HỒ CHÍ MINH PHẠM THỊ QUẾ PHƯƠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOAN
Trang 1KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ QUẾ PHƯƠNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI
NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
(Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG NGỌC ĐẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Lời đầu tiên, tôi xin cam đoan bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh” là kết quả làm việc của chính tôi với sự hướng dẫn nhiệt tình và tận
tụy của TS Đặng Ngọc Đại Các số liệu, kết quả nghiên cứu được thu thập từ thực
tế, xử lý trung thực và khách quan
Tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Đặng Ngọc Đại Thầy đã rất tận tình hướng dẫn cũng như động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện bài nghiên cứu này Bên cạnh giảng viên trực tiếp hướng dẫn, tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến các quý thầy cô hiện đang là giảng viên tại trường Đại học Kinh
Tế thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy những kiến thức bổ ích và cần thiết về kinh
tế, quản trị và cách thức thực hiện một luận văn để tôi có thể tự tin hoàn thành đề tài nghiên cứu này Ngoài ra, tôi cũng không quên cảm ơn gia đình đã hỗ trợ, những người bạn đã luôn sát cánh và đóng góp ý kiến cho bài làm của tôi và đặc biệt là các bạn sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi hoàn thành quá trình khảo sát Nếu như không có tất cả các bạn thì sẽ không có bài nghiên cứu này
Do các giới hạn về mặt thời gian, kinh nghiệm cũng như kiến thức của chính tác giả nên bài nghiên cứu chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi kính mong nhận được sự góp ý và hướng dẫn thêm từ quý thầy cô để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ: PHẠM THỊ QUẾ PHƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.3 Đối tượng khảo sát 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.1 Nguồn dữ liệu 3
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4
1.6.1 Khía cạnh lý thuyết 4
1.6.2 Khía cạnh thực tiễn 5
1.7 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Giới thiệu 7
2.2 Một số khái niệm liên quan đến khởi nghiệp 7
Trang 52.2.1 Người khởi nghiệp (Doanh nhân) 7
2.2.2 Khởi nghiệp 8
2.5.1 Ý định khởi nghiệp 8
2.2.4 Tinh thần khởi nghiệp 9
2.3 Lý thuyết nền 10
2.3.1 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh 10
2.3.2 Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch 11
2.3.3 Lý thuyết hành động hợp lý 13
2.4 Các nghiên cứu liên quan 14
2.4.1 Các nghiên cứu trong nước 14
2.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước 19
2.5 Các giả thuyết của nghiên cứu 28
2.5.1 Ý định khởi nghiệp 28
2.5.2 Sự chủ động cá nhân: 29
2.5.3 Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp 29
2.5.4 Tiêu chuẩn chủ quan 30
2.5.5 Sự kiểm soát hành vi được nhận thức (PBC) 31
2.5.6 Các biến nhân khẩu học 32
2.6 Tóm tắt chương 2 35
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Giới thiệu 37
3.2 Thiết kế nghiên cứu 37
3.2.1 Xây dựng thang đo 37
3.2.2 Quy trình nghiên cứu 40
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 49
3.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 50
3.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 50
3.3 Tóm tắt chương 3 53
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
Trang 64.1 Giới thiệu 54
4.2 Thống kê mẫu nghiên cứu 54
4.3 Kiểm định độ tin cậy và phù hợp của thang đo 55
4.3.1 Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha 55
4.3.2 Phân tích khám phá nhân tố EFA trong nghiên cứu định lượng chính thức 56
4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 60
4.4.1 Phân tích tương quan 60
4.4.2 Phân tích hồi quy 62
4.4.3 Kiểm tra độ phù hợp của mô hình 63
4.4.4 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 64
4.4.5 Kiểm định quan hệ tuyến tính 64
4.4.6 Kiểm tra phương sai của phần dư có phân phối chuẩn 64
4.4.7 Kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu 67
4.5 Tóm tắt chương 4 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 76
5.1 Giới thiệu 76
5.2 Kết luận 76
5.3 Đóng góp của nghiên cứu 78
5.4 Hàm ý quản trị 78
5.5 Hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho nghiên cứu tương lai 82
5.6 Tóm tắt chương 5 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
EEM The Entrepreneurial Event Model Mô hình sự kiện kinh doanh
EET The Entrepreneurial Event
EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
GEC Global Enterpreneurship
Congress
Hội nghị Thượng đỉnh Khởi nghiệp Toàn cầu
GEM Global Entrepreneurship Monitor Chỉ số kinh doanh toàn cầu
KMO Kaiser – Meyer – Olkin Chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp
của phân tích nhân tố
thức NCGE National Council for Geographic
Education Hội đồng quốc gia về giáo dục địa lý OLS Ordinary Least Squares Bình phương bé nhất
PBC Perceived behavioral control Kiểm soát hành vi được nhận thức PCA Principal Component Analysis Phân tích thành phần chính
SEM Structural Equation Modeling Mô hình phương trình cấu trúc
TPB The Theory of Planned Behavior Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch TRA The Theory of Reasoned Action Lý thuyết hành động hợp lý
VCCI Vietnam Chamber of Commerce
and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VIF Variance inflation factor hệ số phóng đại phương sai
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước 27
Bảng 3.1: Thang đo sự chủ động cá nhân 38
Bảng 3.2: Thang đo thái độ đối với hành vi khởi nghiệp 38
Bảng 3.3: Thang đo tiêu chuẩn chủ quan 39
Bảng 3.4: Thang đo sự kiểm soát hành vi được nhận thức 39
Bảng 3.5: Thang đo ý định khởi nghiệp 40
Bảng 3.6: Thang đo ý định khởi nghiệp 42
