1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam_2

169 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

33 2.2.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức nói chung có thể áp dụng cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng ..... Lý do l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

TRẦN DIỄM HỒNG

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP NHẬN TRI THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI CUNG ỨNG DẦU NHỜN TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

TRẦN DIỄM HỒNG

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP NHẬN TRI THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI CUNG ỨNG DẦU NHỜN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 9340101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN VIẾT LÂM

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Người hướng dẫn khoa học

GS.TS Nguyễn Viết Lâm

Tác giả luận án

Trần Diễm Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài và bối cảnh nghiên cứu 1

1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.1.2.Bối cảnh nghiên cứu- chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam 4

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 12

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

1.4 Phương pháp nghiên cứu 14

1.4.1 Khái quát về phương pháp thu thập dữ liệu 16

1.4.2 Khái quát về phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu 17

1.5 Đóng góp mới của luận án 17

1.5.1 Đóng góp về lý luận 17

1.5.2.Đóng góp về thực tiễn 18

1.6 Bố cục của luận án 19

Tóm tắt chương 1 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TIẾP NHẬN TRI THỨC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 20

2.1 Cơ sở lý luận về tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng 20

2.1.1 Tri thức và quản trị dựa trên tri thức 21

2.1.2 Học tập của tổ chức 23

2.1.3 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 26

2.1.4 Tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng 30

2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng 33

2.2.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức nói chung có thể áp dụng cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng 33

Trang 5

2.2.2.Tổng quan các công trình nghiên cứu trực tiếp bàn về những yếu tố ảnh hưởng

đến tiếp nhận tri thức của các thành viên chuỗi cung ứng 44

2.3.Khoảng trống nghiên cứu 53

2.4.Thiết kế mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng 54

2.4.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án 54

2.4.2 Các giả thuyết nghiên cứu 55

Tóm tắt chương 2 59

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61

3.1 Nghiên cứu định tính 61

3.1.1 Mục tiêu nghiên cứu định tính 61

3.1.2 Lựa chọn đối tượng tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu 61

3.1.3 Thu thập và xử lý thông tin 63

3.1.4 Kết quả 64

3.1.5 Hoàn thiện mô hình nghiên cứu, giả thuyết và bộ tiêu chí đo lường các biến từ kết quả nghiên cứu định tính 72

3.2 Nghiên cứu định lượng 80

3.2.1 Mục tiêu nghiên cứu định lượng 80

3.2.2 Lựa chọn mẫu nghiên cứu 81

3.2.3 Thiết kế bảng hỏi 82

3.2.4 Thu thập dữ liệu 83

3.2.5.Phân tích, xử lý dữ liệu 86

3.2.6 Kết quả 88

Tóm tắt chương 3 105

CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

4.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 106

4.1.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam 107

4.1.2 Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức giữa các thành viên chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam 112

4.1.3 Sự tác động khác nhau giữa các nhóm doanh nghiệp về tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng 116

4.1.4 Có sự biến động của các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức học tập khi tổ chức đó tham gia vào CCU 117

4.2 Một số khuyến nghị nâng cao tiếp nhận tri thức 117

Trang 6

4.3 Một số khuyến nghị nâng cao tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong

chuỗi cung ứng dầu nhờn Petrolimex 123

4.4 Hạn chế của luận án và cáchướng nghiên cứu tiếp theo 124

4.4.1 Hạn chế của luận án 124

4.4.2 Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo 126

Tóm tắt chương 4 126

KẾT LUẬN 128

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 141

Phụ lục 1-Bảng tổng hợp các tiêu chí đo lường 141

Phụ lục 2- Đề cương nội dung phỏng vấnsâu/thảo luận nhóm về tiếp nhận tri thức tại các thành viên chuỗi cung ứng dầu nhờn 145

Phụ lục 3 PHIẾU CÂU HỎI 149

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

API : American Petroleum Institute (Hiệp hội dầu khí Hoa Kỳ, Hiệp hội này

ban hành bộ tiêu chuẩn dầu nhờn của Mỹ và được áp dụng phổ biến trên thế giới)

CCU : Chuỗi cung ứng CPTPP : Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

(Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương)

Df : Degrees of Freedom DIFM : Do it for me ( chỉ các sản phẩm được cung cấp luôn đi kèm dịch vụ tư

vấn sử dụng sản phẩm)

DN : Doanh nghiệp EFA : Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá) JASO : Japan Automobile Standard Organization (Hiệp hội xe cơ giới Nhật

Bản, Hiệp hội này ban hành bộ tiêu chuẩn dầu nhờn của Nhật Bản và được áp dụng phổ biến trên thế giới)

KBV : Knowledge Base View (Góc nhìn dựa trên tri thức, quản trị dựa trên tri thức) KMO : Kaiser Meyer Olkin

NCC : Nhà cung cấp NPP : Nhà phân phối NSX : Nhà sản xuất PLC : Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex-CTCP SAE : Society of Automotive Engineers (Hiệp hội kỹ sư ô tô, Hiệp hội này ban hành

bộ tiêu chuẩn dầu nhờn của Mỹ và được áp dụng phổ biến trên thế giới) SPSS : Statistical Package for the Social Sciences

TPP : Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối

tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương),

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Danh sách các nhà máy sản xuất dầu nhờn lớn tại Việt Nam 5

Bảng 1.2: Tóm tắt thiết kế nghiên cứu tổng thể 15

Bảng 2.1: Tổng hợp cấu trúc và quá trình học tập của tổ chức 24

Bảng 2.2: Các yếu tố về “Khả năng nhận ra tri thức mới bên ngoài” 37

Bảng 2.3: Các yếu tố về “Khả năng hấp thụ tri thức mới bên ngoài” 40

Bảng 2.4: Nhóm các yếu tố về “Khả năng áp dụng tri thức mới bên ngoài” 41

Bảng 2.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của tổ chức 42

Bảng 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một DN trong CCU 49

Bảng 2.7: Các yếu tố quyền lực và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức 52

Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng phỏng vấn trong nghiên cứu định tính 62

Bảng 3.2: Các tiêu chí đo lường biến “Tiếp nhận tri thức” 74

Bảng 3.3:Các tiêu chí đo lường biến “Mối liên hệ hợp tác kinh doanh” 75

Bảng 3.4:Các tiêu chí đo lường biến ‘Đầu tư của DN trong đào tạo’ 75

Bảng 3.5: Các tiêu chí đo lường biến ‘Lòng tin giữa các đối tác’ 76

Bảng 3.6:Các tiêu chí đo lường biến‘Khả năng học hỏi của nhân viên’ 77

Bảng 3.7: Các tiêu chí đo lường biến‘Văn hóa doanh nghiệp’ 77

Bảng 3.8:Các tiêu chí đo lường biến ‘Sự tham gia chung’ 78

Bảng 3.9: Các tiêu chí đo lường biến ‘Mục tiêu và kế hoạch được cụ thể hóa’ 79

Bảng 3.10:Các tiêu chí đo lường biến ‘Sự sẵn có lựa chọn thay thế’ 79

Bảng 3.11:Các tiêu chí đo lường biến ‘Hạn chế sử dụng quyền lực’ 80

Bảng 3.12: Kết quả thu thập và sàng lọc phiếu điều tra 85

Bảng 3.13: Thống kê mẫu 88

Bảng 3.14: Thống kê mô tả các tiêu chí đo lường đo lường biến độc lập 90

Bảng 3.15: Thống kê mô tả các tiêu chí đo lường đo lường biến phụ thuộc 92

Bảng 3.16: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (Rotated ComponentMatrixa) 93

Bảng 3.17: Bảng phân nhóm các nhân tố 95

Bảng 3.18: Kiểm định tiêu chí đo lường biến độc lập bằng Cronbach's Alpha 97

Bảng 3.19: Kiểm định tiêu chí đo lường biến phụ thuộc bằng Cronbach's Alpha 98

Bảng 3.20: Ma trận hệ số tương quan 100

Bảng 3.21: Các yếu tố ảnh hưởng đến Tiếp nhận tri thức (1) 101

Bảng 3.22: Các yếu tố ảnh hưởng đến Tiếp nhận tri thức (2) 102

Bảng 3.23: Kiểm định ANOVA – Phương sai trung bình trong các nhóm 103

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Bản đồ các nhà máy pha chế dầu nhờn tại Việt Nam 6

Hình 1.2 Mô hình các công đoạn trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam 9

Hình 1.3: Quy trình nghiên cứu 14

Hình 2.1: Các chủ thể học tập 25

Hình 2.2: Cấu trúc theo chiều dọc - chiều ngang chuỗi cung ứng 27

Hình 2.3: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng tiếp nhận tri thức trong tổ chức 35

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu về mối liên hệ giữa quyền lực và tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng 51

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu đề xuất 55

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu chính thức 73

Hình 3.2: Phân tích ANOVA giữa biến phụ thuộc với các nhóm DN 104

Hình 4.1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doan nghiệp trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam 108

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài và bối cảnh nghiên cứu

1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Đề tài luận án được lựa chọn để nghiên cứu xuất phát từ một số lý do sau:

Về lý thuyết:Sự chia sẻ và tiếp nhận tri thức có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi tổ chức nói chung và đối với các thành viên trong chuỗi cung ứng nói riêng Theo Grant,1996b,“Tri thức được coi là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất”, để tồn tại và thành công, các DN phải liên tục mở rộng và nâng cao tri thức của họ, điều đó phụ thuộc vào nguồn tri thức nội tại cũng như khả năng tích hợp tri thức từ bên ngoài Grant và Charles (1995) cũng đã nhấn mạnh rằng tri thức có thể được tích hợp từ bên ngoài thông qua hợp tác với các bên khác.Chia sẻ thông tin, tri thức tuy khó đo đếm, nhưng lại có tác dụng lớn trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác, giúp các DN yếu thế liên minh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Chia sẻ thông tin, kiến thức giữa các DN giúp họ hiểu biết về nhau nhiều hơn, tin tưởng nhau hơn, cùng nhau tháo

gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hợp tác, giúp dòng chảy vật chất lưu thông với tốc

độ nhanh hơn, tiết kiệm chi phí hơn Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định việc chia sẻ tri thức giữa các đối tác trong một liên minh là một đóng góp lớn cho tăng cường năng lực cạnh tranh (Levinson và Asahi, 1995; Mowery & cộng sự, 1996; Inkpen, 1998).Để tăng cường chia sẻ và tiếp nhận tri thức giữa các DN trong chuỗi cung ứng, việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức giữa các DN là cần thiết

Những nghiên cứu về tiếp nhận tri thức không còn mới, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở trong nước và trên thế giới, nhưng vẫn còn những khoảng trống:

- Bản thân tiếp nhận tri thức là một quá trình và luôn vận độngphát triển Huber (1991) cho rằng học tập, tiếp nhận tri thức làm “thay đổi phạm vi các hành vi tiềm năng của nó và có khả năng dẫn đến kết quả tốt hơn” Học tập, tiếp nhận tri thức gồm

cả học tập, thu thập tri thức có được ngay trong quá trình hoạt động nội bộ một tổ chức cũng như từ các nguồn tri thức bên ngoài qua quá trình hợp tác, tìm kiếm, quan sát

để đồng hóa vào kho tri thức của DN mình Do vậy học tập, tiếp nhận tri thức là một quá trình luôn đi song hành với các hoạt động nội bộ cũng như giao tiếp với bên ngoài của một doanh nghiệp/tổ chức

Trang 11

- Tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng có nhiều đặc thù nhưng những nghiên

cứu trước đây chưa đề cập đến hoặc chưa phản ánh hết những đặc thù này Đó là (1)

