1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cơ bản của tội phạm học so sánh

148 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 13,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Tội phạm học so sánh với ý nghĩa là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu sự khác biệt của tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong c

Trang 2

B ộ T ư PHÁP TRƯỜNG ĐẠI h ọ c l u ậ t h à n ộ i • • • •

ĐÊ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG

NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN

Mã số: LH - 2012 - 913/ĐHL - HN

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Thị Sơn

Thư ký đề tài: TS Hoàng Xuân Châu

ị |K.WG TÂM THÔNG T!í\! Vilíl

TRUỜNG DẠI HỌC LỤÂT HÀ

Ị ị' D U A f\i

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

DANH SÁCH THAM GIA ĐÈ TÀI

so sánh

2 TS Hoàng Xuân Châu Phòng

HCTH

Chuyên đê 2: Lịch sử hình thành và phát tr iể n của tội phạm học so sánh

PGS.TS Lê Thị Sơn Khoa

PLHS

Chuyên đề 3: Tội phạm học so sánh và vấn đề nghiên cứu so sánh về tội phạm v à kiểm soát tội phạm

3 PGS.TS, Dương Tuyết Miên Khoa

PLHS

Chuvên đê 4: Tội phạm học so sánh và nguyên nhân của tội phạm theo hướng tiếp cận của tội phạm học so sánh

PGS.TS Lê Thị Sơn Khoa

PLHS

Chuyên đê 5: K êt quả của nghiên cứu so sánh về nguyên nhân của tội phạm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẢN I: TỔNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI 5

1 Những vấn đề lý luận chung của tội phạm học so sánh 5

2 Lịch sử hình thành và phát triển của tội phạm học so sánh 21

3 Vấn đề nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm 31

4 Vấn đề nghiên cứu so sánh về nguyên nhân của tội phạm 46 PHẦN II: CÁC CHUYÊN ĐỀ 63 Chuyên đề l ĩ Khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

của tội phạm học so sánh 63 Chuyên đề 2: Lịch sử hình thành và phát triển cửa tội phạm học

Chuyên đề 3: Tội phạm học so sánh và vấn đề nghiên cứu so sánh

về tội phạm và kiểm soát tội phạm 102 Chuyên đề 4: Tội phạm học so sánh và nguyên nhân của tội phạm

theo hướng tiếp cận của tội phạm học so sánh 119 Chuyên đề 5: Kết quả của nghiên cứu so sánh về nguyên nhân

của tội phạm 133

Trang 5

PH Ầ N M Ở ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm học so sánh với ý nghĩa là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu sự khác biệt của tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các hệ thống xã hội khác nhau hoặc trong các liên kết khác nhau của các hệ thống xã hội (các khu vực thế giới), đã được hình thành trong lịch sử và bắt đầu phát triển từ những năm sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ hai mươi Sự phát triển của tội phạm học so sánh xuất phát từ nhu cầu và được bắt nguồn từ quá trình toàn cầu hóa, thống nhất châu Âu và tò sự gia tăng các tội phạm có tính chất xuyên quốc gia trên thế giới, như tội khủng bố, tội rửa tiền, tội phạm

ma túy, tội buôn người Nhưng cũng chính sự phát triển của tội phạm học so sánh với các kết quả nghiên cứu đã trở lại phục vụ, góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, thống nhất châu Âu và hợp tác quốc tế trong phòng ngừa các tội phạm có tính chất xuyên quốc gia Các kết quả nghiên cứu của tội phạm học so sánh còn mang lại lợi ích cho các nước trong việc học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài liên quan đến kiểm soát tội phạm và phòng ngừa tội phạm để có thể thực hiện cải cách chính sách cần thiết và tránh được những sai lầm cho chính nước mình Như vậy, đối với mỗi quốc gia sự phát triển tội phạm học so sánh không chỉ xuất phát từ lợi ích phòng ngừa tội phạm trên lãnh thổ quốc gia mình mà còn xuất phát từ lợi ích hội nhập khu vực và quốc tể trong phòng ngừa tội phạm nhằm giữ gìn an ninh chung của thế giới

Tội phạm học so sánh ngày nay được dựa trên nền tảng của số lượng rất lớn các kết quả nghiên cứu của các tổ chức quốc gia, quốc tế và các nhà tội phạm học trên thế giới, thể hiện trong số lượng khổng lồ các sách, giáo trình, các tài liệu hội thảo, hội nghị về tội phạm học và tội phạm học so sánh

1

Trang 6

Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là hiện nay rất nhiều tổ chức quốc tế không chỉ thực hiện hay tham gia thực hiện nghiên cứu so sánh về tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm mà còn cung cấp các dữ liệu thực tiễn cho việc nghiên cứu so sánh và khai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu phục vụ cho mục đích hoạt động của tổ chức, góp phần thúc đẩy họp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm và giữ gìn an ninh quốc tế trên thế giới Đó chủ yếu là các

tổ chức của Liên minh châu Âu và của Liên hợp quốc, như Trung tâm quốc tế về

phòng ngừa tội phạm đóng tại Montreal (International Centre fo r Preventỉon o f

Crime - ỈCPC); Trung tâm về phòng ngừa tội phạm quốc tế của Liên họp quốc

có trụ sở tại Wien (ƯN-Centre fo r International Crime Preventỉon - CỈCP);

Viện nghiên cứu quốc tế về tội phạm và tư pháp của Liên hợp quốc đóng tại

Rom (United Nations International Crime and Justice Research Instỉtute -

UNICRI); Và các Viện về phòng ngừa tội phạm của Liên họp quốc ở tất cả các

châu lục, đặc biệt hoạt động tích cực là hai trong số các viện này: Viện Châu Âu

về phòng ngừa và kiểm soát tội phạm, liên kết với Liên hợp quốc, có trụ sở tại

Helsinki (The European Institute fo r Crỉme Prevention and Coyứroỉ, affilỉated

with the United Nations - HEUNI); Viện viễn đông và châu á của Liên hợp quốc

về phòng ngừa tội phạm và xử lý người phạm tội (The United Nations Asia and

Far East Institute fo r Preventỉon o f Crime and the Treatment o f Offenders -

ƯNAFEI)

Trong khi đó ở Việt Nam, hầu như chưa khi nào khái niệm tội phạm học so sánh được xuất hiện với ý nghĩa là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu so sánh về tội phạm, nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm trong các lãnh thổ quốc gia và khu vực thế giới khác nhau; chưa có một cơ sở đào tạo nào đưa nội dung của tội phạm học so sánh vào chương trình đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học Để đáp ứng được đòi hỏi ngày nay đối với Việt Nam về hội nhập khu vực

2

Trang 7

và thế giới trong phòng ngừa tội phạm thì Việt Nam cần phải phát triển lĩnh vực khoa học tội phạm học so sánh, thực hiện, phát triển các kết quả nghiên cứu so sánh tội phạm học cũng như khai thác có hiệu quả các kết quả này và các kết quả nghiên cứu của quốc tế phục vụ cho phòng ngừa tội phạm và hợp tác quốc

tế trong phòng ngừa tội phạm Với lý do như vậy chúng tôi cho rằng việc lựa

chọn và nghiên cứu đề tài uNhững vấn cơ bản của tội phạm học so sánh ” là rất

cần thiết Qua việc thực hiện đề tài, sẽ có được những kết quả nghiên cứu có tính chất đúc kết những vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm học so sánh làm cơ sở và định hướng cho những nghiên cứu tội phạm học so sánh phục vụ cho phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam cũng như hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm Đồng thời qua đó cũng chuẩn bị điều kiện cho việc đào tạo chuyên gia có khả năng làm việc trong lĩnh vực tội phạm học so sánh

II Tình hình nghiên cứu

Đến nay chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam về các vấn

đề của tội phạm học so sánh với ý nghĩa là một lĩnh vực khoa học theo quan niệm phổ biến hiện nay ừên thế giới mà mới chỉ có một số công trình đề cập đến thuậ: ngữ “tội phạm học so sánh” hoặc xác định nghiên cứu tội phạm học so sánh như một hướng nghiên cứu mới của tội phạm học Việt Nam 1

III Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết sẽ được lựa chọn và sử dụng để thực hiện đề tài Điển hình là các phương pháp phân tích, tổng họp và so sánh

IV Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đúc kết và hình thành hệ thống các vấn lý luận cơ bản của tội phạm học so sánh

V Phạm vi nghiên cứu

1 Xem: Trnh Tiến Việt, Nhiệm vụ, vị trí và một số hướng nghiên cứu mới cùa tội phạm học, Tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2)08, tr 15.

3

Trang 8

Việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào các vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm học so sánh Các tài liệu được tham khảo là các sách, giáo trình về tội phạm học và tội phạm học so sánh trên thế giới.

VI Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nhóm vấn đề cơ bản sau:

- Những vấn đề lý luận chung của tội phạm học so sánh, như khái niệm, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh;

- Lịch sử hình thành và phát triển của tội phạm học so sánh;

- Những nội dung cơ bản của tội phạm học so sánh: v ấ n đề nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm; v ấ n đề nghiên cứu so sánh về nguyên nhân của tội phạm

4

Trang 9

PH Ầ N I

TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐẺ TÀI

Những vấn đề cơ bản của tội phạm học so sánh được xác định, phân tích

và khái quát qua việc nghiên cứu đề tài, gồm ba nhóm vấn đề: Thứ nhất là những vấn đề lý luận chung của tội phạm học so sánh; Thứ hai là lịch sử hình thành và phát triển của tội phạm học so sánh; Thứ ba là những nội dung cơ bản

của tội phạm học so sánh: v ấn đề nghiên cứu so sánh về tội phạm, kiểm soát tội phạm và vấn đề nghiên cứu so sánh về nguyên nhân của tội phạm

1 NHỮNG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA TỘI PHẠM HỌC • • • ■ s o

SÁNH

Trước tiên, qua việc nghiên cứu đề tài những vấn đề lý luận chung của tội phạm học so sánh đã được phân tích và làm rõ, như khái niệm tội phạm học so sánh; các khái niệm trung tâm trong tội phạm học so sánh; nhiệm vụ của tội phạm học so sánh; phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh

1.1 Khái niệm tội phạm học so sánh

Khái niệm tội phạm học so sánh đã được nhiều học giả đưa ra trong các công trình nghiên cứu của mình ở các thời điểm khác nhau Các định nghĩa khác nhau về tội phạm học so sánh đã phần nào phản ánh các quan niệm khác nhau xuất phát từ thực ừạng của tội phạm học so sánh ở các thời điểm phát triển khác nhau

