Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” là công trình nghiên cứu khoa
Trang 1- -
VŨ KIẾN PHÚC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2- -
VŨ KIẾN PHÚC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công
tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và thật sự nghiêm túc của bản
thân Các kết quả được trình bày trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, khách quan, phù hợp với thực tiễn của tỉnh Vĩnh Long và chưa từng được công bố trong bất kỳ các nghiên cứu nào trước đây Những nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được trích dẫn đầy đủ và ghi
nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2018 Tác giả
VŨ KIẾN PHÚC
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
1.1.Các công trình nghiên cứu được công bố tại nước ngoài 6
Trang 52.2.1 Các quan điểm về TCCTKT 22
2.2.4 Nội dung của công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp GDCL 24 2.2.5 Tiêu chí đánh giá TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa
2.4 Các nhân tố giả định sẽ tác động đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp
2.5 Tổng kết các nhân tố giả định sẽ tác động đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long từ cơ sở lý thuyết 42
3.2.3 Biện luận sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu 49
Trang 63.4.7 Thu thập và chuẩn bị dữ liệu 66
4.2.5.Kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình
4.3 Thực trạng TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long 94
Trang 8Từ viết tắt Từ gốc Từ viết tắt Từ gốc
Tổ chức công tác kế toán
HTTTKT
Hệ thống thông tin kế
Trang 9BẢNG TÊN TRANG 2.01 Tổng kết các nhân tố tác động đến TCCTKT từ Cơ sở lý thuyết 43 3.01 Cấp độ thang đo được sử dụng trong nghiên cứu định lượng 57 3.02 Số lượng phần tử thu thập theo phương pháp định mức 64 4.01 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCCT với các nhân tố (lần 1) 78 4.02 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCCT với các nhân tố (lần 2) 78 4.03 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 79 4.04 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCTK với các nhân tố (lần 1) 80 4.05 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCTK với các nhân tố (lần 2) 80 4.06 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 81 4.07 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCSS với các nhân tố (lần 1) 82 4.08 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCSS với các nhân tố (lần 2) 82 4.09 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 83 4.10 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCBC với các nhân tố (lần 1) 84 4.11 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCBC với các nhân tố (lần 2) 84 4.12 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 85 4.13 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCKK với các nhân tố (lần 1) 86 4.14 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCKK với các nhân tố (lần 2) 86 4.15 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 87 4.16 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCBM với các nhân tố (lần 1) 88 4.17 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCBM với các nhân tố (lần 2) 88 4.18 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 89 4.19 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCCTKTvới các nhân tố 90 4.20 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1.500 91 4.21 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết giữa TCCTKT với các nhân tố 91
Trang 10HÌNH TÊN TRANG 3.01 Khung nghiên cứu chung của luận văn 46 3.02 Nội dung nghiên cứu hỗn hợp khám phá 51 3.03 Mô hình nghiên cứu đề nghị của luận văn 62 4.01 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA cho biến độc lập 76 4.02 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA cho biến phụ thuộc 77 4.03 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 90
Trang 11PHỤ LỤC TÊN
1.01 Bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước
3.01 Danh sách chuyên gia tham gia thảo luận tay đôi
3.02 Dàn bài thảo luận
3.03 Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu
3.04 Thang đo TCCTKT
3.05 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT
3.06 Bảng hỏi chi tiết
4.01 Kết quả nghiên cứu định tính
4.02 Danh sách các đáp viên
4.03 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo (lần 1)
4.04 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo (lần 2)
4.05 Kết quả EFA cho các biến độc lập
4.06 Kết quả EFA cho các biến phụ thuộc
4.07 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu nghiên cứu
4.08 Độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai rút trích các nhân tố
4.09 Các hệ số chưa chuẩn hóa và đã chuẩn hóa
4.10 Đánh giá giá trị phân biệt
4.11 Tổng phương sai rút trích (AVE) của các nhân tố
4.12 Ma trận tương quan giữa các khái niệm
4.13 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu nghiên cứu
4.14 Độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai rút trích các nhân tố
4.15 Các hệ số chưa chuẩn hóa và đã chuẩn hóa
4.16 Đánh giá giá trị phân biệt
4.17 Tổng phương sai rút trích (AVE) của các nhân tố
