

- v ề nội dung giảng dạy trên lớp: giảng viên hầu như chi quan tâm tới việc thuyết trinh những kiến thức về lý luận khoa học pháp lý và nội dung các quy phạm pháp luật được rút ra từ các đạo luật Phán quyết của toà hiếm khi được đề cập tới trên lớp, nếu có cũng chi là nhằm m inh hoạ cho việc áp dụng một vài quy phạm pháp luật nào đó nằm trong các văn bản pháp luật hoặc đê

m inh hoạ việc giải thích luật hoặc để chỉ ra một kẽ hở, một m âu thuẫn nào

đó trong các quy định pháp luật

- N hu cầu cải tổ đào tạo cử nhân luật: Chính thực tế đào tạo cử nhân luật nói trên ở hai quốc gia Pháp và Đức m à các quốc gia này đã lần lượt tiên hành những bước đi nhằm đổi mới công tác đào tạo cử nhân luật: Pháp vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX và Đức vào đầu thiên niên kỷ mới Ở cả hai quốc gia, cai cách đào tạo cừ nhân luật đều hướng tới yêu cầu gắn lý thuyết với thực tiễn và chú trọng hơn tới việc trang bị kỹ năng thực hành hay kỹ năng nghề nghiệp cho người học nhằm giúp các tốt nghiệp sinh có khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn hoạt động nghề nghiệp sau này

Trang 13

2 Đào dạo cử nhân luật trong truyền thống Com m on Law: khảo sát trưòng hợp của Anh và Mỹ dưới góc nhìn so sánh

- v ề cách thức tuyển sinh: tuyển sinh vào học tại khoa luật ở Anh và M ỹ vừa

có những điểm tương đồng, lại vừa có những điểm khác biệt Ở cả hai quốc gia, các khoa luật đều tô chức thi tuyển mặc dù dưới những hình thức khác nhau và phần th tuyển ở M ỹ xem ra khắt khe hơn ở Anh Tuy nhiên điểm khác nhau lớn nhất trong cách tuyển sinh của các khoa luật là ở chỗ, đôi tượng tuyển sinh của người Anh là học sinh tốt nghiệp phố thông trung học trong khi đối tượng đó ở M ỹ là những người đã có một bằng đại học và cũng

vì vậy, thông thường, sinh viên luật khoa của Mỹ lớn tuổi hơn và có trình độ học vấn cao hơn sinh viên luật khoa cua Anh ở vào thời điểm nhập học

- v ề mục tiêu đào tạo: đào tạo cử nhân luật ở Anh chủ yếu hướng tới việc trang bị một phạm vi rộng lớn kiến thức khoa học tổng quan cho người học

và không chú ý tới phần trang bị kỹ nàng nghề nghiệp cho người học vì các

cử nhân luật của Anh sẽ phải trải qua trường lớp dạy nghề riêng, sau khi có bằng cử nhân (không nhất thiết phải là cử nhân luật) N gược lại, đào tạo cử nhân luật ơ M ỹ lại có mục tiêu nhào nặn ra những luật sư hành nghề trong tương lai chứ không nhằm trang bị kiến thức lý luận khoa học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng

- v ề chương trình đào tạo: do mục tiêu đào tạo khác nhau, chương trinh đào tạo cư nhân luật ở hai quốc gia A nh và M ỹ cũng rất khác nhau N gười Anh chú trọng tới các m ôn học luật nội dung và coi các m ôn học về luật thủ tục (tố tụng dân sự và tố tụng hình sự) không cần thiết phải đưa vào chương trình đào tạo cử nhân luật Thậm chí, cho tới gần đây, ngườ' A nh vẫn tỏ ra hết sức xem nhẹ phần kỹ năng thực tiễn khi thiết kế chương trình đào tạo cử nhân luật Mặc dù các hiệp hội nghề nghiệp (Đoàn luật sư và Hội luật gia) của Anh cL u đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chương trình đào tạo cử nhân luật nhưng cả hai hiệp hội nghi nghiệp này đều coi kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt kỹ năng tranh tụng và những kiển thức về pháp luật tố tụng thuộc khối kiến thức của người học nghề Vì lẽ đó, các môn học về luật thủ tục (tố tụng) chỉ được tìm thấy trong chương trình đào tạo nghề N gược lại với người Anh, người M ỹ lại rất chú trọng tới các môn học cung cấp kỹ năng cho người học và không coi nội dung luật thực định là khối kiến thức nhất thiết các cử nhân luật tương lai phải có Đối với ngươi M ỹ, điều quan trọng là các cư nhân luật tương lai phải biết cách tư duy có phê phán đối với các quy định của pháp luật chứ không phải là học thuộc lòng nội dung các quy định pháp luật N goài kỹ năng tư duy có phê phán, các cử nhân luật

Trang 14

tirơng lai của Mỹ còn cần các kỹ năng nghề nghiệp khác như kỹ năng soạn thao văn bản, kỹ năng tư vấn luật, và kỹ năng tranh tụng V vậy, chương trình đào tạo của mỹ được thiết kế với những môn học bao quát cả về luật nội dung, luật thủ tục và kỹ năng thực tiễn thông qua hàng loạt các môn học

b ắ t b u ộ c , t ự c h ọ n v à n h ữ n g g i ờ t h ự c h à n h ( d i ễ n á n Vd l à m v i ệ c t ạ i v ă n p h ò n g

thực hành nghề luật)

- v ề phương pháp đào tạo: trong n h i ề u năm, người Anh chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình để truyền tải kiến thức khoa học tới sinh viên Gần đây, người Anh đã bắt đầu chú trọng tới việc đổi mới phương pháp đào tạo, tăng cường sự tương tác giữa người dạy và người học đồng thời từng bước

sử dụng phương pháp thực h-inh trong quá trình đào tạo để trang bị kv năng nghê nghiệp cho sinh viên N gược lại với người Anh, người Mỹ hẩu như chỉ chú trọng sử dụng các phương pháp giảng dạy trang bị các loại kỹ năng thực tiễn cho người học Các phương pháp đã và đang được khai thác rộng rãi gồm: phương pháp tình huống, phương pháp Socratic, phương pháp diễn án, phương pháp thực hành nghề luật Tất ca những phương pháp này đều hướng tới việc rèn rũa các kỹ năng cần thiết cho các cử nhân luật tương lai như: kỹ năng tư duy có phê phán và lập luận, kỹ năng tranh tụng, kỹ năng tư vấn, hoà g iải

- v ề nội dung giảng dạy t r ê n lóp: ở Anh, sinh v i ê n chủ yếu vẫn được tiếp cận với bài thuyết giảng của các giáo sư về nội dung luật thực định gồm cả luật thành văn và án lệ Trong khi đó ở M ỹ, trên lớp, sinh viên chủ yếu được học các tình huống rút ra từ án lệ được đưa vào các cuon sách tình huống do các giáo sư luật biẻn soạn Tuy nhiên, sinh viên không thụ động ngồi nghe giáo sư giảng giải về các tình huống để nắm bắt được nội dung của các tình huống này m à chính các sinh viên phải nghiên cứu các tình huống đó trước giờ lên lóp Trên lớp, sinh viên được yêu cầu trình bày, phân tích các tình huống và xem xét tình họp lý và bất hợp lý trong cách giải quyết các tình huống đó của các thẩm phán Với nội dung giảng dạy đó, người học không phải nhớ một cách máy móc các quy phạm pháp luật thực định mà điều quan trọng là họ phải hiểu được rằng pháp luật không phải là những quy định bất biến mà là cái có thể tranh luận có thể thay đổi theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống

- Cải cách đào tạo cử nhân luật: ở cả hai quốc gia, trong những năm gan đây, đào tạo cử nhãn luật đều có những chuyển biến nhất định Những đổi mới ở

A nh nhàm vào mục tiêu tăng cường kỹ năng thực tiễn cho người học theo xu

Trang 15

hướng của người Mỹ Trong khi bản thân mô hìnli đào tạo của Mỹ đã và đang là hình mẫu cho nhiều quốc gia trên thế giới theo đuôi, thì bản thân người Mỹ cũng đã nhận thức được nhu cầu đổi mới đào tạo cử nhân luật nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập Cái mà người Mỹ đã làm là đa dạng hoá các môn học tự chọn và tăng cường cơ hội trao đôi, thảo luận giữa người học

và người dạy cũng như giữa ngưừi học với nhau đế tạo điều kiện giúp người học mở m ang kiến thức và khám phá những lĩnh vực mới trong khoa học pháp lý

3 Sự khác biệt điển hình trong đào tạo cử nhân luật ỏ’ hai truyền thống• • o • • 1 / 0

Civil Lavv và Com m on Law

Những phân tích trên cho thấy, đào tạo cử nhân luật ở các nước trong cùng một truyền thống pháp luật, ví dụ truyền thống Comon Law không hắn

đã giống nhau (như kiểu đào tạo của Anh có nhiều nét tương đồng với đào tạo luật ở các nước thuộc truyền thống Civil Law hơn la với kiểu đào tạo của Mỹ) Vì vậy, v iệ t so sánh giữa đào tạo cử nhân luật trone hai truyền thống pháp luật lớn trên xem ra sẽ gặp khó khăn nếu không lụa chọn một hướng tiếp cận so sáiih tương đối nào đó Để giúp người đọc có một hình dung nhất định, phần dưới đây sẽ tập trung so sánh giữa đào tạo cử nhân luật ở Mỹ (đại diện cho truyền thống Com m on Law ) với đào tạo luật ở các nước trong truyền thống Civil Law Tại sao lại là M ỹ? M ặc dù Mỹ khóiig phải là cái nôi sản sinh ra truyền thống Com m on Law mà công lao đó thuộc về Anh quốc nhưng mô hình đào tạo cử nhân luật của M ỹ trong vài thập kỷ gần đây đã được nhiều quốc gia không chỉ trong truyền thống Common Law học tập mà còn có ảnh hưởng lớn tới nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil Lavv

Những khác biệt điển hình được xem xét dưới đây chủ yếu liên quan tới mục tiêu đào tạo, chương trình và phương pháp giảng dạy

3.1 về m ục tiêu đào tạo cứ nhân luật• • *

Mục tiêu đào tạo cử nhân luật trong hai truyền thống pháp luật, Civil Law

và Common Law khác nhau rất lớn

Thứ nhất, đào tạo cử nhân luật ở các nước Civil I,aw, về bản chất, là đào

tạo mang tính đại cương, không chuyên sâu, không nhằm mục đích đào tạo người hành nghề Đành rằng nhiều khoa luật ở các nước Civil Law có đưa vào chưtmg trình đào tạo một số kiến thức mang tính chát kỹ thuật hoặc

Trang 16

nghề nghiệp nhưng các cua học chỉ mới được đưa vào và chỉ là phần phụ đóng vị trí thứ yếu cho một phần chính Ở các quốc gia này, người ta không cho rằng tất ca hoặc hầu hết các tốt nghiệp sinh của các khoa luật đều sẽ trở thành luật sư, thẩm phán hoặc công chứng viên Luật chỉ là một trong những chương trình đào tạo ở bậc cử nhân.