Trước tiên, phải kể đến quan niệm truyền thống về tội phạm học so sánh Trong hầu hết các công trình nghiên cứu đầu tiên2 của tội phạm học so sánh

2 “Wanted: A comparative criminology” (1964) của nhà tội phạm học Glueck và “Comparative criminology: A text book” (1965) của tác giả Hermann Mannheim

5

Trang 10

những năm 60 của thế kỷ 20 đều thể hiện quan niệm chung về tội phạm học so

sánh, như cho rằng, “Tên gọi tội phạm học so sánh được dùng để mô tả sự

nghiên cứu vượt qua những biên giới quốc gia mà phân tích những sự khác biệt ừ4ong hoạt động tội pham”3; hoặc quan niệm rằng tội phạm học so sánh “về cơ bản thể hiện ở chỗ thực hiện một cách kỹ lưỡng việc mô tả, thông tin và so sánh với nhau kết quả thực nghiệm về tội phạm và hình phạt của nước n g o à r4 Một

định nghĩa khác về tội phạm học so sánh được đưa ra sau này vào những năm 80 nhưng cũng có quan niệm tương tự như những định nghĩa nêu trên về tội phạm

học so sánh “Tội phạm học so sánh là sự nghiên cứu những hiện tượng xã hội

của tội phạm ngang qua các nền văn hóa để phân biệt những sự khác nhau và giống nhau trong các loại tội phạm.”5

Các định nghĩa nêu trên có thể được coi là quan niệm ban đầu về tội phạm học so sánh, chúng chủ yếu mô tả phương pháp so sánh và phạm vi nghiên cứu

so sánh liên quan đến tội phạm của tội phạm học so sánh Đó là nghiên cứu so sánh kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tội phạm của nhiều xã hội hoặc quốc gia khác nhau

Sau này, do chịu sự tác động và thúc đẩy mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, phát triển khoa học công nghệ và thông tin, thống nhất châu Âu và sự gia tăng các tội phạm có tính chất xuyên quốc gia trên thế giới, tội phạm học so sánh đã phát triển và có một diện mạo mới, được phản ánh ngay trong quan niệm về tội phạm học so sánh của thế kỷ 21 của nhiều học giả trong nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm học so sánh Tiêu biểu cho quan niệm về tội phạm học so sánh của thế kỷ 21 có thể kể đến là định nghĩa về tội phạm học so sánh của giáo sư Hans Joachim Schneider - nhà tội phạm học nổi tiếng thế giới và tác

3 Mavin D Krohn, Alan J Lizotto, Gina Penly Hall, Handbook on crime and deviance, Springer, 2009,

tr 4

4 Guether Keiser, Kriminologie: Ein Lehrbuch, (C.F Mueller Verlag, 1996), tr 156

5 Barak-Glantz, I.L., E.H Johson, Comparative Criminology, 1983

6

Trang 11

giả của rất nhiều công trình về tội phạm học nói chung và tội phạm học so sánh

nói riêng Theo Ông, “Tội phạm học so sánh là một lĩnh vực khoa học nghiên

cứu sự khác biệt của tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm., trong các hệ thống xã hội khác nhau hoặc trong các liên kết khác nhau của các hệ thống x ã hội Ngoài ra, nó còn mô tả và xác định nguyên nhân của tội phạm - vượt qua biên giới - vi phạm luật hình sự của nhiều nước hoặc gây ra thiệt hại trong nhiều nước hơn nước mà tội phạm thực hiện Cũng thuộc về tội phạm học so sánh là sự nhìn nhận tổng quát về học thuyết tội phạm học, lịch sử của nó và các thành tựu hiện tại trong nghiên cứu và lý thuyết trong nhiều

nghiên cứu của tội phạm học so sánh, đồng thời cũng phản ánh những nội dung

và đặc điểm cơ bản của tội phạm học so sánh trong thế kỷ 21

Trước tiên, định nghĩa trên đã khẳng định đối tượng nghiên cứu so sánh của tội phạm học so sánh cũng là những đối tượng nghiên cứu của tội phạm học nói chung, là tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm Tuy nhiên, điểm đặc biệt của tội phạm học so sánh thể hiện ở chính phạm

vi nghiên cứu so sánh có tính quốc tế Tội phạm học so sánh nghiên cứu các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học không riêng trong một xã hội, quốc gia mà nghiên cứu so sánh chúng giữa các xã hội, quốc gia hoặc giữa các nhóm xã hội, quốc gia thuộc các khu vực thế giói khác nhau Việc mô tả nhóm đối tượng nghiên cứu này trong định nghĩa nêu trên đã phản ánh đặc điểm thứ nhất của tội phạm học so sánh là tội phạm học thực nghiệm nhưng mang tính quốc tế, do đó cũng điợc gọi là tội phạm học so sánh quốc tế Đây được coi là đặc điểm cơ bản của tội phạm học so sánh

6 Hans bachim Schneider, Kriminologie fìier das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intematioialen Kriminologie; Ueberblick und Diskussion, Lit Verlag, Muenster 2001, tr.262.

7

Trang 12

Nhóm đối tượng nghiên cứu thứ hai của tội phạm học so sánh được nêu trong địmh nghĩa nêu trên là tội phạm xuyên quốc gia và nguyên nhân của tội phạm xuyên quốc gia Chính nhóm đối tượng nghiên cứu này đã quy định đặc điểm tiếp theo của tội phạm học so sánh thể hiện ở tính xuyên quốc gia và do đó

đã có nhiều học giả gọi là tội phạm học so sánh là tội phạm so sánh xuyên quốc gia hoặc tội phạm học xuyên quốc gia và so sánh.7

Tộ»i phạm học so sánh không chỉ là tội phạm học so sánh thực nghiệm như

đã nêu m à còn là tội phạm học so sánh lý thuyết.8 Đặc điểm này được rút ra từ nhóm đối tượng nghiên cứu so sánh thứ ba được nêu trong định nghĩa trên về tội phạm học so sánh Đó là các học thuyết tội phạm học và các thành tựu trong nghiên cứu và lý thuyết về tội phạm học của các xã hội, quốc gia hoặc các khu vực thế giới khác nhau Tội phạm học so sánh nghiên cứu so sánh các vấn đề lý thuyết của tội phạm học trong các xã hội, quốc gia khác nhau hoặc trong các khu vực thế giói khác nhau

Tóm lại, tội phạm học so sánh có thể được mô tả bằng nhiều tên gọi khác nhau phản ánh các đặc điểm khác nhau của tội phạm học so sánh Đó là tội phạm học so sánh thực nghiệm, tội phạm học so sánh quốc tế, tội phạm học so sánh xuyên quốc gia và tội phạm học so sánh lý thuyết

1.2 C ơ cấu xã hội và kiểm soát xã hội - hai khái niệm trung tâm trong tội

phạm học so sánh

Để nhận thức đúng và đầy đủ về khái niệm tội phạm học so sánh nêu trên cũng như các vấn đề cơ bản khác của tội phạm học so sánh, như nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu hay nội dung và các kết quả nghiên cứu của tội phạm học so sánh cần thiết phải nhận thức rõ các khái niệm về cơ cấu xã hội và kiểm

7VÍ dụ “Tội phạm học so sánh và xuyên quốc gia” được đặt cho tên của một cuốn sách Xem: James Sheptycki and Ali Wardak, Transnational and Comparative Criminology, GlassHouse Press 2005.

8 Hans Joachim Schneider, Intemationales Handbuch der Kriminologie, Band 1: Grunglagen der Kriminologie,

De Gruyter Recht Berlin, 2007 ứ 255

8

Trang 13

soát xã hội cũng như vị trí của chúng trong tội phạm học so sánh Trong tội phạm học so sánh, việc nghiên cứu so sánh các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm luôn luôn phải gắn kết với việc nghiên cứu về cơ cấu xã hội và kiểm soát

xã hội của một hoặc nhiều quốc gia Những sự khác biệt được xác định từ sự nghiên cứu so sánh vấn đề tội phạm học và những nguyên nhân của sự khác biệt đều phải được tìm hiểu và lý giải từ cơ cấu xã hội của các quốc gia Mối liên hệ của tội phạm với kiểm soát xã hội và cơ cấu xã hội đã được các nhà tội phạm học so sánh thừa nhận khi cho rằng loại và mức độ của tội phạm cũng như hiệu quả của kiểm soát xã hội phụ thuộc vào cơ cấu xã hội của một quốc gia Vì vậy,

đã có học giả đã cho rằng, cơ cấu xã hội và kiểm soát xã hội là đối tượng nghiên cứu và hai khái niệm trung tâm của tội phạm học so sánh.9

Cơ cấu xã hội là mạng lưới tổng thể các thiết chế xã hội bao gồm thiết chế gia đình, dòng họ, tôn giáo, kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa cũng như hệ thống các chuẩn mực giá trị và các yếu tố xã hội bao gồm các địa vị, vai ừò của con nguời trong xã hội.10 Hoặc cũng có thể coi cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố trong hệ thống xã hội bao gồm các cộng đồng xã hội, như dân tộc giai cấp, nhóm nghề nghiệp., mà mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu của các tầng lớp bên trong và mối liên hệ giữa chúng." Căn cứ vào quan hệ xã hội thể hiệr từng mặt của cơ cấu xã hội tổng thể có thể phân chia thành các loại cơ cấu xã tội khác nhau và được xem như những lát cát đa dạng của cơ cấu xã hội tổng thế Có thể kể một sổ loại cơ cấu cơ bản khác nhau của cơ cấu xã hội tổng thể, nhi cơ cấu dân số, cơ cấu giai cấp, cơ cấu kinh tế, cơ cấu chính trị, cơ cấu

9 Xem: Hms Joachim Schneider, Krũninologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intematiomlen Kriminologie; Sđd., ừ 267.