4.18 Ma trận tương quan giữa các khái niệm
4.19 Kết quả SEM (chuẩn hóa) mô hình lý thuyết cơ bản giữa TCCT và các
nhân tố (lần 1)
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Để tăng cường hiệu quả quản lý, nâng cao tính minh bạch thông tin, trách nhiệm giải trình và sử dụng nguồn tài chính đạt hiệu quả, các đơn vị, tổ chức có thể sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau, trong đó kế toán được đánh giá là công cụ hữu hiệu nhất (Bùi Thị Yến Linh, 2014; Nguyễn Thị Hải Ly, 2016) Chức năng của kế toán giữ một vai trò quan trọng (Arnaboldi và cộng sự, 2015) trong chu trình ngân sách trong các tổ chức khu vực công (KVC) (Henley và cộng sự, 1992), đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, tính hữu hiệu và hiệu quả của các đơn vị thuộc KVC (Hoque và Moll, 2001) và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định (Agasisti và cộng
sự, 2008) Tuy nhiên, thông tin do kế toán cung cấp có thể đáp ứng yêu cầu của các
cơ quan quản lý và người sử dụng thông tin hay không phụ thuộc vào mức độ hợp lý; khoa học trong tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) (Phan Thị Thu Mai, 2011; Ma Thị Hường, 2015; Nguyễn Thị Hải Ly, 2016) Vì TCCTKT khoa học trong các đơn
vị SNCL sẽ đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời và đầy đủ thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị; ghi chép, theo dõi, phản ánh, giám sát chặt chẽ các loại tài sản, nguồn kinh phí của đơn vị; giúp bộ máy kế toán (BMKT) hoạt động hiệu quả (Nguyễn Thị Hải Ly, 2016) Do đó, TCCTKT hợp lý, khoa học trong các đơn vị SNCL là một hoạt động đóng vai trò quyết định đến tính hiệu quả trong quá trình quản lý (Nguyễn Đức Quý, 2017; Bùi Phương Nhung, 2016)
Là một tỉnh thuộc miền nam Việt Nam, Vĩnh Long là địa phương có các tuyến giao thông thuận lợi nối liền với các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long
và cả nước, tạo vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế với cả vùng Theo Nghị quyết 33/2016/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân của tỉnh về việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương,
ổn định giai đoạn 2017 - 2020, 50% số thu dự toán xổ số kiến thiết để đầu tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề và y tế; 10% để chi sửa chữa, nâng cấp các công trình thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế…dù ngân sách địa phương (NSĐP) dành cho đầu
tư vào giáo dục ngày càng lớn (Nguyễn Thị Hằng, 2017) nhưng công tác kế toán tại
Trang 14các đơn vị SNCL hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập (Dương Hồng Cúc và Lê Đoàn Minh Đức, 2018) Theo Báo cáo số 1218/BC-SGDĐT của Sở Giáo dục tỉnh Vĩnh Long về tổng kết năm học 2016-2017, công tác quản lý và công tác kế toán tại một số đơn vị vẫn tồn tại nhiều hạn chế như công tác quản lý tài chính và công tác tự kiểm tra tài chính chưa được thực hiện theo đúng quy định; xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn sử dụng căn cứ pháp lý đã hết hiệu lực; một vài nội dung chi không phù hợp với quy định hiện hành; kế toán viên (KTV) tại một số đơn vị không thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ được giao, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, xác minh tính chính xác, trung thực của chứng từ kế toán (CTKT) trước khi trình thủ trưởng phê duyệt Từ đó, một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này được đề xuất như KTV cần tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về kế toán, tài chính trong thực hiện nhiệm vụ; người đứng đầu đơn vị cần có sự quan tâm sâu sát và chỉ đạo kịp thời đối với những công việc có liên quan đến công tác kế toán tại đơn vị,…Các giải pháp được cơ quan quản lý đưa ra chỉ mang tính khắc phục cho những hạn chế, sai phạm
đã xảy ra chứ mang tính chất ngăn ngừa cho những rủi ro có thể xảy ra tại đơn vị Nhất là khi tình trạng lạm dụng, tham nhũng tài sản công và các hoạt động gian lận trong các đơn vị sự nghiệp ngày càng tinh vi, nghiêm trọng và phức tạp, gây ra những tổn thất nặng nề đến nguồn lực của Nhà nước (Lê Thị Cẩm Hồng, 2014), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chung của công chúng (Lüder Klaus, 1992) Vì vậy, để các giải pháp đề xuất đối với công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp GDCL tại địa phương này phát huy hiệu quả thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT là một nội dung cần được xem xét Vì thông qua việc tìm hiểu, khám phá các nhân tố và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến TCCTKT, nhà quản lý sẽ nhận thức được nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến TCCTKT, từ
đó, đưa ra những giải pháp phù hợp với nguồn lực hiện có tại đơn vị để điều tiết các nhân tố đó Do đó, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị
sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” là một nội dung cần thiết thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15❖ Mục tiêu tổng quát: nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến
TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập (GDCL) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị sự
nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long?