Dó là lý do tại sao trong con mắt của người M ỹ, đào tạo cử nhân luật ở các trường đại học thuộc truyền thống Civil Law không mang tính chuyên nghiệp, không đủ sức trang bị các kỹ năng chuyên m ôn nghiệp vụ cho người học Bất cứ phong trào nào theo hướng đào tạo chuyên môn hay nghề nghiệp đều là phong trào đi chệch khỏi quỹ đạo này Vì vậy những bài giảng ở các khoa luật thuộc truyền thống Civil Law thường trừu tượng hơn, quan tâm tới vấn đề triết học hơn là thực tiễn và xa rời việc giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, đào tạo cử nhân luật ở Anh cũng có đặc điểm này vì vậy, người Anh có cách đào tạo khác vái người Mỹ Ở các nước Châu Âu lục địa và thậm chí ở Anh, học nghề được tiến hành sau khi sinh viên tốt nghiệp đại học và diễn ra tại một trường dạy nghề nào đó nằm ngoài truưng đại học

Ở Mỹ đào tạo cử nhân luật về cơ bản là đào tạo với định hướng nghề nghiệp và đào tạo giành cho những người đã có bằng đại học Luật không được giảng dạy ở trường đại học như một m ôn học nhân văn hay như một môn khoa học xã hội Bất lợi của hệ thống đào tạo đó là m ột bộ phân lớn các

cử nhân t t nghiệp đại học mà không được tiếp cận một cách có tổ cliức với

hệ thống pháp luật Thực tế là không có cua học nào được tổ chức cho nhũng sinh viên m uốn học về hệ thống pháp luật M ỹ nếu không sẵn sàng giành thêm vài năm nữa đ học tại khoa luật

Những phát triển gần đây có xu hướng làm lu m ờ sự khác biệt giữa đào tạo luật mang tính tự do và không m ang tính dạy nghề ở các trường đại học của các nước Civil Law với đào tạo luật m ang tính dạy nghề ở các trường đại học thuộc các nước Com m on Law Các trường đại học ở Pháp và các nước Châu M ỹ Latin đã đưa thêm những buổi học do trợ giảng phụ trách để thảo luận về những vụ việc cụ thể phụ thêm vào những bài giảng lý thuyết

do các giáo sư luật đảm nhiệm là m ột trong những ví dụ về mục tiêu lý thuyết thuần khiết của đào tạo cử nhân luật tự do đã bị suy giảm ở các nước Civil Law Trong khi đó, các khoa luật ở Mỹ ngày càng tăng mối quan tâm tới việc nghiên cứu pháp luật từ phương diện khoa học xã hội và nhân văn chứ không chỉ coi khoa luật đơn thuần là những cơ sở đào tạo nghề luật sư như trước

Trang 17

Thứ hai, một sự khác nhau nữa giữa mục tiêu đào tạo cử n h â n luật ở hai truyền thống pháp luật là quan niệm của mỗi truyền thống pháp luật về những người hành nghề luật tương lai, cái đích cuối cùng mà đào tạo cử nhân luiật hướng tới Nêu như các nước Civil Law coi đào tạo cử nhân luật là bước khởi đầu để nhào nặn ra các kỹ thuật viên thì người Mỹ coi đào tạo cử nhân luật là giai đoạn được tiến hành nhằm nhào nặn ra những kỹ sư xã hội

Ở các nước Civil Law, các luật sư thực hành và thẩm phán được xem như những kỹ thuật viên, những người vận hành một cỗ máy do người khác thiết kế; trong khi đó ở Mỹ, các luật sư thực hành và thẩm phun được xem như những kỹ sư xã hội, những người được đặc biệt trang bị kiến thức đế nhận thức và cố gắng giải quyết những khúc mắc của xã hội Các luật sư ở Mỹ đều coi mình tự chịu trách nhiệm nghề nghiệp trước chính phủ và trước khu vực tư nhân Ý kiến tư vấn họ đưa ra thường vượt ra khỏi khuôn khổ những vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý, có cân nhắc đến hệ quả, và ý kiến tư vân còn giúp người được tư vẩn lường trước và giải quyết được những hệ quả

đó Các luật sư được coi như những nhân tố mấu chốt trong cải cách xã hội, cũng giống như các chuyên gia làm cho những chương trình xã hội mới hoạt động Nói cách khác, các luật sư M ỹ được xem như như lớp người có quyền giải quyết những khúc mắc xã hội và hệ thống đào tạo cử nhân luật nói trên của Mỹ với tính tự giác đã phân tích ở trên, đã và đang cố gắng một cách nghiêm túc chuẩn bị cho các sinh viên để sau khi tốt nghiệp có thể gánh vác được vai trò xã hội nói trên

Ở các nước Civil Law, luật sư cũng có xu hướng chiếm giữ vị trí như nhau trong khu vực công và tư giống như ở M ỹ nhưng dường như, sự hiểu biết và mối quan tâm về vai trò thực tiễn của luật sư trong mối quan hệ với đào tạo cử nhân luật xem ra m ờ nhạt hưn rất nhiều so với ở M ỹ Các luật sư chuyên nghiệp được xem như những kỹ thuật viên làm những công việc theo chuyên ngành hẹp, dù quan trọng nhưng không m ang tính sáng tạo Sở dĩ có điều đó là vì một mặt, trên thực tế, các khoa luật lả đã lờ đi khía cạnh dạy nghề, coi đó là việc làm không xứng đáng với tầm cỡ của khoa luật, nơi truyền bá kiến thức khoa học pháp lý uyên thâm; mặt khác các nước này có quan điểm rất hạn hẹp về dạy nghề: dù hoạt động dạy nghề được tiến hành ở đâu, đều coi là công việc đào tạo chuyên môn chứ không pha truyền bá kiến thức khoa học pháp lý

Thứ ba, sự khác nhau trong mục tiêu đào tạo luật giữa hai t r u y ề n thống pháp luật có thể nhận thấy từ sự khác biệt trong tư duy của giới nghiên cứu khoa học pháp lý về mục tiêu đào tạo cử nhân luật ở hai truyền thống này Nếu các nước Civil Law coi đào tạo cử nhân luật là nhằm trang bị kiến thức

Trang 18

lý luận khoa học pháp lv thì M ỹ coi giai đoạn đào tạo này là nhằm trang bị

kỹ năng thực tiễn nghề nghiệp Trong truyền thong Civil Law, giới khoa học pháp lý có kiểu tư duy thuần khiết và trữu tượng, và nhìn chung không quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề xã hội cụ thế hoặc đên sự vận hành của các cơ quan pháp luật M ục tiêu chính của giới nghiên cửu khoa học pháp lý là xây dựng nền tảng lý thuyết cho khoa học luật G iới nghiên cửu khoa học pháp lý hoạt động rời xa xã hội, con nợười và những khúc mac của xã hội đến mửc lam gịới luật sư ơ các nước C oinm oa Law phải kinh

ngạc Chính vì vậy, đào tạo cư nhân luật g :ác nước Civil Law cũng là nhằm

hướng tới việc trang bị nền tản£ kiến thức lý thuyết khoa học pháp lý thuần khiết Trong khỉ đó ở các nước Comm oti Law, giới nghiên cứu khoa học pháp lý thường được coi là những kỹ sư xã hội có nhiệm vụ giám sát hoạt động của trật tự pháp lý, phê phán và đưa ra những để xuất hoàn thiện Đôi với họ, hoàn thiện pháp luật là phương tiện thích hợp nhất để đối phó với những khúc mắc xã hội cụ thể Quan điểm này của các nhà khoa học pháp lý cũng được phản ánh trong nội dung chương trình và phương pháp đào tạo luật vì hầu hết họ là các giáo sư luật Kiểu đào tạo cử nhân luật của Mỹ nhằm trang bị cho người học nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng tư duy có phê phán đối với những gì được nghe và được đọc Chính kỹ năng này sẽ giúp các tốt nghiệp sinh có được kỹ năng phân tích, mổ xẻ và hoàn thiện các quy định pháp luật sau này T rên thực tế, ở M ỹ không chỉ có các công chức làm việc trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp mới quan tâm tới việc hoàn thiện pháp luật mà có thể nói toàn bộ giới hành nghề luật đều tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật N ếu tìm đọc các tạp chí chuyên ngành luật do các khoa luật ở các trường đại học của M ỹ xuất bản, cu thể thấy tác giả không chỉ là các giáo sư luật đang làm công tác nghiên cứu và giảng dạy m à còn thấy m ột số lượng không nhỏ bài viết của các thẩm phán, luật sư và thậm chí cả sinh viên luật về xây dựng và hoàn thiện pháp luật Vậy là xem

ra người M ỹ đã hết sức thành công Irong việc phấn đấu để đạt được mục tiêu đào tạo cử nhân luật, nếu chỉ xét riêng về phương diện đào tạo nhằm trang bị

kỹ năng tư duy có phê phán trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật

3.2 về chương trình giảng dạy và ph ư ơ n g p h á p giảng dạy

Chương trình giảng dạy của các khoa luật ở M ỹ bao gồm ít môn học bắt buộc và nhiều môn học tự chọn So với chương trĩnh giảng dạy của Mỹ, chương trình giảng dạy của các nước Civil Law giứi hạn hon cả về số lượng

và mục tiêu của các môn học được tổ chức và thường có rất ít m ôn tự chọn

Sự khác biệt này bắt nguồn từ thực tế là các khoa luật ở các nước Civil Law không có định hướng dạy nghề và vì vậy, ít quan tâm tới việc tạo cơ hội cho

Trang 19

sinh viên học hỏi các kỹ năng chuyên môn nghề luật; hơn nữa các khoa Luật của M ỹ tự do hơn trong việc sáng tạo và thử nghiệm vì không bị bó buộc bởi những chính sách chung của chính phủ và cũng không cần thiết phải được sự chấp thuận của chính phủ trước khi thực hiện một cải cách nào đó trong đào tạo; thêm vào đó, các khoa luật ở các nước Civil Law có quan điêm hẹp hơn

và hạn chế hơn về bản chất pháp luật và chức năng của luật sư trong xã hội,

vì thế cách hiểu về những nội dung phù hợp có thể đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc cử nhân luật của các khoa luật cũng hẹp hơn

Một lý do cơ bản hơn nữa cho sự khác biệt trên là các nước Civil Law tin tưởng một cách rộng rãi rằng luật là một khoa học T ừ niềm tin đó, họ cho rằng mục đích của đào tạo cử nhân luật là để trang bị kiến thức cho sinh viên

về những khía cạnh của khoa học luật N hững gì các giáo sư biểt sẽ được truyền lại cho sinh viên qua các bài giảng; đổi với những vấn đề còn tranh cãi giữa các học giả và những vấn đề có hai hoặc nhiều hon hai lý thuyết được coi là đủ tầm quan trọng và xứng đáng được đưa vào chương trình đào tạo v ề tổng thể, kết cấu chung của chương trình giảng dạy khá ổn định, trong đó luật được chia thành nhiều ngành và m ỗi ngành luật được giảng dạy như những môn học riêng Xu hướng xây dựng chương trình đào tạo kiểu này làm cho nội dung chương trình giảng dạy của các khoa luật ở các nước Civil Law bị giới hạn hơn rất nhiều, m ang tính truyền thống hơn, ít có khả năng đáp lại những thay đổi của xã hội và thiếu tính nhạy bén trước nhu cầu

xã hội luôn đổi thay

Các khoa luật ở M ỹ trong vài thập kỷ gần đây đã cương quyết giảm bớt nội dung chương trình giảng dạy xuống 3 năm và trao cho sinh viên nhiều cơ hội đồng thời cũng là nghĩa vụ trong việc tự quyết định lựa chọn các môn học trong số lượng lớn các m ôn học sẵn có trong hai năm cuối Nhìn chung, các nhà đào tạo luật của Mỹ không m ấy tin tưởng về cái gọi là