10 Xem: Tnờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, Xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2007 tr 205; Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie ílier das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortsclritte der intemationalen Kriminologie; Sđd., ừ 267

11 Xem: Trrờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, Xã hội học, Sđd., tr 205.

9

Trang 14

văn h ó a Văn hóa được coi là mặt chủ quan của cơ câu xã hội tông thê, bao gồm những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen hành vi, chúng có vai trò điều chỉnh hành vi của con người nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của xã hội.12 Thuộc mỗi cơ cấu xã hội tổng thể có một nền văn hóa riêng của mình Các nhóm, các cộng đồng xã hội trong mỗi xã hội đều xây dựng các giá trị, các chuẩn mực đặc trưng riêng cho mình và cũng có thể coi đó là nền văn hóa riêng của nhóm hay cộng đồng xã hội mà theo đặc điểm của nó có thể gọi là “tiểu văn hóa”, “phản văn hóa” hay “văn hóa nhóm”.13

Khi nghiên cứu so sánh tội phạm học có thể xem xét tác động của một loại

cơ cấu xã hội nào đó với tội phạm hiện thực, như xác định tác động của cơ cấu kinh tế có làm tăng hay giảm chỉ số tội phạm

Trong nghiên cứu so sánh tội phạm học, việc nghiên cứu tác động của cơ cấu văn hóa đối với tội phạm, việc trở thành nạn nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm cũng được quan tâm Đặc biệt là sự vô tổ chức xã hội và sự hình thành tiểu văn hóa tội phạm được xem là những căn cứ cơ bản làm phát sinh tội phạm

và trở thành nạn nhân của tội phạm cũng như cho sự hình thành kiểm soát tội phạm yếu kém 14

Khái niệm kiểm soát xã hội theo nghĩa chung là chỉ khả năng của một xã hội tự điều chỉnh theo các nguyên tắc và giá trị mong muốn và thiết lập ữật tự xã hội Nó biểu thị cho các công cụ, các tổ chức và các quá ừình mà nhờ chúng những mâu thuẫn, căng thẳng và xung đột được khắc phục và đạt được sự khuôn chuẩn của hành vi.15 Hoặc có thể diễn đạt khái quát hom: Kiểm soát xã hội là cơ

12 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie íuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., ừ 267.

13 Xem: Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, Xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2007 tr 245

14 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., ữ 267.

15 Xem: Bemd - Dieter Meier, Krimonologie, Verlag C.H Beck, Muenchen 2003, tr 223

10

Trang 15

chế điều chỉnh hành vi con người theo các chuẩn mực đã được xã hội xác lập để thiết lập và duy trì trật tự xã hội Phương tiện điều chỉnh hành vi con người của kiểm soát xã hội là các biện pháp kiểm soát chủ động và kiểm soát phản ứng Kiểm soát chủ động được thực hiện ngay trong quá trình xã hội hóa của từng cá nhân thông qua các biện pháp tác động đến việc tiếp nhận hoặc “nhập nội” các chuẩn mực xã hội để góp phần hình thành sự kiểm soát bên ừong của từng cá nhân Trong khi những biện pháp kiểm soát chủ động tìm cách loại trừ có tính phòng ngừa hành vi lệch chuẩn bằng cách chuẩn bị các điều kiện cho hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội thì kiểm soát phản ứng có tác động điều chỉnh hành vi thông qua sự phản ứng tích cực hoặc tiêu cực đối hành vi nhất định Kiểm soát phản ứng được thực hiện hoặc bằng các biện pháp phản ứng tích cực đối với hành vi phù hcyp với chuẩn mực xã hội, tác động khuyến khích loại hành

vi này, như thưởng danh hiệu hay khuyến khích vật chất., hoặc bằng các phản ứng tiêu cực đổi với hành vi lệch chuẩn Phản ứng tiêu cực đối với hành vi lệch chuẩn có thể là phản ứng chính thức thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức có chức năng thực hiện các chế tài tiêu cực đối với hành vi sai lệch chuẩn mực có tính chất chính thức là pháp luật hoặc là phản ứng không chính thức đối với các sai lệch chuẩn mực xã hội khác, như sự phản ứng của gia đình, hàng xóm, đồng nghiệp Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc phân biệt giữa hai loại kiểm soát xã hội cơ bản là kiểm soát chính thức và kiểm soát không chính thức

Tội phạm học so sánh đặc biệt quan tâm đến sự phân biệt giữa kiểm soát chính thứ; và kiểm soát không chính thức Hiện thân của kiểm soát chính thức là kiểm soát tội phạm khi cho rằng thuộc về kiểm soát chính thức là quy định của pháp luật hình sự, sự thể hiện rõ ràng những chuẩn mực hành vi, các chế tài được quy định trong luật hình sự để củng cố các chuẩn mực hành vi này và

11

Trang 16

quyết định của các cơ quan kiểm soát chính thức là những cơ quan ban hành, giải thích và áp dụng những chuẩn mực hành vi được thể hiện trong luật hình sự16 Khác với kiểm soát tội phạm là kiểm soát chính thức, kiểm soát không chính thức được thể hiện chủ yếu ở hệ thống các phản ứng của xã hội, các nhóm

xã hội và thành viên của chúng nhằm khuôn hành vi theo các chuẩn mực chung được xã hội xác lập Như vậy, trong khi thực hiện kiểm soát chính thức là các cơ quan kiểm soát chính thức nhằm khuôn hành vi theo các chuẩn mực được quy định chính thức, thì chủ thể thực hiện kiểm soát không chính thức là xã hội qua

dư luận xã hội, các nhóm xã hội như gia đình, hàng xóm, nhóm bạn bè., hoặc thành viên của các nhóm này qua khuyên bảo, nhạo báng, phê bình, thuyết phục., nhằm khuôn chuẩn hành vi theo các chuẩn mực chung của xã hội Kiểm soát không chính thức cũng thể hiên ở hai hình thức được gọi là hình thức kiểm soát bén ngoài và hình thức kiểm soát bên trong hay còn gọi là tự kiểm soát.Trong tội phạm học so sánh, mối quan hệ giữa kiểm soát chính thức và kiểm soát không chính thức được đặc biệt quan tâm Nghiên cứu so sánh kiểm soát chính thức luôn được gắn kết với việc nghiên cứu so sánh kiểm soát không chính ihức Nguyên nhân của kiểm soát chính thức yếu kém có thể tìm thấy trong kiểm soát không chính thức Kiểm soát chính thức muốn hiệu quả thì phải liên kế: với kiểm soát không chính thức Vì vậy, đã có học giả cho rằng: “Không

có mội kiểm soát không chính thức mạnh thì kiểm soát chính thức có thể làm cho hệ thống tư pháp hình sự hoạt động không hiệu quả.” 17

1.3 Nhiệm vụ của tội phạm học so sánh

Để hiểu rõ về nhiệm vụ của tội phạm học so sánh, trước tiên cần có nhận thức đíng về mục đích của tội phạm học so sánh Nghiên cứu so sánh các vấn đề

16 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematìoialen Kriminologie, Sđd., tr.268.

17 Hans :oachim Schneider, Kriminologie íìỉer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematìoialen Kriminologie, Sđd., ừ 268.

12

Trang 17

tội phạm học không ngoài việc đạt được mục đích hiện tượng học và mục đích giải thích nguyên nhân.18 Mục đích hiện tượng học của tội phạm học so sánh thể hiện ở việc xác định được sự khác nhau về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau.19 Việc xác định sự khác nhau này phải được thực hiện dựa trên cơ sở đánh giá các hiện tượng liên quan đến tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong sự phát sinh và phát triển bên trong các cơ cấu xã hội, kinh tế, chính trị khác nhau Như vậy, mục đích hiện tượng học của tội phạm học so sánh chính là thông tin về sự khác nhau về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm ữong các cơ cấu xã hội khác nhau Mục đích thứ hai và quan trọng của tội phạm học so sánh thể hiện ở giải thích so sánh về nguyên nhân của sự khác biệt này (được xác định trong mục đích thứ nhất) từ các co cấu xã hội khác nhau Mục đích này chỉ có thể đạt được trên cơ sở so sánh và phân tích tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm bên trong các cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị khác nhau của các quốc gia nhằm xác định những nguyên nhân về xã hội, kinh tế và chính trị làm phát sinh hiện tượng tội phạm phổ biến.20 Đây cũng có thể gọi là mục đích tìm ra những yếu tố phụ thuộc vào xã hội hay cơ cấu xã hội là nguyên nhân của sự khác biệt được xác định qua việc so sánh quốc tế về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm.21 Kết quả đạt được của mục đích này còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng kiểu kiểm soát tội phạm hiệu quả của một quốc gia.

18 Xem: íans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intematioialen Kriminologie, Sđd., ừ 262.

l9Xem: Fans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematioialen Kriminologie, Sđd., ừ 262.

20 Xem: -ỉans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematioialen Kriminologie, Sđd., ừ 262.

21 Xem: Sieldon Glueck 1964

13

Trang 18

Mục đích của tội phạm học so sánh sẽ quy định nhiệm vụ của tội phạm so sánh Nhằm vào hai mục đích nêu trên, tội phạm học so sánh có hai loại nhiệm

vụ tương ứng.22 Thứ nhất là nhiệm vụ nghiên cứu mô tả, hiện tượng học nhằm xác định sự khác nhau về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau Thứ hai là nhiệm vụ phân tích nguyên nhân nhằm giải thích những nguyên nhân của sự khác biệt về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm từ các cơ cấu xã hội khác nhau của các quốc gia Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ này mà tội phạm học so sánh đã tạo cơ sở và phục vụ cho việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm mang tính quốc tế giữa những nhà tội phạm học trên toàn thế giới.23 Thuộc về từng loại nhiệm vụ là các nhiệm vụ cụ thể Nhiệm vụ nghiên cứu mô

tả, hiện tượng học trước tiên tập trung vào việc giải quyết các vấn đề thông tin được xem là các nhiệm vụ cụ thể sau:24

- Thông tin về sự khác nhau của tội phạm hiện thực, nạn nhân của tội phạm rói chung, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm ứong các cơ cấu xã hội khác nhau, trong các quốc gia, các khu vực thế giới và các thời cại (giai đoạn) lịch sử khác nhau của một xã hội

- Mô tả sự khác biệt của diễn biến của tội phạm, nạn nhân của tội phạm, r.guyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm do những thay đổi của các cơ cấu xã hội khác nhau

- Đưa ra những chỉ dẫn, thông tin về chính sách hình sự khác nhau trong các quốc gia khác nhau

22 Xem: I-ans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematioralen Kriminologie, Sđd., tr 263.

23 Xem: I-ans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intematioralen Kriminologie, Sđd., ừ 263.

24 Xem: Fans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intematioralen Kriminologie, Sđd., tr 263.

14

Trang 19

- Nghiên cứu, xác định các hình thức biểu hiện và những thiệt hại gây ra của tội phạm xuyên quốc gia.