Câu hỏi 2: Các nhân tố này tác động như thế nào đến TCCTKT tại các
đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ tập trung vào nội dung công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp GDCL bao gồm Tổ chức hệ thống CTKT; Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán (TKKT); Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán (SSKT); Tổ chức hệ thống báo cáo tài chính (BCTC); Tổ chức kiểm kê tài sản (KKTS), bảo quản và lưu trữ tài liệu kế toán (TLKT); Tổ chức BMKT Đối với Tổ chức hệ thống BCTC, luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống BCTC và báo cáo quyết toán (BCQT)
Trang 16Hiện tại, các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long được tài trợ từ nguồn ngân sách khác nhau dẫn đến có sự khác nhau về cơ chế tài chính
Do đó, luận văn chỉ thực hiện nghiên cứu các đơn vị sự nghiệp GDCL sử dụng NSĐP
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu mà luận văn đề ra, tác giả sử dụng phương pháp thiết kế khám phá
định kết quả của các nghiên cứu được công bố trước đó
- Về khía cạnh ứng dụng:
Nghiên cứu là một căn cứ có giá trị giúp xác định và điều tiết các nhân tố góp phần hoàn thiện TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Long
6 Kết cấu của đề tài
Luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Phần mở đầu: trình bày thực trạng và vai trò của TCCTKT đối với sự tồn tại
và phát triển của đơn vị sự nghiệp GDCL Dựa trên nền tảng này, vấn đề nghiên cứu được xác định Đồng thời, thông qua trình bày các hạn chế của các nghiên cứu được công bố trước đó, tác giả tiến hành xác định mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu
và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp
Trang 17Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: chương này trình bày các nghiên
cứu có liên quan đến công tác kế toán tại các đơn vị thuộc KVC được công bố trong nước và tại nước ngoài Thông qua đó, tác giả tiến hành đánh giá những thành quả đạt được cùng những hạn chế còn tồn tại của những nghiên cứu trước đó nhằm tạo
cơ sở vững chắc cho việc xác định khe hổng nghiên cứu; sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu lẫn sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: những khái niệm cốt yếu và cơ sở lý thuyết có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu được trình bày trong chương này nhằm tạo nền tảng giải thích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT và TCCTKT
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày phương pháp nghiên cứu được
sử dụng trong luận văn cùng những biện luận cho sự phù hợp của phương pháp này Đồng thời, tác giả cũng trình bày những nội dung công việc được thực hiện đối với phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả của nghiên cứu định tính
và định lượng về TCCTKT và các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị
sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, đồng thời đưa ra những bàn luận về kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho những hàm ý, chính sách ở chương tiếp theo
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: chương này đưa ra kết luận và
những hàm ý về mặt lý thuyết và quản lý cũng như những đóng góp của nghiên cứu cùng hạn chế của đề tài nhằm làm cơ sở cho những nghiên cứu được thực hiện tiếp theo trong tương lai
Phần danh mục tài liệu tham khảo
Phần phụ lục đính kèm
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nội dung chính yếu của chương là trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác kế toán tại các đơn vị thuộc KVC được công bố trong nước và tại nước ngoài Mục tiêu của chương hướng đến việc cung cấp những luận giải cần thiết của đề tài và tạo nền tảng vững chắc để đề tài có thể kế thừa về cơ sở lý thuyết, các phương pháp và kết quả nghiên cứu Bên cạnh đó, tổng quan các nghiên cứu còn giúp tác giả xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng cho nghiên cứu này
1.1 Các công trình nghiên cứu được công bố tại nước ngoài
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về những thách thức, hạn chế của kế toán tại KVC ở các nước trên thế giới và phân tích những nhân
tố tác động đến việc cải cách, đổi mới nhằm đề ra những giải pháp, gợi ý chính sách
để tiến đến sự hoàn thiện hệ thống kế toán công (KTC), tạo hài hòa, thống nhất trên toàn thế giới Bắt nguồn từ những hạn chế của hệ thống KTC, lần lượt có nhiều nghiên cứu ra đời để cải cách hệ thống kế toán nhằm minh bạch thông tin tài chính, gia tăng trách nhiệm giải trình và hạn chế sự khác biệt so với thông lệ quốc tế
+ Nhóm nghiên cứu về những hạn chế trong hệ thống kế toán KVC
Chan J.L (2005), trong bài viết “Chuẩn mực kế toán công quốc tế và Cải cách
Kế toán Chính phủ ở các nước đang phát triển”, tác giả xác định các “rào cản” khiến các nước đang phát triển hạn chế trong phát triển hệ thống kế toán KVC trên cơ sở dồn tích bao gồm hệ thống chính trị thiếu sự dân chủ, ý chí đổi mới không cao của nhà cầm quyền và hạn chế về khả năng tài chính và khả năng về mặt kỹ thuật Đồng thời, tác giả cho rằng nạn tham những tại các nước đang phát triển, thậm chí những nước đang có nền dân chủ cao và hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tốt chính là nguyên nhân dẫn đến xu hướng không sẵn lòng đổi mới hệ thống kế toán nhằm cung cấp thông tin minh bạch từ phía các nhà cầm quyền Thêm vào đó, khó khăn mà các nước này đang đối mặt là hạn chế về nhân lực chất lượng cao và tốn kém nhiều chi phí tổ chức cho việc tổ chức kế toán theo chuẩn mực kế toán công quốc tế nhưng tác