Bảng 3.7: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha đối với thang đo nghiên cứu định lượng sơ bộ (Mẫu gồm 98 sinh viên) 43
Bảng 3.8: Kết quả EFA lần 1 biến độc lập trong nghiên cứu định lượng sơ bộ 45
Bảng 3.9: Thang đo chính thức sau nghiên cứu sơ bộ 47
Bảng 4.1: Thống kê mẫu nghiên cứu 54
Bảng 4.2: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo 55
Bảng 4.3: Kết quả EFA lần 1 biến độc lập trong nghiên cứu chính thức 57
Bảng 4.4: Kết quả EFA lần 1 của thang đo biến phụ thuộc 59
Bảng 4.5: Ma trận tương quan Pearson 61
Bảng 4.6: Kết quả của mô hình hồi qui 62
Bảng 4.7: Tóm tắt kiểm định giả thuyết 72
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình sự kiện khởi nghiệp kinh doanh 11
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi được lên kế hoạch 12
Hình 2.3: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý 14
Hình 2.4: Mô hình của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) 15
Hình 2.5: Mô hình của Đỗ Thị Hoa Liên (2016) 16
Hình 2.6: Mô hình của Đoàn Thị Thu Trang và Lê Hiếu Học (2017) 17
Hình 2.7: Nguyễn Thị Thu Ngọc và Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) 18
Hình 2.8: Mô hình của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) 19
Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu động lực và ý định khởi nghiệp - Điều tra vai trò của ngành đào tạo 20
Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp, những tiêu chuẩn chủ quan và sự mong muốn được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp 21
Hình 2.11: Mô hình của ý định khởi nghiệp - Một ứng dụng của các phương pháp tiếp cận tâm lý và hành vi 22
Hình 2.12: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thống gia đình và các đặc điểm tâm lý đối với ý định khởi nghiệp 23
Hình 2.13: Mô hình nghiên cứu vai trò của việc đào tạo về kinh doanh như là một yếu tố dự báo về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học 24
Hình 2.14: Mô hình sự phát triển và văn hóa chéo - Áp dụng một công cụ cụ thể để đo lường ý định khởi nghiệp kinh doanh 26
Hình 2.15: Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 49
Hình 4.1: Biểu đồ tần số Histogram 65
Hình 4.2: Biểu đồ Normal P – P LOT 66
Trang 10Hình 4.3: Mô hình hiệu chỉnh 73
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Khởi nghiệp có vai trò quan trọng đối với hoạt động sáng tạo, phát triển kinh
tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động Đây là quy luật và xu thế chung trên thế giới Tại Việt Nam cũng vậy Theo thống kê của Cục phát triển Doanh nghiệp,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào thời điểm cuối tháng 8 năm 2018 cho thấy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ đang đóng góp tới 45% vào GDP; 31% vào tổng thu ngân sách nhà nước và tạo ra hơn 5 triệu việc làm cho xã hội
Đó là một trong những lý do mà hầu hết các nhà giáo dục và hoạch định chính sách gần đây đã nỗ lực khuyến khích hoạt động khởi nghiệp trong xã hội Mà trọng tâm là những nỗ lực đặt vào tinh thần khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên (Krueger và cộng sự, 2000) Các hoạt động khởi nghiệp cần được chú ý, đặc biệt là ở các nước đang phát triển vì tinh thần khởi nghiệp là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất để duy trì sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào (Stel và cộng sự, 2005)
Vấn đề chính là một tỷ lệ lớn sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học thích kiếm một việc làm hưởng lương hàng tháng hơn là khám phá những cơ hội khởi nghiệp Tinh thần mạo hiểm của người Việt Nam vẫn ở mức thấp Phần lớn người dân, bao gồm giới trẻ, có xu hướng thích cuộc sống ổn định, không phiêu lưu Nhận thức về khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp chỉ ở mức trung bình Theo báo
“Diễn đàn doanh nghiệp” đăng ngày 21/04/2017, trong một cuộc khảo sát, có đến 66,6% sinh viên Việt Nam hiện nay chưa hề biết đến các hoạt động khởi nghiệp Số lượng sinh viên biết đến các chương trình khởi nghiệp chỉ đạt 33,4% và thực tế số lượng sinh viên hàng năm tham gia các chương trình khởi nghiệp do VCCI khởi
Trang 12xướng chỉ đạt 0,016% Có đến 62% sinh viên được hỏi cho rằng các hoạt động khởi nghiệp hiện nay đang mang tính phong trào, chưa thực sự hiệu quả
Do đó, thúc đẩy và tạo động cơ mạnh cho sinh viên khởi nghiệp rất quan trọng Ý định khởi nghiệp là giai đoạn đầu của hoạt động khởi nghiệp và chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại sinh (Anderson & Jack, 2002) Theo Armitage & Corner (2011), ý định dự báo được khoảng 50% hành vi trong thực tế Bởi vậy, việc hiểu rõ các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp được xem là biện pháp hiệu quả
để nâng cao số lượng và chất lượng doanh nhân khởi nghiệp của quốc gia bởi doanh nhân được tạo ra chứ không phải được sinh ra Chính vì những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện để xác định những yếu tố có thể kích thích ý định khởi nghiệp của sinh viên Tầm quan trọng của đề tài là rất lớn Tuy nhiên, ở Việt Nam
số lượng các bài nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp còn hạn chế Chính vì lẽ đó, tác giả mong muốn thực hiện đề tài này nhằm khám phá sâu hơn và góp phần đa dạng hóa nội dung nghiên cứu về mảng khởi nghiệp tại Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các
trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh
viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.2.3 Đề xuất một số hàm ý của nghiên cứu và các chính sách nhằm thúc đẩy ý
định khởi nghiệp của sinh viên
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Căn cứ theo những mục tiêu trên, bài nghiên cứu này được thực hiện để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
1.3.1 Yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường
đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh?