Thành viên trong chuỗi cung ứng vừa tiếp nhận tri thức với tư cách là một tổ chức học tập đồng thời tiếp nhận tri thức với tư cách là những doanh nghiệp có mối liên hệ gắn

bó, hợp tác liên kết với nhau trong một thể thống nhất để đưa sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng Tuy nhiên, các nghiên cứu đã có về tiếp nhận tri thức của doanh nghiệp mới chỉ thiên về vế này hoặc thiên về vế kia mà chưa có sự nghiên cứu xoay quanh việc

chia sẻ, tiếp nhận tri thức kết hợp đồng thời cả hai vế với nhau.(2)Khi chia sẻ, tiếp

nhận tri thức giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng, mọi thành viên đều phải rất cân nhắc đến việc giữ vị trí của mình trong thương thảo, giữ bí quyết kinh doanh, quản

lý Theo lý thuyết quản trị CCU, quản trị dòng chảy thông tin, trong đó có chia sẻ và tiếp nhận tri thức giữa các doanh nghiệp trong CCU, là quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hợp tác CCU Tuy nhiên, các DN trong một CCU lại vô cùng đa dạng, có quy mô, loại hình và mục tiêu rất khác nhau khi tham gia liên kết với nhau để cùng phát triển Trong quá trình trao đổi, chia sẻ tri thức, các thành viên cũng có thể muốn giữ vị thế để thương thảo, nên việc chia sẻ/tiếp nhận tri thức có thể làm lộ bí quyết kinh doanh, giảm quyền lực của thành viên đó trong liên kết…Do vậy, việc chia

sẻ và tiếp nhận tri thức cần phải cân bằng giữa hai nhu cầu này, tri thức nào được chia

sẻ, tri thức nào cần bảo mật để duy trì quyền lực của mình trong liên kết

- Các nghiên cứu trước đây về tiếp nhận tri thức trong CCU chủ yếu được tiến hành trong điều kiện các nước phát triển hoặc trong các doanh nghiệp có các đối tác ở nước phát triển(ví dụ, Zhenxin Yu & cộng sự, 2001; Benton và Maloni,2005; Shih & cộng sự,2012) hoặc trong ngành nghề thiên về nghiên cứu phát triển(Grant 1996b, Shih & cộng sự,2012) Ở đó, công nghệ mới, tri thức mới là mấu chốt của sự hợp tác, chia sẻ và tiếp nhận tri thức.Trong khi đó, ngay tại các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển thì nhu cầu tiếp nhận tri thức từ các đối tác trong CCU cũng rất cần thiết

và cần được thực hiện thường xuyên, liên tục.Vì ngay chính quá trình hợp tác với đối tác bên ngoài cũng như sự vận hành, hoạt động của doanh nghiệp cũng tạo ra tri thức mới mà mỗi tổ chức, cá nhân tiếp nhận được ở mức độ khác nhau, tùy vào khả năng, điều kiện riêng của họ Quá trình hợp tác với các đối tác CCU trong điều kiện cụ thể của quá trình hợp tác, văn hóa bản địa, quy định của từng quốc gia cũng như các thông

lệ quốc tế, sự thay đổi trong các hiệp định hợp tác thương mại như TPP, CPTPP cũng đòi hỏi các DN, cá nhân phải thay đổi để thích nghi Đây là môi trường mới, yêu cầu mới tạo ra tri thức mới mà các bên cần phải chia sẻ và tiếp nhận của nhau để hợp tác hiệu quả hơn Trên thực tế, các CCU được hình thành tại Việt Nam đa số là các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển

Trang 12

- Tiếp nhận tri thức có sự phân biệt giữa các loại hình doanh nghiệp khác nhau, như Grant, (1996b), Shih & cộng sự, (2012) tập trung nghiên cứucác doanh nghiệp hướng đến nghiên cứu phát triển hoặc các nghiên cứu của Zhenxin Yu & cộng sự, (2001); Benton và Maloni, (2005);Phan và cộng sự (2006), Shih & cộng sự, (2012), Hong và Nguyễn (2013) tập trung vào doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp đa quốc gia Với những loại hình doanh nghiệp này, việc tiếp nhận tri thức từ bên ngoài là cấp thiết để tồn tại hoặc để đáp ứng được yêu cầu thay đổi trong hoạt động doanh nghiệp theo yêu cầu của công ty mẹ có trình độ công nghệ, quản lý, văn hóa… khác so với doanh nghiệp liên doanh, công ty con ở nước ngoài Qua đó có thể thấy rằng, đặc điểm phân biệt các loại hình doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng, tạo ra sự khác biệt trong tiếp nhận tri thức của doanh nghiệp Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến và chưa có nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh

- Môi trường kinh doanh cụ thể tại Việt Nam có sự khác biệt với môi trường kinh doanh thế giới có thể dẫn đến mức độ tác động khác nhau của các yếu tố đến tiếp nhận tri thức Điều này cần có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng

Về khía cạnh thực tế:

- Tiếp nhận, chia sẻ tri thức trong một tổ chức học tập nói chung và trong các doanh nghiệp CCU nói riêng tại Việt Nam vẫn chưa thực sự được quan tâm coi trọng

và chưa mang lại những kết quả tích cực.Các CCU được hình thành tại Việt Nam đa số

là các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển, khi tham gia vào thị trường quốc tế, nhu cầu học hỏi, thu nhận kiến thức càng cần thiết hơn để mau chóng bắt kịp mặt bằng chung trên thế giới và phát triển các lợi thế cạnh tranh sẵn có Hiện tại trên thị trường Việt Nam, có nhiều ngành hàng và sản phẩm được sản xuất và phân phối mà các DN trong nước đang chiếm ưu thế và kinh doanh thành công, đặc biệt là ở hạ nguồn các CCU – từ NSX đến hệ thống phân phối sản phẩm Theo quy luật cung cầu của thị trường và theo lộ trình Việt Nam mở cửa thị trường ra thế giới, những ưu thế này có thể không còn nữa nếu lợi thế cạnh tranh của các CCU Việt Nam không phải là bền vững, độc đáo Tri thức, đặc biệt là tri thức ẩn được công nhận là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng nhất (Grant vàCharles, 1995; Grant, 1996a; 1996b; 1997) Tăng cường tiếp nhận tri thức lẫn nhau giữa các DN trong CCU Việt Nam để phát triển những tri thức ẩn, độc đáo của thành viên thành tri thức của chuỗi đồng thời tăng cường mối quan hệ hợp tác, đoàn kết ngay trong nội bộ CCU Việt Nam là một giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững cho các CCU Việt Nam nói chung và các DN tham gia vào CCU nói riêng

Trang 13

- Cho đến nay tại Việt Nam dường như chưa thấy các nghiên cứu thực nghiệm

về chia sẻ và tiếp nhận tri thức trong CCU, đặc biệt là những nghiên cứu về tiếp nhận

tri thức trong các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển, rất phổ biến trong các

DN Việt Nam Câu hỏi được đặt ra là có những yếu tố nào ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức giữa các DN trong CCU không thiên về nghiên cứu phát triển, có hay không có

sự tác động khác biệt đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức học tập khi tổ chức đó tham gia vào một chuỗi cung ứng? Câu hỏi này cần được giải đáp để việc hợp tác, chia

sẻ thông tin, tiếp nhận tri thức giữa các thành viên trong CCU được vận hành thành công và tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho mỗi CCU.Trên thực tế, các nghiên cứu về tiếp nhận tri thức trong CCU mới tìm thấy ở điều kiện các nước phát triển Các nghiên cứu về tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp với tư cách là một tổ chức học tập tại Việt Nam đã được công bố, lại chủ yếu tập trong vào các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài như các liên doanh, các công ty con của các công ty đa quốc gia Cần có nghiên cứu thực nghiệm để xác định sự tương đồng hay khác biệt giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp trong CCU tại Việt Nam

Xuất phát từ các nguyên nhân về lý luận và thực tiễnnêu trên, tác giả đã lựa

chọn vấn đề ‘Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam’làm đề tài nghiên cứu của Luận án Đề

tài này vừa có ý nghĩa về lý luận và cũng rất có ý nghĩa trong thực tiễn quản trị của các nhà quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam

1.1.2 Bối cảnh nghiên cứu- chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam

Để có đầy đủ thông tin hơn làm căn cứ cho nghiên cứu, dưới đây sẽ trình bày những đặc điểm cơ bản của chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt nam

- Thượng nguồn CCU dầu nhờn:Việt Nam hiện nay chưa sản xuất được dầu gốc, nguyên liệu chính để sản xuất dầu nhờn thành phẩm, mà phải nhập khẩu từ các nhà máy lọc dầu chuyên cung cấp dầu gốc trong khu vực như tại Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore Ngoài dầu gốc được sản xuất từ dầu mỏ, còn có dầu gốc tái sinh từ dầu nhờn đã qua sử dụng, nhưng thị phần của nhóm dầu gốc tái chế này không cao, chiếm khoảng 5-7%, do hạn chế về thu gom dầu thải (theo PFC Energy Inc., 2010)

Trên thế giớicó không nhiềuNCCphụ gia dầu nhờn, họ cung cấp cho gần như tất

cả các thương hiệu dầu nhờn tại Việt Nam Phụ gia có thể được cung cấp dưới dạng combo cho một loại dầu nhờn nhất định hoặc phụ gia cho từng tính năng sản phẩm, như tính năng chống tạo bọt, chống lắng cặn… để pha chế thành các sản phẩm dầu nhờn khác nhau, theo các tiêu chuẩn chất lượngnhư API, SAE, JASO…

Trang 14

Bảng 1.1: Danh sách các nhà máy sản xuất dầu nhờn lớn tại Việt Nam

Địa điểm đặt nhà máy Hãng sản xuất Công suất thiết kế

Nguồn: Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex (2016)

- Nhà sản xuất và các nhà cung ứng phụ trợ: Tùy theo cấp chất lượng, các NSX dầu nhờn sẽ lựa chọn, thử nghiệm trong phòng thì nghiệm công thức pha chế có hiệu quả kinh tế nhất từ các loại dầu gốc và phụ gia hiện có Như vậy, mức độ nghiên cứu phát triển tại các NSX dầu nhờn là không nhiều, không phải là lợi thế cạnh tranh của các CCU dầu nhờn Lợi thế cạnh tranh mà các NSX dầu nhờn tạo ra được chủ yếu ở quy mô sản xuất để tiết kiệm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản xuất Tuy nhiên, dầu gốc là một sản phẩm của dầu mỏ được các nhà máy lọc dầu sản xuất và xuất bán theo từng lô sản xuất Mỗi lô sản phẩm được giao dịch, mua bán trên các sàn giao dịch hàng hóa thế giới Với đặc trưng nguyên liệu đầu vào sản xuất ra dầu gốc và dầu diesen là cùng nhóm, nên khi nhu cầu mua bán trên sàn giao dịch dầu gốc không đủ mẻ sản xuất, các nhà máy lọc dầu sẽ chuyển sang sản xuất diesen cung cấp ra thị trường nhiên liệu có quy mô lớn hơn rất nhiều so với thị trường nguyên liệu dầu nhờn Tổng nhu cầu cầu dầu nhờn chỉ chiếm khoảng từ 3-5% so với nhu cầu nhiên liệu trên thị trường (Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex, 2016) Thực tế, các nhà máy sản xuất dầu nhờn có quy mô sức chứa rất nhỏ

so với năng lực sản xuất dầu gốc của mỗi nhà nhà máy lọc dầu

Trang 15

Hình 1.1 Bản đồ các nhà máy pha chế dầu nhờn tại Việt Nam

Nguồn PFC Energy, 2010

Trang 16

Ngoài ra, với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất, tồn kho, thì các nhà máy sản xuất dầu nhờn đều không đủ năng lực để tham gia mua bán trực tiếp dầu gốc từ các máy lọc dầu mà phải mua lại dầu gốc từ các trung gian thương mại Các trung gian thương mại là người ghép mối, tìm đủ số lượng khách hàng có nhu cầu để mua đủ một

lô dầu gốc sẽ được sản xuất theo kỳ hạn đã được giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa Chính vì thế, nhu cầu mua dầu gốc càng lớn thì người mua càng dễ dàng lựa chọn được người bán và có lợi thế về giá, hơn hẳn những người mua dầu gốc số lượng nhỏ

vì phải qua nhiều trung gian thương mại

Với đặc thù địa lý Việt Nam, tất cả dầu gốc đều được nhập khẩu và vận chuyển

về nhà máy bằng đường biển, mỗi nhà máy sản xuất dầu nhờn tại Việt Nam đều đáp ứng đủ sức chứa của một tàu chở dầu gốc cỡ trung bình, theo đánh giá của Tổng công

ty Hóa Dầu Petrolimex, (2016) Với đặc thù các nhà máy của các NSX dầu nhờn đều được tập trung ở hai đầu đất nước (hình 1.1) rất gần nhau, thậm chí còn sử dụng chung

hạ tầng cầu cảng, đường ống nhập dầu vào kho Các NSX dầu nhờn muốn tiết giảm chi phí đầu vào, đã hợp tác chặt chẽ với các NCC nguyên vật liệu, nhà thầu vận tải và thậm chí hợp tác với nhau để chung mua một lô nguyên liệu lớn với giá bán thấp để tiết giảm chi phí (Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex, 2016)