Trang 19giả khẳng định việc tuân thủ chuẩn mực kế toán công quốc tế tạo ra nhiều giá trị về mặt xã hội và lợi ích kinh tế cho các nước đang phát triển bao gồm gia tăng trách nhiệm giải trình của Chính phủ, hạn chế thất thoát tài sản công, tăng sự dân chủ, hạn chế tham nhũng đồng thời nhận được tài trợ của quốc tế trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển đất nước
+ Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cải cách, đổi mới KTC
Theo Luder Klaus (1992), trong bài viết “Mô hình dự phòng của các cải cách
kế toán của Chính phủ trong môi trường hành chính chính trị”, tác giả cho rằng có 4 nhóm nhân tố tác động đến sự đổi mới kế toán KVC nhằm cung cấp thông tin trung thực, hữu ích, đáng tin cậy về tài chính KVC và cung cấp một cơ sở cho việc cải thiện kiểm soát tài chính của các hoạt động của Chính phủ, dựa trên cơ sở kế toán dồn tích Các nhóm nhân tố bao gồm:
- Nhóm nhân tố sự kích thích đổi mới gồm có: Áp lực tài chính; bê bối tài chính, thị trường vốn và cơ quan ban hành chuẩn mực Tác giả cho rằng gánh nặng về nợ công, lãi suất, toàn cầu hóa, bê bối tài chính sẽ dẫn đến áp lực tài chính, nhu cầu thông tin kế toán ngày càng cao từ đó thúc đẩy cải cách kế toán để cung cấp thông tin hữu ích, trung thực hơn
- Nhóm nhân tố cấu trúc xã hội gồm: tình trạng kinh tế xã hội và văn hóa chính trị Tình trạng kinh tế xã hội được thể hiện qua nhiều biến như thu nhập, trình độ học vấn đã ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế và dịch vụ công mà người dân nhận được và liên quan đến những quan điểm của người sử dụng thông tin về tính hữu ích của báo cáo tài chính KVC Văn hóa chính trị ảnh hưởng đến thái độ của người sử dụng thông tin liên quan đến công bố thông tin quản lý tài chính KVC Văn hóa chính trị càng cởi
mở và có sự tham gia của công chúng càng tăng thì yêu cầu tính minh bạch trong công tác kế toán càng cao
- Nhóm nhân tố cấu trúc mô tả hệ thống chính trị - hành chính gồm có đào tạo nhân viên và tuyển dụng, văn hóa quản trị và cạnh tranh chính trị Những KTV chuyên nghiệp không những sẵn sàng thực hiện cải cách mà còn tạo ra những ý tưởng thúc đẩy sự đổi mới trong KTC Theo nghiên cứu của tác giả thì văn hóa quản trị là một
Trang 20phần của văn hóa chính trị Một nền văn hóa quản trị cởi mở, có sự tham gia mọi người vào quá trình của chính sách công sẽ thúc đẩy thái độ tích cực của người cung cấp thông tin có tính hữu hiệu trong hệ thống kế toán và báo cáo tài chính KVC và tạo những ý tưởng đổi mới
- Nhóm nhân tố rào cản bao gồm: đặc điểm của tổ chức, hệ thống pháp lý, trình
độ của nhân viên kế toán và quy mô của đơn vị công Tác giả cũng đã khẳng định chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong KVC giúp thông tin trên BCTC được trình bày trung thực, hợp lý và đáng tin cậy và đáp ứng được yêu cầu kiểm soát nguồn lực tài chính công
Theo Ouda Hassan (2004), trong bài viết “Mô hình yêu cầu cơ bản để thực hiện thành công của kế toán dồn tích trong khu vực công” đã mở rộng nghiên cứu ở các nước đang phát triển, tác giả cho rằng việc thực hiện chuyển đổi từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích sẽ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình thông tin, cung cấp BCTC hữu hiệu, trung thực và hợp lý Tác giả thực hiện xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến sự thành công của việc thực hiện cơ sở dồn tích ở KVC Các nhân tố này bao gồm:
- Quản lý sự thay đổi: Tư tưởng chấp nhận thay đổi và kiểm soát sự thay đổi của nhà quản lý như: thay đổi phần mềm, chính sách kế toán, Tác giả cho rằng quản lý
sự thay đổi càng tốt sẽ giúp sự chuyển đổi dễ thành công
- Sự hỗ trợ chính trị: bao gồm sự hỗ trợ của cơ quan lập pháp và hành pháp Cơ quan lập pháp thực hiện giám sát và ban hành những văn bản pháp luật khi có sự thay đổi Cơ quan hành pháp chấp hành và báo cáo kết quả cho cơ quan lập pháp Sự hỗ trợ chính trị càng cao càng giúp sự chuyển đổi thành công
- Sự hỗ trợ về học thuật trong lĩnh vực kế toán: trình độ chuyên môn của chuyên gia kế toán hỗ trợ trong và ngoài nước
- Chiến lược truyền thông: nhằm để tuyên truyền, giải thích và kêu gọi sự ủng
hộ của mọi người khi xuất hiện thay đổi
- Sẵn sàng để thay đổi: ý chí và trình độ chuyên môn của nhân viên sẵn sàng cho việc thực hiện chuyển đổi
Trang 21- Tư vấn và phối hợp với cơ quan chính quyền và thực hiện các vấn đề kế toán
- Sự tài trợ tài chính của quốc tế
Theo Cristina và cộng sự (2013), trong bài viết “Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đối với sự tiến hóa của kế toán công tại Rumani” đã thực hiện nghiên cứu về
sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến cải cách KTC ở Rumani Tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử về kế toán và những cơ sở lý thuyết trên thế giới