Loại nhiệm vụ thứ hai - nhiệm vụ phân tích nguyên nhân của sự khácbiệt, bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau:25

- Nghiên cứu, xác định những nguyên nhân của sự khác nhau về sự phổ biến của tội phạm, cơ cấu của tội phạm và những phản ứng đối với tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau;

- Kiểm nghiệm về sự họp ỉý và sự khái quát của các học thuyết về nguyên nhân của tội phạm trong các cơ cấu xã hội khác nhau qua nghiên cứu so sánh quốc tế;26

- Nghiên cứu, xác định những tác động của những thay đổi của một cơ cấu

xã hội, sự phát triển của xã hội, biến đổi của xã hội đối với sự phổ biến của tội phạm, cơ cấu của tội phạm và kiểm soát tội phạm;

- Nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm xuyên quốc gia

ỉ 4 Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh

Hệ thống các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh được xác định và phân tích trên cơ sở so sánh các quan điểm khác nhau về phân loại và cơ cấu các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh

Trong số các công trình nghiên cứu về tội phạm học so sánh có một số công trình đề cập đến phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh Khi đề cập đến phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh các công trình này chủ yếu thể hiện cách phân loại các phương pháp so sánh của tội phạm học so sánh Theo đó, các phương pháp nghiên cứu so sánh cụ thể được trình bày trong các loại cơ cấu khác nhau Hiện tồn tại ba cách phân loại phương pháp nghiên

25 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhunđert: Schwerpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., tr 264.

26 Xem: c A Hartjen 199; J o Finckenauer/R R Weidner/W c Terrill 1998.

15

Trang 20

cứu so sánh khác nhau, theo đó cũng có ba loại cơ cấu khác nhau của các phương pháp nghiên cứu so sánh cụ thể.

Thứ nhất là cách phân loại phương pháp nghiên cứu so sánh của tội phạm

học so sánh thành hai loại:

- Phương pháp so sánh lịch sử và

- Phương pháp so sánh hiện tại

Phương pháp so sánh lịch sử thể hiện ở việc so sánh về mức độ, các hình thức, diễn biến, cơ cấu của tội phạm, của nạn nhân cũng như kiểm soát tội phạm trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của một xã hội.27 Đây là cách thức so sánh vấn đề tội phạm học của các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau của một quốc gia mà có sự biến đổi hay khác biệt về cơ cấu xã hội đặc biệt là về cơ cấu kinh tế

và cơ cấu chính trị Phương pháp so sánh hiện tại là cách thức thực hiện so sánh

về tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm trong hai hoặc nhiều xã hội hiện tại khác nhau.28 Theo phương pháp này có thể rút ra hai cách thức so sánh đối với xã hội hiện tại, là so sánh trong hai xã hội và so sánh trong nhiều xã hội với nhau Như vậy, cách phân loại các phương pháp nghiên cửu so sánh ở đây được dựa vào căn cứ là tính chất của xã hội chứa đựng đối tượng so sánh là xã hội lịch sử (các giai đoạn lịch sử của một xã hội) hay là các xã hội hiện tại Thuộc phương pháp so sánh hiện tại có hai phương pháp so sánh cụ thể là:

+ So sánh trong hai xã hội với nhau và+ So sánh trong nhiều xã hội với nhau

Thứ hai là cách phân loại theo đặc điểm của quốc gia mà nghiên cứu so

sánh hướng tới, như quốc gia là đối tượng nghiên cứu so sánh hay là bối cảnh

27 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., tr 268.

28 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fìier das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., tr 268.

16

Trang 21

của nghiên cứu so sánh, một nhóm quốc gia thuộc phạm vi nghiên cứu so sánh hay là một đơn vị của nghiên cứu so sánh Theo đó, cơ cấu các phương pháp nghiên cứu so sánh ở đây bao gồm bổn loại phương pháp nghiên cứu so sánh cụ thể sau:

- Nghiên cứu trường hợp;

- Nghiên cứu văn hóa - bối cảnh;

- Nghiên cứu ngang - quốc gia;

- Nghiên cứu xuyên quốc gia.29

Nghiên cứu trường họp là nghiên cứu trong một xã hội hay một nền văn hóa và do đó quốc gia của xã hội hay nền văn hóa đó là “đối tượng” của nghiên cứu so sánh.30 Theo quan điểm phân loại này, nghiên cứu trường hợp còn được coi là phương pháp nghiên cứu thông thường của tội phạm học so sánh

Nghiên cứu văn hóa - bối cảnh được dùng để chỉ nghiên cứu theo chủ đề hoặc vấn đề tội phạm học có liên quan đặc biệt đến các nền văn hóa để xác định

và làm sáng tỏ những điểm giống nhau và khác nhau trong các nền văn hóa được lựa chọn gắn với chủ đề hay vấn đề nghiên cứu Theo đó, các quốc gia có các nền văn hóa được lựa chọn trở thành “bối cảnh”, mà trong đó việc nghiên cứu so sánh được thực hiện.31

Nghiên cứu ngang - quốc gia là loại nghiên cứu hướng vào một nhóm các quốc gia để nghiên cứu so sánh theo theo một hoặc nhiều yếu tố nhất định, như chỉ số tội phạm, tội phạm xuyên quốc gia 32

29Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader to research in Comparative Criminology / Criminal Justice, Brockmeyer Verlag, Bochum 2009, tr 24

30 Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader to research in Comparative Criminology / Criminal lustice, Sđd., tr 24 Trong tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Case study”

31 Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader to research in Comparative Criminology / Criminal Justice, Sđd., ữ 24 Trong tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Cutural-context research”

32 Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader to research in Comparative Criminology / Criininal Justice, Sđd., tr 24 Trong tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Cross-national research”

17

Trang 22

Nghiên cứu xuyên quốc gia là loại nghiên cứu so sánh được thực hiện giữa các khối quốc gia hay các đơn vị đa quốc gia với nhau, ví dụ như giữa khối quốc gia đã công nghiệp hóa với khối quốc gia kém phát triển về kinh tế Đây được coi là phương pháp so sánh mới nhất của tội phạm học so sánh.33

Thứ ba là cách phân loại các phương pháp nghiên cứu so sánh của tội phạm

học thành ba loại, đó là :

- Nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô;

- Nghiên cứu song song và

- Nghiên cứu trường hợp.34

Cách phân loại này chủ yếu dựa vào phạm vi quốc gia mà trong đó việc nghiên cứu so sánh được thực hiện, trong phạm vi một quốc gia, hai quốc gia hay đa quốc gia

Thuật ngữ “Nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô” để mô tả loại nghiên cứu dùng quốc gia như là đơn vị của sự phân tích để so sánh định lượng các vấn đề tội phạm học trong một số nước.35 Một thuật ngữ khác có thể được dùng để chỉ loại nghiên cứu này là nghiên cứu ở cấp độ ngang - quốc gia Như vậy, theo quan điểm phân loại này tuy tên của phương pháp này được gọi khác đi nhưng có nội dung tương tự như phương pháp nghiên cứu ngang - quốc gia của quan điểm phân loại thứ hai nêu trên

Phương pháp nghiên cứu song song thường hướng vào việc phân tích khép kín hệ thống tư pháp hình sự hoặc đặc tính của tội phạm hiện thực trong hai

33 Xem: John Winterdyk, Philip L Reichel, Harry R Dammer, A Guided reader to research in Comparative Criminology / Criminal Justice, Sđd., tr 24 Trong tiếng Anh phương pháp này được gọi là “Transnational research”

34 Xem: Gregory J Howard, Greame Newman, and William Alex Pridemore, Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, Sđd., ừ 165 Trong tiếng Anh nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô được gọi là: “Metalevel studies”, nghiên cứu song song được gọi là “Parallel studies” và nghiên cứu trường hợp được gọi là “Case studies”.

35 Xem: Gregory J Howard, Greame Nevvman, and William Alex Pridemore, Theory, Method, and Data in Comparative Criminology, Sđd., tr 165.

18

Trang 23

quốc gia.36 Đây là phương pháp so sánh các vấn đề tội phạm học chỉ trong phạm

vi hai quốc gia Nghiên cứu song song thường được thực hiện ở ba dạng nghiên cứu sau:37

+ Phân tích chỉ số tội phạm/hệ thống tư pháp hình sự;

+ So sánh theo chủ đề;

+ Lặp lại một kiểu thực nghiệm

Như tên gọi là phương pháp phân tích chỉ số tội phạm/hệ thống tư pháp hình sụ, bằng phương pháp này là những nghiên cứu so sánh cụ thể về chỉ số tội phạm hoặc các số liệu thống kê chính thức khác về tội phạm hoặc về các hệ thống tư pháp hình sự trong hai quốc gia.38

Phương pháp nghiên cứu so sánh theo chủ đề là so sánh vấn đề tội phạm học thuộc chủ đề được lựa chọn Chủ đề được lựa chọn ở đây thường là vấn đề tội phạm học có liên quan đến lịch sử hoặc xã hội

Lặp lại một kiểu thực nghiệm là phương pháp cùng thực hiện một kiểu thực nghiệm trong hai quốc gia để so sánh vấn đề tội phạm học dựa trên kết quả thực nghiệm này

Phương pháp nghiên cứu so sánh thứ ba của quan điểm phân loại thứ ba là nghiên cứu trường hợp Nghiên cứu trường hợp được dùng để chỉ loại nghiên cứu vấr đề tội phạm học được thực hiện trong một quốc gia riêng lẻ Cách thức nghiên :ứu vấn đề tội phạm học trong phạm vi một quốc gia riêng lẻ không thể hiện rõ ràng mục đích so sánh hoặc không phải là cách thức so sánh trực tiếp vấn đề tội phạm học của quốc gia này với một hoặc nhiều quốc gia khác nên nhiều m à tội phạm học cho rằng đây không phải phương pháp nghiên cứu so

36 Xem: Gegory J Howard, Greame Newman, and William Alex Pridemore, Theory, Method, and Data in Comparatre Criminology, Sđd.,tr 167.

37 Xem: Gegory J Howard, Greame Newman, and William Alex Pridemore, Theory, Method, and Data ÚI Comparati’e Criminology, Sđd., tr 167 - 169.