Với mức độ hợp tác chặt chẽ và hiệu quả giữa các NCC với các NSX dầu nhờn tại Việt Nam như hiện nay, nguồn cung cấp đầu vào không phải là lợi thế cạnh tranh của các CCU dầu nhờn tại Việt Nam, đặc biệt là những NSX dầu nhờn lớn, đã được định vị và chiếm thị phần tương đối ổn định trên thị trường

- Hạ nguồn CCU dầu nhờn:Theo nghiên cứu của PFC Energy (2010), thị trường dầu nhờn Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, năng lực sản xuất dầu nhờn của các nhà máy trong nước đáp ứng được nhu cầu nội địa và xuất khẩu một phần.Vị thế cạnh tranh của mỗi nhãn hiệu dầu nhờn trên thị trường Việt Nam được xác định qua giá trị thương hiệu và lợi thế trong hệ thống phân phối sản phẩm, theo Công

ty TNHH Castrol BP Petco (2010) Quyền lực của NSX trong CCU dầu nhờn thể hiện qua quy mô và thị phần Mỗi NSX, là chủ sở hữu của các thương hiệu dầu nhờn, là DN trung tâm của CCU dầu nhờn mang thương hiệu đó Có thể thấy, điểm khác biệt của các CCU dầu nhờn tại Việt Nam chính là hệ thống phân phối dầu nhờn Hệ thống phân phối dầu nhờn của mỗi hãng có đặc điểm riêng phụ thuộc vào nhóm sản phẩm thế mạnh của từng hãng Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Lâm và Trần Diễm Hồng (2012), đặc điểm hệ thống phân phối dầu nhờn ở Việt Nam chia thành các phân khúc chính sau:

Trang 17

(1) Nhóm dầu nhờn cho xe máy, ô tô con được phân phối chủ yếu qua hệ thống các điểm dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng xe máy, điểm bán phụ tùng xe máy hoặc điểm rửa xe (DIFM) thông qua các NPP

(2) Nhóm dầu nhờn cho xe tải, xe khách được phân phối chủ yếu qua hệ thống các điểm sửa chữa, bảo dưỡng thông qua các NPP hoặc trung gian bán buôn

(3) Trong phân khúc dầu nhờn khác – là dầu nhờn cung cấp cho các hệ thống máy móc công nghiệp khác ngoài các phương tiện vận tải thông thường, việc phân phối chủ yếu qua hình thức bán trực tiếp hoặc qua một trung gian thương mại

(4) Ngoài các phân khúc dầu nhờn đáp ứng các nhu cầu bôi trơn của máy móc, động cơ trên bộ, còn có phân khúc dầu nhờn hàng hải Dầu nhờn hàng hải, với đặc điểm cung cấp cho đội ngũ tàu bè di chuyển liên tục và đặc biệt đối với các đội tàu viễn dương, thì việc cung ứng dầu nhờn hàng hải của các hãng sản xuất dầu nhờn càng đòi hỏi phải có sự hợp tác, tham gia chặt chẽ của CCU mang tính quốc tế và sản phẩm quy chuẩn tại tất cả các quốc gia

Ở mỗi phân khúc, trong hệ thống phân phối, NSX đều là người lãnh đạo hệ thống.Với các hãng dầu nhờn nước ngoài như Castrol, BP, Shell, Total, Esso Mobil, Caltex…trước khi thâm nhập thị trường Việt Nam, đều nghiên cứu thị trường và lựa chọn thành viên tham gia kênh phân phối như nói trên Mỗi thành viên trong hệ thống phân phối dầu nhờn đều bắt buộc phải tuân thủ theo các quy định của NSX.Các công ty sản xuất dầu nhờn nội địa, hầu hết đều xuất thân từ lĩnh vực cung ứng xăng dầu như PLC của Petrolimex; PDC của PV… nên có ưu thế sẵn có về hệ thống khách hàng công nghiệp truyền thống và các điểm phân phối xăng dầu và dầu nhờn tại các cây xăng trên toàn quốc nên vẫn giữ được một thị phần nhất định, đặc biệt trong phân khúc dầu nhờn khác Các hãng dầu nội địa được thành lập sau này như Nikko (Phúc thành); Solube (Sotran), Delta (Mekong) phát triển thương hiệu riêng sau một thời gian hợp tác phân phối sản phẩm của các hãng dầu nhờn khác và giữ được thế mạnh ở một vài phân khúc nhất định Đến nay, các NSX dầu nhờn trong nước cũng đã và đang xây dựng, quản lý và lãnh đạo hệ thống phân phối của mình để cạnh tranh với các thương hiệu dầu nhờn khác, xác định vị thế trên thị trường Tuy nhiên, mỗi hãng cũng chỉ có thế mạnh trong một vài phân khúc thị trường nhất định Theo đánh giá của PFC Energy (2010) và Công ty TNHH Castrol

BP Petco (2010) về thị trường Việt Nam, các hãng dầu nhờn lớn trên thị trường đều

cố gắng tham gia vào tất cả các phân khúc thị trường,

Trang 18

THƯỢNG NGUỒN CCU- NHÀ CUNG CẤP

- Dầu gốc (khoảng 10 nhà máy trong khu vực)

- Phụ gia (có 5 hãng lớn trên thế giới)

- Bao bì (khoảng 10 NCC các loại bao bì thép, nhựa, giấy cho gần hết các NSX tại VN)

NHÀ SẢN XUẤT

- Công ty Việt Nam (11 NSX)

- Các hãng dầu nhờn đa quốc gia (6 NSX)

HẠ NGUỒN CCU – HỆ THỐNG PHÂN PHỐI DẦU NHỜN

Dầu nhờn ô tô, xe máy

Dầu nhờn cho xe tải, xe khách

Dầu nhờn cho máy móc công nghiệp

Dầu nhờn hàng hải

- Nhà phân phối khu vực

có liên quan đến dầu nhờn

-Khách hàng trực tiếp

- Điểm bán lẻ (rửa

xe, sửa xe, cây xăng, trạm bảo dưỡng)

- Điểm bán lẻ (Các cây xăng, trạm bảo dưỡng )

Hình 1.2 Mô hình các công đoạn trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

Nguồn tổng hợp của tác giả

Trang 19

nhưng chỉ có thể tham gia vào một vài phân khúc chính mà họ có lợi thế Với các hãng dầu nhờn nội địa, các phân khúc tham gia thường tập trung vào nhóm (1) dầu nhờn cho

xe máy, ô tô con và nhóm (2) dầu nhờn cho xe tải, xe khách và phát triển các dòng sản phẩm cấp chất lượng trung bình và tổ chức phân phối sản phẩm thông qua hệ thống các điểm bán lẻ, khi có sự tư vấn dịch vụ (DIFM), theo Nguyễn Viết Lâm và Trần Diễm Hồng (2012) Hệ thống bán lẻ này gồm rất đông đảo các thành viên là những điểm sửa

xe, rửa xe, ga ra ô tô, trạm xăng dầu phủ khắp các tuyến đường trên toàn quốc

Việc cung cấp dầu nhờn nhóm (3) dầu nhờn cung cấp cho các hệ thống máy móc công nghiệp và nhóm (4) dầu nhờn hàng hải yêu cầu nhiều rào cản kỹ thuật mà không phải hãng dầu nhờn nội địa nào cũng đáp ứng được Dầu nhờn là nguyên liệu chiếm tỷ trọng nhỏ không quá 5% đầu vào của nhiên liệusản xuất, nhưng số lượng, chủng loại lại rất đa dạng, mới đáp ứng được nhu cầu bôi trơn của một hệ thống máy móc công nghiệp của một khách hàng Thế hệ máy móc càng hiện đại thì nhu cầu sử dụng dầu bôi trơn càng đặc chủng và số lượng càng ít, thì người sử dụng càng yêu cầu

uy tín chất lượng và dịch vụ kỹ thuậtcao Các nhà NSX thiết bị thường có khuyến cáo

về chủng loại và thương hiệu dầu nhờn đáp ứng yêu cầu bôi trơn của máy móc, là các hãng dầu nhờn quốc tế có sự hợp tác lâu dài với các hãng sản xuất thiết bị Chính vì thế, các hãng dầu nhờn nội địa sẽ rất khó khăn trong việc cung ứng dầu nhờn cho các thế hệ máy móc đời mới Việc chuyển đổi dầu nhờn của nhóm (3) và nhóm (4) từ hãng này sang hãng khác là rất khó khăn và tốn kém, đòi hỏi NSX dầu nhờn phải có thử nghiệm về chất lượng và chứng minh năng lực, uy tín sản phẩm Quyết định chuyển đổi thương hiệu dầu nhờn còn khó khăn vì các rủi ro khác, khi chi phí dầu nhờn là rất nhỏ so với giá trị máy móc, nhưng sử dụng dầu nhờn không phù hợp có thể làm hỏng

cả hệ thống máy móc, ảnh hưởng đến vận hành, sản xuất của người sử dụng Riêng phân khúc (4) dầu nhờn hàng hải, ngoài nhu cầu cung cấp dầu nhờn bôi trơn cho hệ thống tàu cá, vận tải thủy và sông thì dịch vụ cung cấp dầu nhờn cho tàu viễn dương lại có đặc thù riêng, cần tham gia vào chuỗi ung ứng toàn cầu với một thương hiệu dầu nhờn hàng hải quốc tế, được các hãng tàu viễn dương công nhận Các hãng dầu nhờn nội địa, chỉ phát triển thương hiệu dầu nhờn trong nước sẽ khó tham gia vào phân khúc này Ngay cả những hãng dầu nhờn đa quốc gia, nếu không xây dựng được mạng lưới các thành viên cùng cung ứng rộng khắp trên thế giới cũng không thể cạnh tranh được

Với các đặc điểm nêu trên, có thể thấy NSX là DN trung tâm trong CCU dầu nhờn, là người có ảnh hưởng và tác động đến các hoạt động trong CCU để cạnh tranh với các CCU dầu nhờn khác trên thị trường Các thành phần khác trong CUU, cả ở thượng nguồn hay hạ nguồn CCU đều có thể cùng lúc tham gia vào nhiều CCU dầu

Trang 20

nhờn khác nhau để cung ứng dịch vụ, nguyên liệu đầu vào hay phân phối cho nhiều NSX daaufnhownf khác nhau trên thị trường CCU dầu nhờn, theo tổng quan tại chương 2, là CCU đẩy, phân tán, sự khác biệt của CCU chủ yếu ở phần hạ nguồn phân phối sản phẩm.Lựa chọn khung cảnh nghiên cứu là CCU dầu nhờn Việt Nam đãđáp ứng được các tiêu chí đặt ra:

Trước hết,đây là CCU điển hình, không hướng đến nghiên cứu phát triển và có tính phổ quát cao Các thành viên hỗ trợ, tham gia cung ứng và phân phối rất đa dạng, thể hiện gần như đầy đủ các loại hình DN đang tồn tại ở Việt Nam Các đối tượng doanh nghiệp tham gia vào cung cấp nguyên liệu, sản xuất, phân phối dầu nhờn rất đa dạng, có cả doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Các doanh nghiệp trong nước tham gia vào CCU dầu nhờn cũng rất phong phú về loại hình, theo PFC Energy (2010) Ngành hàng dầu nhờn có công nghệ và nguyên liệu chính phải nhập khẩu từ nước ngoài, các phụ liệu được sản xuất tại Việt Nam, thành phẩm được phân phối trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.Sản xuất và phân phối dầu nhờn có hệ thống phân phối theo hướng truyền thống, dễ dàng trong phân định giữa đơn vị thượng nguồn cung cấp nguyên liệu và hạ nguồn phân phối sản phẩm.Do vậy, tính đại diện, phổ quát của CCU dầu nhờn là cao trong thực tế các CCU đang tồn tại ở Việt Nam