về kế toán công đưa ra sáu nhóm nhân tố môi trường tác động đến sự phát triển của
kế toán, hệ thống báo cáo và công bố thông tin tại KVC ở trong bối cảnh của Rumani gồm: nhóm nhân tố hệ thống chính trị, nhóm nhân tố hệ thống pháp luật, nhóm nhân
tố kinh tế, nhóm nhân tố văn hóa xã hội; nhóm nhân tố giáo dục; nhóm nhân tố nghề nghiệp Tác giả tập hợp những nghiên cứu thực nghiệm dựa trên cơ sở những phân tích sự tồn tại của 6 nhóm nhân tố và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhóm và đưa ra
sự giải thích cơ bản sự ảnh hưởng của việc kết hợp các nhân tố Hệ thống chính trị tác động đến hệ thống kinh tế, có sự ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư vào thông tin kế toán Sự kết hợp giữa nhân tố chính trị và nhân tố kinh tế quyết định loại hình hệ thống pháp lý về kế toán Nhân tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến chính sách kế toán và quá trình quyết định của kế toán, gắn liền với nhân
tố giáo dục tác động mạnh đến lý thuyết kế toán và thực tiễn
Theo Zakaria và cộng sự (2017) trong bài viết “Một khảo sát về tác động của hệ thống thông tin kế toán đối với công việc hiệu quả: Bằng chứng từ các cơ quan khu vực công của Malaysia” đã khảo sát về tác động hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) lên tính hiệu quả công việc trong cơ quan thuộc KVC của Malaysia Nghiên cứu thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi tới người dùng HTTTKT tại các đơn vị công ở Malaysia nhằm đánh giá tác động của hệ thống kế toán hiện hành
Trang 22về các lĩnh vực kế toán chủ yếu như: BCTC, quản trị tài chính, kiểm toán và kiểm soát BCTC Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã chứng minh được rằng HTTTKT hiệu quả sẽ tác động đến hiệu quả công việc như: nhiệm vụ quản lý ngân sách, kế toán và BCTC, nhiệm vụ kiểm toán và kiểm soát
- HTTTKT có những ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác hoạch định ngân sách bằng việc thực hiện dễ dàng hơn việc thu thập thông tin về các mục tiêu và các kết quả hoạt động trong tất cả các lĩnh vực lập ngân sách và ước tính các dự án, hoạt động, chương trình cho tương lai
- Hệ thống giúp cung cấp thông tin toàn diện và minh bạch hơn và nâng cao sự tín nhiệm và độ tin cậy của toàn bộ quá trình ngân sách; cải thiện hiệu quả cho việc chuẩn bị ngân sách hằng năm và lập ngân sách trong tương lai; cung cấp kịp thời và
dữ liệu chính xác cho quản trị ngân sách và thực hiện các quyết định cải thiện và thực hiện các kế hoạch ngân sách
- HTTTKT tác động đến nhiệm vụ kế toán và báo cáo bằng cách cải thiện cách
họ ghi chép kế toán và xử lý các giao dịch kế toán, tăng cường khả năng kiểm soát tài chính của các tổ chức; cung cấp thông tin về nguồn, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính; cung cấp thông tin để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động
Tổng hợp các công trình nghiên cứu công bố tại nước ngoài
Nghiên cứu về những hạn chế trong hệ thống kế toán KVC: các “rào cản” khiến các nước đang phát triển hạn chế trong phát triển hệ thống kế toán KVC bao gồm Vai trò hỗ trợ của các cán bộ lãnh đạo cấp cao; Nguồn tài chính cho việc thực hiện (Chan J.L, 2005)
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cải cách, đổi mới KTC: (1) Sự kích thích đổi mới (áp lực tài chính; bê bối tài chính; thị trường vốn; cơ quan ban hành chuẩn mực); (2) Sự biến đổi cấu trúc xã hội của người sử dụng thông tin (sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội và văn hóa chính trị), (3) Cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính (Tuyển dụng và đào tạo, văn hóa hành chính, cạnh tranh chính trị), và (4) Các rào cản thực hiện (Đặc điểm tổ chức, hệ thống pháp lý, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, độ lớn của các đơn vị công) (Luder Klauss, 1992); (1) Môi trường
Trang 23chính trị, (2) Môi trường pháp lý, (3) Môi trường kinh tế, (4) Môi trường giáo dục, (5) Môi trường văn hóa xã hội, (6) Môi trường nghề nghiệp (Cristina Silvia Nistora
và cộng sự, 2013);…
1.2 Các công trình nghiên cứu được công bố trong nước
Bùi Thị Yến Linh (2014), trong luận án Tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi”, thông qua phương pháp điều tra, phỏng vấn; phương pháp thu thập tài liệu; phương pháp quan sát thực tế; phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu, tác giả cho rằng các nhân tố chi phối đến TCCTKT tại các đơn
vị SNCL bao gồm đặc điểm của đơn vị SNCL; cơ chế quản lý tài chính; ảnh hưởng của CNTT Bên cạnh đó, thông qua phân tích, đánh giá thực trạng TCCTKT tại các
cơ sở y tế (CSYT), tác giả đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện TCCTKT tại các đơn vị này Tuy nhiên, luận án chưa thực hiện đề xuất về một hệ thống SSKT chung và mô hình tổ chức BMKT áp dụng chung cho các bệnh viện công lập và trung tâm y tế dự phòng trên địa bàn tỉnh Quãng Ngãi