“vấn đề cốt lõi của đào tạo luật đích thực” Đối với họ, việc xác định danh mục các m ôn học tự chọn không theo một công thức cô định N gay cả đối với những môn học m à các khoa luật ở các nước Civil L aw cho rằng cẩn phải có trong nội dung chương trình đào tạo và thuộc khối kiến thức bắt buộc như luật đất đai, luật lao động hoặc luật kinh doanh quốc tế thì các nhà đào tạo luật của M ỹ vẫn còn phân vân rằng liệu có nên đưa vào danh mục môn học bắt buộc

o các nước Civil Law, tâm điểm của đào tạo luật, về cơ bản, là nội dung giảng dạy chứ không phải phương pháp g i-n g dạy, và phương pháp giảng dạy thường bị xem nhẹ Người Mvffhi**majih iên cũng quan tâm tưi nội

Trang 20

dung giáng dạy nhưng chú trọng hơn tới các kỹ năng cần trang bị cho người học, như: kỹ năng phân tích luật, kỹ năng phân biệt giữa cái có liên quan và không liên quan, kỹ năng giải quyết những khúc mẳc pháp lý lcm kỹ năng tư duy một cách hữu dụng và có suy luận về các khúc mắc xã hội và các giải pháp pháp lý Tất nhiên là sinh viên cần làm quen với pháp luật hiện hành trước khi thảo luận về việc áp dụng luật để giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể nhưng theo quan niệm của người M ỹ đó là công việc đơn giản Thay vì giành thời gian quí báu trên lớp để thảo luận xem luật quy định gì (trên thực

tế, những kiến thức này sinh viên phải tự học trước ở nhà), người Mỹ tập trung vào vấn đề như: luật sẽ áp dụng như thế nào hay không thể áp dụng; những ngụ ý của pháp luật; thực tế xã hội xung quanh vấn đề đang xem xét, nghiên cứu N hư vậy mục tiêu đào tạo luật ở M ỹ là trang bị phương pháp

và kỹ năng cho người học Điều mà họ quan tâm là làm thế nào đê giúp sinh viên cỏ thể giải quyết một cách có suy nghĩ, có trách nhiệm và hữu ích các loại khúc mắc xã hội khác nhau mà họ sẽ gặp phải sau này với tư cách là người lãnh đạo của một cơ quan công quyền hay một tổ chức lư nhân hoặc với tu cách một luật sư Hệ thống đào tạo luật truyền thống ở các nước CiviỊ Law hiển nhiên có một mục tiêu khác: giáo sư thuyết giảng và sinh viên lắng nghe Kiểu hệ thống đào tạo đó rõ ràng đã được thiết kế đ- truyền đạt thông tin khoa học pháp lý tới sinh viên và cho thấy, đối với các nước Civil Law, :hông tin là kiến thức trọng yếu; vấn đề kỹ năng ít được quan tâm

v ề phương pháp giảng dạy: như trên đã đề cập, trong khi các nước Civil Law chú trọng sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền tải kiến thức 1ỚÌ người học thì các nước Com m on Law lại coi trọng những phương pháp rèn luyện kỹ năng cho ngưưi học và dường như mọi phương pháp giảng dạy mà người M ỹ sử dụng vào đào tạo cử nhân luật đt 1 luyện kỹ năng cho s nh viên, từ phương pháp tình huống, Socratic tới phương pháp law ciỉmcs và diễn án Tuy v ậ ), điều đó không có nghĩa là người M ỹ bỏ qua

1 '•S' 1 • Ạ , 1 r Á A • 1 1 r I Ạ , ■ ' _ * 1 ■ « _ A _ r T T A 4 A > _4 ~những kiên thức vê nội dụng pháp luật mà sinh viên cân có V ân đê này đã được John Henrry M errym an phân tích hết sức sâu sắc từ giữa thập kỷ thứ VII của thế kỷ XX.3 Ô ng thậm chí còn khẳng định rằng: có một vấn đề thưừr.g được nhắc đến nhưng hoàn toàn thiếu chính xác, phương pháp án lệ (case m ethod hay phương pháp tình huống) là phương phdp chiếm ưu thế trong giảng dạy luật ở các khoa luật của Mỹ Phương pháp này đặc biệt hay được các học giả người nước ngoài nhắc đến khi bàn về đào tạo luật ở Mỹ

V à thím chí nhiều người M ỹ cũng tin như vậy Theo M erry M an, “trên thực

tế, không có phưcmg pháp án lệ Đúng là sinh viên M ỹ nghiên cứu tất cả các

3 X e m ohn Henrry M errym an (S đ d ) 8 5 9 , tr.8 7 1 -8 7 3

Trang 21

án lệ với cùng lý do theo cùng cách thức nhưng họ không chỉ nghiên cứu án

lệ mà họ còn nghiên cứu cả luật và các văn bản do cơ quan hành chính ban hành và họ cũng nghiên cứu rất nhiều tài liệu về học thuyết pháp lý được sử dụng trong giảng dạy luật N hững học giả đến từ các nước Civil Law cho rằng tất cả các khoa luật ở M ỹ sử dụng phương pháp án lệ đều có chung một giả định sai lầm Người Mỹ ngbicn cứu án lệ vì đó là nơi chứa đựng quy phạm pháp luật - luật án lệ hay tiền lệ pháp Dựa trên học thuyết Stare Decisis, luật được rút ra từ chính những phán quyết của toà là án lệ Vì vậy,

ở các nước Common Law, sinh viên nghiên cứu án lệ cũng giong như ở các nước Civil Law, sinh viên nghiên cửu các bộ luật vì đo là nguồn luật chủ yếu Trên thực tế, đọc án lệ để học nội dung các quy phạm pháp luật là một cách học rất kém hiệu quả vì nếu chỉ để tìm kiếm quy phạm pháp luật, sẽ đơn giản hon rất nhiều là thông qua con đường đọc giáo trinh nhập mòn (hom book) và trên thực tế, sinh vièn luật của M ỹ thường lãm như vậy”

Thêm vào đó, một số luật sư ở các nước Civil Law còn cho rằng người Mỹ nghiên cứu án lệ với lý do tương tự như giả định của khoa học pháp lý truyền thống ở Châu Âu lục địa: vì người ta có thể đúc rút các nguyên tắc pháp lý tò những quy phạm pháp luật cụ thể, rút ra thậm chí những nguyên tắc rộng hơn những gì có được từ lần đúc rút thứ nhất, và bằng qaá trình tiếp diễn như vậy, cuối cùng đã làm ra được “lý luận tổng quan về pháp luật” (general theory o f law) Áp dụng tư duy logíc này vao hoàn cảnh của các nước Com m on Law, có thể thấy ngưòi ta nghiên cứu án

lệ như là nền tảng cơ bản, rút ra từ những vụ án cụ thể những nguyên tắc pháp luật rộng hơn từ những quy phạm pháp luật cụ thể đã được nghíẻn cứu,

và vì thế cũng đã xây dựng nên lý luận tổng quan về pháp luật Trong cả hai truyền thống pháp luật, hi n nhiên là những tài liệu mà sinh viên nghiên cứu

là tài liệu luật m à ở các nước Civil Law chủ yếu là luật thành văn còn ở các nước Common Lavv chủ yếu là án lệ

Từ những phân tích trên, M erry M an m uốn khẳng định rằng sinh viên

Mỹ nghiên cứu án lệ không phai để đúc rút ra các quy phạm pháp luật mà cũng không phải để tìm đến lý luận tổng quan về pháp luật m à xuất phát từ

ba lý do cơ bản Trước tiên và quan trọng nhất, án lệ là một ví dụ về trình tự

pháp lý diễn ra trên thực tế Khi m ột người đọc án lệ, như dã được ghi chóp lại và xuất bản trong truyền thống Comm on Law, người đó sẽ đối mặt với: các tình tiết thực tế dẫn đến việc tranh tụng; cách thức mà những tình tiết thực tế này đã được giải quyết theo các quy định pháp luật; lý lẽ và những lập luận của các luật sư của hai bên đương sự liên quan đến giải pháp pháp

lý chuẩn xác; và cách thức toà án giải quyết vụ việc và đi đến phán quyết

Trang 22

cuối cùng Nghiên cứu án lệ chính là công việc nhằm làm quen với trình tự pháp lý trên, để biết hệ thống pháp luật vận hành như thế nào trên thực tế Như vậy, kiểu học này thực chất vẫn đề cao phương pháp cần trang bị hơn là nội dung kiến thức cần trang bị cho ngưoi học.

Hiển nhiên là án lệ chỉ phản ánh một phần của hệ thống phdp luật, vì vậy sinh viên M ỹ còn nghiên cứu cả luật, các quyết định hành chính và các tác phẩm của các nhà khoa học pháp lý Trong hệ thống pháp luật Mỹ, thẩm phán vẫn giữ vai trò chủ đạo và hoạt động tư pháp vẫn là tâm điểm của hệ thống pháp luật vì vậy người Mỹ vẫn dành nhiều nỗ lực để quan sát và học hỏi từ quy trình xét xử của hệ ffc ìng toà án

Lý do thứ hai cho việc sinh viên nghiên cứu án lệ ở các khoa luật của

Mỹ là mồi vụ án là một mảnh nhỏ của lịch sử xã hội Nghiên cửu các phán quyết của toà trong ba năm học sẽ thiết lập cho người học một nguồn kiến thức về các vụ án iớn và nhỏ đã xảy ra trong lịch sử xã hôi Việc làm này sẽ tạo cho sinh viên cảm giác được tiếp xúc với nền văn hoá Mỹ; được chứng kiến những hoan cảnh xã hội cụ thể đã được giải quyết bằng pháp luật, trong

đó các bên đương sự của các vụ việc là các cá nhân mà sinh viên có thế nhận diện trong đời sống hàng ngày Người học sẽ tập trả lời các câu hỏi: liệu kết quả xét xử có chính xác; liệu các quy định pháp luật có nhất thiết phải đi đến kết cục như trong vụ việc này; và liệu phải sửa đổi pháp luật như thế nào để ngăn chặn sự tái diễn của những kết cục đó

Ở nhiều nước Civil Law, kiểu nghiên cứu phán quyết của toà như vậy rất khó và thậm chí không thể tiến hành Phán quyết của toà được xuất bản theo cách thức cắt xén trong con m ắt của các luật sư Mỹ: các tình tiết bị cắt

bỏ hoặc lược bớt gần hết và thủ tục tố tụng được thể hiện một cách trừu tượng và mang tính kỹ thuật

Thứ ba, người M ỹ còn nghiên cứu án lệ vì chúng khó Á11 lệ khó vì cẩn phải hết sức tập trung mới có thể hiểu được vụ việc, nắm bắt dược các tình tiết để có thể thảo luận Bên cạnh đó bản thân các thẩm phán cũng phải đối mặt với những khó khăn trong quá trinh xét xử, khi mà vấn đề cần giải quyết dường nhu không có giải pháp vì cả ha bên đương sự dèu tỏ ra có lý khi khẳng định rằng m ình đúng Thường thì những tình huốne đó nảy sinh

do pháp luật không quy định rõ ràng và vì vậy khỏ tìm câu trả lời cho vấn đề được đưa ra trước toà trong khi đó người thẩm phán vẫn phải ra phán quyết

N hư vậy sẽ rất hữu ích cho sinh viên luật nếu họ được đối mặt với khó khăn ngay từ đầu, họ sẽ hiểu được rằng m ình phải sống với khó khăn trong suốt

Trang 23

cuộc đời hành nghề của mình N gược lại, theo M erry Man, ở các nưức Civil Law, đào tạo luật làm cho sinh viên khó có được sự kiên nhẫn đối với các tình tiết, không m uốn đối m ặt với sự phức tạp của các tình tiết sự việc, thiếu chuẩn bị để giải quyết những vấn đề cụ thể trong thực tiễn.