Thứ đến , trong CCU dầu nhờn, nhu cầu có được hiểu biết, cập nhật kiến thức

chung về thương phẩm dầu nhờn, máy móc thiết bị, thực hành trong sử dụng cũng như kiến thức trong quản lý, phân phối sản phẩm trong toàn hệ thống luôn được đặt ra

Bởi vì dầu nhờn là sản phẩm phụ trợ cần thiết trong hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp cũng như giao thông vận tải, tính năng sản phẩm luôn đi liền với cấu trúc và thay đổi theo từng thế hệ thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải…Hệ thống phân phối

đa dạng, yêu cầu quản lý và phát triển mạng lưới luôn được đặt ra, sự cạnh tranh giữa các thương hiệu dầu nhờn hay nói cách khác là sự cạnh tranh giữa các CCU dầu nhờn rất khốc liệt Do đó, nhu cầu trao đổi thông tin, cập nhật kiến thức để tăng cường sức mạnh, mối quan hệ hỗ trợ trong hệ thống CCU là yêu cầu tất yếu

Tiếp theo, ngoài tính đại diện, điển hình cho các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển nhưng vẫn có nhu cầu tiếp nhận tri thức thì lựa chọn CCU dầu nhờn còn có một số lợi thế, rất cần thiết trong tổ chức nghiên cứu và khảo sát số liệu, thông tin Một là,CCU dầu nhờn là đại diện cho một CCU truyền thống, các thành viên tham

gia cung ứng và phân phối đa dạng, thể hiện gần như đầy đủ các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại ở Việt nam Đồng thời phân biệt được nguyên liệu và sản phẩm

cũng như dòng tiền và thông tin Hai là, có thể dễ dàng xác định vị trí, vị thế chính xác

Trang 21

các công ty tham gia vào CCU, do đó phát triển một mẫu mà xác định được rõ đối tượng tham gia là đơn vị tiếp nhận tri thức hay là đơn vị chuyển giao tri thức

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm giải quyết được các vấn đề sau:

- Xác định xem có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của doanh nghiệp với tư cách là thành viên trong CCUdầu nhờn tại Việt Nam

- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của doanh nghiệp với tư cách là thành viên trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

- Chỉ ra sự khác biệt trong tiếp nhận tri thức giữa các nhóm doanh nghiệp khác nhau trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam

- Chỉ ra sự thay đổi về mức độ tác động các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức học tập khi nghiên cứu trong bối cảnh là doanh nghiệp thành viên chuỗi cung ứng tại Việt Nam

- Dựa trên các kết quả nghiên cứu của luận án và sự tổng hợp các thông tin liên quan đến những khó khăn, rào cản mà các DN trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam gặp phải khi tiếp nhận tri thức từ bên ngoài; đề xuất một số gợi ý quản trị, nâng cao tiếp nhận tri thức của các DN trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận ánlà lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các DN trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: Đại diện các loại hình DN đang tham gia vào thượng

nguồn và hạ nguồn của CCU dầu nhờn Petrolimex tại Việt Nam

Trong các CCU dầu nhờn của Việt Nam, CCU dầu nhờn Petrolimex là phổ quát nhất, đại diện được hết các đặc điểm vốn có của các CCU dầu nhờn tại Việt Nam, bởi

vì, trong các NSX dầu nhờn nội địa hiện nay, có thể nói CCU dầu nhờn Petrolimex là phổ quát nhất, nó tham gia đầy đủ vào tất cả các phân khúc dầu nhờn trên thị trường Các DN tham gia vào CCU dầu nhờn Petrolimex cũng đa dạng nhất về loại hình, quy mô bao gồm đầy đủ các loại hình DN đang tham gia vào thượng nguồn và hạ nguồn của một CCU dầu nhờn

- CCU dầu nhờn Petrolimex đã tham gia vào thị trường Việt Nam từ năm 1956 Petrolimex là một tập đoàn kinh tếcủa Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xăng dầu,

Trang 22

trong đó dầu mỡ nhờn là một ngành hàng truyền thống Ban đầu, dầu nhờn được Petrolimex nhập khẩu và phân phối theo kế hoạch tập trung của nhà nước Khi Việt Nam mở cửa, Petrolimex đã hợp tác, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, phân phối dầu nhờntừchính công ty liên doanh của Petrolimex và chính thức thành lập công ty chuyên doanh - Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex (PLC) từ năm 1994

- PLC là một trong số ít hãng dầu nhờn có hai nhà máy sản xuất dầu nhờn ở hai vùng thị trường quan trọng miền Bắc và miền Nam Việt Nam Nguồn nguyên liệu và dịch vụ hậu cần khác của Petrolimex đều cùng chung NCC với các hãng dầu nhờn khác trên địa bàn như Castrol-BP-Petco, Shell ở phía Nam hay Caltex-Chevron, Total

ở phía Bắc Có thể nói, thượng nguồn CCU dầu nhờn Petrolimex không có điểm khác biệt nổi trội nào so với các CCU dầu nhờn đa quốc giacũng như các hãng dầu nhờn nội địa khác tại Việt Nam

- Các sản phẩm dầu nhờn mang thương hiệu Petrolimex và LubMarine (thương hiệu dầu nhờn hàng hải quốc tế mà Petrolimex là thành viên) đáp ứng được hầu hết nhu cầu bôi trơn của khách hàng nội địa và đã xuất khẩu sang các thị trường khu vực như Lào, Campuchia, Hong Kong, Trung Quốc, Đài loan, Philipine Theo đánh giá của PFC Energy (2010) và Công ty TNHH Castrol BP Petco (2010), Petrolimex đứng thứ 2 về thị phần và là nhãn hiệu dầu nhờn nội địa số 1 của Việt Nam

- Petrolimex đã phát triển rộng khắp mạng lưới hạ nguồn CCU - hệ thống phân phối dầu nhờn trên toàn quốc Hệ thống này gồm tất cả các thành viên Petrolimex phân phối dầu nhờntrên 65 tỉnh, thành phố tại trên 2.500cửa hàng xăng dầu và các trung tâm kinh doanh dầu nhờn, (theo Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, 2017) Ngoài ra, dầu nhờn Petrolimex còn được bán trực tiếp, thường xuyên tới gần 100 khách hàng công nghiệp cũng như phân phối thông qua 78 đại lý thương mại tới gần 10.000 điểm bán lẻ dầu mỡ nhờn là các điểm bảo dưỡng, sửa chữa, rửa xe thay dầu trên toàn quốc Dầu nhờn hàng hải LubMarine, được Petrolimex cung ứng cho các thành viên khác của LubMarine và cho các tàu viễn dương lớn của Việt Nam tại trên 100 cảng biển lớn trên toàn thế giới (theo Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex, 2015) Đây là một ưu thế mà chưa có hãng dầu nhờn nội địa nào có

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu, khảo sát các doanh nghiệp trong CCU

dầu nhờn Petrolimex trên địa bàn cả nước

- Thời gian nghiên cứu: Tìm hiểu thực tiễn về hoạt động tiếp nhận tri thức và

các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong CCU dầu nhờn Petrolimex trong giai đoạn 2013-2017

Trang 23

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Mục này sẽ giới thiệu sơ bộ về phương pháp nghiên cứu áp dụng trong Luận án, chi tiết quá trình nghiên cứu và kết quả thu được sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3- Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp nghiên cứu định tính theo quy trình nghiên cứu như trình bày trong hình 1.3

Bước 1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận -Nghiên cứu định tính: Nghiên

cứu, thu thập, phân tích dữ liệu thứ cấp

Bước 2 - Đề xuất mô hình, giả thuyết

nghiên cứu từ lý thuyết

Bước 3 - Hiệu chỉnh mô hình, các giả thuyết

- Hoàn thiện các tiêu chí đo lường

- Hoàn thiện Phiếu câu hỏi

-Nghiên cứu định tính:Nghiên cứu, thu thập, phân tích dữ liệusơ cấp (Thảo luận nhóm; phỏng vấn sâu các đại diện điển hình)

Bước 4 Thu thập và xử lý dữ liệu

chính thức

Nghiên cứu định lượng:

-Chọn mẫu, Phát phiếu câu hỏi, Thu thập, mã hóa, sàng lọc và nhập dữ liệu

Hình 1.3: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Nghiên cứu định tính giúp tìm ra cơ sở lý luận chung, lý thuyết gốc liên quan đến

đề tài nghiên cứu từ các tài liệu khoa học đã được công bố trong và ngoài nước Đó là

lý thuyết về quản trị CCU, quản trị dựa trên tri thức và học tập trong tổ chức Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức có thể ảnh hường đến tiếp nhận tri thức của các thành viên trong CCU và các nghiên cứu trực tiếp về các yếu tố ảnh hưởng tiếp nhận tri thức của các thành viên trong CCU, từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu Quá trình này đã giúp tác giả phát hiện ra góc nhìn mới từ các vấn đề đã được các nghiên cứu trước đây,

Trang 24

là căn cứ quan trọng để đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án Nghiên cứu định tính được thực hiện để tổng hợp và lựa chọn các tiêu chí đo lường đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây, nhằm thiết lập/hoàn thiện cách thức đo lường các biến trong

mô hình Đây là sẽ là cơ sở để xây dựng phiếu câu hỏi phục vụ cho thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu kiểm định, sắp xếp lại mô hình và tìm ra trọng số cho các mối liên hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong CCU

Bảng 1.2: Tóm tắt thiết kế nghiên cứu tổng thể Phương

pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập

dữ liệu

Phương pháp phân tích, xử lý

dữ liệu

Mục tiêu

Định tính Phân tầng

đối tượng nghiên cứu

Thu thập tài liệu tại bàn

Phân tích nội dung căn bản;

phân tích quy nạp

Tìm ra khoảng trống nghiên cứu

Đề xuất mô hình và giả thuyết

Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Thu thập dữ liệu tại thực địa

Tìm kiếm các trường hợp điển hình và mối quan

hệ

Phát hiện và hoàn thiện các biến đo lường Hoàn chỉnh Phiếu câu hỏi

Đề xuất các giải pháp nâng cao tiếp nhận tri thức

Định lượng Phiếu câu

hỏi

Thu thập dữ liệu tại thực địa

Sử dụng phần mềm phân tích SPSS 20

Điều chỉnh, sắp xếp lại

mô hình

Xác định mối quan hệ

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Với mỗi phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án, đều phải trải qua hai bước là thu thập dữ liệu và phân tích, xử lý dữ liệu Các nghiên cứu định tính được thực hiện trong luận án này có sử dụng cả nguồn dữ liệu sơ cấp do tác giả tự thu thập

và dữ liệu thứ cấp được cung cấp từ tài liệu chuyên khảo, các nghiên cứu, báo cáo khoa học đã được công bố Dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được sử dụng để hiệu chỉnh mô hình, các giả thuyết và hoàn thiện các tiêu chí

Trang 25

đo lường Dữ liệu sơ cấp, thu được thông qua phiếu câu hỏi phát cho đối tượng nghiên cứu, được sử dụng trong nghiên cứu định lượng.