Nguyễn Thế Ích (2015), trong luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các đơn vị sự nghiệp Khoa học-Công nghệ công lập thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ”, tác giả cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL bao gồm nhân tố về quan điểm TCCTKT (xét trên góc độ loại hình hoạt động như TCCTKT hoạt động sự nghiệp và hoạt động dịch vụ tách biệt, TCCTKT hoạt động sự nghiệp và hoạt động dịch vụ kết hợp; xét trên góc độ thực hiện chức năng kế toán như TCCTKT tài chính và kế toán quản trị tách biệt, TCCTKT tài chính và kế toán quản trị kết hợp, TCCTKT kết hợp hai hình thức trên); nhân tố về vận dụng cơ
sở kế toán trong đơn vị SNCL; nhân tố về quản lý tài chính trong đơn vị SNCL Qua việc tìm hiểu và đánh giá thực trạng TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp Khoa học-Công nghệ công lập thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, tác giả đã tìm ra những nguyên nhân gây ra hạn chế trong TCCTKT, từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm giúp TCCTKT tại đơn vị đạt hiệu quả
Ma Thị Hường (2015), trong luận án Tiến sĩ “Tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam”,
Trang 24tác giả cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL bao gồm đặc điểm, phân loại đơn vị SNCL; khuôn khổ pháp lý về kế toán và quản lý tài chính; nhu cầu thông tin kế toán; hình thức tổ chức bộ máy quản lý; đặc điểm quản lý tài chính; yêu cầu của tổ chức hạch toán kế toán Thông qua đánh giá thực trạng công tác hạch toán kế toán tại đơn vị, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện
Nguyễn Quyết Thắng và Mai Thị Thu Hà (2016), trong bài viết “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh”, thông qua lược khảo tài liệu nghiên cứu được công bố tại nước ngoài và trong nước kết hợp với việc thảo luận nhóm cùng 25 chuyên gia, các tác giả đã đưa ra 6 nhân tố tác động đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm cơ sở vật chất; cơ chế chính sách; nguồn nhân lực; hệ thống kiểm tra nội bộ; tổ chức BMKT; người sử dụng thông tin Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Sau cuộc khảo sát, tác giả thu được 305 bảng trả lời hợp lệ Tiếp theo, phương pháp nghiên cứu định lượng (thống kê mô tả; thống kê so sánh; đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá; phân tích hồi quy) được các tác giả đưa vào nhằm khẳng định kết quả định tính Kết quả nghiên cứu định lượng đã khẳng định 6 nhân tố có ảnh hưởng đến TCCTKT tại các CSYT công lập trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh bao gồm cơ sở vật chất; nguồn nhân lực; người sử dụng thông tin kế toán; hệ thống kiểm tra nội bộ; tổ chức BMKT; cơ chế chính sách
Theo Lê Thị Thanh Hương (2012), TCCTKT là tổ chức BMKT và tổ chức HTTTKT trong một đơn vị, trên cơ sở thực hiện đầy đủ các nguyên tắc kế toán nhằm thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin tài chính trung thực, kịp thời, đầy đủ, hiệu quả Do đó, trong luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các trường đại học công lập ở Việt Nam”, Tô Hồng Thiên (2017) cho rằng các tiêu chí để đánh giá tổ chức HTTTKT tại các trường đại học công lập (ĐHCL) Việt Nam là phải tuân thủ theo các yêu cầu về tổ chức hệ thống CTKT,
hệ thống TKKT, hệ thống SSKT, hệ thống BCTC và các yêu cầu về lưu trữ dữ liệu,
Trang 25thông tin của Luật Kế toán Việt Nam cũng như chế độ kế toán (CĐKT) của đơn vị HCSN Phương pháp Cronbach’s Alpha được sử dụng nhằm đánh giá độ tin cậy của các thang đo; thực hiện phân tích EFA để tìm ra nhân tố khám phá; phân tích tương quan và hồi quy nhằm tìm ra những nhân tố có tác động đáng kể đến tổ chức HTTTKT tại các trường ĐHCL ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy 4 nhân tố có mức độ ảnh hưởng đáng kể với mức độ giảm dần gồm nhà quản lý kế toán; hệ thống văn bản pháp quy (VBPQ); CNTT; Ban Giám hiệu (với mức độ ảnh hưởng giảm dần) Nghiên cứu là kênh tham khảo rất có giá trị về mặt nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phạm Ngọc Toàn và Nguyễn Lan Anh (2017), trong bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán tại các trường đại học trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn”, các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với số mẫu khảo sát là 227 mẫu Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, các nhân tố bao gồm khuôn khổ pháp lý kế toán; nhu cầu sử dụng thông tin kế toán; quy
mô đơn vị; hệ thống KSNB; ứng dụng CNTT; nguồn nhân lực kế toán có mối quan
hệ cùng chiều với TCCTKT tại các trường đại học trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp đối với các trường đại học trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hoàn thiện TCCTKT tại các đơn vị này
Ngô Anh Tuấn (2017), trong luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các học viện thuộc Bộ Quốc phòng”, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp giữa các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp cho nghiên cứu và tổng hợp số liệu làm minh chứng cho các đánh giá và tổng kết của luận án Theo tác giả, các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL bao gồm đặc điểm hoạt động của đơn vị SNCL; khuôn khổ pháp
lý về hoạt động quản lý tài chính, kế toán trong đơn vị SNCL; yêu cầu thông tin kế toán trong đơn vị SNCL; công tác quản lý tài chính trong đơn vị SNCL; tính bảo mật cao tại các học viện thuộc Bộ Quốc phòng Đồng thời, tác giả đã thực hiện những đánh giá khách quan về thực trạng TCCTKT tại các học viện thuộc Bộ Quốc Phòng,