38 Xem: Gegory J Hovvard, Greame Newman, and William Alex Pridemore, Theory, Method, and Data in Comparati'e Criminology, Sđd., tr 167-168.

19

Trang 24

sánh của tội phạm học so sánh.39 Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu bằng việc thực hiện phương pháp này, như kết quả nghiên cứu về tội phạm và hệ thống tư pháp trong một quốc gia sẽ tạo cơ sở cho việc so sánh giữa các quốc gia với nhau và đánh giá các vấn đề này trên phạm vi toàn thế giới Hơn nữa, với việc thực hiện phương pháp này nhà nghiên cứu có thể phân tích sâu được vấn

đề tội phạm học của quốc gia riêng lẻ trong bối cảnh của quốc gia hay của nền văn hóa này Cũng chính vì những lý do đó mà cũng nhiều nhà tội phạm học đã thừa nhận nghiên cứu trường hợp là một phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh

Như vậy, phương pháp nghiên cứu trường hợp cũng có điểm chung với phương pháp thứ nhất trong quan điểm phân loại thứ nhất là phương pháp so sánh lịch sử, vì cùng là phương pháp nghiên cứu trong phạm vi một quốc gia Nhưng phương pháp so sánh lịch sử thể hiện nội dung so sánh rõ ràng, đó là so sánh vấn đề tội phạm học trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của một quốc gia Thừa nhận nghiên cứu trường họp là một phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh theo quan điểm phân loại thứ ba này là hoàn toàn thống nhất với quan điểm phân loại thứ hai

Tóm lại, ba quan điểm phân loại phương pháp nghiên cứu của tội phạm học

so sánh thể hiện ba cách phân loại khác nhau và tạo ra ba loại cơ cấu khác nhau của các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh Tuy nhiên, điểm chung xuyên suốt của cả ba loại quan điểm phân loại này là đều căn cứ vào quy

mô quốc gia mà trong đó việc nghiên cứu của tội phạm học so sánh được thực hiện Cũng dựa vào quy mô quốc gia để xác định và phân loại các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh có thể hình thành hệ thống các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học so sánh như sau:

39 Xem: Beime and Hill, 1991

20

Trang 25

1 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi một quốc gia:

- Phương pháp so sánh lịch sử;

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

2 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi hai quốc gia:

- Phương pháp so sánh hiện tại trong hai xã hội;

- Phương pháp nghiên cứu song song:

+ Phân tích chỉ số tội phạm/hệ thống tư pháp hình sự;

+ So sánh theo chủ đề;

+ Lặp lại một kiểu thực nghiệm

3 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi đa quốc gia:

- Phương pháp so sánh hiện tại trong nhiều xã hội;

- Phương pháp nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô;

- Phương pháp nghiên cứu ngang - quốc gia

- Phương pháp nghiên cứu vãn hóa - bối cảnh

4 Phương pháp nghiên cứu trong phạm vi toàn cầu:

Phương pháp nghiên cứu xuyên quốc gia

2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI PHẠM HỌC

SO SÁNH

Để có cái nhìn tổng thể về lịch sử ra đời và phát triển của tội phạm học so sánh, cần xác định rõ các tiêu chí mô tả sự ra đời và phát triển của các nghiên cứu thuộc loại này Có thể hình thành hai hệ thống tiêu chí sau: (1) Bối cảnh lịch

sử và tác động của nó đến các nghiên cứu tội phạm học so sánh và (2) Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh trong lịch sử Đây không phải là hai hệ thống tiêu chí độc lập mà giữa chúng có mối liên hệ mật thiết Chính bản thân các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh cũng chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh lịch sử nơi nó ra đời Sự phát triển của tội phạm học so sánh không chỉ thể hiện ở sự

Trang 26

phát triển về lượng các công trình nghiên cứu mà còn thể hiện ở sự phát triển các loại hình nghiên cứu.

2.1 Bối cảnh ra đời và phát triển của tội phạm học so sánh

Tội phạm học so sánh có lịch sử ra đời cùng với sự ra đời của chính bản thân tội phạm học Các nhà lý thuyết tội phạm học cổ điển đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc so sánh xuyên quốc gia cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn Beccaria, Bentham, Voltaire, Helvetius, Quetelet, và nhiều người khác của thời kỳ Khai sáng (thế kỷ 18) đã từng so sánh và đối chiếu hệ thống tư pháp của quốc gia mình với các quốc gia khác.40 Những khuyến nghị và phát hiện của

họ đã có ảnh hưởng lớn trong việc mang lại sự thay đổi tại nhiều quốc gia nhau vượt ngoài quốc gia mà họ sinh sống

Hầu hết các công trình tội phạm học xuất hiện trước năm 1920 đều là các nghiên cứu so sánh, theo đó, các nhà tội phạm học cố gắng giải thích tội phạm là một hiện tượng có tính tự nhiên và phổ quát Các tác phẩm của Lombroso, Garofalo, và Ferri đều dựa trên nền tảng tính “tự nhiên” và tính “nổi trội” của hành vi phạm pháp Nền tảng cơ bản của phần lớn các nghiên cửu vào thời kỳ này đều xuất phát từ thuyết tiến hóa của Darvvin và quy luật phát triển của nhân loại về kinh tế-xã hội và văn hóa của Marx, thể hiện rõ nét nhất ở các học thuyết tội phạm học của những người sáng lập trường phái tội phạm học cổ điển Ý Tác phẩm của Gabriel Tarde, trong đó ông đã đánh giá và phê phán sự đóng góp của trường phái Ý, cũng đã được đặt tên là “Tội phạm so sánh” Các nghiên cứu của Lombroso về tội phạm chính trị và cách mạng, nghiên cứu của Durkheim về tự

40 X em G J Huvard, G N ew m an, W A Pridem ore T , 1 . , . _ 1

(2000) Lý thuyêt, phương pháp và dữ liệu trong tội phạm học so sánh,

trong D Dufee, D McDovvall, B Ostrom, R.D Crutchíield, S.D Masừofski, & L.G Mazerolle (Eds.) Phép đo

và phân tích về tội phạm và tư pháp, NXB: Viện tư pháp Quốc gia Hoa Kỳ, trang 141.

22

Trang 27

tử, hoặc nghiên cứu của Gina Lombroso về tội phạm nữ, đều hướng tới giải thích này.4'

Tuy nhiên, trong hầu hết thế kỷ 19 và một phần của thế kỷ 20, các nghiên cứu tội phạm học so sánh đã bị quên lãng khi các quốc gia chỉ quan tâm đến các giải pháp cho các vấn đề tội phạm cụ thể của họ.42 Rất ít nghiên cứu so sánh đã được công bố vào khoảng giữa những năm 1960, sự thiếu quan tâm trong nghiên cứu so sánh tiếp tục tồn tại vào năm 1980.43 Marsh vào năm 1967 ghi nhận rằng một số lượng nhỏ các bài báo trong các tạp chí khoa học xã hội tại thời điểm đó

xử lý tội phạm trong hai hoặc nhiều nền văn hóa, và Beime44 chỉ ra rằng sự thiếu quan tâm này tiếp tục tồn tại vào những năm 1980

Mãi cho đến những thập niên giữa và cuối của thế kỷ 20, đặc biệt là từ những năm 1990, việc so sánh và đối chiếu các vấn đề tội phạm giữa các quốc gia mới dần được quan tâm trở lại Có thể nói các nghiên cứu tội phạm học so sánh đã tăng lên đáng kể trong vài thập kỷ qua.45 Bennett (2004) đã minh họa sự thay đổi thông qua việc trích dẫn số lượng các buổi thảo luận về tội phạm học so sánh trong các hội nghị hàng năm ở cả hai Viện Khoa học Tư pháp Hình sự (ACJS) và Hiệp hội các nhà Tội phạm học Mỹ (ASC) Tại hội nghị 2001 ACJS, 7,1% của phiên họp giải quyết chủ đề so sánh Con số này tăng lên đến 9,5% tại hội nghị năm 2003 Xu hướng tương tự xảy ra tại các hội nghị ASC, từ 2,6% năm 2001 lên 6,7% trong năm 2003.46

Năm 1991, Beime, Piers và Joan Hill đã tập hợp các công trình nghiên cứu

tội phạm học so sánh trên thế giới trong cuốn sách “Tổng quan tài liệu về tội

41 Xem J-J gzaj)0 ( Ị 976) Tội phạm học so sánh, Tạp chí Luật hình sự và Tội phạm học, số 66(3), ữang 366.

42 Sđd Chú thích số 2 - trang 141-142.

43 p Beime (1997) Các vấn đề trong tội phạm học so sánh, NXB: Dartmouth Publishing Company.

44 Sđd Chú thích số 5 - phần xiii.

45 Xem Adler, Mueller, và Laufer 1994, Ebbe 1996, Moore và Fields 1996; Reichel 1994.

46 R.R Bennett (2004) Nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự so sánh: trạng thái hiện nay, Tạp chí tư pháp

hàng quý số 20, trang 1-15.