1.4.1 Khái quát về phương pháp thu thập dữ liệu

1.4.1.2 Thu nhập dữ liệu sơ cấp

(1) Thu thập dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu định tính: được thực hiện qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các đại diện điển hình trong CCU dầu nhờn Các dữ liệu sơ cấp thu được trong nghiên cứu định tính là cơ sở để hoàn thiện và bổ sung thêm các tiêu chí đo lường và Phiếu câu hỏi Ngoài ra, các ý kiến chuyên gia trong phòng vấn sâu, thảo luận nhóm là bằng chứng chứng minh và làm phong phú thêm các giải pháp đề xuất

(2) Thu thập dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu định lượng: Dữ liệu sơ cấp thu thập được sẽ được phân tích, xử lý để tìm ra mức độ tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu đề xuất Nghiên cứu định lượng trong luận án được thực hiện theo trình tự từ thiết kế phiếu câu hỏi, thiết kế mẫu, thu thập và phân tích dữ liệu Do vậy, để thu thập được dữ liệu

sơ cấp trong nghiên cứu định lượng, cần phải có Phiếu câu hỏi và Thiết kế mẫu nghiên cứu

Phiếu câu hỏi, ban đầu các câu hỏi được thu thập từ tổng quan nghiên cứu ở bước 1 (hình 1.3) Việc hiệu chỉnh, bổ sung các tiêu chí đo lường, câu hỏi cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường hợp nghiên cứu là CCU dầu nhờn tại Việt Nam sau khi thực hiện nghiên cứu định tính

Thiết kế mẫu nghiên cứutrong luận án này, mẫu nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp thuận tiện đã được sử dụng bởi Hult & cộng sự (2004), Hallikas & cộng sự (2005) và Qile He & cộng sự (2013) Trong đó, tác giả

sử dụng CCU của một công ty đầu mối duy nhất làm khung lấy mẫu Kích

Trang 26

thước mẫu được tính toán theo phương pháp được đề xuất bởi J.F Hair & cộng sự (1998) Mẫu nghiên cứu của luận án này là các DN trong CCU dầu nhờn của Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex Danh sách này do Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex cung cấp

Thu thập dữ liệu Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát qua thư Đối tượng trả lời phiếu câu hỏi là các nhà quản lý hoặc cán

bộ của các DN cung ứng, sản xuất và phân phối dầu nhờn trực tiếp tham gia vào CCU dầu nhờn

1.4.2 Khái quát về phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu

1.4.2.1 Xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định tính

Các dữ liệu thứ cấp được phân tích theo các kỹ thuật chung của nghiên cứu định tính để xác định chủ đề nghiên cứu, tìm ra lý thuyết gốc sẽ sử dụng trong nghiên cứu và tìm các điểm nổi bật có ý nghĩa trong các dữ liệu, đưa ra so sánh để xây dựng

và kiểm tra mô hình trong nghiên cứu Kỹ thuật phân tầng đối tượng nghiên cứu được

áp dụng trong quá trình tổng quan các tài liệu, nghiên cứu để tìm ra khoảng trống nghiên cứu cũng như đề xuất mô hình và các giả thuyết

Các dữ liệu thu thập được trong nghiên cứu định tính gồm các bản gỡ băng ghi

âm các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được sử dụng kỹ thuật mã hóa để tìm kiếm các trường hợp điển hình, phân nhóm và so sánh nhằm giải thích hoặc thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm Các kỹ thuật này được áp dụng trong quá trình hoàn thiện các biến đo lường, phiếu câu hỏi và phát hiện thêm nhân tố đối với các đại diện điển hình cho các DN thành viên của CCU dầu nhờn tại Việt Nam Ngoài ra, quá trình phân tích và xử lý dữ liệu cũng khám phá ra được các nội dung có ý nghĩa trong việc hoàn thiện mối quan hệ giữa các nhóm yếu tố

1.4.2.2 Xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu định lượng trước khi đưa vào xử lý thống kê,

sẽ được tiến hành làm sạch thông tin, lọc phiếu câu hỏi và mã hóa các thông tin cần thiết trong phiếu câu hỏi, nhập dữ liệu Ngoài phần thống kê mô tả, các dữ liệu được phân tích bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 20

1.5 Đóng góp mới của luận án

- Từ góc nhìn quản trị dựa trên tri thức, một doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng vừa là một tổ chức học tập độc lập vừa là DN trong CCU, Luận án đề xuất

Trang 27

mô hình nghiên cứu, kiểm định và phát hiện 06 yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các DN trong CCU Khẳng định sự tương thích của bộ tiêu chí đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của tổ chức học tập phù hợp điều kiện của DN trong CCU và ngược lại Chỉ ra sự khác biệt và thống nhất giữa một tổ chức học tập với một thành viên trong CCU

- Nghiên cứu đã chứng minh các tiêu chí đo lường mới là phù hợp và có ý nghĩa thống kê, đó là tiêu chí “Chú ý và dành thời gian tìm kiếm thu thập thông tin, kiến thức

từ đối tác” cho biến độc lập “Khả năng học hỏi của nhận viên” và tiêu chí “Thường xuyên trao đổi thông tin, kiến thức với đối tác” cho biến “Văn hóa doanh nghiệp”

- Nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về tiếp nhận tri thức giữa các DN: trong

và ngoài một liên kết dọc tập đoàn, giữa các DN có loại hình, quy mô vốn, lao động, vị trí và thời gian hợp tác khác nhau

1.5.2 Đóng góp về thực tiễn

- Xác định và chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các DN trong CCU Các yếu tố mang tính nội lực DN như ‘Văn hóa doanh nghiệp’, ‘Đầu tư của doanh nghiệp cho đào tạo’, ‘Liên hệ hợp tác kinh doanh’ có tác động mạnh nhất đến tiếp nhận tri thức Năng lực cá nhân trong DN không tác động lớn đến tiếp nhận tri thức TrongCCUdầu nhờn Petrolimex, tiếp nhận tri thức của DN phụ

thuộc vào chính sách và sự quan tâm của người đứng đầu DN

- Đưa ra những gợi ý quản trị để tăng cường tiếp nhận tri thức mới bên ngoài

Đó là (1) Tạo lập văn hóa học hỏi, tiếp thu tri thức mới từ bên ngoài (2)Chính sách và cam kết nguồn lực cho đào tạo, đặc biệt là DN trung tâm chuỗi cung ứng (3) Làm phong phú thêm các hình thức chia sẻ tri thức phù hợp với đặc điểm ngành nghề (4) Tăng cường giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong CCU (5) Hạn chế sử dụng quyền lực (6) Có chính sách hợp tác rõ ràng, lâu dài, tôn trọng, bình đẳng với tất cả các đối tác (7) Phát huy uy tín thương hiệu,truyền bá văn hóa, tri thức tích lũy của Petrolimex trong toàn CCU dầu nhờn

- Mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo, đó là nghiên cứu trong các điều kiện: (1)Khác biệt về đặc điểm ngành nghề, quy mô, chức năng (2) Tiếp nhận tri thức của các thành viên trong một liên kết theo chiều dọc (3) Phân tích về sự tác động của các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức trong CCU (4) Về hiệu quả của tiếp nhận tri thức trong CCU

Trang 28

1.6 Bố cục của luận án

Luận án được trình bày với kết cấu 4 chương

Chương 1 - Giới thiệu chung Chương 2- Cơ sở lý luận, tổng quan nghiên cứu liên quan về tiếp nhận tri thức trong CCUvà đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

Chương 4 – Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Tóm tắt chương 1

Chương 1 là bản tóm tắt toàn bộ luận án, giải thích các nguyên nhân lựa chọn

đề tài.Đó là: sự chia sẻ và tiếp nhận tri thức có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi

tổ chức nói chung và đối với các thành viên trong CCU nói riêng Những nghiên cứu

về tiếp nhận tri thức tuy không mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này, nhưng vẫn còn những khoảng trống như:(1) những nghiên cứu trước đây chưa đề cập và phản ánh hết những đặc thù của chuỗi cung ứng (2) chủ yếu được tiến hành trong điều kiện các nước phát triển, trong các DN có yếu tố nước ngoài hoặc trong các ngành nghề thiên về nghiên cứu phát triển (3)các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đếnsự phân biệt giữa các loại hình DN khác nhau trong tiếp nhận tri thức

Từ những lý do đó, đi theo cách đặt vấn đề của các học giả trước đây, luận án

đã lựa chọn 1 CCU dầu nhờn duy nhất làm đối tượng và khách thể nghiên cứu Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, luận án đã được kết cấu thành

4 chương với những mục tiêu có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

Trang 29

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN,TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TIẾP NHẬN TRI THỨC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG VÀ ĐỀ XUẤT

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận về tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng

Theo lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực, những nguồn lực có giá trị, khan hiếm,không thể bắt chướcvà không thể thay thế (Barney,1991)và khả năng hay năng lực cốt lõi của tổ chức là các nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.Lý thuyết này cho rằng nguồn lực là không đồng nhất và không thể di chuyển nguồn lực tự do giữa các doanh nghiệp Lý thuyết nguồn lực đã giải thích những khác biệt trong hoạt động nội bộ một ngành và quốc gia (Hoopes & ctg, 2003), theo đó cũng

có thể là cơ sở để giải thích sự khác biệt giữa các tổ chức liên doanh nghiệp như CCU

Lý thuyết nguồn lực quan niệm rằng sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn lực mà các doanh nghiệp sở hữu (Barney, 1991; Grant, 1997; Reid & ctg, 2001) Đồng thời, việc sở hữu các nguồn lực mà các đối thủ khác không

có cho phép doanh nghiệp thu nhận những lợi ích kinh tế gần giống như hình thức độc quyền (Wenerfelt, 1984)

Barney (1991) dẫn chiếu từ Daft (1983), cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm tài sản, năng lực, quá trình tổ chức, các thuộc tính doanh nghiệp, thông tin, tri thức…mà doanh nghiệp đó kiểm soát Không phải mọi nguồn lực của doanh nghiệp đều tạo ra lợi thế cạnh tranh Chỉ những nguồn lực có giá trị, khan hiếm, không thể bắt chước hoàn toàn và không thể thay thế mới tạo ra lợi thế cạnh tranh:

(1) Nguồn lực có giá trị khi nó thúc đẩy doanh nghiệp hình thành và thực hiện các chiến lược nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động

(2) Nguồn lực khan hiếm: là nguồn lực có giá trị đối với doanh nghiệp mà các đối thủ cạnh tranh cũng cần nó nhưngkhông có cùng loại nguồn lực này Nói tóm lại, một nguồn lực để có thể phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh thì nó đồng thời phải sở hữu hai đặc tính: “có giá trị và khan hiếm” (Barney, 1991)

(3) Nguồn lực không thể bắt chước hoàn toàn: Barney (1991) cho rằng“nguồn lực không thể bị bắt chước trọn vẹn” được khi có ít nhất một trong ba lý do Thứ nhất,

đó là do những điều kiện lịch sử đặc biệt mà các doanh nghiệp có cơ hội duy nhất để

Trang 30

tổng hợp ra được tri thức trong quá trình phát triển, với chi phí rất rẻ hoặc trong một thời gian lâu dài Do đó, các doanh nghiệp này có lợi thế không thể bắt chước hoàn toàn so với các doanh nghiệp khác được hình thành và phát triển trong các điều kiện khác Thứ hai là sự không rõ ràng việc xác định nguyên nhân dẫn đến thành công Những yếu tố dẫn đến thành công thường rất phức tạp và đối thủ khó nhận biết được nguyên nhân và kết quả giữa tài sản tri thức và lợi thế cạnh tranh Lý do cuối cùng là các mối quan hệ xã hội góp phần tạo ra nguồn lực cho doanh nghiệp

(4) Nguồn lực không thể thay thế: Tri thức là nguồn lực phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh, chính là nguồn lực không thể thay thế được (Barney, 1991) Lý thuyết

về nguồn lực xem tri thức là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất (Grant, 1996)

Việc đề cao nguồn lực tri thức như một nguồn lực không thể thay thế - là một lợi thế cạnh tranh riêng của doanh nghiệp trong lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực chính là một nguồn gốc, cơ sở để phát triển lý thuyết quản trị dựa trên tri thức

2.1.1 Tri thức và quản trị dựa trên tri thức

2.1.1.1 Tri thức

Có nhiều định nghĩa về tri thức, nhưng định nghĩa của Davenport và Prusak (1998, tr.5) là khá toàn diện và sẽ là định nghĩa được hiểu trong luận án này:“Tri thức

là tổng hợp kinh nghiệm, giá trị, thông tin có định hướng hoặc là tầm nhìn chuyên gia

và nó cung cấp cơ sở cho việc đánh giá, kết hợp thông tin và kinh nghiệm mới Tri thức bắt đầu và được áp dụng trong tâm trí của con người Trong tổ chức, tri thức thường không những được chứa đựng trong tài liệu mà còn trong thói quen, quá trình, thực tiễn và cả trong những quy tắc”.Theo các tác giả, tri thức nhiều hơn thông tin Thông tin là khách quan, thường đi kèm trong các hình thức đưa tin, thông tin có thể được truyền đi mà không mất ý nghĩa Ngược lại, tri thức bao gồm các yếu tố khác nhau; nó vừa là kỹ năng mềm vừa là nhữngtài liệu, quy định chính thức; nó là trực quan, khó nắm bắt và được thể hiện bằng ngôn ngữ Do vậy, “tri thức là thông tin đã qua lăng kính của người sử dụng” (Zack, 1999) Có nhiều cách phân loại tri thức khác nhau, nhưTri thức cá nhân và tri thức tập thể; Tri thức ẩn và tri thức rõ ràng; Kiến thức (Know-what), Bí quyết (Know-how) và trí tuệ (Know-why); Tri thức thành phần và tri thức cấu trúc; Tri thức cá nhân và tri thức công cộng; Tri thức và hiểu biết