Như vậy, cái vẫn được íihắc đến dưới cái tên “phương pháp án lệ” được sử dụng ở các khoa luật của Mỹ khỏng chỉ đơn thuần là phương pháp giảng dạy mà cũng lại chính là nội dung giảng dạy vì rhông qua việc học án

lệ, sinh viên còn được học các quy phạm pháp luật, tức học nội dung luật thực định có liên quan, song song với việc nghiên cứu luật thành văn và các học thuyết pnáp lý khác; thông qua phương pháp này, sinh viên còn được tìm hièu về nền văn hoá, bối cảnh lịch sử và ngữ cảnh xã hội cũng như trình

tự pháp lý để giải quyết một vụ việc nào đó tại hệ thống cơ quan tư pháp; sinh viên cũng tự tìm hiểu và xác định được bản chất của công việc mà mình

sẽ làm trong tương lai Điều đó càng cho thấy ưu thế của việc giảng dạy sử dụng án lệ hay tìnli huống

Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức được ràng mục tiêu và phương pháp đào tạo cư nhân luật của M ỹ không gắn với phán quyết của toà Á n lệ của Mỹ cung cấp một lượng tài liệu tham khảo giàu có, hi 5 dẫn và thiết thực nhưng những tài liệu tương tự chắc chắn vẫn có thể hiểu được và sẵn có ở các quồc gia Civil Law Đe đưa phương pháp giảng dạy tích cực như của Mỹ vào các khoa luật trong truyền thống Civil Law không nhất thiết đòi hỏi các quốc gia phải áp dụng học thuyết tiền lệ pháp mà cũng không nhất thiết phải thông qua việc nghiên cứu án lệ Các khoa Luật ở các nước Civil Law hoàn toàn có thể sử dụng các phán quyết của toà không phải là án lệ hoặc thậm chí xay dựng các tình huống giả tưởng để giúp người học tiếp cận với kỹ năng giải quyết vụ việc ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, và khuyến khích họ tích cực tham gia vào quá trình dạy - học

PHẦN II: K IN H N G H IỆM ĐÀO TẠO c ử NH Â N LUẬT CỦA M ỘT

SỐ NƯỚC CH Â U Á CÓ HỆ TH Ố NG PH Á P LUẬ T TH UỘ C TRUYEN

1 Kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của Hàn Quốc

Cuộc cả' cách đào tạo luật năm 2007

Sau những cuộc tranh luận kéo dài về cải cách đào tạo luật từ đầu những năm 1990, cuối cùng, Nghị viện Hàn Quốc đã thông qua Luật về

T hàm lập các Trường luật (Luật số 8544) ngày 04/07/2007 và được Tổng

Trang 24

thống Hàn Quốc phê chuẩn vào ngày 27/7/2007 Ngày 28/09/2007, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật về Trường luật cũng được ban hành Vào ngày 30-10, Bộ Giáo dục và N guồn nhân lực giới thiệu Hướng dẫn đánh giá chi tiết để các Trường luật làm hồ sơ chuyển đổi thành trường luật sau đại học theo mô hình của Mỹ Đen ngày 30/11/2007, có 41 cơ sở đào tạo luật đã nộp

hồ sơ về vi :c chấp nliận hiển chương của các trường luật nhưng chỉ có 25 trường được Bộ Giáo dục chấp thuận đạt yêu cầu Tháng 03/2008, Hiệp hội các Trường Luật đã được thành lập

Những thay đổi gần đây trong đào tạo cử nhân luật thể hiện m ột loạt đổi mới có tính chất cách mạng Sự đổi mới này diễn ra ở nhiều khía cạnh: đổi mới cách thức tuyển sinh, đổi mứi mục tiêu đào tạo, đổi m ới các cơ sở đào tạo và đổi mới phương pháp đào tạo M ột trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đổi mới đào tạo cử nhân luật là xu thế cạnh tranh quyết liệt giữa các trường đại học: chỉ tiêu phân bổ của nhà nước làm cho m ỗi trường luật đều phải huy động tối đa năng lực tài chính và sự ủng hộ không chỉ của lãnh đạo các trường đại học tổng hợp m à còn của dân chúng địa phương Các nhà cải cách hy vọng là sẽ làm cho nhiều trường luật địa phương trước đây không có hoặc có rất ít tốt nghiệp sinh vượt qua được Bar exam sau cải cách

sẽ có khả năng đào tạo ra những sinh viên luật có chất lượng cao hơn

Tuyển sinh vào trường luật

Cho mãi tới gần đây, mô hình đào tạo cử nhân luật ở H àn Quốc vẫn khá giống với mô hình của Anh, các khoa luật tuyển sinh từ học sinh tốt nghiệp phổ thông và cấp bằng LLB cho các tốt nghiệp sinh Q uá trình đào tạo cử nhân luật kéo dài bốn năm Đ được vào học tại khoa luật, thí sinh phải tham dự kỳ thi sát hạch cấp quốc gia do chính phủ tổ chức tương tự như

kỳ thi để được tiếp nhận vào trường luật của M ỹ (LSAT) N eu một học sinh trung học phổ thông đạt kết quả xuất sắc ở trường trung học phổ thông và đạt điểm LSAT cao, học sinh đó sẽ bị thầy cô, gia đình và bạn bè hối thúc để xin vào học tại khoa luật của m ột trường đại học danh tiếng ở Hàn Quốc bất

kế nguyện vọng và năng khiếu của học sinh đó Các khoa luật danh giá vì vậy thường tuyển được những sinh viên xuất sắc và sinh viên luật khoa thường là những sinh viên giỏi nhất trong trường đại học ở H àn Q i ốc Kiểu tuyèn sinh vào các khoa luật ở Hàn Quốc như đã đề cập đã được duy trì trong suốt hon 40 năm

Tuy nhiên do cuộc cải cách đào tạo luật được khởi xướ ng năm 2007,

từ đầu năm 2009, các cơ sở đào tạo cử nhân luật (được gọi là trường luật) đã

đi theo mô hình đào tạo của Mỹ, trở thành cơ sở đào tạo sau đại học và chỉ

Trang 25

tuyến sinh đối với những người đã có bằng cử nhân thuộc một lĩnh vực nào

đó và thoả mãn một số tiêu chí Các tiêu chí này gồm: đáp ứng được yêu cầu

về điểm trung bình ở bậc đào tạo cử nhân đã học, thanh thạo một ngoại ngữ, đạt điểm chuẩn trong kỳ thi năng khiếu vào trường luật Ngoài ra có trưimg còn đưa thêm tiêu chí khác như tổ chức thi viết để lấy điểm bài luận do thí sinh viết, tổ chức phỏng vấn thí sinh và yêu cầu thí sinh nộp m ột số giấy tờ xin nhập h ọ c

Chương trình đào tạo

Trong rất nhiều năm các cơ sở đào tạo cử nhân luật tự xây dựng chương trình đao tạo phù hợp vưi pháp luật Mặc dù cá nhân các thành viên của cơ sở đào tạo có thể đề xuất m ôn học mơi nhưng những để xuất này phải được nhà trường chấp thuận Trên thực tế, nguồn kinh phí hạn hẹp và những hạn chế khác đã làm cho các trưởng luật không thể chấp thuận tất cả các đề xuất thêm, bớt hoặc thay đổi các m ôn học Nội dung chương trình giảng trong năm thứ nhất gồm những m ôn học giáo dục đại cương, từ năm thứ hai đến năm thứ tư, sinh viên mới học các môn học luật E)è được cấp băng cử nhân luật (LLB), sinh viên phải dành được 140 tín chỉ Các m ôn học được đưa vào chương trình giảng dạy thiên về lý thuyết và xem nhẹ việc trang bị

kỹ năng thực hành cho người học, vì vậy chương trình giảng dạy nạy đã bị phê phán nhiều trước cuộc cải cách đào tạo luật

Chương trình đào tạo cử nhân luật bắt đầu được thay đổi đầu từ niên khoá 2010-2011 Khi đề cập tới chương trình đào tạo, các cuộc tranh luận đều không thể vượt ra khỏi m ột số vấn đề có tính nguyên lý như nên xây dựng một chương trình đào tạo thiên về lý luận hay thực tiễn; mối quan hệ giữa môn bắt buộc và tự chọn; nội dung chương trình đào tạo thiên về pháp luật trong nước hay pháp luật quốc tế; chương trình đào tạo nhằm trang bị kỹ năng giải quyết tranh chấp hay phòng ngừa tranh chấp cho người học v v

M ột số học giả H àn Quốc cho rằng chương trình đào tạo luật ở quốc gia này cần tiếp tục hoàn thiện; rằng sinh viên năm thứ ba cần được tiếp cận nhiều hơn tới các m ôn học m ang tính thực tiễn; các m ôn học bắt buộc chỉ nên giới hạn trong số các m ôn học có tính giới thiệu hệ thống pháp luật và nên được giảng dạy ở năm thứ nhất; ràng đối với các m ôn học về pháp luật nước ngoài, sinh viên cầir được gửi đi đào tạo ở nước ngoài 1 học kỳ chứ không nên học tò giảng viên H àn Quốc va tại H àn Quốc; rằng nên Jưa vào chương trình đào tạo các m ôn học về biện pháp phòng ngừa tranh chấp

Trang 26

- Chương trình đào tạo cần kết hợp giữa kiến thức lý luận và kỹ năng thực

hành

Chương trình đào tạo luật truyền thống của Hàn Quốc được chia làm 2 giai đoạn: (1) giai đoạn học về lý thuyết (chuẩn bị cho Bar exam tại các khoa luật); v à (2) giai đoạn thực hành nghề luật ở Viện N ghiên cứu và Đào tạo Tư pháp (Judicial Research and Training Institute - JRTI) Cuộc cải cách yêu cầu họp nhất hai giai đoạn đào tạo trên, vì vậy các trường luật đã phải tăng cường các môn học thực tiễn Luật về Trường luật quy định: 1/5 số giảng viên của trường luật phả) là các luật sư có bằng cấp đang hành nghề và đã có thời gian hành nghề ít nhất 5 năm