Trang 131.3.2 Mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các
trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
1.3.3 Cần phải làm gì để thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời
gian khảo sát từ tháng 07/2018 – 10/2018
1.4.3 Đối tượng khảo sát
Sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Nguồn dữ liệu
1.5.1.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp: Từ sách, báo, tạp chí và internet
1.5.1.2 Nguồn dữ liệu sơ cấp: Từ việc thu thập ý kiến, thảo luận nhóm
và khảo sát bằng bảng câu hỏi
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức
1.5.2.1 Nghiên cứu sơ bộ
Bước đầu tiên của nghiên cứu sơ bộ là nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm với 9 sinh viên gồm: 2 sinh viên đại học Kinh Tế, 2 sinh viên đại học Bách Khoa, 2 sinh viên đại học Tài chính – Marketing, 2 sinh viên đại học Mở và 1 sinh viên đại học Công nghệ nhằm mục đích khám phá, bổ sung và điều chỉnh các thang đo thành phần có ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14 Thông qua nghiên cứu định tính kết hợp với thang đo kế thừa từ những nghiên cứu trước để thiết kế nên bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng
sơ bộ
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp mẫu gồm 98 sinh viên của 05 trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh gồm: Đại học Kinh Tế, đại học Tài chính - Marketing, đại học Bách Khoa, đại học Công Nghệ và đại học Mở nhằm đánh giá sơ bộ về độ tin cậy của các thang đo, đánh giá mức độ quan trọng của các biến quan sát từ cao đến thấp, sàng lọc của các biến quan sát và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình khởi
nghiệp tại Việt Nam
1.5.2.2 Nghiên cứu định lượng chính thức
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp từ các sinh viên đại học của 05 trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh gồm: Đại học Kinh Tế, đại học Tài chính - Marketing, đại học Bách Khoa, đại học Công Nghệ và đại học Mở, dựa trên bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế sẵn Phương pháp lấy mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 295 Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ
Số liệu thu thập được tiến hành xử lý qua phần mềm SPSS 20 Tác giả
sử dụng một số công cụ phân tích dữ liệu như: Các thống kê mô tả, phân tích
độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis), xây dựng hàm hồi quy để kiểm định mối quan
hệ giữa các biến, kiểm định t-test và ANOVA để xem xét sự khác biệt giữa các biến nhân khẩu học (Giới tính, trường đào tào, ngành đào tạo, độ tuổi, truyền thống kinh doanh của gia đình và hộ khẩu thường trú) đối với ý định khởi nghiệp
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1.6.1 Khía cạnh lý thuyết
Đề tài nghiên cứu củng cố và bổ sung thêm luận cứ khoa học cho mối quan
hệ giữa các biến độc lập (Sự chủ động cá nhân, thái độ đối với hành vi khởi nghiệp,
Trang 15tiêu chuẩn chủ quan, sự kiểm soát hành vi được nhận thức) với biến phụ thuộc (Ý định khởi nghiệp của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh) Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đưa ra mức độ tác động của các yếu tố trên đến ý định khởi nghiệp và tìm hiểu xem có sự khác nhau giữa các nhóm của các biến nhân khẩu học về ý định
khởi nghiệp hay không
1.6.2 Khía cạnh thực tiễn
Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp thêm cơ sở cho các nhà quản trị, các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam để xây dựng, điều chỉnh chính sách nhằm thúc đẩy hoặc có các biện pháp hỗ trợ, can thiệp nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp
của sinh viên
1.7 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu có cấu trúc gồm:
Chương 1 – Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm: Lý do chọn đề
tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu gồm: Trình bày các cơ
sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu gồm: Thiết kế nghiên cứu, xây dựng
thang đo, đánh giá sơ bộ thang đo, giới thiệu thang đo chính thức trong nghiên cứu định lượng, trình bày phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu, thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu gồm: Phân tích và trình bày kết quả nghiên
cứu thông qua công cụ phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, hồi quy, t – test và ANOVA
Trang 16Chương 5 – Kết luận và hàm ý gồm: Tóm tắt những kết quả chính của
nghiên cứu, đưa ra hàm ý cho nhà quản trị cũng những hạn chế của đề tài để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu
Chương 2 sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước Sau đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả
2.2 Một số khái niệm liên quan đến khởi nghiệp
2.2.1 Người khởi nghiệp (Doanh nhân)
Doanh nhân được xem là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy hợp
tác, tạo cơ hội việc làm và tạo ra sự giàu có về kinh tế và xã hội trong nền kinh tế của một quốc gia (Wong và cộng sự, 2005)
Doanh nhân đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế bằng cách
ấp ủ các đổi mới công nghệ, tăng hiệu quả kinh tế và tạo việc làm mới (Shane và Venkataraman 2000)
Mitton (1989) mô tả các doanh nhân là những người có một số đặc điểm
tâm lý nhất định như cam kết với công việc, nhu cầu kiểm soát toàn bộ và thích sự không chắc chắn và thách thức
Các doanh nhân là những người tiếp nhận rủi ro vừa phải và các rủi ro được
tính toán để tránh những tình huống không chắc chắn (Koh, 1996; Thomas và Mueller, 2000)
Theo (Krueger và cộng sự, 2000), doanh nhân là những người sáng tạo, đột
phá, có tầm nhìn, người nhận ra một cơ hội mới, có khuynh hướng hành động và bắt đầu một việc gì đó
Doanh nhân là những người xác định các cơ hội, vì họ có nhiều khả năng