Nhiều nghiên cứu đã khẳng định tri thức là nguồn lực quan trọng tạo ra giá trị gia tăng và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong thị trường toàn cầu (Barney, 1991; Grant, 1996; Bollinger & Smith, 2001) Ngoài những đặc tính chung của nguồn lực, tri thức còn có những đặc tính khác Tri thức không hao mòn khi sử

Trang 31

dụng mà đượcphát triển thêm và nó có thểđược sử dụng trongnhiều không gian khác nhau trong cùng một thời gian (Inkpen, 1998; Quinn & ctg, 1996) Tri thức ở dạng vô hình, rất khó để đong đếm nhưng có tầm ảnh hưởng rất rộng trong doanh nghiệp (Wiig

& ctg, 1997) và cả nền kinh tế thế giới hiện nay (Bollinger & Smith, 2001) Thậm chí, Grant, (1997) còn cho rằng vai trò chính của doanh nghiệp và cốt lõi của khả năng cạnh tranh là tạo ra tri thức Việc duy trì lợi thế cạnh tranh trong thế kỷ 21 chủ yếu thông qua việc quản trị tri thức(Halawi & ctg, 2005)

Với hàng loạt các nghiên cứu về tri thức nở rộ vào những năm 80-90 của thế kỷ trước, cùng sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế tri thức, lý thuyết quản trị dựa trên tri thức được ra đời và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các lý thuyết về quản trị Lý thuyết này đã và đang được áp dụng hết sức rộng rãi trong các nghiên cứu về quản trị hiện đại

2.1.1.2 Quản trị dựa trên tri thức(KBV)

Quản trị dựa trên tri thức lấy DN làm đối tượng chính, là lý thuyết giải thích sự tồn tại, hành vi, sự tiến hóa và lợi thế cạnh tranh của DN KBV được coi là lý thuyết hiện đại đối lập với những lý thuyết truyền thống về DN như Lý thuyết Tân Cổ điểnvề

DN (Neoclassical Theory of the Firm), Lý thuyết Chi phí Giao dịch (Transaction Cost Theory of the Firm), Lý thuyết Quan hệ hợp đồng và Chi phí Đại lý (Nexus of Contracts and Agency Cost Theory), Lý thuyết Sở hữu Tài sản Vật chất (Property Rights Theory) Khác với các lý thuyết cổ điển, trong đó biên giới của DN được xác định bởi chi phí giao dịch, chi phí đại lý hay sở hữu về tài sản vật chất, lý thuyết quản trị dựa trên tri thức cho rằng tri thức là yếu tố trọng tâm để xác định biên giới DN

Quản trị dựa trên tri thức gồm 3 trường phái chính Trường phái đầu tiên, hay còn gọi là trường phái truyền thống (đại diện là Kogut và Zander, 1992; Nonaka, 1994; Grant, 1996b) cho rằng kiến thức là một nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng nhất và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc tiếp nhận, lưu trữ, nhân rộng, chuyển giao và sáng tạo tri thức trong tổ chức Trường phái thứ hai lại tập trung vào các hoạt động tạo

ra sự hiểu biết chứ không phải là tri thức trong tổ chức (ví dụ Blackler, 1995; Spender, 1996; Orlikowski, 2002) Còn trường phái thứ 3 (ví dụ Cook và Brown, 1999; Hargadon

và Fanelli, 2002) lại công nhận tầm quan trọng của cả kiến thức và hiểu biết và đề xuất một phương pháp tiếp cận tích hợp kiến thức và hiểu biết trong tổ chức

Với đặc tính vô hình, khó đong đếm, việc quản lý nguồn lực tri thức không giống như quản lý các nguồn lực khác Ngoài việc sắp xếp, lập kế hoạchthúc đẩy những ứng dụng các tri thức, đánh giá những kết quả đạt được…trong quá trình tương

Trang 32

tác giữa người và người và còn được hỗ trợ bởi công nghệ Quản trị tri thức không phải là việc tiến hành các giải pháp công nghệ mà là sự tiếp cận nhiều chiều, với việc tổng hợp các yếu tố chiến lược kinh doanh, các giá trị văn hóa và quá trình công việc (Berbrow & Lane, 2003) Đồng thời, quản trị tri thức là sự tổng hợp các cố gắng, các tương tác giữa các quá trình xã hội, chính trị Do vậy, có thể dẫn đến những xung đột, đặc biệt giữa các bộ phận của tổ chức (Delong & Seeman, 2000).Xung đột có thể do

sự khác biệt về ngôn ngữ, quy tắc và tầm nhìn Ngược lại, quản trị tri thức hiệu quả sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phục vụ khách hàng một cách tốt nhất và duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (Inkpen, 1998)

Nếu KBV truyền thống nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức là tạo nên lợi thế cạnh tranh và cơ chế tạo ra tri thức trong DN, thì mỗi doanh nghiệp lại thường làm giàu kho tri thức của mình bằng học tập, tiếp nhận tri thức từ các doanh nghiệp khác

Lý thuyết học tập tổ chức được phát triển trên cơ sở này

2.1.2 Học tập của tổ chức

Có nhiều định nghĩa khác nhau về học tập của tổ chức Theo Argyris & Schon (1978), học tập của tổ chức là “quá trình DN phản ứng lại với những thay đổi của cả môi trường bên trong và môi trường bên ngoài bằng cách phát hiện những sai sót và rồi sửa chữa những sai sót ấy nhằm duy trì những đặc trưng của DN” Sau đó, Senge (1990) định nghĩa học tập của tổ chức như là “sự chuyển động cơ bản của nhận thức, thúc đẩy việc nhận thức môi trường một cách khác nhau và thừa nhận rằng những hoạt động của DN tạo ra cả vấn đề và giải pháp” Còn Huber (1991) cho rằng,học tập có thể được định nghĩa là “quá trình mà thông tin mới được xử lý bởi một thực thể, thay đổi phạm vi các hành vi tiềm năng của nó và có khả năng dẫn đến kết quả tốt hơn” Trong định nghĩa này Huber không phân biệt chủ thể học tập là ai, có thể là cá nhân, nhóm,

tổ chức hoặc thậm chí cả ngành, cả xã hội Quá trình xử lý thông tin liên quan đến tiếp nhận, phân bổ và diễn dịch thông tin Khi chủ thể học tập là một tổ chức, những quá trình này có tính xã hội Ngoài ra, học tập của tổ chức cũng được định nghĩa là “quá trình mà qua đó các cá nhân, tổ chức tiếp nhận tri thức mới nhằm thay đổi hành vi và nhận thức của họ” (Shrivastava, 1983; Sadler-Smith & ctg, 2001; Fiol & Lyles, 1985; Marquardt &Reynolds, 1994) Học tập chỉ xảy ra khi người học phát hiện được vấn đề

và có động lực học tập nhằm giải quyết vấn đề đó

Theo Huber (1991), có bốn yếu tố chính (constructs) cấu thành học tập của tổ chức, đó là: tiếp nhận tri thức (knowledge acquisition), phân bổ thông tin (information distribution), diễn dịch thông tin (information interpretation) và bộ nhớ của tổ chức

Trang 33

(organizational memory) Mỗi yếu tố chính lại chứa đựng các yếu tố phụ.Trong đó, tiếp nhận tri thức gồm năm yếu tố phụ sau: học tập bẩm sinh: những tri thức có được khi thiết lập DN; học tập kinh nghiệm: học tập từ kinh nghiệm hoạt động; học tập gián tiếp: học tập bằng cách quan sát các DN khác; kết nối: học tập bằng cách kết nối các nguồn tri thức bên ngoài vào kho tri thức của DN mình; và cuối cùng là tìm kiếm và ghi nhận thông tin

Bảng 2.1: Tổng hợp cấu trúc và quá trình học tập của tổ chức

1 Tiếp nhận tri thức (knowledge acquisition)

1.1 Học tập bẩm sinh (congenital learning) 1.2 Học tập từ kinh nghiệm (experiential learning) 1.3 Học tập gián tiếp (vicarious learning)

1.4 Kết nối (grafting) 1.5 Tìm kiếm và ghi nhận (searching and noticing)

2 Phân bổ thông tin (information distribution)

3 Diễn dịch thông tin (information interpretation)

3.1 Sơ đồ nhận thức (congitive maps and framing) 3.2 Sự đa dạng thông tin (media richness)

3.3 Quá tải thông tin (information overload) 3.4 Không học tập (unlearning)

4 Bộ nhớ tổ chức (organizational memory)

4.1 Lưu trữ và truy xuất thông tin (storing and retrieving information)

4.2 Bộ nhớ tổ chức dựa vào máy vi tính based organizational memory)

(computer-Nguồn: Huber, (1991)

Dixon (1992) sau khi chỉnh sửa mô hình của Huber (1991) đề xuất học tập tổ chức có năm yếu tố, gồm: (1) Tiếp nhận thông tin, (2) Phân bổ và diễn dịch thông tin, (3) Xác định ý nghĩa, (4) Bộ nhớ tổ chức và (5) Truy xuất thông tin Theo Huber (1991) và Dixon (1992), tri thức và thông tin được hiểu tương tự nhau Tiếp sau đó, Nevis & cộng sự (1995); Tiemessen & cộng sự (1997)cũng đều nhận định Tiếp nhận tri thức (knowledge acquisition) là bước đầu tiên của quá trình học tập của tổ chức Do vậy, có thể nói, ở các thời gian, hoàn cảnh và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cấu trúc

Trang 34

học tập của tổ chức có thay đổi, nhưng tiếp nhận tri thức vẫn luôn được nhìn nhận là bước đầu tiên trong quá trình học tập của tổ chức

Hình 2.1: Các chủ thể học tập

Nguồn Beesley (2004)

Theo Simon (1991), mọi việc học đều xảy ra trong đầu của các cá nhân Có nghĩa là DN chỉ có thể học tập thông qua các thành viên của nó bằng hai cách, (1) bằng học tập từ chính các thành viên của nó, hoặc (2) bằng tuyển dụng các thành viên mới với nguồn tri thức bên ngoài mà trước đó DN chưa có.Trong DN, đối tượng học tập là từng cá nhân, nhóm, tổ chức hoặc là sự kết hợp, Beesley (2004) Khi xét bản chất của quá trình học tập, các nghiên cứu về học tập của tổ chức chia ra thành nhiều cấp độ khác nhau”, Senge, (1990)

Ngoài việc DN sở hữu những khả năng học tập, tiếp nhận tri thức từ bên ngoài nhằm đáp ứng sự gia tăng về cạnh tranh là rất quan trọng (Easterby-Smith & ctg, 2008) Học tập giữa các tổ chức là cách thức một tổ chức tập hợp và tiếp nhận tri thức từ các tổ chức khác Nhờ việc học tập giữa các tổ chức, DN có thể làm giàu kho tri thức của mình từ nguồn tri thức bên ngoài Có thể nói rằng học tập giữa các tổ chức tạo nên một môi trường mà nó kích thích phát triển, tổng hợp và áp dụng tri thức mới bởi các DN (Dyer & Singh, 1998; Sun &Scott, 2003) Như vậy, học tập diễn ra ở các mức độ khác nhau, với các chủ thể khác nhau: cá nhân, nhóm, tổ chức

và giữa các tổ chức

Theo trường phái KBV, “Mấu chốt để xác định biên giới của một tổ chức chính

là sự khác biệt trong tri thức và khả năng gắn với tri thức giữa bên tạo ra và bên sử dụng (sở hữu kỹ năng bổ sung)”, Kogut & Zander (1993).Theo quan điểm này, dưới