Bộ Giáo dục còn quy định hình thức khen thưởng cho các trường luật

có thể kết hợp trang b cả lý luận và kiến thức thực ti EI cho người học và chương trình đào tạo cần có trên 5 môn đào tạo thực tiễn Các m ôn học thực tiễn được đưa vào chương trình đào tạo là nhằm giúp người học biết cách giải quyết các tình huống thực tiễn bàng việc áp dụng luật dân sự, hình sự, doanh nghiệp, các luật tố tụng, luật đầu tư nước ngoài và luật y tế Do yêu cầu này, trên thực tế, nhiều trường luật đã b sung các m ôn học trang bị kỹ năng thực tiễn cho người học vào chương trình đào tạo

Phần lớn các m ôn thực hành có nội dung là nghiên cứu tình huống với tài liệu giảng dạy là các vụ kiện có ihực, một số trường kết hợp cả phần lý luận và phần thực hành trong các m ôn học luật Sinh viên thường được học các m ôn thực hành ở các năm trên N goài ra, nhiều trường luật ở Hàn Quốc

có xu hướng coi các môn luật tổ tụng là môn học thực hành do đó đã đưa vào chương trình giảng dạy nhiều môn học tố tụng dân sự, hình sự, hành chính, thuế kết hợp cả lý luận và thực hành M ột số trường luật giới thiệu các m ôn thực hành đặc biệt như soạn thảo hợp đồng, thực hành kỹ năng đàm phán và thành lập các Trung tâm thực hành nghề luật

- Chương trình đào tạo cần có cả môn học bắt buộc và tự chọn

Theo Luật về Trường luật, các trường luật đều phải đưa ít nhất 5 môn thực hành và là môn bắt buộc vào chương trình đào tạo Các m ôn này gồm:(1) Trách nhiệm nghề nghiệp; (2) Phương pháp nghiên cứu luật; (3) Soạn thảo các văn bản pháp luật; (4) Phiên toà giả định; V.' (5) Thực tập nghề Ngoài 5 môn ihực hành bắt buộc này, các trường được tự do thiết kế các môn thực hành khác phù họp với từng trường Các trường luật được khuyến khích giảm bớt môn học bắt buộc (dưới 35 học trình) và tăng cường số môn học tự chọn N eu số lượng học trìnl) của các m ôn bắt buộc tăng lên thì điêm thưởng cho trường sẽ giảm xuống tưưng ứng

Trang 27

- Chương trình đào tạo cần bao quát cả các mủn học về nội luật và luật

quốc tế

Các trường luật được khuyến khích đưa các môn học mới vào chương trình, gồm các môn góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập như luật so sánh, luật nước ngoài Các trường luật cũng được khuyến khích giảng dạy luật bằng tiếng Anh để giúp các tốt nghiệp sinh có thể đáp ứng nhu cầu công việc trong xu thế toàn cầu hoá và hộ nhập quốc tê

M ụ c tiêu đào tạo

Đã có giai đoạn các luật sư ở Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp Sau đó, các cơ sở đào tạo luật cần đào tạo ra những luật sư không chỉ có kỹ năng giải quyết tranh chấp mà còn phải có khả năng đê xuât các biện pháp ngăn ngừa tranh châp và khả năng giải quyêt các tranh chấp đó bàng các giải pháp pháp lý đa dạng Hiụn nay, Luật về Trường luật quy định mục đích của hệ thống đào tạo luật của Hàn Quôc hiện nay không chỉ yêu cầu các tốt nghiệp sinh của trường luật phải có kiến thức tốt về pháp luật m à còn cần phải có cả kiến thức về các lĩnh vực khoa học xã hội khác, đồng thời không chỉ yêu cầu họ có được các kỹ năng giải quyết tranh chấp, mà còn cần có được các kỹ năng của nghề luật, bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng phấn tích sự kiện pháp lý, kỹ năng lập luận,

kỹ năng nghiên cứu pháp luật, phân tích kết quả điều tra thực tiễn, kỹ năng giao tiêp, kỹ năng tư vân, kỹ năng đàm phán, kỹ năng tô chức và quản lý đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý, và kỹ năng nhận biết và giải quyết các mâu thuẫn trên cơ sở các nguyên tắc về đạo lý bên cạnh các nguyên tắc pháp lý

Phương p h á p giản g dạy

Tiếp thu kinh nghiệm của người Mỹ, các trường luật ở Hàn Quôc đã khai thác mạnh các phương pháp tình huống, Socratic, moot court và law clinics vào quá trình giảng dạy luật nhằm tăng cường kỹ năng làm việc nói chung và kỹ năng hành nghề luật nói riêng cho người học

2 Kinh nghiêm đào tao cử nhân luât của Thái Lan “ • • *

Tuyến sinh vào khoa luật

Đào tạo cử nhân luật ở Thái Lan diễn ra trong 4 năm tại các khoa Luật của các trường Đại học Để trở thành sinh viên luật, các thí sinh phải có kết quả học tập cao ở bậc phổ thông trung học, có sức khỏe tốt và phải vượt qua

kỳ thi tuyển sinh đại học cấp quốc gia M ôn thi bao gồm các môn khoa học

cơ bản như: Văn, Toán, L ịch sử, N goại ngữ và các môn học đặc biệt như:

N hà nước và Pháp luật, Giáo dục công dân H ình thức thi bao gồm cả viết

Trang 28

bài luận và phỏng vẩn Thí sinh muốn vào học tại trường Đại học Hoàng gia danh tiếng phải đạt kết quả cao trong kỳ thi này Trong tổng số 40 cơ sở đào tạo luật hiện nay, nổi bật có 4 trường đại học công và 8 các học viện công có khoa luật chuyên đào tạo từ bậc cử nhân đến tiến sĩ luật học, cũng như tiên

h à n h g i á o d ụ c p h á p l u ậ t v à đ à o t ạ o c h u v ê n s â u c h o Cí c q u a n c h ứ c v à c ộ n g

đồng cư dân địa phương Có gần 30 trường đại học tư thục đào tạo cử nhân luật, trong đó một nửa số trường đặt tại Bangkũk và một nửa nằm rải rác ở các tỉnh, thành phố trên cả nước Sinh viên tốt nghiệp khoa Luật phải tích luỹ từ 135 đến 145 tín chỉ

Chương trình đào tạo cử nhân luật

Điểm nổi bật của chương trình đào tạo là được xâv dựng bởi các giảng viên giàu kinh nghiệm trong linh vực nghiên cứu học thuật và trong giảng dạy, giỏi ngoại ngữ và có kiến thức chuyên sâu cả về chính trị và kinh tế Tuy nhiên, chương trinh đào tạo lại không những không bị mang tính khép kín nội bộ mà ngược lại còn đáp ứng được yêu cầu “xuyên biên giới và văn hoá quốc gia, biên giới và văn hoá vùng lãnh thổ” Điều đó có nghĩa là chương trình đào tạo được xây dựng nhàm giúp cho sinh viên có thể tự do chuyển đổi giữa các trường đại học trong nước và quốc tế, giữa các trường đại học trong nước với nhau thông qua việc tích lũy đủ số lượng tín chỉ theo yêu cầu ở bậc đào tạo cử nhân M ặt khác, chương trình đào tạo này cũng giúp phát triển khả năng hợp tác quốc tế giữa các giảng vicn trong nước và ngoài nước, giúp bắt nhịp kịp thời với những thay đổi nhanh chóng của tình hình trong nước và quốc tế, đáp ứng các yêu cầu hội nhập diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây Do thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế, việc phát triển mạng lưới hợp tác giữa các khoa luật trong nước, cũng như giữa các khoa luật trong nước với các khoa luật ở ngoài nước để trao đổi thông tin pháp luật và chương trình đào tạo được xem là công việc quan trọng nhất

M ỗi năm học thường có 2 học kỳ, đôi khi có thêm học kỳ thứ 3 vảo

M ùa hè cho các môn học hay chuyên đề thảo luận bổ sung Thời gian học cua mỗi kỳ không kéo dài quá 15 tuần, và kỳ học M ùa hè, nếu co không kéo dài quá 6 tuần Như vậy, cho đến khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ phai vượt qua 8 học kỳ Đối với những sinh viên vì lý do đặc biệt nào đó cần tốt nghiệp sớm hơn hoặc m uộn hơn so với thời gian dự kiến có thể rnt ngắn thời gian học tới mức tối thiểu là 7 học kỳ hoặc kéo dài thời gian học tối đa là 16 học kỳ Mỗi học kỳ, một sinh viên không được tích luỹ quá 22 tín chỉ Kiêng đối với học

kỳ Mùa hè, sinh viên không được tích luỹ quá 7-9 tín chỉ đề đảm bảo đáp ứng yêu cầu về thưi gian và chất lượng học tập

Trang 29

Kết quả học tập được đánh giá ở các cấp độ từ A, B+, B, c + , c , D+

và D, trong đó D là mức thấp nhất của mức đạt yêu cầu môn học Kêt quả ở cấp độ F được xem là trượt, không đáp ứng được yêu cầu của môn học Đ- hoàn thành toàn bộ chương trình đào tạo cử nhân luật, sinh viên phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp và tích luỹ ít nhất 135 tín chỉ

Nội dung chương tr ìh đào tạo cử nhân bao gôm: (1) các môn thuộc

khối kiến thức giáo dục đại cương (genercil subjects) với 30 tín chỉ; (2) môn học bắt buộc (compuỉsory subịects) với 5 nhỏm, mỗi nhóm gồm 18 tín chỉ,

gồm: Luật Kinh doanh thương mại, Luật dân sư, Luật hình sự, Luật quốc tế

và Luật công; và (3) môn học tự chọn (noncompulsory subjects) chiếm

khoảng 15-25 tín chỉ, gồm các môn học của khoa luật hoặc của khoa khác như: khoa Kinh tế, Khoa thương mại- kế toán, Khoa hành chính công và khoa khoa h ọ c chính t r ị

Phương pháp giảng dạy và đội ngũ giảng viên

Là một đất nước có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil Law, phương pháp giảng dạy luật ở Thái Lan không giống với phương pháp giảng dạy luật ở Mỹ Cụ thể là trên lớp học, thầy và trò chú trọng nghiên cứu các

bộ luật, các văn bản pháp luật thực định hơn là nghiên cứu bản án Tuy nhiên, kiều giảng dạy này cũng không thuần tuý lý thuyết mà có lưa tâm đến việc sử dụng các tình huống thực tế gắn với nội dung luật thực định Cậc

t ì n h h u ố n g n à y đ ư ợ c l ồ n g v à o q u á t r ì n h t h u y ế t g i ả n g v à đ ư a v à o c ả g i ờ t h ả o

luận (khi đó sinh viên thường được tách thành các lớp nhỏ) Giảng viên khoa Luật phần lớn tốt nghiệp ở nước nsoài, đặc biệt ở các nước có hệ thống luật phát triển và có ảnh hưởng không nhỏ tới Thái Lan như Anh, Mỹ, Pháp, Đức

và N hật Bản

Việc thành lập các trung tâm trực thuộc khoa Luật: phần lớn các

khoa Luật đều thành lập các Trung tâm trực thuộc như: Trung tâm nghiên cứu Luật và Phát triển; Trung tâm trợ giúp pháp lý; Trung tâm Luật môi trường và Phát triển; Trung tâm xúc tiến nghiên cứu Pháp luật của Pháp;

Trung tâm Luật Indochina; Trung tâm bảo vệ quyền trẻ em Châu Á .