hơn trong việc nhận ra các mẫu và quan sát các mối liên hệ giữa các thay đổi, xu hướng và tần suất xuất hiện không liên quan ở cái nhìn đầu tiên (Baron, 2006)
Trang 18Doanh nhân là một phần quan trọng của sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường (Dana, 2000, 2005; Ramadani và cộng
sự, 2013; Robinson và cộng sự, 2001)
Theo nghĩa thông thường, doanh nhân được coi là chủ sở hữu của doanh
nghiệp thương mại hoặc công nghiệp Những người này bắt đầu tạo ra tổ chức công nghiệp hoặc thương mại trên cơ sở lợi nhuận hoặc thua lỗ Các học giả khác nhau bao gồm McClelland và Schumpeter đã giải thích nhiều hơn cho định nghĩa doanh nhân chung này Nói chung, các doanh nhân phát triển và thịnh vượng dần dần bằng cách bắt đầu kinh doanh nhỏ Nhiều nhà nghiên cứu phân biệt doanh nhân với thương nhân, trong khi nhiều người khác xác định rằng các hoạt động của các doanh
nhân và thương nhân đều giống nhau Trong nghiên cứu này, doanh nhân đề cập
đến một người chịu trách nhiệm về việc thành lập, quản lý và phát triển doanh
nghiệp
2.2.2 Khởi nghiệp
Khởi nghiệp đã được xác định rõ là hành vi quản lý, khai thác đáng tin cậy
các cơ hội để tạo ra kết quả vượt ra ngoài khả năng của chính mình (Kristiansen và Indarti, 2004)
Khởi nghiệp không phải là một sự kiện, mà là một quá trình có thể mất nhiều
năm để phát triển và thành hiện thực Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 1992) Một người khởi nghiệp tiềm năng là người đón lấy cơ hội để thành lập công ty riêng mình ngay khi cơ hội xuất hiện (Shapero, 1982) Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: Hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp
2.2.3 Ý định khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là cam kết để bắt đầu một doanh
nghiệp mới (Krueger 1993) và trong hầu hết các mô hình lựa chọn nghề nghiệp, nó được coi là tiền đề của hành vi khởi nghiệp
Trang 19Theo Thompson (2009) và Bird (1988) ý định khởi nghiệp có thể được gọi
là việc thực hiện có chủ ý và niềm tin của một cá nhân đối với ý định của mình để bắt đầu một doanh nghiệp kinh doanh mới trong tương lai
Theo Molaei và cộng sự (2014), ý định khởi nghiệp là một trong những dự
đoán lớn nhất về hành vi khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp là việc làm cho quá trình tổ chức các dự án trở nên ấn
tượng hoặc nói cách khác là tự làm chủ (Tkachev và Kolvereid, 1999)
Ý định khởi nghiệp sẽ là bước đầu tiên trong sự phát triển kinh doanh và đôi
khi là quá trình lâu dài của sự sáng tạo liều lĩnh và mạo hiểm (Lee & Wong, 2004)
Ý định khởi nghiệp để khởi động, sau đó sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện
các hành vi kinh doanh (Fayolle và cộng sự, 2006; Kolvereid, 1996b)
Ý định khởi nghiệp được coi là yếu tố dự đoán hành vi khởi nghiệp tốt nhất
(Ajzen, 1991, 2001; Fishbein & Ajzen, 1975)
Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng ý định khởi nghiệp có nghĩa là một cá
nhân muốn bắt đầu một số hoạt động kinh doanh
Ý định khởi nghiệp đóng vai trò phát triển các hoạt động khởi nghiệp kinh
doanh và khả năng trở thành một doanh nhân thực sự (Mohd Rosli và cộng sự, 2013)
Theo Bird (1988), ý định khởi nghiệp hướng tới tư duy chiến lược và các
quyết định, và hoạt động như một màn hình cảm ứng để xem xét các mối quan hệ,
tài nguyên và sự trao đổi
2.2.4 Tinh thần khởi nghiệp
Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa là việc sở hữu doanh nghiệp nhỏ
độc lập hoặc phát triển những nhà quản lý tìm kiếm cơ hội trong doanh nghiệp (Colton, 1990)
Tinh thần khởi nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
một quốc gia (Stel và cộng sự, 2005)
Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa bởi Low và MacMillan (1988, trang
141) là “tạo ra doanh nghiệp mới” Định nghĩa này phản ánh nhận thức ngày càng
Trang 20tăng rằng tinh thần khởi nghiệp là một "quy trình hoàn thiện dần dần hơn là trạng
thái hiện hữu ”(Bygrave, 1989, trang 21)
2.3 Lý thuyết nền
2.3.1 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (The Entrepreneurial Event
Theory - EET)
Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (Shapero và Sokol 1982) được
sử dụng để mô tả một quy trình khởi nghiệp, với ý định là trung tâm (Bird 1988)
Lý thuyết này xem xét khởi nghiệp như một sự kiện có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và sự chấp
nhận rủi ro Lý thuyết chỉ ra rằng ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ nhận thức về tính
khả thi và sự mong muốn, và chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh văn hóa và xã hội Nhận
thức về sự lựa chọn của cá nhân trong môi trường văn hóa và xã hội đã được Krueger và cộng sự chấp nhận theo kinh nghiệm (2000), Peterman và Kennedy (2003), Wilson và cộng sự (2007)
Theo giả định, hành vi của con người có một quán tính có thể bị gián đoạn hoặc thay thế bởi một thứ gì đó, Shapero lập luận rằng tính mong muốn và tính khả thi dựa trên xác định độ tin cậy tương đối của các hành vi thay thế và ý định khởi nghiệp phát sinh một phần từ việc tiếp xúc với hoạt động kinh doanh (Shapero và Sokol 1982)
Trang 21Hình 2.1: Mô hình sự kiện khởi nghiệp kinh doanh
Nguồn: Mô hình EEM của (Shapero và Sokol 1982)
2.3.2 Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch (The Theory of Planned Behavior -
TPB)
Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch được giới thiệu bởi Ajzen (1991) đại
diện cho một lý thuyết chung về hành vi xã hội, được phát triển rộng hơn từ lý
thuyết tâm lý xã hội
TPB được xây dựng để dự đoán và giải thích hành vi của con người trong
các ngữ cảnh cụ thể TPB khẳng định thái độ và đặc điểm nhân cách chỉ có thể có
tác động gián tiếp đến các hình thức hành vi cụ thể bằng cách ảnh hưởng đến các yếu tố gần gũi hơn với hành động được đề cập (Ajzen, 1991) Nó bao gồm 5 yếu tố