Trang 26chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện
Trần Viết Hùng (2018), trong luận án Tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán tại các viện nghiên cứu thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước”, tác giả đã tiến hành nghiên cứu TCCTKT tại các viện nghiên cứu thuộc các Tập đoàn kinh tế Nhà nước từ năm
2012 đến 2016 Kết quả nghiên cứu đã khẳng định các nhân tố chi phối đến TCCTKT tại các viện nghiên cứu của Tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam bao gồm cơ sở kế toán và sự lựa chọn cơ sở kế toán áp dụng; đặc thù hoạt động của đơn vị sự nghiệp;
sự lựa chọn chính sách kế toán; yêu cầu quản trị của đơn vị sự nghiệp; trình độ, trang
bị CNTT Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện TCCTKT tại loại hình đơn vị này Dù phạm vi nghiên cứu của luận án là các đơn vị SNCL tự chủ
về tài chính, nghiên cứu là kênh tham khảo có rất có giá trị về nội dung và cơ sở lý luận
Ngoài những công trình nghiên cứu được trình bày, vấn đề TCCTKT trong các đơn vị SNCL cũng được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và trình bày trong các bài viết đăng tải trên tạp chí chuyên ngành và trong luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ
Tổng hợp các công trình nghiên cứu công bố trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT (Xem Phụ Lục 1.01)
Các nghiên cứu về TCCTKT nói chung và TCCTKT trong các đơn vị SNCL nói riêng đã có sự kế thừa và phát triển khá dài Các công trình này tập trung theo các hướng nghiên cứu sau đây:
Thông qua tìm hiểu; phân tích; đánh giá thực trạng công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị SNCL, tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể cho những hạn chế trong công tác kế toán còn tồn tại ở đơn vị như công trình nghiên cứu của Bùi Thị Yến Linh (2014); Ma Thị Hường (2015); Nguyễn Thế Ích (2015); Ngô Anh Tuấn (2017); Trần Viết Hùng (2018) Bên cạnh đó, các nhân tố được cho rằng có ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL cũng đã được các tác giả trình bày, phân tích
Trang 27Bên cạnh đó, một số tác giả đã thực hiện đo lường các nhân tố này bằng những phương pháp kiểm định thích hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố có mức
độ ảnh hưởng đáng kể đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp bao gồm nguồn nhân lực (Nguyễn Quyết Thắng và Mai Thị Thu Hà, 2016; Phạm Ngọc Toàn và Nguyễn Lan Anh, 2017); hệ thống KSNB (hệ thống kiểm tra nội bộ) (Nguyễn Quyết Thắng
và Mai Thị Thu Hà, 2016; Phạm Ngọc Toàn và Nguyễn Lan Anh, 2017); khung pháp
lý kế toán và ứng dụng CNTT (Phạm Ngọc Toàn và Nguyễn Lan Anh, 2017); cơ chế chính sách (Nguyễn Quyết Thắng và Mai Thị Thu Hà, 2016);…
Đồng thời, các nhân tố khung pháp lý kế toán và ứng dụng CNTT còn là những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức HTTTKT tại các trường ĐHCL tại Việt Nam theo nghiên cứu của Tô Hồng Thiên (2017) Ngoài ra, trong nghiên cứu này, nhân tố Ban Giám hiệu (nhà quản lý đối với đơn vị SNCL) và nhà quản lý kế toán cũng là những nhân tố có mức độ ảnh hưởng đáng kể
1.3 Khe hổng nghiên cứu
1.3.1 Đóng góp của các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu được công bố trên thế giới chủ yếu đã trình bày thực trạng, những hạn chế, rào cản khi các nước trên thế giới thực hiện cải cách đổi mới kế toán công, các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của cơ sở kế toán dồn tích, chuẩn mực kế toán công quốc tế Bên cạnh đó, tác giả đã xây dựng nên những mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách hệ thống của KTC
Tại Việt Nam, công tác tổ chức kế toán tại các đơn vị SNCL ngày càng được quan tâm vì không những đảm bảo cho việc thu nhận, hệ thống hoá thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế, tài chính mà còn giúp đơn vị quản lý chặt chẽ tài sản của đơn vị, ngăn ngừa những hành vi làm tổn hại đến tài sản của đơn vị Do đó, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung này được tiến hành thực hiện.Thông qua nghiên cứu, các nhân tố được xác định là có ảnh hưởng đến TCCTKT tại đơn vị SNCL khá đa dạng và phong phú
Trang 28tùy vào lĩnh vực hoạt động của đơn vị; thời điểm thực hiện nghiên cứu; cách thức tiếp cận và dữ liệu thu thập
1.3.2 Hạn chế của các nghiên cứu trước
Tuy nhiên các nghiên cứu lại được thực hiện ở mỗi quốc gia khác nhau về hệ
thống chính trị, hệ thống pháp lý, đặc điểm nền văn hóa và trình độ phát triển Kế toán KVC là lĩnh vực rộng bao gồm nhiều đơn vị loại hình hoạt động với những đặc điểm khác nhau, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu vào tìm hiểu chi tiết kế toán của từng đơn vị cụ thể thuộc Chính phủ
Các công trình nghiên cứu trong nước, tập trung vào các vấn đề hoàn thiện TCCTKT dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng TCCTKT tại một số đơn vị SNCL nhất định mà chưa đi sâu vào đo lường mức độ tác động của các nhân tố này đến TCCTKT tại đơn vị thông qua phương pháp kiểm định thích hợp Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu được sử dụng phổ biến là phương pháp thống kê, so sánh, phân tích Vì thế, kết quả mà nghiên cứu đưa ra chưa mang tính thuyết phục cao