M ột sổ ưu điểm và tồn tại trong đào tạo cử nhãn luật ở Thải Lan

So với đào tạo cử nhân luật của Việt Nam, đào tạo cử nhân luật của Thái Lan có một số ưu điểm sau:

( l ) T ấ t cả các cơ sở đào tạo luật của Thái Lan đều đã áp dụng hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ, với phương châm lấy người học làm trung tâm dựa trên cơ sở học liệu phong phú Phương pháp

Trang 30

mới này tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tích luỹ kết quả học tập trong phạm vi trường của mình và thậm chí có thể tích luỹ một

số tín chỉ tại các trường khác ở trong và ngoài nước Cho tới nay, Việt Nam cũng đang bước đầu chuyển sang đào tạo cử nhân luât theo học chế tín chỉ, tuy nhiên phương pháp đào tạo mới này chưa thực sự được áp dụng phổ biển ở tất cả các cơ sở đào tạo cử nhân lllật

(2) Các cơ sở đào tạo cử nhân luật đều có quyền tự chủ trong việc xây dựng chương trình đào tạo trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài Để làm được điều đó, các cơ sở đào tạo đã sử dụng dịch vụ tư vấn của các chuyên gia nước ngoài đến từ M ỹ, Nhật, Pháp; hoặc thuê các chuyên gia trong nước đã từng du học ở nước ngoài với phương châm chương trình đào tạo được xây dựng phải đáp ứng được thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế Cụ thể, chương trình đào tạo cử nhân luật có thể chia thành 3 bộ phận: (1) các m ôn thuộc kiến thức giáo dục đại cương; (2) các m ôn học bắt buộc (gồm các môn thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp);

và (3) các môn học tự chọn Chưưng trình đào tạo cũng đã chú trọng đến việc đào tạo chuyên sâu trong một số chuyên ngành hẹp như luật thương mại, luật quốc tế, luật dân sự và hình sự, đặc biệt

là chuyên ngành về luật công là một chuyên ngành mới Các trường đứng đầu về đào tạo luật ở Thái Lan đều chú trọng tới việc đào tạo chuyên sâu với phương châm đảm bảo tính học thuật nhưng vẫn đáp ứng được thực tiễn đang đổi thay của xã hội trong bối cảnh hội nhập M ột số trường còn tổ chức khoá đào tạo cử nhân luật bằng tiếng Anh nhằm cạnh tranh với các trường đại học

ở ngoài nước

(3) Đội ngũ giảng viên luật chuyên nghiệp nhìn chung còn thiếu về số lượng, nhưng xét về chất lượng, các giảng viên đều có kinh nghiệm, có trình độ ngoại ngữ, được đào tạo bài bản tại các trường đại học danh tiếng của M ỹ, Anh, Pháp, N hật Bản Sở d ĩ có được điều đó là do người Thái L an có truyền thống đi du học nước ngoài Chưa bao giờ phải trải qua giai đoạn thuộc địa, hệ thống giáo dục nói chung và đào tạo luật nói riêng của Thái Lan được xây dựng và phát triển bởi chính người Thái Lan, có tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài thông qua việc sử dụng ý kiến tư vấn của các chuyên gia giỏi từ trong và ngoài nư<vc

Trang 31

(4) So với Việt Nam, đào tạo cử nhân luật ở Thái Lan có bề dày lịch

sử và chịu nhiều ảnh hưưng của bậc đào tạo này của nước ngoài Việc thành lập các Trung tâm ở khoa Luật như đã đề cập, được xem là ưu điểm trong mô hình đào tạo luật ở Thái Lan, thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa chức năng giảng dạy và nghiên cứu của giảng viên, đảm bảo cập nhật thông tin thường xuyên và tính chuyên nghiệp trong môi trường đào tạo luật Bên cạnh đó, việc phát triển mạnh quan hệ họp tác giữa các trường trong nước, trong khu vực

và trên phạm vi quốc tế cũng là điểm mạnh của Thái Lan xuất phát

từ yêu cầu cấp thiết cua họp tác quốc tể và ứng dụng khoa học công nghệ trong giảng dạy, trao đổi chuyên môn, trao đổi hệ thống tín chi giữa các cơ sở đào tạo cử nhân luật với nhau

(5) Đào tạo cử nhân luật ở Thái Lan hết sức chú trọng đến chất lượng của đầu ra nhằm cung cấp các chuyên gia luật lành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội Hầu hết các cử nhân luật đều có khả năng làm việc được ngay vì trong quá trình học ở khoa luật họ đã được trang

bị nhiều kỹ năng thực tế và cách thức giải quyết tình huống chứ không chỉ học thiên lệch về lý thuyết Sinh viên ở kỳ cuối có thể tham gia thực tập ở các Trung tâm tư vấn và thực hành nghề luật

Tuy nhiên, đào tạo cử nhân luật ở Thái lan vẫn còn một số tồn tại:(1) Thiếu giang viên: tình trạng thiếu đội ngũ giảng viên luật chuyên nghiệp được xem là tồn tại lớn nhất và có ảnh hưởng trực tiếp đến quy

mô và chất lượng giảng day v ấ n đề này được xem như một yếu tố ảnh hương quyết dịnh đến công tác đào tạo luật ở Thái lan

(2) Quy mô lớp học quá lớn: tình trạng thiếu giảng viên dẫn đến hệ quả, các khoa luật thường phải tổ chức lớp học với quy mô lớn Quy

mô lớp học trên thực tế không đồng đều giữa các ưường do số lượng sinh viên của từng trường không giống nhau Thực tế này đã gây khó khăn cho việc quản ]ý đào tạo cũng như khó đảm bảo chất lượng dạy

và học tốt tại nhiều cơ sở đào tạo cử nhân luật

(3) Khả năng bị tụt hậu và tiến tới đóng cửa của một số cơ sở đào tạo

cử nhân luật: sức ép ngày càng tăng lên của quá trình hội nhập quốc tế

đã làm cho nhiều cơ sở đào tạo luật không có danh ng và các trường

tư thục không kịp cải cách nội dung chương trình đào tạo, không có điều kiện để quảng bá hình ảnh của mình Những cơ sở đào tạo này

Trang 32

rất có khả năng sẽ nhanh chóng bị tụt hâu và đối mặt với nguy đóng cửa do không có đủ số sinh viên nhập học.

3 Kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của M alaysia

Tuyển sinh vào học tại khoa luật:

Cách thức đào tạo cử nhân luật ở các khoa Luật nhìn chung theo

mô hình của Anh và gồm hai giai đoạn: giai đoạn một nhằm trang bị kiến thức lý luận về pháp luật; giai đoạn hai nhàm trang bị kỹ năng thực hành nghề cho những ai m uốn trở thành luật sư

Khác với Mỹ và tương tự V O I Anh, các khoa luật ở M alaysia tuyển sinh từ các học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và cấp bằng LLB cho những sinh viên tốt nghiệp khcá đào tạo cử nhân luật Tuv nhiên, thời gian đào tạo cử nhân luật ở M alaysia không hoàn toan giống với thời gian đào tạo cử nhân luật ở Anh (chỉ kéo diễn ra trong 3 năm), và

có sự khác nhau giữa các trường công lập và trường tư thục Các trường đại học công lập đào tạo cử nhân luật trong 4 năm trong khi đó các trường tư thục chỉ đào tạo trong 3 năm

Chương trình đào tạo cử nhân luật

Maíaysia là m ột quốc gia có hệ thông pháp luật thuòe truyên thông Common Law và chịu sự ảnh hưởng của Luật H ồi giáo N guồn luật của Malaysia, vì vậy rất đa dạng, bao gồm hệ thống tiền lệ pháp, luật thành văn, luật hồi giáo và tập quán pháp Chương trình đào tạo cư nhân luật trong các trường đại học công lập ở M alaysia, do vậy, cũng phản ánh rất rõ tính đa dạng của nguồn luật ở đất nước này

Hiện nay, chương trình đào tạo cử nhân luật ở hầu hết các khoa Luật của các trường đại học công lập của M alaysia gồm 4 phần: (1) Các môn học bắt buộc truyền thống; (2) Các m ôn học tự chọn bao gồm

cả các môn luật và phi pháp luật: (3) M ôn học ngôn ngữ M alay bắt buộc hoặc môn học tiếng A nh hoặc cả hai; và (4) Các m ôn học luật hồi giáo, bắt buộc cho tất cả tín đồ hồi giáo

Nhìn chung, ở M alavsia, các trường đại học công lập tự quyết định nội dung và chương trình đào tạo cử nhân luật Theo đó, các m ôn học được chia ihành hai loại: bắt buộc và tự chọn

Trang 33

Các môn học bắt buộc được xây dựng nhằm cung cấp những kiến thức pháp luật và những kỹ năng cơ bản của một luật gia cần có, mặt khác nhằm đặt nền móng, giúp cho ngưừi học tiếp cận các vấn đề chuyên sâu ở các môn tự chọn Bộ giáo dục, Hội đồng đánh giá tiêu chuẩn hành nghề và Hội đồng luật sư của M alaysia chỉ có vai trò nhàt định trong việc xác định các m ôn học bắt buộc, nội dung cốt lõi cua chương trình đào tạo cử nhân luật tại các trường đại học công lập Các môn học bắt buộc chia làm ba nhóm: (1) các môn học thuộc khối kiến thức đại cương về pháp luật cung cấp nền tảng kiến thức khoa học pháp

lí, kiến thức về hệ thống pháp luật M alaysia, và về hệ thống pháp luật hồi giáo; (2) các môn học luật gắn với các lĩnh vục pháp luật cơ bản, truyền thống và là nền tang cho sự phát triển của truyền thống Common Law nói chung và hệ thống pháp luật M alaysia nói riêng; và

(3) các môn học về kỳ năng nhằm cung cấp kỹ năng cơ bản cho sinh viên luật và cho các luật sư tương lai.4

Cac môn học tự chọn được xem là phần kiến thức chuyên sâu chứ không phải là các môn học phụ trợ được đưa vào chương trình đao tạo nhàm tạo điều kiện để sinh viên có thể lựa chọn những môn học m ình yêu thích, đồng thời định hướng nghề nghiệp cho m ình trong tương lai

Danh mục các m ôn học tự chọn do từng trường quyết định và có thể thay đòi hàng năm Các m ôn học tự chọn thường là những m ôn luật phát sinh trong những lĩnh vực m ới của nền kinh tế M alaysia

Phương p h á p giản g dạy và m ộ t số vấn đề khác

Các cơ sở đào tạo cử nhân luật ở M alaysia đã phối ki t hợp nhiều phưon^, pháp giảng dạy như thuyết trình, Socratic, tình huống, và thực hành nghề luật Phương pháp giảng dạy thông dụng nhất ở M alaysia là phương pháp thuyết trình được sử dụng trong những lớp học cỡ lớn v à cho những môn học bắt buộc Sau giờ thuyết giảng của giáo viên trên giảng đường là giờ phìi đạo cũng được tổ chức ở lớp học với quy mô lớn, ở đó giảng viên và sinli viên sẽ thảo luận về chủ đề đã được thuyết giảng Trong cả giờ thuyết giảng và giờ phù đạo, giảng viên đôi khi có thể sử dụng phương pháp Socratìc hoặc phương pháp tình huống để hướng dẫn sinh viên phân tích những vụ \ iệc thục tế Đối vớ' những môn học tự chọn, phương pháp thảo

4 X uất phất từ nhận x é t trong thực té ràng n hiều sinh viên trong các trường luật đ ư ợ c đào tạo qúa nhiều lí thuyết ư à không gắn v ớ i thực tiễn đ ờ i số n g Từ năm 2 0 0 0 , các trường đại h ọc K eb an gsaan M a laysia, Đại học hồi ịiá o q u ốc tế, Đ ại học cô n g n gh ệ M aR a đã g iớ i thiệu các m ôn học thực hành n gh ề luật như: K ỹ năng đàn phán và các phương thức giái q u yết tranh chấp lựa chọn; Tư vấn và tranh tụng.