cụ thể: thái độ đối với hành vi, các tiêu chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận
thức, ý định cư xử và hành vi
Nguyên lý cơ bản của lý thuyết này là ý định của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định là yếu tố tiên đoán chính của hành vi đó Ý định đưa ra các
chỉ dẫn về hành động TPB đưa ra giả thuyết rằng các ý định hành vi được xác định
bởi 3 tiền đề chính: thái độ đối với hành vi, các chỉ tiêu chủ quan và mức độ kiểm
soát hành vi nhận thức
Trang 22Đầu tiên là thái độ đối với hành vi, đề cập đến mức độ mà một người có một
đánh giá thuận lợi hoặc không thuận lợi về hành vi (Tức là sự mong muốn cá nhân được nhận thức của việc thực hiện hành vi)
Thứ hai đề cập đến các chỉ tiêu chủ quan, được định nghĩa là sự chấp thuận
(hoặc không chấp thuận) của các cá nhân tham khảo quan trọng (hoặc nhóm) như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp có liên quan đến việc đưa ra một hành vi cụ thể (tức
là áp lực xã hội được nhận thức để thực hiện hay không thực hiện hành vi)
Thứ ba là mức độ kiểm soát hành vi nhận thức, có thể được coi là niềm tin
của con người liên quan đến việc thực hiện hành vi sẽ dễ dàng (hoặc khó khăn) như thế nào Tiền đề thứ ba này được giả định là phản ánh kinh nghiệm quá khứ với hành vi tiêu điểm cũng như các chướng ngại hoặc trở ngại được dự đoán (Ajzen,
1991)
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi được lên kế hoạch
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi được lên kế hoạch
Nguồn: Mô hình TPB của (Ajzen, 1991)
Trong khi lý thuyết sự kiện kinh doanh cho rằng ý định khởi nghiệp phụ
thuộc vào sự mong muốn (tính hấp dẫn) và tính khả thi (khả năng cá nhân) của dự
Trang 23án khởi nghiệp cùng với khả năng hành động kịp thời khi có cơ hội thì lý thuyết
TPB coi thái độ là yếu tố dự báo quan trọng nhất của ý định khởi nghiệp TPB giải
thích ý định khởi nghiệp bằng cách sử dụng mức độ kiểm soát hành vi nhận thức,
thái độ đối với hành động và các tiêu chuẩn chủ quan Hơn nữa, thái độ đối với tinh thần khởi nghiệp có liên quan đến sự mong muốn được nhận thức, trong khi kiểm soát hành vi nhận thức được kết hợp với tính khả thi nhận thức (Autio và cộng sự,
2001) Do đó, có thể kết luận rằng hai mô hình này khác nhau về xu hướng và các chỉ tiêu chủ quan, cùng với vai trò của áp lực xã hội được nhận thấy có lợi hoặc chống lại hành vi kinh doanh (Ajzen, 1991) Cả hai mô hình này đã được sử dụng như một phương pháp tiếp cận dựa trên quy trình trong nhiều nghiên cứu (Krueger, 1993; Krueger và Brazeal, 1994; Krueger và Carsrud, 1993)
2.3.3 Lý thuyết hành động hợp lý (The Theory of Reasoned Action - TRA)
Theo TRA (Ajzen và Fishbein, 1980), ý định của một người là một chức
năng của hai yếu tố quyết định cơ bản:
Một là yếu tố cá nhân - Là đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về
việc thực hiện hành vi Yếu tố này được gọi là thái độ đối với hành vi (Ajzen và
Fishbein, 1980)
Hai là các ảnh hưởng khác từ phía xã hội Yếu tố này là nhận thức của một
người về áp lực xã hội đặt vào người đó để thực hiện hay không thực hiện hành vi
được đề cập và được gọi là tiêu chuẩn chủ quan (Ajzen và Fishbein, 1980)
Theo TRA, thái độ là một chức năng của niềm tin Một người tin rằng việc
thực hiện hành vi dẫn đến kết quả tích cực sẽ giữ thái độ tích cực để thực hiện hành
vi đó Trong khi một người cho rằng thực hiện hành vi sẽ dẫn đến kết cục tiêu cực
sẽ giữ một thái độ không thuận lợi
Trang 24Hình 2.3: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý
Nguồn: Mô hình TRA của (Ajzen và Fishbein, 1980)
2.4 Các nghiên cứu liên quan
2.4.1 Các nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh
nghiệp, trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường đại học Cần Thơ của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015) được khảo sát trên 233 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai thuộc
khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh tại Đại học Cần Thơ đã chỉ ra các yếu tố tác động đến ý định khởi sự doanh nghiệp mức độ từ thấp đến cao bao gồm:
(1) “Thái độ và tự hiệu quả” có ảnh hưởng nhiều nhất, (2) là “Giáo dục và
thời cơ khởi nghiệp”, (3) là “Nguồn vốn”, (4) là “Quy chuẩn chủ quan” và
(5) sau cùng là “Mức độ kiểm soát hành vi được nhận thức” Bên cạnh đó,
kết quả nghiên cứu còn chỉ ra bằng chứng cho thấy ảnh hưởng điều tiết của biến giới tính trong mối quan hệ giữa nguồn vốn và ý định khởi sự doanh nghiệp mà cụ thể là ảnh hưởng của nguồn vốn đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên nữ là cao hơn so với sinh viên nam
Trang 25Hình 2.4: Mô hình của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015)
Nguồn: Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015)
Theo nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh
doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường đại học Lao động xã hội của tác giả Đỗ Thị Hoa Liên (2016) được khảo sát trên 315 sinh viên
Nghiên cứu này kế thừa và bổ sung từ các kết quả của các nghiên cứu khác nhau trước đây Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý
định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, đó là (1) Giáo dục và đào tạo tại
trường đại học, (2) Kinh nghiệm và trải nghiệm của bản thân, (3) Gia đình
và bạn bè, (4) Tính cách cá nhân, (5) Nguồn vốn
Trang 26Hình 2.5: Mô hình của Đỗ Thị Hoa Liên (2016)
Nguồn: Nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên (2016)
Theo nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp sinh viên
ngành kỹ thuật; nghiên cứu trường hợp đại học Bách Khoa Hà Nội của
2 tác giả Đoàn Thị Thu Trang và Lê Hiếu Học (2017) được thực hiện với
mục đích xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật Nghiên cứu được thiết kế trên nền tảng lý thuyết hành vi có kế hoạch Kết quả điều tra từ 302 sinh viên tại Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy ý định khởi nghiệp chịu tác động trực tiếp của