23

Trang 28

phạm học so sánh”.47 Có thể coi đây là tài liệu tham khảo toàn diện đầu tiên sưu

tập các nghiên cứu tội phạm học so sánh trên thế giới từ những năm 1960, đề cập đến 500 nghiên cứu so sánh các vấn đề về tội phạm, về pháp luật, và kiểm soát xã hội trong hai hay nhiều quốc gia/nền văn hóa Các nghiên cứu này được phân chia thành ba loại, liên quan đến (1) khái niệm và phép đo trong tội phạm học, (2) chỉ số tội phạm xuyên quốc gia, và (3) kiểm soát xã hội và chính sách hình sự Nội dung của các nghiên cứu này xoay quanh các vấn đề chung của tội phạm học so sánh, cơ sở dữ liệu xuyên quốc gia, nhận thức về tội phạm, tội phạm bạo lực, tội phạm về tài sản, tội phạm kinh tế và chính trị, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, mối tương quan giữa các tội phạm với nhau, giữa tình trạng kém phát triển và xu thế hiện đại hóa, giữa kiểm soát xã hội và giải quyết tranh chấp, và giữa tư pháp hình sự và chính sách hình sự

Có nhiều lý do để giải thích cho sự gia tăng đột biến các nghiên cứu tội phạm học so sánh trong thời gian gần đây Lý do rõ ràng nhất là ở nửa sau của thế kỷ 20 các cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin, liên lạc, giao thông vận tải và thông tin đã làm cho thế giới trở nên nhỏ hẹp hơn

Một lý do không kém phần quan trọng đã ảnh hưởng đến sự phát triển vượt bậc của tội phạm học so sánh hiện đại chính là ảnh hưởng của toàn cầu hóa.48 Ngày nay, quan điểm toàn cầu đang được sử dụng đổi với hầu hết các hiện tượng phổ biến hiện nay trên thế giới, trong đó có vấn đề tội phạm và hệ thống

tư pháp hình sự v ề vấn đề tội phạm, sự gia tăng các tội phạm xuyên quốc gia gần đây đã tạo ra mối quan tâm lớn trên toàn cầu về phương thức kiểm soát đối với các tội phạm này

Tóm lại, tội phạm học so sánh là một thành tố quan ữọng và xuất hiện cùng

sự ra đời của tội phạm học Mặc dù có những thời điểm nhất định trong lịch sử,

47 Xem Beime, Piers và J Hill (1991) Tổng quan tài liệu về tội phạm học so sảnh, NXB: Greenwood Press.

48 Sđd Chú thích số 2.

24

Trang 29

các nghiên cứu so sánh không mấy được quan tâm do nhũng hạn chế về thông tin cũng như phương pháp luận, ngày nay chúng đang phát triển mãnh mẽ trở lại

do sự minh bạch hóa về thông tin, sự thống nhất cao trong cách tiếp cận toàn cầu

về tội phạm và đặc biệt là sự gia tăng mạnh mẽ những tội phạm xuyên quốc gia

là mối quan tâm chung của toàn nhân loại

2 2 Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh trong lịch sử

Để hình dung được bức tranh toàn cảnh và sự phát triển của các công trình nghiên cứu tội phạm học so sánh trong lịch sử, việc xác định các tiêu chí phân loại và sắp xếp các công trình nghiên cứu đã được tiến hành là cần thiết Các căn

cứ phân loại được đề cập ở các khía cạnh sau: (1) Mục đích của nghiên cứu so sánh; (2) Học thuyết tội phạm học được áp dụng; (3) Loại tội phạm được lựa chọn nghiên cứu; (4) c ấ p độ tiếp cận

2.2.1 Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sảnh khác nhau về mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, nhiều nghiên cứu so sánh nhằm mở rộng các học thuyết tội phạm

học (thường được tạo ra trong bối cảnh cụ thể của một quốc gia dân tộc) ra ngoài ranh giới văn hóa và quốc gia v ấ n đề đặt ra có thể là: Liệu các học thuyết giải thích chỉ số tội phạm ở Mỹ, Phần Lan, Nhật Bản, Nam Phi có tác dụng như nhau để giải thích cho hành vi phạm phạm pháp hình sự tại các quốc gia khác trên thế giới? Liệu các học thuyết giải thích cho việc sử dụng lực lượng cảnh sát tại Hoa Kỳ, Nga, ú c , hoặc Brazil có thể áp dụng để tìm hiểu hành vi của cảnh sát ở các nước khác? Các nghiên cứu dạng này cho phép các nhà tội phạm học đánh giá tính khái quát của các học thuyết quan trọng, đồng thời hỗ trợ trong việc xây dựng và cụ thể hóa học thuyết

Thứ hai, nghiên cứu so sánh nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống tư pháp

hình sự quốc gia Ví dụ, nghiên cứu của Maguừe, Howard, và Newman năm

25

Trang 30

199849 đã phát triển một chỉ số mà hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự quốc gia có thể được so sánh giữa các quốc gia với nhau Việc đánh giá hiệu quả của

hệ thống tư pháp hình sự quốc gia trước mắt giúp cho các hoạt động kiểm soát tội phạm trong từng quốc gia hiệu quả hơn và ít bị phân mảnh, đồng thời nghiên cứu so sánh về vấn đề này có thể tìm kiếm giải pháp chiến lược cho việc xây dựng và phát triển chính sách hình sự quốc gia

Thứ ba, nghiên cứu so sánh nhằm đánh giá chính sách hình sự quốc gia và

học tập kinh nghiệm từ các quốc gia khác Ví dụ, một vấn đề đặt ra là liệu tỷ lệ cao các tội phạm bạo lực có sử dụng súng là không thể tránh khỏi ở Hoa Kỳ vì ở

đó tồn tại văn hóa sử dụng súng? Nhà tội phạm học sẽ tìm kiếm những quốc gia khác mà công dân có quyền sở hữu súng nhưng tội phạm sử dụng súng lại chiếm một tỷ lệ thấp50 để học tập kinh nghiệm

Thứ tư, nghiên cứu so sánh nhằm phối hợp đấu tranh phòng chống các tội

phạm xuyên quốc gia Đây là một nhu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay, khi mà các tội phạm xuyên quốc gia ngày càng phổ biến và gây thiệt hại đáng kể cho xã hội loài người

Thứ năm, nghiên cứu so sánh nhằm phản biện chính sách hình sự Tội phạm

học góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm không chỉ ở khía cạnh xây dựng chính sách, hệ thống phòng ngừa tốt mà còn ở khía cạnh phê phán, phán biện những chính sách sai lầm Ví dụ, một trong những khả năng sai lầm thường xảy ra đối với các chính sách hình sự là để đấu tranh với tội phạm (đặc biệt là các tội phạm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia), một số quyền tự

do và quyền con người có thể bị hy sinh

49 E.R Maguire, G.J Howard, và G Newman (1998) Đo lường hiệu suất của hệ thống tư pháp hình sự quốc gia,

Tạp chí quốc tế về tư pháp hình sự so sánh và ứng dụng số 22, trang 31-59.

50 Xem M Killias (1993) Mối tương quan quốc tế giữa quyền sở hữu súng và tỷ lệ các vụ giết người và tự tử

bằng súng, Tạp chí Hiệp hội Y tế Canada số 148, trang 1721-1776.

26

Trang 31

2.2.2 Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh khác nhau về học thuyết áp dụng

Ba nhóm học thuyết chung thường được sử dụng trong việc giải thích sự biến động của chỉ số tội phạm trong các quốc gia khác nhau

Thứ nhất, các học thuyết lớn có mức độ trừu tượng cao và thường giả định

rằng những thay đổi lớn của một xã hội (chẳng hạn như mức độ hiện đại hóa của một quốc gia) hoặc vị trí của quốc gia này trong nền kinh tế chính trị thế giới, có ảnh hường lớn nhất đối với chỉ số tội phạm nói chung

Các học thuyết lớn được ứng dụng phổ biến trong nghiên cứu tội phạm học

so sánh phải kể đến:

- Học thuyết về hiện đại hóa xuất phát từ khái niệm về tình ừạng vô tổ chức của Durkheim và cho rằng chính các tác động của quá trình hiện đại hóa là nguyên nhân của tội phạm Ví dụ: Huang (1995)51 đã áp dụng phương pháp phân tích đa biến đối với dữ liệu về tội phạm của 29 quốc gia sử dụng cơ sở dữ liệu của Liên hợp quốc minh chứng cho lý thuyết hiện đại hóa

- Học thuyết về văn minh xuất phát từ nghiên cứu của Elias (1982)52 cho ring cùng với sự văn minh của nhân loại các cá nhân có khả năng tự kìm chế tốt hơn và xã hội trở nên ít bạo lực hơn

- Các học thuyết về cơ hội cho rằng chính nền kinh tế và tổ chức xã hội tiện đại đã đưa tới nhiều cơ hội phạm tội, đặc biệt là các tội phạm về tài sin Ví dụ, Stack (1984)53 và Hartnagel (1982)54, đã chỉ ra rằng sự gia Ung tội phạm tài sản đi kèm với phát triển kinh tế và/hoặc đô thị hóa

51 W.S.W.Huang (1995) Một phân tích xuyên quốc gia về ảnh hưởng của chủ nghĩa đạo đức cá nhân đối vói tỷ

lệ giết ngưri, Tạp chí quốc tế về điều trị người phạm tội và tội phạm học so sánh sổ 39, trang 63-75.

52 N Elias 1982) Quá trình văn minh, tập 2, Quyền lực và thái độ/cừ chi vô lễ, NXB: Pantheon Books.

53 Sđd Cht thích số 34.

54 T.F Hamagel (1982) Hiện đại hóa, vai trò xã hội cùa nữ giới và tội phạm nữ: Một cuộc điều tra xuyên quốc

gia, Tạp cHxã hội học hàng quý số 23, trang 477-490.

27

Trang 32

- Học thuyết về hệ thống thế giới xuất phát từ quan điểm về chủ nghĩa tư bản của Marx cho rằng sự thay đổi trong tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội, cùng với sự nghèo đói, bất bình đẳng, và điều kiện sống nghèo nàn từ quá trình này, đã tạo ra điều kiện phạm tội.

Thứ hai, các học thuyết về cơ cấu xã hội, thường được sử dụng với các đơn

vị so sánh nhỏ hơn, chẳng hạn như các thành phố hoặc các bang trong một quốc gia cụ thể Các học thuyết này cố gắng giải thích sự thay đổi về chỉ số tội phạm thông qua đặc trưng của các tiểu văn hóa, của tình trạng xung đột, hoặc của kiểm soát xã hội Ngày nay, các học thuyết này đang ngày càng được kiểm nghiệm ở cấp xuyên quốc gia.55

Cuối cùng, đặc điểm nhân khẩu học của một quốc gia, chẳng hạn như cơ

cấu độ tuổi và giới tính, cũng có thể được sử dụng để giải thích mức độ tội phạm Tuy nhiên, các nghiên cứu loại này cho thấy những kết quả hết sức khác biệt từ việc tìm ra mối liên hệ xuôi giữa độ tuổi, giới tính và tội phạm,56 đến việc xác định chúng không có mối liên hệ57 và thậm chí là liên hệ ngược.58

2.3 Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh khác nhau về loại tội phạm nghiên cứu

Các nhà tội phạm học so sánh thường chọn một loại tội phạm nhất định để tiến hành các nghiên cứu của họ Các loại tội phạm phổ biến nhất được lựa chọn ừong các nghiên cứu so sánh có thể kể đến đó là:

55 Xem, ví dụ: D.F Luckenbill và D.p Doyle (1989) Vị trí cấu trúc và bạo lực: Phát triền giải thích bằng văn

hóa, Tạp chí tội phạm học số 27, ừang 419-436; S.F Messner và R Rosenfeld (1997) Hạn chế chính trị của thị

trường và mức độ tội phạm giết người: Một ứng dụng xuyên quốc gia của lý thuyết về tình trạng xung đột thể

chế, Tạp chí Lực lượng x ã hội số 75, trang 1393-1416.