Trang 35

góc độ tiếp nhận tri thức, có thể hiểumỗi thành viên trong một CCU cũng là một tổ chức và rộng hơn, một CCU cũng là một tổ chức gắn với tri thức Như vậy, cấu trúc học tập và các yếu tố thành phần của quá trình tiếp nhận tri thứccũng có thể ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của mỗi DN trong CCU, khi DN đó có tư cách là một tổ chức học tập cũng đồng thời là một thực thể trong một tổ chức học tập

Như vậy, theo quan điểm của KBV, CCU cũng là một tổ chức học tập Để có cơ

sở phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các thành viên trong CCU với tư cách là một thực thể trong một tổ chức học tập đồng thời là cũng là một tổ chức học tập,cần hiểu thêm về CCU và quản trị CCU

2.1.3 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

Có nhiều định nghĩa về CCU, nhưng các định nghĩa dưới đây gần với mục đích nghiên cứu của luận án “CCU là sự liên kết giữa các DN nhằm đưa sản phẩm hay dịch

vụ ra thị trường”, Lambert & cộng sự (1996); “Là tập hợp của từ ba thực thể(có thể là pháp nhân hoặc thể nhân) trở lêncó liên quan trực tiếp đến dòng chảy của sản phẩm/dịch vụ, tài chính và thông tin từ NCC nguyên vật liệu đến khách hàngvà ngược lại”, Mentzer & cộng sự (2001); “Là mạng lưới những tổ chức liên kết với nhau tạo ra các dòng chảy xuôi và ngược theo những quy trình và hoạt động khác nhau, nhằm đem lại cho khách hàng những giá trị được kết tinh trong sản phẩm và dịch vụ”, Christopher (2005); “CCU là một trong những hình thức thỏa thuận hợp tác liên minh giữa cácDNđược áp dụng rộng rãi nhất”, Pekar và Allio(1994), vì đây là hình thức liên minh giữa cácDN một cách linh hoạt giữa các đối tác, không bị gò bó, cứng nhắc trong các thỏa thuận pháp lý của các hợp đồng phổ biến trong các hình thức liên minh khác như liên doanh, quan hệ đối tác R&D và cấp giấy phép chéo (theo Wilson, 1995; Frankel & cộng sự, 1996; Lambert & cộng sự, 1996)

Theo Lambert (1996), một CCU bao gồm “hệ thống các thực thể và các liên kết giữa các thực thể đó” Nghĩa là, một CCU “bao gồm các thành phần như các DN, các

tổ chức, các cá nhân và mạng lưới các mối quan hệ giữa thành phần đó” Các thành phần trong CCU bao gồm NCC là các DN trong và ngoài nước cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ đầu vào cho sản xuất NSX là người sử dụng nguyên liệu, sản phẩm/dịch vụ của một hệ thống các NCC để chế tạo, chế biến, gia công ra sản phẩm của chuỗi NPP là DN có chức năngphân phối trực tiếp sản phẩm của các NSX đến khách hàng với số lượng lớn Để thực hiện được chức năng này, NPP thực hiện nhiệm

vụ tồn trữ hàng hóa và tìm kiếm khách hàng để bán sản phẩm Qua đó, NPP trở thành người điều phối nhu cầu sản phẩm cho các NSX Nhà bán lẻ: là ngườibán hàng với số

Trang 36

lượng nhỏ hơn so với NPP đến khách hàng.Người tiêu dùng hay khách hàng là người mua cuối cùng và sử dụng sản phẩm/dịch vụ của CCU Sản phẩm/dịch vụ có thể mua để sử dụng hoặc đưa vào sản xuất, chế biến để tạo ra sản phẩm/dịch vụ khác với sản phẩm/dịch vụ đã mua của CCU Các thành phần này trong CCU kết nối với nhau qua các hình thức hợp tác

Hình 2.2: Cấu trúc theo chiều dọc - chiều ngang chuỗi cung ứng

Nguồn Huỳnh Thị Thu Sương (2012)

“CCU là một liên minh giữa cácDNđược áp dụng rộng rãi nhất” (Pekar và Allio, 1994), mỗi DN đều có vị trí, vai trò khác nhau, nhưng DN sở hữu sản phẩm/dịch

vụ hoặc thương hiệu sản phẩm/dịch vụ mà CCU đưa ra thị trường, là DN trung tâm

“Các DN khác thực hiện quá trình tạo ra sản phẩm/dịch vụ của chuỗi là thành viên chính của chuỗi, các DN khác được gọi là thành viên hỗ trợ”, Stock và Lambert (2001) Trong CCU, tùy vào vị trí của mỗi DN so với DN trung tâm, sẽ được phân loại thành các DN ở thượng nguồn, hạ nguồn CCU nếu xét theo chức năng và NCC hay nhà phân phối, khách hàng; thành các lớp khi các DN có cùng khoảng cách tương đối với DN trung tâm DN trung tâm có thể mua nguyên vật liệu từ nhiều NCC khác nhau

và bán sản phẩm qua nhiều kênh phân phối khác nhau, từ đó hình thành chuỗi hội tụ

và chuỗi phân kỳ Mức độhợp tác của DN trung tâm với các DN phụ trợ càng giảm dần khi các DN đó nằm ở các lớp càng xa so vớiDN trung tâm

Khi tham gia vào CCU,mỗi thành viên đều phát sinh nhiềumối quan hệ với nhiều thành viên khác trong chuỗi, theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc Tuy nhiên, chỉ

DN trung tâm mới thực sự quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ với các thành viên trong chuỗi để đạt mục tiêu chung Cũng như mọi liên minh khác,trong CCU

Trang 37

cũng có cả mối quan hệ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, dưới các hình thức như chia sẻ lợi nhuận, hợp tác dài hạn hoặc tham gia mạo hiểm

Tất cả các công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, Chopra và Meindl (2007), đều có trong CCU Nghĩa là, tất cả các hoạt động hợp tác từ khi có đơn đặt hàng của khách đến khi khách hàng nhận được hàng hóa, dịch vụ, thanh toán đơn hàng đó đều được coi là hoạt động của CCU.Trong một CCU, đều tồn tại ít nhất các dòng chảy, đólà dòng sản phẩm/dịch vụ, dòng thông tin và dòng tiền chạy theo chiều dọc của chuỗi, Christopher (2005) Dòng sản phẩm/dịch vụ

là dòng chảy cơ bản tạo nên đặc điểm của mỗi chuỗi, dòng chảy này chuyển biến nguyên vật liệu từ các NCC đầu tiên thành thành phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng Lợi nhuận là mục tiêu tạo ra sựliên kết giữa các thành viên trong chuỗi Việc kiểm soát dòng sản phẩm/dịch vụ chảy trong CCU để đạt được mục tiêu dòng tiền trong chuỗi là lớn nhất lại được thực hiện thông qua dòng thông tin Với lập luận này, chính dòng thông tin là dòng chảy tạo nên “màu sắc” riêng, phân biệt, tạo ra sự khác biệt giữa các CCU.“Dòng chảy này thể hiện mức độ hợp tác, phối hợp giữa các DN trong CCU”, theo Pedroso và Nakano (2009) Có 2 dòng thông tin trong CCU Đó là dòng thông tin đặt hàng, ngược theo dòng chảy của sản phẩm/dịch vụ, nó bao gồm thông tin thị trường, nhu cầu và phản ứng của khách hàng về sản phẩm/dịch vụ, được khách hàng, các NPP chuyển tới bộ phận bán hàng Dòng thông tin xuôi theo dòng chảy của sản phẩm/dịch vụ phản ảnh tình hình hoạt động của thị trường nguyên liệu, được NCC cung cấp chuyển tới các bộ phận đặt hàng Trong dòng chảy thông tin, mức

độ chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi tùy thuộc vào mức độ hợp tác và dạng thông tin được chia sẻ, như thông tin chiến lược, chiến thuật, vận hành Tuy nhiên, càng nhiều thông tin có giá trị được chia sẻ một cách kịp thời, chính xác thì càng mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên trong chuỗi.Khác với dòng sản phẩm dịch vụ hay dòng tiền, dòng thông tin chỉ thực sự hữu ích khi nó đến trước và thông suốt trong quá trình chuyển động của dòng tiền và dòng sản phẩm Theo Gavirneni(1999), thông tin chỉ có giá trị khi DNsử dụng nó và phải giữ bí mật thông tin đó với đối thủ.Trong CCU, các DNđều phụ thuộc lẫn nhau, nên họ cần phải tích hợp thông tin đối tác để thích nghi và hợp tác Theo Lee (2000), mức độ chia sẻ thông tin phản ảnh mức độ hợp tác giữa các DN trong CCU

Với các hình thức hợp tác, liên kết khác nhau sẽ có các dạng chuỗi khác nhau Theo đặc tính sản phẩm, chuỗi được phân thành CCU những sản phẩm được cải tiến, thay đổi liên tục trên thị trường (như quần áo thời trang, phần mềm tin học, các loại chip điện tử,…) Trong các chuỗi này, các dòng chảy thông tin, vật chất và dòng tiền

Trang 38

đều có tốc độ lớn, tồn kho ít và vòng đời sản phẩm ngắn do vậy yêu cầu chia sẻ thông tin phải rất tốt mới đáp ứng được yêu cầu về thời gian CCU các sản phẩm chức năng, ít thay đổi, nhu cầu trên thị trường ít biến động (như thực phẩm, sách vở, dầu nhờn ) Trong CCU này, các dòng chảy trong chuỗi cũng ít thay đổi Do vậy, để tăng hiệu quả chuỗi, tăng lợi ích cho các thành viên thì cần tăng cường chia sẻ thông tin giữa các thành viên với nhau để giảm tồn kho, tăng vòng quay của hàng hóa qua chuỗi

Theo cách thức đưa sản phẩm/dịch vụ ra thị trường, chuỗi được phân thành Chuỗi đẩy, là chuỗi có sản phẩm được sản xuất đồng thời với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sản phẩm luôn có tồn kho Các thành viên ở lớp trước luôn cố gắng đẩy sản phẩm từ kho của mình đến lớp tiếp theo hoặc đến khách hàng trong kênh phân phối Trong chuỗi đẩy, quyền lực thuộc về NCC, thông thường họ là người quyết định giá

cả, bí quyết công nghệ sản xuất, đặc biệt là sản phẩm mới Do vậy, các lớp phía sau NCC không có nhiều chọn lựa khi tham gia vào chuỗi Chuỗi kéo là CCU những sản phẩm được sản xuất theo yêu cầu khách hàng Khách hàng chủ động tìm kiếm NSX và NSX tìm kiếm NCC để đáp ứng đơn hàng Quá trình này lặp đi lặp lại và dần hình thành CCU kéo Trong CCU dạng này, khách hàng là thành phần trung tâm của chuỗi, được lựa chọn các thành phần ở lớp trên đáp ứng tốt nhất yêu cầu của họ

Để CCU có thể hoạt động nhịp nhàng và hiệu quảcần quản trị CCU ở tất cả các công đoạn Theo Christopher (2005),“quản trị CCU là quản lý các mối quan hệ đa chiều giữa người mua và người bán nhằm đem đến cho khách hàng những giá trị cao hơn với chi phí thấp hơn trong CCU” Như vậy, về bản chất, quản trị CCU là quản trị các mối quan hệ giữa các DN trong CCU Để CCU hiệu quả, bền vững thì CCU cần được tổ chức quản lý, trong đó các thành phần của chuỗi cần phải hợp tác, chia sẻ lợi ích về vật chất cũng như thông tin với nhau Một trong những biểu hiện của sự hợp tác trong chuỗi chính là việc chia sẻ, học tập và áp dụng các kinh nghiệm, kiến thức của nhau trong các lĩnh vực hoạt động của các DN trong CCU Với mục tiêu tìm ra các yếu tố tác động đến tiếp nhận tri thức giữa các DN trong CCU, trong luận án sẽ

đi sâu khai thác phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các DN trong CCU từ khâusản xuất đến phân phối sản phẩm/dịch vụ trên khía cạnh trao đổi thông tin, tri thức

Trong khi đó, dưới góc nhìn dựa trên tri thức, Kogut và Zander (1992) cho rằng tri thức, bao gồm các thông tin và bí quyết do các cá nhân nắm giữ và được thể hiện trong các quy tắc ứng xử mà theo đó các thành viên hợp tác với nhau trong một cộng đồng xã hội Dưới góc nhìn này, quản trị CCU sẽ phong phú và hiệu quả hơn khi tiếp cận dưới góc độ quản trị dựa trên tri thức.Với mục tiêu tìm ra các yếu tố tác động đến