tính khả thi cảm nhận và thái độ với việc khởi nghiệp, chịu tác động gián tiếp
bởi năng lực bản thân cảm nhận Hai nhân tố kỳ vọng bản thân và chuẩn
mực niềm tin không cho thấy có ảnh hưởng rõ ràng tới ý định khởi nghiệp
của sinh viên
Trang 27Hình 2.6: Mô hình của Đoàn Thị Thu Trang và Lê Hiếu Học (2017)
Nguồn: Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Trang và Lê Hiếu Học (2017)
Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh
viên khối ngành kinh tế tại trường đại học Quảng Bình của tác giả
Nguyễn Thị Thu Ngọc và Nguyễn Thị Kim Phụng (2018) sử dụng phương
pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá
(EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích bộ dữ liệu với 300 sinh
viên Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 8 nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế, bao gồm: Ý kiến người xung quanh,
vị trí xã hội chủ doanh nghiệp, hình mẫu chủ doanh nghiệp, năng lực khởi
nghiệp, hoạt động truyền cảm hứng, học môn khởi nghiệp, phương pháp học
qua thực tế, tham gia hoạt động ngoại khóa Trong đó, yếu tố môi trường
“hình mẫu chủ doanh nghiệp” có tác động mạnh nhất tới “cảm nhận về
mong muốn khởi nghiệp”
Trang 28Hình 2.7: Nguyễn Thị Thu Ngọc và Nguyễn Thị Kim Phụng (2018)
Nguồn: Nguyễn Thị Thu Ngọc và Nguyễn Thị Kim Phụng (2018)
Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh
doanh của sinh viên trường đại học kỹ thuật công nghệ Cần Thơ của
Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) nhằm phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của 166 sinh viên trường Đại học
Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ Mở rộng lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB)
của Ajzen (1991) kết hợp với đặc điểm nhân khẩu học, tính cách, và giáo dục
khởi nghiệp kinh doanh, kết quả nghiên cứu nhân tố khám phá (EFA) và hồi
quy bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) cho thấy có 7 nhóm nhân
tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao gồm: đặc điểm
tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức và thái độ, giáo dục khởi nghiệp, nhận
thức điều khiển hành vi, quy chuẩn và thái độ, quy chuẩn chủ quan
Trang 29Hình 2.8: Mô hình của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017)
Nguồn: Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017)
2.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu động lực và ý định khởi nghiệp: Điều tra vai trò của ngành
đào tạo của tác giả Marina Z Solesvik (2012) được khảo sát trên 321 sinh
viên năm thứ ba, thứ tư và thứ năm về kỹ thuật và quản trị kinh doanh tại ba
trường đại học ở Ukraine Kết quả nghiên cứu cho thấy cá nhân tham gia vào
các chương trình doanh nghiệp có khuynh hướng có động lực khởi nghiệp
cao hơn và có nhiều khả năng trở thành doanh nhân Bằng chứng thực
nghiệm cho thấy thái độ, tiêu chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi được
nhận thức là trung gian cho mối quan hệ giữa động lực và ý định khởi
nghiệp
Trang 30Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu động lực và ý định khởi nghiệp - Điều tra vai trò
của ngành đào tạo
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Marina Z Solesvik (2012)
Nghiên cứu ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp, những tiêu chuẩn chủ
quan và sự mong muốn được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp của Usman Yousaf và cộng sự (2015) Nghiên cứu được khảo sát trên sinh viên
kinh tế của Trường Khoa học Quản lý Azam, Đại học Azam, Islamabad, Pakistan Tổng cộng có 200 bảng câu hỏi được khảo sát, trong đó 185 câu hỏi được trả về, chiếm 92,5% tỷ lệ trả lời Sau khi loại bỏ bảng câu hỏi không đầy đủ và thiên vị, 170 câu hỏi còn lại để phân tích thêm SPSS 20.0 được sử dụng để thực hiện phân tích thống kê và kết quả cho
Quaid-i-thấy: Thái độ khởi nghiệp của sinh viên, sự mong muốn được cảm nhận và
các tiêu chuẩn chủ quan dẫn đến sự phát triển ý định khởi nghiệp của sinh
viên
Trang 31Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp, những tiêu chuẩn chủ quan và sự mong muốn được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Usman Yousaf và cộng sự (2015)
Nghiên cứu mô hình của ý định khởi nghiệp - Một ứng dụng của các
phương pháp tiếp cận tâm lý và hành vi của João J Ferreira và cộng sự
(2012) cho thấy nhu cầu đạt được thành tựu, sự tự tin và thái độ cá nhân có
ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp Hơn nữa, các chỉ tiêu chủ quan
và thái độ cá nhân ảnh hưởng đến kiểm soát hành vi nhận thức Những phát hiện này có thể có tác động đáng kể đến những hiểu biết về sự đóng góp của các lý thuyết hành vi và tâm lý đến ý định khởi nghiệp
Trang 32Hình 2.11: Mô hình của ý định khởi nghiệp - Một ứng dụng của các phương
pháp tiếp cận tâm lý và hành vi
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả João J Ferreira và cộng sự (2012)
Nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thống gia đình và các đặc điểm tâm lý
đối với ý định khởi nghiệp của tác giả Levent Altinay và cộng sự (2012)
điều tra ảnh hưởng của truyền thống gia đình và các đặc điểm tâm lý đối với
ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Anh Nghiên cứu thực nghiệm đã được xác định dựa trên sự cần thiết phải xem xét cả các biến nhân khẩu học
xã hội và đặc biệt là các đặc điểm nền tảng và tính cách gia đình Nghiên cứu
Trang 33cũng đã kiểm tra ý kiến cho rằng xu hướng chấp nhận rủi ro có thể hoạt động như một yếu tố trung gian tiềm năng Những phát hiện của nghiên cứu cho
thấy rằng nền tảng kinh doanh của gia đình và sự đổi mới ảnh hưởng đến ý
định khởi nghiệp; rằng có mối quan hệ tích cực giữa chấp nhận sự mơ hồ và