56 Ví dụ, xem: H.B Hansmann and J.M Quigley (1982) Sự đa dạng về dân số và sự phát triền tội phạm giết

người, Tạp chí Lực lượng x ã hội s ẻ 61, trang 206-224; S.T Ortega, J Coràne, c Bumett, and T Poyer (1992)

Hiện đại hóa, cơ cấu tuổi, và bối cảnh khu vực: Một nghiên cứu xuyên quốc gia về tội phạm Tạp chí Toàn cảnh xã hội học số 12, trang 257-277.

57 Ví dụ, xem: R Gartner (1990) Các nạn nhân của giết người: So sánh thòi gian và xuyên quốc gia, Tạp chí xã

hội học Mỹ số 55, trang 92-106.

58 Ví dụ, xem: R.R Bennett (1991) Phát triển và tội phạm: Một phân tích chuỗi thời gian xuyên quốc gia về các

mô hình cạnh tranh, Tạp chí X ã hội học hàng quý số 32, trang 343-363.

28

Trang 33

Thứ nhất, các nghiên cứu so sánh về tội phạm bạo lực Có thể nói, trong

các loại tội phạm, nghiên cứu so sánh về tội phạm bạo lực là phổ biến nhất Trong số các loại tội phạm bạo lực như cướp, hiếp dâm, cổ ý gây thương tích , các nhà tội phạm học so sánh thường chọn tội phạm giết người để so sánh Có thể kể đến rất nhiều công trình khác nhau như: LaFree (1998) đã rà soát các nghiên cứu so sánh về tội phạm giết người59; Neapolitan’s (1994) đã nghiên cún tội giết người ở các nước châu Mỹ latinh60

Thứ hai, các nghiên cứu so sánh các tội phạm về tài sản Các nghiên cứu

thuộc dạng này có thể kể đến: Nghiên cứu xuyên quốc gia xem xét ảnh hưởng của sự phát triển đối với tội phạm liên quan đến tài sản ở châu Phi61; nghiên cứu

sự khác biệt trong hành vi trộm cắp tại các quốc gia kém phát triển62; nghiên cứu các yếu tố xã hội quyết định hành vi trộm cắp ở 40 quốc gia63; và nghiên cứu một mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tội phạm về tài sản tại một số

X - 6 4

quôc gia

Thứ ba, các nghiên cứu so sánh về tội diệt chủng, một loại tội phạm quốc

gia nhưng có tác động ở phạm vi quốc tế Tiêu biểu cho các nghiên cứu thuộc dạng này có thể kể đến nghiên cứu của Rummel (1994) xem xét một số vấn đề

59 G LaFree (1998) Tóm tắt và rà soát các nghiên cứu so sánh giữa các quốc gia về tội giết người trong cuốn

sách G iết người: một lài liệu gốc của nghiên cứu x ã hội do M.D Smith và M.A Zahn biên soạn, NXB: Sage

Publications.

60 J.L Neapolitan (1994) Sự biến đổi về tội giết người giữa các quốc gia; trường hợp của châu Mỹ latinh, Tạp

chí Tư ph á p hình sự quốc tế sổ 4, trang 4-22.

61 J.A Arthur (1991) Sự phát triển và tội phạm ở châu Phi: một sự kiểm tra học thuyết hiện đại hóa, Tạp chỉ tư

pháp hình sự số 19, trang 499-513.

62 J.L Neapolitan (1995) Các quan điểm lý thuyết khác nhau và sự khác biệt trong hành vi ừộm cắp tại các quốc

gia kém phát triển, Tạp chí Tư pháp hình sự quốc tế số 5, trang 17-31.

3 E Kick và G LaFree (1985) Sự phát triển và bối cảnh xã hội của tội phạm giết người và trộm cáp, Tạp chỉ

nghiên cứu xã hội so sánh số 8, trang 37-57.

64 s Stack (1984) Bất bình đẳng trong thu nhập và tội phạm tài sản: Một phân tích xuyên quốc gia của học

thuyết thiếu thốn tương đối, Tạp chí Tội phạm học số 22, trang 229-257.

29

Trang 34

về tội diệt chủng trong thế kỷ 20, bao gồm việc xác định các loại chế độ (nhà nước) dễ nảy sinh tội phạm này65.

Thứ tư, nghiên cứu so sánh về bạo lực gia đình Mặc dù nghiên cứu thuộc

loại này gặp nhiều khó khăn do các nhân tố: cấu trúc gia đình, văn hóa và tôn giáo rất klhác nhau ở các quốc gia, các dân tộc khác nhau, tuy nhiên đã có một số nghiên cứu tội phạm học đã so sánh tỷ lệ bạo lực gia đình cũng như nguyên nhân của dạng tội phạm này ở một số quốc gia Có thể kể đến các nghiên cứu của Bovvker (1985) về tác động của hiện đại hóa lên hành vi ngược đãi bạn đòi ở các nước đang phát triển66; của Patrignani and Ville (1995) về bạo lực gia đình ở một số quốc gia67; của Gelles and Lancaster (1987) về hành vi ngược đãi và bỏ mặc trẻ em ở một số quốc gia68

Thứ năm, nghiên cứu so sánh về tội phạm xuyên quốc gia Các nghiên cứu

tội phạm học dạng này có thể coi là nghiên cứu so sánh khi chúng có phạm vi hoạt động và vi phạm pháp luật của nhiều quốc gia Đây là dạng tội phạm đang được toàn thế giới quan tâm và đương nhiên cũng không nằm ngoài sự quan tâm của các nhà tội phạm học so sánh.69

2.4 Các dạng nghiên cứu tội phạm học so sánh khác nhau về cấp độ tiếp cận

Thứ nhất, nghiên cứu so sánh ở tầm vĩ mô sử dụng quốc gia làm đơn vị phân

tích nhằm so sánh các vấn đề tội phạm học ở nhiều quốc gia khác nhau Tiêu

65 R.J Rummel (1994) Quyền lực, diệt chùng và giết người hàng loạt, Tạp chí nghiên cứu hòa bình số 31, trang

1-10

66 L.H Bowker (1985) Tác động của sự phát triển quốc gia lên vị trí cùa phụ nữ trong hôn nhân ở các nước thuộc

thế giới thứ ba: trường hợp người vợ bị đánh đập, Tạp chí quốc tế vê Tư pháp hình sự so sánh và ứng dụng s ố 9,

trang 1-13.

67 A Patrignani và R Ville (1995) Bạo lực trong gia đình: tình hình nghiên cứu quốc tế, Viện nghiên cứu của

Liên hợp quốc về tội phạm và tư pháp liên khu vực.

68 R.J Gelles and J.B Lancaster (1987) Trẻ em bị ngược đãi và bỏ mặc: khía cạnh x ã hội-sinh học NXB: Aldine

de Gruiter.

69 N Passos (1995) Tấm gương của những thảm họa toàn cầu: bài rà soát các thương vụ của Ngân hàng tín dụng

và Thương mại Quốc tế (BCCI), 7ạ/? chí Tư pháp hàng quý sổ 12, trang 801-829; p WilỊiams (1999) Những vấn

đề phát sinh: tội phạm xuyên quốc gia và kiểm soát, trong cuốn sách Báo cáo thế giớ i về tội phạm và tư pháp do

G Newman biên tập, NXB: Oxíbrd University Press.

30

Trang 35

biểu cho dạng nghiên cứu này là các nghiên cứu so sánh về tội phạm giết người, tội phạm bạo lực và tội phạm về tài sản từ thập niên 90 của thế kỷ 20 đến nay.70

Thứ hai, nghiên cứu song song, tập trung so sánh hệ thống tư pháp hình sự

hoặc bản chất của tội phạm giữa hai quốc gia

Tóm lại, qua rà soát sơ bộ các dạng công trình nghiên cứu tội phạm học so sánh trong lịch sử, có thể nói các nghiên cứu tội phạm học so sánh gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc về số lượng, đồng thời đề cập và giải quyết hầu hết các vấn đề của tội phạm học đương đại Điều này một lần nữa minh chứng cho nhận định ở phần trước rằng tội phạm học so sánh đang phát triển mạnh mẽ trong vài thập kỷ trở lại đây

3 VẤN ĐẺ NGHIÊN c ứ u s o SÁNH VÈ TỘI PHẠM VÀ KIỂM SOÁT TỘI PHẠM

Vấn đề nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm là một trong hai nội dung cơ bản của tội phạm học so sánh Để làm rõ vấn đề này, những nội dung và kết quả của những nghiên cứu so sánh điển hình về tội phạm và kiểm soát tội phạm được xác định, viện dẫn và phân tích

Trong tội phạm học so sánh việc nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm đã được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, như trên toàn thế giới hoặc toàn cầu, trong các châu lục khác nhau, trong các nhóm quốc gia khác nhau và trong phạm vi hai quốc gia Việc nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm có thể được thực hiện không chỉ ở các phạm vi quốc gia hoặc các cấp độ so sánh khác nhau nêu trên mà còn có thể được thực hiện ở phạm vi đối tượng so sánh khác nhau về tội phạm và kiểm soát tội phạm Đó là nghiên cứu so sánh chung về tội phạm và kiểm soát tội phạm và nghiên cứu so sánh đối với một loại hoặc một nhóm tội phạm nhất định, như tội phạm có tổ

70 Ví dụ: Lester (1991) đã ứng dụng lý thuyết cơ hội để lý giải tỳ lệ giết người ở các nước châu Âu; L.H Bowker (1985) sđd Chú thích 37.