Trang 34

luận thường được sử dụng, theo đó, sinh viên phải trình bày một chủ đề nào

đó đã được lựa chọn chuẩn bị từ trước giờ học và sau đó cả lớp sẽ thảo luận

về chủ đề đã được trình bàv

Các trường đại học của M alaysia còn rất chú trọng đến phương pháp thực hành nghề luật Hầu hết các khoa luật ở M alaysia SI dụng phiên toà giả định với sự tham gia, đóng vai của sinh viên và coi đó là một hoạt động hữu ích,

là một phần của chương trình đào tạo luật Các khoa luật cũng thường xuyên sắp xếp cho sinli viên thực tập tại công ty luật, các văn phòng luật sư, các ca

sở trợ giúp pháp lí trong thời gian nghỉ học kỷ Ngoài ra, đế tăng cường kiến thức thực tiễn cho người học, nhiều trường đã mời các luật sư đến giảng dạy hoặc cùng song giảng với các giảng viên của trường

v ề n g ô n n g ữ s ử d ụ n g trong giảng d ạ y luật ở Malaysia: Tiếng Malay là ngôn ngữ chính thức của Malaysia được sử dụng trong giao tiếp ở tất cả các

cơ quan của Chính phu Tại toà án, các toà án cấp thấp như toà án huyện sử dụng tiếng Malay nhưng toà cấp cao, toà phúc thẩm, toà án liên bang vẫn tiếp tục sử dụng tiếng Anh với sự chấp thuận của chánh án Ở các trường đại học công lập, đào tạo cử nhân Luật áp dụng chính sách haj ngôn ngũ Tiếng Malay hoặc tiếng Anh sẽ được sử dụng để giảng dạy các môn học đối với tất

cả các sinh viên trong suốt 4 năm học5 Nhiều trường sử dụng tiếng Malay

đê truyền đạt kiến thưc trong giờ lí tbu>et nhưng trong giừ thảo luận lại sử dụng úếng Anh Việc sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng M alay tại các khoa luật đã làm cho những người có đủ tiêu chuẩn hành nghề luật ở Malaysia không gặp khó khăn về ngôn ngữ giao tiếp trong thời kỳ hội nhập kinh tê quốc tế hiện nay

M ột số bất cập trong chương trình đào tạo cử nhân luật ở M alaysia:

Chương trình đào tạo cử nhân luật ở M alaysia hiện còn tồn tại một số hạn chế, chưa đáp ứng tốt xu thế hội nhập quốc tể.6

M ột là còn thiếu các môn học trang bị kiến thức về pháp luật các nước ASEAN Các môn học được đưa vào chương trình đào tạo chủ yếu liên quan đến pháp luật trong nước, chưa chú trọng đến việc giảng dạy pháp luật

ASEAN cũng như đến hệ thống pháp luật thương mại quốc tể Không cộ

một trường đại học công lập nào của M alaysia giới thiệu hệ thống pháp luật ASEAN trong chương trình đào tạo cử nhân luật do đi) không tạo cơ hội cho các s nh viên tìm hiểu chuyên sâu về hệ thống pháp luật của các nước

5 h ttp ://n a is.fsk tm u m e d u m y /4 7 6 6 /l/l.p d f

6 h ttp ://ivw w asean law asociation org/9G A d ocs/W 2-M aIaysia.p d f

Trang 35

ASEAN Từ đó, các luật gia, luật SU' Malaysia sẽ gặp khó khăn khi giải quyết các vụ việc liên quan đến pháp luật của các nước ASEAN.

Hai là còn thiếu các môn học trang bị kiến thức cho người học nhàm đáp ứng yêu cầu của tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế và hội nhập quôc tê như: Luật thương mại quốc tế, Luật tài chính quốc tế, Luật đầu tư quôc tê, Luật về thôn tính, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp thông qua những giao dịch vượt qua khỏi biên giới quốc gia, Luật giải quyết tranh chấp quốc tế, và Luật nhân quyền quốc tế Mặc dù một số trường đã đưa vào nội dung chương trình giảng dạy một số môn học trong số những môn nói trên nhưng lại xếp vào danh mục các môn học tự chọn, vì vậy không phải tất cả các sinh viên đều có được khối kiến thức này

4 Kinh nghiệm đào tạo cử nhân luật của Philippines

Tuyển sinh vào khoa luật:

Cũng giống như Mỹ, các khoa luật của Philippincs chỉ tuyển sinh đối với những thí sinh đã có một bằng đại học Tuy nhiên, bằng luật thịnh hành

ở Cộng hòa Philippines là LLB (bàng cử nhân luật) Để lấy bàng cử nhân luật, sinh viên phải theo học bốn năm tại khoa luật theo chương trình đào tạo chuẩn Trên thực tế, hầu như tất cả các khoa luật ở Philippines đều tuân thủ chương trình đào tạo cử nhân luật chuẩn, nhàm đáp ứng yêu cầu của các kỳ thi hành nghề luật do luật sư đoàn tổ chức Điều này cho thấy chương trình đào tạo cử nhân luật ở PhilỈDpines mang tính định hướng nghề nghiệp rất cao, trang bị cho ngườ học những kiến thức và kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu hành nghề luật trong tương lai

Ngoài chương trình đào tạo cử nhân luật truyền thống như đã nêu trên một số trường Luật của Philippines còn đi theo mô hình của Mỹ, có các chương trình đào tạo mang tính chất chuyên sâu về luật để cấp bằng JD Như vậy, đoi với bậc đào tạo ở trình độ đại học Philippines sử dụng đồng thời cả hai loại chương trình đào tạo cử nhân luật: LLB và JD Thực tế này phản ánh

sự ảnh hưởng sâu sắc của kiểu đào tạo luật của Mỹ đối với công tác đào tạo

cư nhân luật của Philippines Cả hai chương trình đào tạo cấp bằng luật đế được hành nghề luật (LLB và JD) đều là chương trình dành cho những người đã có bàng đại học của một chuyên ngành khác Trong khi đó chương trình đào tạo cử nhân luật (LLB) của một số nước khác trong truyền thống Common Law như Anh, ú c có đối tượng tuyển sinh lả học sinh vừa tốt nghiệp trung học phổ thông

Trang 36

C ũng giống như ở Mỹ, mục tiêu đào tạo của các khoa luật ở Philippines thông qua các chương trình đào tạo LLB hoặc JD đều nhằm sản sinh ra những người thực hành nghề luật giỏi, đáp ứng với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

Chương trình đào tạo cử nhân luật (LLB/ JD)

Là chương trình đào tạo dành cho những người đã có một bằng đại học thuộc một chuyên ngành khác, vì vậy, chương trình đào tạo cử nhân luật cua Phihopines khác với chương trình đào tạo tương ứng của một số nước

c ommon Law khác Người Philippines không chú trọng đến việc trang bị kiến thức khoa học tổng quan {general education) mả chỉ yếu tập trung vào

việc trang bị các kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề luật cho người học

N hiều quy định chặt chẽ liên quan đến việc quản lý, kiểm soát và thực hiện chương trình đào tạo luật của các cơ sơ đào tạo luật ở Philippines đã được ban hành nhằm:

- Chuẩn bị kiến thức và kỹ năng thực hành luật cho sinh viên;

- Đào tạo những người hành nghề luật có năng lực và đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng tham gia vào cả những hoạt động nghê nghiệp không

vì lợi nhuận;

- Đào tạo các nhà lãnh đạo cho quốc gia;

- Đóng góp cho sự thúc đẩy và phát triên nền tư pháp và hành chính

quốc gia, hệ thống pháp luật và các thiết chế của quốc gia

Việc đào tạo luật của các khoa Luật ở Philippines chịu sự kiểm tra,

giám sát của ủ y ban về giáo dục đại học {Commission on Higher Education)

và Hội đồng đào tạo luật (Legal Education Board) mà Chú tịch là thẩm phán

của tòa chuyên trách Tòa án Tối cao Philippines đã nghỉ hưu.7 Các cơ quan này có trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát việc tuyển chọn sinh viên và giáo viên dạy luật, chất lượng giảng dạy, cơ sở vật chất của các trường luật,

và cả chương trìn thực tập của sinh viên lu ật Ngoài hai tổ chức trên, Tòa

án Tối cao Philippines không chỉ có chức năng cấp phép hành nghề luật còn đóng vai trò không nhỏ đối với công tác đào tạo luật ở Philippines thông qua việc ban hành những quy định về đối tượng tuyển sinh, về chương trình đào tạo Theo quy định của Tòa án Tối cao Philippines, chỉ những người có bằng cử nhân mới được tuvển chọn vào học clurcmg trình cử nhân luật;8 Toà

7 N g o à i ra, các thành viên cùa H ội đồng bao gôm đại diện của Luật sư Đ oàn thống nhất, H iệp hội các trường Luật, H iệp hội các giáo sư luật, những người tích cực hành nghề luật và các sinh viên luật uu tú.