xu hướng chấp nhận rủi ro; và một mối quan hệ tiêu cực giữa mức độ kiểm soát và xu hướng chấp nhận rủi ro Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận toàn diện hơn khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh
Hình 2.12: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thống gia đình và các
đặc điểm tâm lý đối với ý định khởi nghiệp
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Levent Altinay và cộng sự (2012)
Nghiên cứu vai trò của việc đào tạo về kinh doanh như là một yếu tố dự
báo về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học của các tác giả Ying Zhang & Geert Duysters & Myriam Cloodt (2014) sử dụng lý thuyết hành
vi được lập kế hoạch của Ajzen và mô hình sự kiện kinh doanh của Shapero
Trang 34cũng như lý thuyết nhận thức kinh doanh, nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa việc đào tạo về kinh doanh, sự tiếp xúc sớm với việc kinh doanh, sự mong muốn và tính khả thi được nhận thức đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học Các dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát của mười trường đại học; và đã nhận được 494 câu trả lời hiệu quả Nghiên cứu cho
thấy rằng sự mong muốn được nhận thức có ảnh hưởng đáng kể đến ý định
khởi nghiệp trong khi không có tác động đáng kể từ tính khả thi nhận thức
Có một tác động tiêu cực đáng kể từ sự tiếp xúc sớm với việc kinh doanh và
một tác động tích cực đáng kể từ sự đào tạo kinh doanh Nam giới và người
từ các trường đại học thuộc khối ngành kỹ thuật và /hoặc có nền tảng kỹ thuật có ý định khởi nghiệp cao hơn nữ và người từ các trường đại học thuộc khối ngành khác và nền tảng khác Cũng có những tác động tích cực đáng kể theo giới tính, loại trường đại học và chuyên ngành đào tạo lên mối quan hệ giữa sự đào tạo về kinh doanh và ý định khởi nghiệp
Hình 2.13: Mô hình nghiên cứu vai trò của việc đào tạo về kinh doanh như
là một yếu tố dự báo về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học
Nguồn: Nghiên cứu của Ying Zhang & Geert Duysters & Myriam Cloodt (2014)
Trang 35 Nghiên cứu sự phát triển và văn hóa chéo - Áp dụng một công cụ cụ thể
để đo lường ý định khởi nghiệp kinh doanh của Francisco Liñán và Wen Chen (2009) Nghiên cứu sử dụng lý thuyết về hành vi được lên kế
Yi-hoạch của Ajzen để xây dựng bảng hỏi ý định khởi nghiệp kinh doanh và phân tích các đặc tính tâm lý Mô hình ý định khởi nghiệp kinh doanh sau đó được thử nghiệm trên một mẫu gồm 519 cá nhân từ hai quốc gia khá khác nhau: Tây Ban Nha và Đài Loan Bảng câu hỏi ý định khởi nghiệp kinh doanh và kỹ thuật phương trình cấu trúc đã được sử dụng để cố gắng vượt qua những hạn chế nghiên cứu trước đây Vai trò của văn hóa trong việc giải thích các nhận thức động lực đã được xem xét cụ thể
Kết quả cho thấy các giá trị văn hóa thay đổi cách thức các cá nhân trong mỗi xã hội cảm nhận về tinh thần kinh doanh Các đặc điểm văn hóa và xã hội sẽ được phản ánh bởi tác động của các biến bên ngoài trên tiền đề của ý
định (Tiêu chuẩn chủ quan, thái độ, và sự kiểm soát hành vi được nhận thức)
và sức mạnh tương đối của các liên kết giữa các cấu trúc nhận thức này Đặc biệt, chủ nghĩa cá nhân - tập thể dường như giải thích tầm quan trọng tương
đối của tiêu chuẩn chủ quan trong mô hình Tương tự như vậy, niềm tin gắn
liền với tinh thần kinh doanh trong mỗi nền văn hóa dường như thay đổi, dẫn đến sức mạnh tương đối của mỗi yếu tố động lực trở nên khác nhau (đặc biệt
là thái độ và sự kiểm soát hành vi được nhận thức)
Trang 36Hình 2.14: Mô hình sự phát triển và văn hóa chéo - Áp dụng một công
cụ cụ thể để đo lường ý định khởi nghiệp kinh doanh
Nguồn: Nghiên cứu của Francisco Liñán và Yi-Wen Chen (2009)
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế hậu Xô
Viết của Marina Z Solesvik (2014) áp dụng lý thuyết về hành vi được lập
kế hoạch và sáng kiến cá nhân tham gia nghiên cứu để khám phá ý định kinh doanh của 266 nữ sinh viên và 161 nam sinh viên trả lời ở Nga và Ukraine Phát hiện cho thấy rằng cường độ của ý định kinh doanh được báo cáo bởi sinh viên Ucraina là cao hơn so với Nga Nghiên cứu cũng cho ra kết luận nam sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh cao hơn nữ sinh viên Đồng thời, giới tính kiểm duyệt mối quan hệ giữa kiểm soát hành vi nhận thức và ý định Các biến có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
gồm: Thái độ, những tiêu chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành vi được nhận
thức Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy sự chủ động cá nhân không thêm
vào sự giải thích về ý định kinh doanh trên các biến trong lý thuyết mô hình
hành vi được lên kế hoạch
Trang 37Bảng 2.1: Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước
Chủ đề nghiên
cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp, trường hợp sinh viên khoa kinh tế
và quản trị kinh doanh trường đại học Cần Thơ
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường đại học Lao động xã hội
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp sinh viên ngành
kỹ thuật;
nghiên cứu trường hợp đại học Bách Khoa
Hà Nội
Nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại trường đại học Quảng Bình
Các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên trường đại học
kỹ thuật công nghệ Cần Thơ
Động lực và ý định khởi nghiệp:
Điều tra vai trò của ngành đào tạo
Ảnh hưởng của thái độ khởi nghiệp, những tiêu chuẩn chủ quan
và sự mong muốn được nhận thức đối với
ý định khởi nghiệp
Nghiên cứu mô hình của ý định khởi nghiệp
- Một ứng dụng của các phương pháp tiếp cận tâm lý
và hành
vi
Ảnh hưởng của truyền thống gia đình và các đặc điểm tâm lý đối với
ý định khởi nghiệp
Vai trò của việc đào tạo
về kinh doanh như là một yếu
tố dự báo về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học
Sự phát triển và văn hóa chéo -