Trang 39

tiếp nhận tri thức giữa các DN trong CCU, trong luận án sẽ đi sâu khai thác phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các DN trong CCU từ khâusản xuất đến phân phối sản phẩm/dịch vụ trên khía cạnh trao đổi thông tin, tri thức

2.1.4 Tiếp nhận tri thức trong chuỗi cung ứng

Theo lý thuyết học tập của tổ chức, Huber (1991) và các học giả khác đều công nhận tiếp nhận tri thức là khâu đầu tiên của quá trình học tập Trong quá trình này, phải có sự chia sẻ, chuyển giao tri thức của chủ thể này thì mới phát sinh sự tiếp nhận tri thức của chủ thể khác

Chia sẻ tri thức là hoạt độngmà qua đókiến thức(ví dụ, thông tin, kỹ năng, chuyên môn) được trao đổigiữa mọi người,bạn bè, gia đình, cộng đồnghoặccác tổ chức, theoBukowitz & cộng sự (1999), Serban và Luan (2002) Hoạt động chia sẻtri thứcthường đượchỗ trợ bởihệ thống quản lýtri thức Trong đó, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc chia sẻ tri thức trong tổ chức như công nghệ, văn hóa tổ chức, sự tin tưởng hay sự ưu đãi, Cabrera và Cabrera (2002) Chia sẻ kiến thứclà một thách thứclớntrong lĩnh vực quản lý tri thức vì một số nhân viên có xu hướng chống lại việc chia sẻ kiến thức của họ với phần còn lại của tổ chức, Ciborra và Patriota (1998), Bock

và Kim (2002)

Theo quan điểm quản trị dựa trên tri thức, chuyển giao tri thức là tìm cách tổ chức, tạo ra, nắm bắt hoặc phân phối kiến thức và đảm bảo tính sẵn sàng của nó cho người sử dụng trong tương lai Chuyển giao tri thức phức tạp hơn việc truyền thông tin liên lạc Nếu truyền thông tin chỉ đơn thuần là có thông tin, sau đó được lập thành một bản ghi nhớ, e-mail hoặc một cuộc họpsẽ thực hiệnviệc chuyển giao Chuyển giao tri thức phức tạp hơn bởi vì tri thức nằm trong các thành viên của tổ chức, trong các công

cụ, nhiệm vụ vàmạng lưới thành viên trực thuộc tổ chức, theo Argote và Ingram (2000) và nhiều kiến thức trong các tổ chức là ngầm hoặc rất khó trình bày cụ thể, Nonaka và Takeuchi (1995).Trong nghiên cứu của tác giả Ambos và Ambos (2009) cho thấy hiệu quả của chuyển giao tri thức được đánh giá bằng chất lượng và số lượng tri thức được tiếp nhận tại tổ chức tiếp nhận tri thức

Tiếp nhận tri thức là “quá trình mà tri thức được thu nhận” (Huber, 1991, p.90) Các nghiên cứu sau này như Inkpen (1998); Albino & cộng sự, (1999); Hult& cộng sự(2004) cho rằng tiếp nhận tri thứclà quá trìnhtiếp cận vàhấp thụtri thức thông quatiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc tương tác với các nguồn tri thức Nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để mô tả các quá trình này như tiếp nhận, tìm kiếm, tạo ra, nắm bắt và cộng tác… Tất cả các quá trình này đều có một nội dung chung là tích lũy kiến

Trang 40

thức (Gold& cộng sự, 2001) Trong luận án này, tiếp nhận tri thức được định nghĩa là một quá trình mà một DN nắm bắt tri thức mới từ các thành viên khác trong CCU và tích hợp tri thức đó vào cơ sở tri thức của mình Tri thức thu được không phải mới được tạo ra, mà chỉ mới cho tổ chức (Davenport và Prusak, 1998).Tri thức tiếp nhận được có thể là tri thức ngầm, rõ ràng hoặc kết hợp cả hai Kết quả tiếp nhận tri thức từ

sự tham gia cá nhân và tương tác với các nhiệm vụ, công nghệ, tài nguyên và con người trong một hoàn cảnh cụ thể (Bourdieu, 1990 ; Brown và Duguid, 1991; Garud

và Rappa,1994; Tsoukas, 1996) Cá nhân có được kiến thức, nhưng các tổ chức tạo ra một bối cảnh cho các cá nhân để có được tri thức đó Việc học tập trong CCU, các thành viên và mối quan hệ đối tác giữa các thành viên là bối cảnh trong đó tri thức được tiếp nhận bởi các DN trong CCU Các tri thức thu được sẽ trở thành tri thức của các thành viên trong CCU thông qua quá trình tạo ra tri thức tổ chức, được mô tả bởi Nonaka& cộng sự (1996, p 834) là "một quá trình", về tổ chức là "khuếch đại các kiến thức được tạo ra bởi các cá nhân và kết tinh nó như là một phần của hệ thống tri thức của tổ chức” Cũng như Lyles và Salk (1996), Alavi và Leidner (2001), Phan & cộng

sự (2006), trong luận án này, quá trình tiếp nhận tri thức được coi là một hoạt động liên tục hơn là một kết quả riêng biệt Quá trình tiếp nhận tri thức cũng tương tự như quá trình học tập Huber (1991) mô tả tiếp nhận tri thức như một cấu trúc học tập có liên quan đến các khía cạnh khác nhau của việc học Một số tác giả như Brown và Duguid (1991), Inkpen và Currall (2004) xem xét việc tiếp nhận tri thức tương tự như việc học tập Trong luận án này, thuật ngữ tiếp nhận tri thức và thuật ngữ học tập có thể được sử dụng thay thế cho nhau

Trong thời đại thông tin, thực hành chia sẻ, chuyển giao, tiếp nhận tri thức hiệu quả trong một tổ chức và giữa các tổ chức làm tăng vị thế cạnh tranh và hiệu quả của

tổ chức và liên tổ chức, đã được nhiều nghiên cứu chứng minh CCU là một hình thức liên minh đặc biệt giữa các tổ chức, được hình thành và phát triển mạnh trong vài thập niên trở lại đây do những đòi hỏi khắc nghiệt về cạnh tranh của thị trường Và một trong những đòi hỏi tiên quyết để một chuỗi phát triển hiệu quả chính là yêu cầu chia

sẻ và tiếp nhận tri thức giữa các thành viên trong chuỗi Quá trình này làm tăng hiệu quả của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác sâu rộng để nâng cao năng suất, hiệu quả của mỗi thành viên trong chuỗi cũng như của cả chuỗi, để tạo ra lợi thế cạnh tranh giữa các CCU trên thị trường

Trong điều kiện cụ thể của từng DN, họ có thể quyết định tham gia hoặc rời bỏ CCU nếu quan hệ hợp tác trong chuỗi không đem lại lợi ích như kỳ vọng Do vậy, mỗi CCU phải luôn vận hành hiệu quả, luôn luôn nâng cao uy tín chung của chuỗi mới có

Ngày đăng: 16/03/2019, 20:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alavi, M. and D. Leidner (2001), ‘Knowledge Management and Knowledge Management Systems: Conceptual Foundations and Research Issues’,MIS Quarterly, 25(1), 107-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MIS Quarterly
Tác giả: Alavi, M. and D. Leidner
Năm: 2001
2. Albino, V., Garavelli, A.C., Schiuma, G., (1999), ‘Knowledge transfer and inter- firm relationships in industrial districts: the role of the leader firm’,Technovation, 19 (1), 53-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technovation
Tác giả: Albino, V., Garavelli, A.C., Schiuma, G
Năm: 1999
3. Ambos T.C and Ambos.B (2009), ‘The impact of distance on knowledge transfer effectiveness in multinational corporations’,Journal of International Management, 15, 1-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Management
Tác giả: Ambos T.C and Ambos.B
Năm: 2009
4. Anderson, E. and Weitz, B., (1989), ‘Determinants of continuity in conventional industrial channel dyads’,Marketing Science 8 (4), 310–323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Science 8
Tác giả: Anderson, E. and Weitz, B
Năm: 1989
5. Argote, L. and Ingram, P. (2000), "Knowledge transfer: A Basis for Competitive Advantage in Firms". Organizational Behavior and Human Decision Processes82 (1), 150-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge transfer: A Basis for Competitive Advantage in Firms
Tác giả: Argote, L. and Ingram, P
Năm: 2000
6. Argote, L.; McEvily, B. & Reagans, R. (2003), ‘Managing knowledge in organizations: an integrative framework and review of emerging themes’, Management science, 49, 571-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management science
Tác giả: Argote, L.; McEvily, B. & Reagans, R
Năm: 2003
7. Argyris, C. & Schon, D. A. (1978), Organizational learning, Reading, MA: Addison Wesley 339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organizational learning
Tác giả: Argyris, C. & Schon, D. A
Năm: 1978
8. Barney, J. (1991), Firm resources and sustained competitive advantage, Journal of management, 17(1), 99-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of management
Tác giả: Barney, J
Năm: 1991
9. Barney JB, Hansen MH. (1994), ‘Trustworthiness as a source of competitive advantage’,Strategic Management Journal,Special Issue 15, 175–190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Management Journal
Tác giả: Barney JB, Hansen MH
Năm: 1994
10. Beecham, M.A. and Cordey-Hayes, M., (1998), ‘Partnering and knowledge transfer in the UK motor industry’, Technovation 18(3), 191-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Partnering and knowledge transfer in the UK motor industry’
Tác giả: Beecham, M.A. and Cordey-Hayes, M
Năm: 1998
11. Beesley, L. (2004), ‘Multi-level complexity in the management of knowledge networks’, Journal of knowledge management, 8(3), 71-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of knowledge management
Tác giả: Beesley, L
Năm: 2004
12. Benton W.C. and M. Maloni, (2005), ‘The influence of power driven buyer/seller relationships on supply chain satisfaction’, Journal of Operations Management 23, 1-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Operations Management
Tác giả: Benton W.C. and M. Maloni
Năm: 2005
13. Berdrow, I. & Lane, H. W. (2003), International joint ventures: creating value through successful knowledge management, Journal of world business, 38(1), 15-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of world business
Tác giả: Berdrow, I. & Lane, H. W
Năm: 2003
14. Bhagat, R. S.; Kedia, B. L.; Harveston, P, D. & Triandis, H. C. (2002), ‘Cultural variations in the cross-border transfer of organizational knowledge: an integrative framework’, Academy of management review, 27, 204-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Academy of management review
Tác giả: Bhagat, R. S.; Kedia, B. L.; Harveston, P, D. & Triandis, H. C
Năm: 2002
15. Blackler, F. (1995), ‘Knowledge, Knowledge Work and Organizations: An Overview and Interpretation’, Organization Studies, 16 (6), 1021-1046 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, Knowledge Work and Organizations: An Overview and Interpretation
Tác giả: Blackler, F
Năm: 1995
16. Bock, G. W. and Kim, Y. G. (2002), "Breaking the myths of rewards". Information Resources Management Journal.15 (2), 14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Breaking the myths of rewards
Tác giả: Bock, G. W. and Kim, Y. G
Năm: 2002
17. Bollinger, A.S. & Smith, R. D. (2001), Managing organizational knowledge as strategic assets, Journal of knowledge management, 5 (1), 8-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of knowledge management
Tác giả: Bollinger, A.S. & Smith, R. D
Năm: 2001
18. Bourdieu, P, (1990), ‘The logic of practice’. Cambridge. England: Polity Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The logic of practice’
Tác giả: Bourdieu, P
Năm: 1990
19. Brown, J. S. and P. Duguid (1991), ‘Organizational learning and communities of practice: Toward a unified view of working, learning, and innovation’, Organization Science, 2(1), 40-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organizational learning and communities of practice: Toward a unified view of working, learning, and innovation
Tác giả: Brown, J. S. and P. Duguid
Năm: 1991
20. Bukowitz, Wendi R.; Williams, Ruth L. (1999), ‘The Knowledge Management Fieldbook.’ FT Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Knowledge Management Fieldbook
Tác giả: Bukowitz, Wendi R.; Williams, Ruth L
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w