31

Trang 36

chức, tội phạm vê bạo lực, tội phạm vê sở hữu, tội phạm xuyên quôc gia Nội dung cụ thể được nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm là các nội dung thuộc tình hình tội phạm, có thể thuộc tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm của người chưa thành niên hoặc tình hình một nhóm tội hoặc một loại tội nhất định và các nội dung thuộc kiểm soát tội phạm nói chung cũng như thuộc kiểm soát một nhóm tội hoặc một loại tội nhất định Thuộc tình hình tội phạm, một số nội dung cụ thể được đặc biệt quan tâm so sánh, như thực trạng

về mức độ của tội phạm được thể hiện ở các chỉ số tội phạm và chỉ số nạn nhân của tội phạm nói chung và tội phạm của người chưa thành niên nói riêng; cơ cấu

và diễn biến của một số loại hoặc nhóm tội phạm có mức độ phổ biến cao Thuộc về kiểm soát tội phạm, ba nội dung cơ bản được đặc biệt quan tâm trong nghiên cứu so sánh tội phạm học là kết quả hoạt động kiểm soát tội phạm thể hiện ở các số liệu thông kê chính thức của các quốc gia về tội phạm rõ, mối quan

hệ giữa kiểm soát tội phạm và kiểm soát không chính thức - hai loại kiểm soát

cơ bản của kiểm soát xã hội và chính sách hình sự của các quốc gia Từ chính các nội dung cơ bản được nghiên cứu so sánh này cũng cho thấy, việc nghiên cứu so sánh về tội phạm luôn được gắn kết, không tách rời với nghiên cứu so sánh về kiểm soát tội phạm Nghiên cứu so sánh về tội phạm chủ yếu được dựa trên cơ sở các số liệu chính thức về tội phạm của các quốc gia và số liệu này lại phản ánh kết quả hoạt động của các cơ quan kiểm soát tội phạm của các quốc gia Các kết quả nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm chủ yếu phản ánh sự khác nhau về mức độ phổ biến, về cơ cấu và diễn biến của tội phạm nói chung, của tội phạm của người chưa thành niên hoặc của một nhóm hoặc một loại tội phạm nhất định, về sự khác nhau trong kiểm soát tội phạm, mối quan hệ giữa kiểm soát tội phạm với kiểm soát xã hội không chính thức và chính sách hình sự của các quốc gia Các kết quả nghiên cứu so sánh này cũng được

32

Trang 37

gắn kểt với việc mô tả những biến đổi của các cơ cấu xã hội của các quốc gia Sau đây có thể xem xét các kết quả nghiên cứu so sánh chung về tội phạm và kiểm soát tội phạm ở các phạm vi quốc gia khác nhau và các kết quả nghiên cứu

so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm của một nhóm tội hoặc một loại tội nhất định

3.1 Nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong phạm vi

toàn cầu

Trước tiên cần đề cập là việc thực hiện nghiên cứu so sánh về tội phạm và

kiểm soát tội phạm trong phạm vi toàn cầu của tổ chức quốc tế toàn cầu là Liên hợp quốc (UN) Liên hợp quốc thực hiện nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm không chỉ dựa trên cơ sở các dữ liệu của thống kê chính thức

về tội phạm và hoạt động tư pháp hình sự của các quốc gia thành viên - phản ánh tội phạm rõ, mà còn dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về tội phạm ẩn

Từ năm 1977 Liên hợp quốc đã tổ chức khảo sát thường kỳ 5 năm một lần để các nước thành viên báo cáo về các số liệu thống kê chính thức của quốc gia về tội phạm và các kết quả hoạt động tư pháp hình sự (của các cơ quan kiểm soát tội phạm) theo các yêu cầu cụ thể được Liên họp quốc đặt ra Bên cạnh đó Liên họp quốc còn tổ chức nghiên cứu về tội phạm ẩn bằng phương pháp điều tra tự thuật Ví dụ, năm 1992 việc nghiên cứu bằng điều tra tự thuật đã được thực hiện trong 12 nước và một bang của Mỹ đối với người chưa thành niên và thành niên trẻ từ 14 đến 21 tuổi; Hoặc trong các năm 1989, 1992 và 1996 ba cuộc nghiên cứu nạn nhân quốc tế đã được thực hiện trong tổng số 52 nước thuộc ba nhóm là các nước công nghiệp, các nước chuyển đổi (trước đây là các nước xã hội chủ nghĩa) và các nước đang phát triển.71 Trên cơ sở thực hiện những hoạt động

71 Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpunkte und Fortschritte der intemationaleiì Kriminologie; Ueberblick und Diskussion, Lit Verlag, Muenster 2001, ữ.273.

33

Trang 38

nghiên cứu như vậy, nhiều đánh giá, kết luận được đúc kết phản ánh những vấn

đề nổi cộm về tội phạm và kiểm soát tội phạm trên phạm vi toàn cầu

Sau đây có thể kể đến một số kết quả nghiên cứu được đúc kết từ việc thực hiện nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong phạm vi toàn cầu của Liên họp quốc:72

- Hai phần ba dân số của các thành phố lớn trên thế giới trong thời gian 5 năm trở thành nạn nhân của tội phạm Châu mỹ la tinh và Châu phi có chỉ

sổ nạn nhân cao nhất, Châu á có chỉ số nạn nhân thấp nhất

- Trộm cắp ô tô ở các nước công nghiệp có mức độ phổ biến cao hơn các nước đang phát triển

- Chỉ số nạn nhân ở các tội phạm trộm cắp (bao gồm cả trộm cắp có đột nhập), tội phạm về bạo lực ở châu Mỹ La Tinh và châu Phi là cao nhất Cũng trong hai châu lục này tội phạm về bạo lực có mức độ phổ biến cao gấp hai lần so với các châu lục còn lại Có chỉ số tội phạm về bạo lực thấp nhất là Tây Âu và châu Á

- Tội phạm về tham nhũng và tội phạm về lừa đảo người tiêu dùng là hai hình thức phổ biến nhất của nạn nhân hóa trong các nước đang phát triển

và các nước chuyển đổi

- Từ 80% đến 90% số người chưa thành niên và số người thành niên trẻ được hỏi trong điều tra tự thuật trong các nước công nghiệp đã từng có hành vi phạm tội đến thời điểm được hỏi

Thứ hai là nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm ở châu

Âu và Bắc Mỹ Cũng trên cơ sở các dữ liệu được thu thập từ các cuộc khảo sát của Liên hợp quốc nêu trên cùng với kết quả thu thập dữ liệu từ các thống kê chính thức về tội phạm và hoạt động tư pháp hình sự được Hội đồng châu Âu

72 Xem: u Zvekie 1996; 1999; Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schwerpiunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., ữ 273.

34

Trang 39

thực hiện đối với các nước thành viên của mình trong thời gian từ 1990 đến

1996, nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm ở châu Âu và Bắc

Mỹ được thực hiện, tuy vẫn ở cấp độ toàn cầu nhưng trong phạm vi hẹp hơn Một số kết quả nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong hai châu lục này có thể được kể đến như sau:73

- Trộm cắp ô tô ở Bắc Mỹ và Tây âu vẫn phổ biến hơn ở Trung và Đông

Âu Có chỉ số tội phạm này cao nhất là các nước Tây Ban Nha, Đan mạch,

Mỹ, Italia, Anh và Xứ Wales

- Các nước ở Trung và Đông Âu, Anh và Xứ Wales cũng như ở Bắc Mỹ có chỉ số tội trộm cắp có đột nhập cao nhất

- Những tội phạm ít nghiêm trọng như trộm cắp đồ vật từ ô tô hay gara, trộm cắp xe đạp, tội phạm đe dọa., là rất phổ biến ở Hà Lan, đặc biệt là tội trộm cắp xe đạp vì ở nước này xe đạp được sử dụng rộng rãi nhất

- Tội giết người được thực hiện phổ biến nhất ở nước Nga và nước Mỹ Những nước có chỉ số tội phạm về bạo lực thấp nhất là Ailen, Thụy sĩ và Áo

- Tội phạm về bạo lực đổi với phụ nữ được thực hiện phổ biến nhất ở nước Nga, Bắc Mỹ và Tây Âu

- Tội phạm về tham nhũng phổ biến nhất ở Hy Lạp, Italia và Thổ N hĩ Kỳ Các nước có mức độ tội phạm về tham nhũng thấp nhất là các nước Thụy

sĩ, Canada và Mỹ

Như vậy, trên cơ sở khảo sát các số liệu thống kê chính thức về tội phạm

và kiểm soát tội phạm của từng quốc gia thành viên do các tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu là Liên hợp Quốc và Hội đồng châu Âu cũng như các kết quả

73 Xem: JJ.M van Dijk/ c Block/ N Ollus 1998 1998; Xem: Hans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das

21 Jahrlnmdert: Schwerpunkte und Fortschritte der intemationalen Kriminologie, Sđd., Ừ.274.

35

Trang 40

nghiên cứu vê tội phạm ân trong phạm vi toàn câu, những nghiên cứu so sánh vê tội phạm và kiểm soát tội phạm được thực hiện và đưa đến nhiều kết quả về sự khác biệt về mức độ phổ biến của tội phạm (nói chung và một số loại tội phạm), của nạn nhân của tội phạm và đồng thời về kết quả hoạt động kiểm soát tội phạm của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc Các kết quả nghiên cứu này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc xác định nguyên nhân từ cơ cấu xã hội đối với

sự phổ biến của tội phạm và nạn nhân của tội phạm mà trên cơ sở đó có thể cải cách chính sách hình sự cũng như kiểm soát tội phạm ừong phạm vi quốc gia, khu vực và thế giới nhằm phòng ngừa tội phạm

3.2 Nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong phạm vi

một nhóm quốc gia

Một nhóm quốc gia được lựa chọn để nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm giữa các quốc gia thường có những đặc điểm chung nhất định, như về ữạng thái phát triển, chuyển đổi về cơ cấu xã hội, địa lý Có rất nhiều các công trình nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong phạm vi một nhóm quốc gia đã được công bố Sau đây có thể xem xét một

số nghiên cứu điển hình cho loại này, như nghiên cứu so sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các nước đang phát triển, trong các nước chuyển đổi (trước đây là các nước Xã hội chủ nghĩa) và trong các nước Tây Âu sau chiến tranh (1950-1999)

Trước tiên cần kể đến là một số kết quả được đúc kết từ việc nghiên cứu so

sánh về tội phạm và kiểm soát tội phạm trong các nước đang phát triển:74

- Một trong số các vấn đề lớn nhất của các nước đang phát triển là vấn đề

ứở thành nạn nhân của nữ giới, mức độ nạn nhân là nữ giới đặc biệt cao,

74 Xem: Kans Joachim Schneider, Kriminologie fuer das 21 Jahrhundert: Schvverpunkte und Fortschritte der intematioiaien Kriminologie, Sđd., tr.285-288.

36

Ngày đăng: 16/03/2019, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w