Áp dụng một công
cụ cụ thể
để đo lường ý định khởi nghiệp kinh doanh
Ý định khởi nghiệp kinh doanh trong nền kinh
tế hậu
Xô Viết
Tác giả
Phan Anh Tú
và Giang Thị Cẩm Tiên
Đỗ Thị Hoa Liên
Đoàn Thị Thu Trang
và Lê Hiếu Học
Nguyễn Thị Thu Ngọc và Nguyễn Thị Kim Phụng
Phan Anh Tú
và Trần Quốc Huy
Marina
Z
Solesvik
Usman Yousaf
và cộng
và cộng
sự
Ying Zhang
& Geert Duysters
&
Myriam Cloodt
Francisco Liñán và Yi-Wen Chen
Marina
Z Solesvik
Trang 382.5 Các giả thuyết của nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết và các nghiên cứu liên quan kết hợp cùng với các đặc điểm của sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất các yếu tố
ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên bao gồm: Sự chủ động cá nhân,
thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, các tiêu chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành
vi được nhận thức
2.5.1 Ý định khởi nghiệp
Quyết định khởi nghiệp có thể được coi là tự nguyện và có ý thức (Krueger
và cộng sự, 2000) Do đó, có vẻ hợp lý để phân tích quyết định đó được đưa ra như thế nào Khởi nghiệp có thể được xem như là một quá trình xảy ra theo thời gian (Gartner, Shaver, Gatewood, & Katz, 1994; Kyrö & Carrier, 2005) Theo nghĩa này,
ý định khởi nghiệp sẽ là bước đầu tiên trong quá trình khởi nghiệp (Lee & Wong,
2004) Ý định để bắt đầu khởi nghiệp, sau đó, sẽ là tiền đề cần thiết để thực hiện các hành vi khởi nghiệp (Fayolle và cộng sự, 2006; Kolvereid, 1996b) Ý định được coi
là yếu tố dự đoán hành vi tốt nhất (Ajzen, 1991, 2001; Fishbein & Ajzen, 1975)
Trang 39Đổi lại, ý định thực hiện các hành vi khởi nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như nhu cầu, giá trị, mong muốn, thói quen và niềm tin (Bird, 1988; Lee & Wong, 2004) Đặc biệt, các biến nhận thức ảnh hưởng đến ý định được gọi là động lực “tiền đề” của Ajzen (1991) Các tiền đề thuận lợi hơn sẽ
làm tăng ý định khởi nghiệp (Liñán, 2004) Rõ ràng, các yếu tố tình huống cũng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh (Ajzen, 1987; Boyd & Vozikis,
1994; Tubbs & Ekeberg, 1991) Những yếu tố bên ngoài này ảnh hưởng đến thái độ của một người đối với tinh thần khởi nghiệp (Krueger, 1993) Các biến như ràng buộc thời gian, nhiệm vụ khó khăn và ảnh hưởng của người khác qua áp lực xã hội
có thể là ví dụ về các yếu tố tình huống này (Lee & Wong, 2004)
Theo TPB, ý định khởi nghiệp kinh doanh cho thấy nỗ lực của một người
để thực hiện hành vi kinh doanh đó Và như vậy, nó nắm bắt được ba yếu tố hợp lý,
hoặc tiền đề, ảnh hưởng đến hành vi gồm: Thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ
quan và sự kiểm soát hành vi được nhận thức
2.5.2 Sự chủ động cá nhân:
Sự chủ động cá nhân đề cập đến "quy trình nhằm dự đoán và hành động
theo nhu cầu trong tương lai bằng cách tìm kiếm cơ hội mới" (Lumpkin and Dess,
1996) Bateman và Crant (1993) cho rằng việc chủ động cá nhân có liên quan đến việc định đoạt hành động Sinh viên có sự chủ động cá nhân cao có thể thay đổi
môi trường Điều này phân biệt họ với những cá nhân thụ động làm việc theo cách thông thường, hành động theo thứ tự của người khác hoặc từ bỏ khi gặp khó khăn (Frese và Fay, 2001)
Sự chủ động cá nhân có liên quan đến khái niệm ‘xu hướng hành động’
trong tinh thần khởi nghiệp kinh doanh (Krueger và Brazeal, 1994) Các nghiên cứu
thực nghiệm đã phát hiện ra rằng sự chủ động cá nhân có liên quan tích cực với ý
định khởi nghiệp ở Mỹ (Crant, 1996) và Úc (Korunka và cộng sự, 2003) Từ đó, ta
có thể xây dựng giả thuyết sau:
H1: Sự chủ động cá nhân có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp 2.5.3 Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp
Trang 40Thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà cá nhân có các đánh giá
thuận lợi hoặc không thuận lợi về hành vi được đề cập (Ajzen, 1991) Theo TPB,
thái độ đối với hành vi được xác định bởi tổng số niềm tin hành vi có thể tiếp cận
liên kết hành vi với các kết quả khác nhau và các thuộc tính khác Nó bao gồm không chỉ tình cảm ("Tôi thích nó, nó là hấp dẫn") mà còn cân nhắc đánh giá ("Nó
có lợi thế") (Liñan và Chen, 2009)
Thái độ là ý định hành vi tốt nhất (Fishbein và Ajzen, 1975) Hành vi kinh
doanh là tập hợp các hoạt động được thực hiện bởi một doanh nhân (Meyer, 2002), nói cách khác, một hành động được thực hiện bởi một doanh nhân (Bateman và Crant, 1993; Hébert và Link, 2006)
Theo kết quả nghiên cứu của João J Ferreira và cộng sự (2012) thì thái độ
có tác dụng quan trọng nhất đối ý định khởi nghiệp Nghiên cứu của Usman Yousaf
và cộng sự (2015) cho thấy rằng các sinh viên với thái độ khởi nghiệp kinh doanh
sẽ có ý định khởi nghiệp cao hơn Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết TPB cũng như những phát hiện của Morrison (2000) nói rằng ý định khởi nghiệp được
kích hoạt tích cực bởi thái độ Vì vậy, chúng ta có giả thuyết H2 như sau
H2: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp
2.5.4 Tiêu chuẩn chủ quan
Các tiêu chuẩn chủ quan đề cập đến áp lực xã hội được cảm nhận để thực
hiện hoặc không thực hiện một hành vi nào đó Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm hai
thành phần: Niềm tin tiêu chuẩn và động lực để tuân thủ các tín ngưỡng này (Ajzen
và Fishbein, 1980) Niềm tin tiêu chuẩn liên quan đến xác suất nhận thức rằng các
cá nhân hoặc nhóm tham chiếu quan trọng sẽ chấp nhận hoặc từ chối một hành vi nhất định; các tham chiếu này đặt định mức chỉ rõ cách đối tượng nên xử lý Thành
phần thứ hai, động lực để tuân thủ, phản ánh sự sẵn sàng của một người phù hợp
với các tiêu chuẩn này, có nghĩa là, hành xử theo sự mong đợi của các tham chiếu quan trọng Tùy thuộc vào môi trường xã hội, những áp lực này có thể trở thành một sự khích lệ, hoặc một rào cản đối với sự phát triển của một sự nghiệp kinh