8 Q uy định cùa Tòa án Tối cao, Quy định số 138, m ục 6.

Trang 37

còn ấn định những môn học luật bắt buộc thuộc chương trình đào tạo cử nhân luật được áp dụng tại các khoa luật ở Philippines ,.9

Trên thực tế, chương trình đào tạo cơ bản của các khoa Luật ở Philippines đều được xây dựng theo định hướng chuyên môn - nghề nghiệp

Cả hai chương ưình LLB và JD đều là các chương trnih đào tạo trong thời gian bổn năm và các môn học đều được thiết kế theo yêu cầu của kỳ thi tuyển :họn vào đoàn luật sư Tuy nhiên, chương trình đào tạo cấp bằng JD,

có mộ: sổ khác biệt căn bản so với chương trình đào tạo cấp bằng LLB do chương trình này chú trọng hơn vào việc trang bị những kiến thức chuyên môn CIO người học.10 Đó là lý do tại sao nhiều ưường Luật ở Philippines đã thiết kế song song ca chương trình LLB và chương trình JD

Chương trình đào tạo cấp bằng JD tập trung trang bị kỹ năng thực tiễn

và kiến thức chuyên môn về pháp luật Nội dung đào tạo của chương trình

này thiên về thực tiễn chứ không thiên về lý thuyết, học thuật Với chương trình JD, sinh viên phải học tất cả các môn luật cơ bản trong khoảng thời gian 2,5 năm đầu; thời gian còn lại, sinh viên sẽ lựa chọn các môn luật chuyên sâu theo nguyện vọng cá nhân Trong chương trình JD, sinh viên sẽ

có cơ lội thực hành bằng cách tuỳ chọn các công việc tập sự về luật theo vụ việc, tham gia các phiên tòa tập sự, thực hành tại công ti luật hoặc tham gia vào việc biên tập các bài viết cho tạp chí luật Đồng thời, chương trình JD còn đòi hỏi sinh viên phải viết và bảo vệ luận văn nhằm rèn luyện khả năng nghiên cứu, lập luận, phân tích chuyên sâu về một chủ đề pháp luật Đây cũng là kỹ năng cần thiết cho người hành nghề luật sau này

v ề phxơng ph áp giảng dạy

Tương tự với trường hợp của Mỹ, các khoa luật của Philippines đều khai -.hác các phương pháp giảng dạy như phương pháp tình huống, Socra.ics, phiên toà giả định và thực hành nghề luật Đặc biệt, các khoa luật đều chú irọng đến việc trang bị kỹ năng thực hành nghề luật cho sinh viên Nhằm trang bị kỹ năng hành nghề luật một cách hiệu quả cho sinh viên, các khua giáo dục thực hành luật đã được đưa vào chương trình đào tạo cử nhân

các crương trình thực tập trợ giúp pháp lý phi lợi nhuận

9 Q uy đhh cùa Tòa án T ối cao, Q uy định số 138, mục 9.

10 X em Cesar L V illanueva, P h ilippine Leadership Crisis and the JD Program

h ttp ://w vw aten eolaw d ten eo.ed u /

Trang 38

M ộ t số khó kh ă n thách thứ c đối với đào tạo cử nhân luật ở P hìlippines

Chương trình đào tạo cử nhân luật của Philippines rất gần gũi với chương trình đào tạo cử nhân luật của Mỹ, theo đó những môn học luật cơ bản được đặc biệt quan tâm đưa vào chương trình cùng với những kỹ năng thực tế cần thiết cho hành nghề luật trong tương lai của sinh viên luật Mặc

dù chương trình đào tạo này có nhiều ưu điểm nham đặt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực giỏi cho nghề luật, các khoa luật ở Philippines cung gặp nhiều khó khăn, thách thức khi theo đuổi mô hình này, đặc biệt là sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên luật có kiến thức chuyên sâu, và sự khó khăn về tài cính cần thiết cho các hoạt động thực tập của sinh viên luật nhằm nâng cao năng lực thực hanh cho sinh v iê n "

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ như hiện nay, chương trình đào tạo cử nhân luật theo truyền thống đã không còn đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn Trước thực tế đó, các khoa luật của Philippines cũng bước đầu tiến hành cải cách chương trình đào tạo cử nhân luật bằng cách đưa them nhiều m ôn học mới vào chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn Điên hĩnh là các môn học liên quan đến thương mại, kinh doanh, thương mại quốc tể, các vấn đề pháp luật liên quan đến khoa học - công

nghệ như M ua bán và Sáp nhập (M ergers and Acquisiíion), dự án tài chính

(Project Finance), Luật về Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao ( The Build - Operate - Transfer Law), Internet và Xã hội (ỉnternert and Socieiỳ), và Luật

môi trường M ột số môn học truyền thống đã được đưa vào chương trình giảng dạy của các trường luật trong nhiều năm nhưng trước thách thức của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay cũng đã được đổi mới, chỉnh sửa bằng cách thêm, bớt những nội dung cần thiết cho phù hợp với thực tiễn Đổi mới nội dung môn học không chỉ dừng lại ở nhóm các môn học về luật nội dung m à còn diễn ra ở cả nhỏm các môn học

về luật tố tụng M ặt khác, các nội dung mới trong các chương trình đào tạo luật không chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, thương mại mà còn bao

q u á t c ả c á c v ấ n đ ề a n n i n h , c h í n h t r ị , x ã h ộ i c ó t í n h t o à n c ầ u n h ư : t ộ i p h ạ m

khủng bố, tội phạm quốc tế, quyền được sinh con, cái chết nhân đạo, chứng

cứ AND, hôn nhân đồng g iớ i cũng được đưa vào chương trình đào tạo cử

nhân luật ở Philippines

11 X em Cesar L V illan u eva, Philippine L eadership C risis and the J.D Program

h ttp ://w w w aten eolaw aten eo.ed u /

Trang 39

PHẨN III: M Ộ T SỎ BẢT CẬP T R O N G C Ô N G T Á C Đ À O T Ạ O c ử

N H Ằ N LƯẬT ỏ V IỆT NAM

chua c h ú trọn g tớ i việc trang bị kỹ năng làm việc n ó i chung và kỹ nãng hành n g h ề n ó i riên g cho sình viên luật.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là trong chương trình đào tạo cử nhân luật, nhìn chung còn thiều các mòn học trang bị kỳ năng làm việc cho

trang bị kỹ năng chuyên sâu trong hành nghe luật (gôm kỹ năng của thâm phán, luật sư công chứng viên ) thuộc về chức năng cùa các cơ sở dạy nghê Irong đó có I lọc viện Tư pháp chứ không phái của các cơ sờ đào tạo cừ nhàn luật Đây là diêm khác biệt với nhiều nước Common Law Tuy nhicn cần nhận thức rằng, dù khỏnc có chức nãns đào tạo chuyên sâu về kỳ r.ãng

của Viột Nam vẫn cẩn chú trọng đến việc trang bị kỹ năng làm việc nói chung và kỹ năng hành nghê luật nói ricng cho sinh viên, giúp họ cỏ được nhừng kỹ năng tối thiểu khi tốt nghiệp và tham gia vào lực lượng lao động

nhừng hạn chế liên quan đến kỹ năng làm việc của các cử nhàn luật và điêu nàv hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của các cơ sờ dào tạo cử nhân luât vì không phải tất cả các cử nhân luậl đều hành nghề luật sư, thẳm phán hay công chứng viên để cần phải lấy thêm chửng chi hành nghề luật trước khi bước vào làm việc Trên thực tế có râl nhiều cử nhân luật làm việc tại các

cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp không kinh doanh dịch vụ pháp lý vi vậy không nhất thiết phải quakhoá dào tạo nghề tại cơ sở dạy nghề luật Rõ

rà n g c á c c ơ s ờ đ à o lạo c ử n h ân lu ậ t c ũ n g c ẩ n tr a n g bị n h ư n g k ỹ n â n g làm

việc tối thiều cho người học.

T h ừ hai, chư ơng trình đào tạ o c ừ nhân lu ậ t h iện n ay ở Việt N am

vừ a th ừ a vừa thiếu

('hình bất cập nói trên đă dần đến bất cập thử hai: vừa thừa vừa Ihiếu trong chương ưình dào tạo Thừa vi chương trình này cỏ nhiều môn học không thục sự cằn thict và phù hợp chơ công việc của các cử nhân luật tương lai; thiếu vì nhiều môn học có khả năng trang bị cho người học nhưng kiến thức và kỹ năng mà xà hội cần nhung lại không được dưa vào chương

trinh g i càng dạy v

còn khá cứng nhấc, khó đáp ing dược với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nghề luật Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Dào tạo với tư

Trang 40

cách là quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo ban hành chương trình khung cho đào lạo cử nhân luật, trong đó phân kiên thức giáo dục đại cưang chiếm một tỳ lệ khá lứn so với kiến thức giáo dục chuycn nghiệp Các cơ sở đào tạo cử nhân luật, mặc dù được lự xảy dựng chương trình đào tạo cho riêng minh nhưng vần phải đảm bao sự phù hợp với chương trình khung cùa

Bộ Giáo dục và Đào tạo Kiểu tự do trong khuôn khô đỏ đẵ làm cho các cơ

sơ dào tạo khỏ cỏ thè xây dựng dược một chương trình đào tạo phù họp với nhu cầu thực liễn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và cung cắp nguồn nhân lực đu sức cạnh tranh trên thị trưừng nghê luật trong bối cảnh hội nhập quôc tế.

T h ứ b a , c h ư ơ n g trìn h đ à o tạ o lu ậ t ở Việt N a m cò n ch ư a cậ p n h ậ t

thường xu yên các thành tự u m ớ i cùa khoa học pháp lý

Sir dụng lý thuyết trong giảng dạy nói chung vả giảng dạy luật nói riêng

là diều hiển nhiên, vấn dề là cần xem xét chất lượng của những dạng thức lý

thuyết được sử dụng Điều nảy phụ thuộc rất lớn vào việc cập nhật kịp thời

các thành tựu mới cua khoa học pháp lý Có ý kiến cho răng, công việc nảy còn chậm được triển khai ờ Việt Nam1 Nhiều người trong sổ chủng ta vân

tự coi luật học như một lĩnh vực nghiên cửu tiên phong trong khoa học xâ hội và nhân văn Điều này có nguyên nhân tâm lý hcm là thực tê Tôc dộ lảm luật của nhà nước trong nhùng năm vừa qua tăng lẻn nhanh chỏng đă làm nhiều người lầm tưởng về một khoa học luật nàng động và mạnh mè ở Việt Nam Song trcn thực tế, thực trạng cùa khoa học luật vẫn chi’ dậm chân tại chồ quanh quẩn với các vấn đề lý luận vả thực tiền mà phương pháp nghiện cửu vẫn chi gỏi gọn trong biện chứng và lịch sử, phân tích và tỏng hợp Dicu đáng lo ngại là người ta không tìm thấy được môi liên hệ logic giữa các phương pháp nghiên cứu với các kết quả của côna trình Nhìn ra thẻ giới, chủng ta thay cổ nhicu hướng đi mới trong khoa học pháp lý Trong thê kỷ

20 có thổ tổng kết 4 xu hướng nghicn cứu chính của khoa học pháp lý:

- Triết học pháp luật

- Xă hội học pháp luật

- So sá n h luật

- Kinh tế luậi ( còn được gọi là phân tích kinh tế vé luật)

Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong phẩn lý thuyết của các môn học luật ở Việt Nam chủ yéu là sử dụng cách thức tricn khai cúa triêt học pháp luật Cách thức này thường dựa trên những phân tich nội tại, logic bên trong cùa pháp luật Bcn cạnh xu hướng này, các xu hướng còn lại tsong

' Phân này dụa Irẻn tài liệu cá nhân của Nguycn Dửc Ngọc T rê n n h ữ n g n e o đ ư ờ n g c ù a n g h iề n c ữ u kh o a

hực p h á p l ý p h ả i' th á o v à m ội vù i thừ nghiệm d õ i vứ t c á c m ôn h ọ c p h á p h tậ l kỉnh tê Biin tháo c ó trẽn

w w \ v : '7 n g u o i b u u t a p h a p ! ư b l o g s p o t

Ngày đăng: 16/03/2019, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w