Một vài công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn
vị SNCL đã sử dụng phương pháp định lượng để phân tích Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ thực hiện đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tác động đến TCCTKT mà chưa đi sâu vào việc kiểm định liệu các nhân tố có ảnh hưởng đến từng nội dung công tác kế toán (Tổ chức hệ thống CTKT; Tổ chức hệ thống TKKT; Tổ chức hệ thống SSKT; Tổ chức hệ thống BCTC;…) hay không để đi đến kết luận các nhân tố này có ảnh hưởng đến TCCTKT tại đơn vị
Chính những điều này đã tạo ra một khoảng trống trong nghiên cứu về các nhân
tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp GDCL
1.3.3 Định hướng của nghiên cứu này
Do đó, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là một vấn đề cần được thực hiện nhằm điền vào khoảng trống nói trên Vì kết quả nghiên cứu sẽ giúp tác giả có cơ sở vững
Trang 29chắc cho việc đề xuất một số hàm ý, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL tại địa phương này Do đó, hướng nghiên cứu của tác giả đối với vấn đề này như sau:
- Xác định các tiêu chí đánh giá TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long dựa trên nền tảng các quy định, yêu cầu trong Luật kế toán, CĐKT áp dụng cho các đơn vị HCSN kết hợp với kết quả nghiên cứu từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến TCCTKT
- Xác định các nhân tố tác động đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
- Kiểm định, đo lường mức độ tác động của các nhân tố này đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các công trình nghiên cứu được công bố tại nước ngoài đều hướng đến việc trình bày các nguyên tắc chung và hướng dẫn việc thực hiện các công việc có liên quan đến công tác kế toán Bên cạnh đó, các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển
Thông qua kết quả nghiên cứu tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trong nước có liên quan đến TCCTKT, số lượng nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê; phân tích; so sánh trong nghiên cứu về TCCTKT tại các đơn vị SNCL chiếm một số lượng đáng kể, từ đó, dẫn đến việc kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL chưa mang tính thuyết phục cao Nhận thức được điều đó, một số nhà nghiên cứu đã thực hiện đo lường, kiểm định mức độ tác động của các nhân tố đến TCCTKT tại đơn vị SNCL, tuy nhiên, số lượng nghiên cứu theo xu hướng này còn khá hạn chế Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cũng chưa thực hiện kiểm định liệu các nhân tố có ảnh hưởng đến từng nội dung công việc trong TCCTKT (Tổ chức hệ thống CTKT; Tổ chức hệ thống TKKT;
Tổ chức hệ thống SSKT;…) hay không Thực trạng trên cho thấy, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến TCCTKT tại các đơn vị SNCL vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và là một nội dung cần được thực hiện nghiên cứu bổ sung và phát triển Do
đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là một vấn đề cần được thực hiện
Trang 31CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Mục tiêu của chương là trình bày các khái niệm có liên quan đến đơn vị SNCL; TCCTKT và tổng quan các cơ sở lý thuyết được sử dụng để biện giải mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT và TCCTKT tại các đơn vị sự nghiệp GDCL Việc trình bày các khái niệm giúp làm rõ quan điểm về TCCTKT, từ đó tạo tiền đề cho việc xây dựng các tiêu chí đánh giá TCCTKT Bên cạnh đó, cơ sở lý thuyết còn giúp tác giả nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến TCCTKT và hình thành
ý tưởng cho các bước nghiên cứu tiếp theo trong các chương sau
2.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp GDCL
2.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp GDCL
Đơn vị sự nghiệp GDCL do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện hoạt động giáo dục và đào tạo nhằm cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục
và đào tạo Do hoạt động mang tính phục vụ để thực hiện các chức năng của Nhà nước là chủ yếu nên nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị này chủ yếu do NSNN cấp Ngoài ra, gắn với chức năng hoạt động, các đơn vị này được Nhà nước cho phép thu để trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí (thường xuyên) không vì mục đích lợi nhuận
2.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp GDCL
- Hoạt động của đơn vị sự nghiệp GDCL mang tính định hướng của Nhà nước
trong từng thời kỳ, đặc biệt đối với hoạt động đào tạo
- Đơn vị sự nghiệp GDCL cung ứng các dịch vụ công đặc biệt, vì sản phẩm của
nó là tri thức
- Đơn vị sự nghiệp GDCL sử dụng chính con người để giáo dục và đào tạo con
người
- Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp GDCL mang tính kết nối giữa
gia đình, nhà trường và xã hội
- Năm học không trùng với năm ngân sách
Trang 322.1.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp GDCL
- Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục đã có những đóng góp to lớn đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, thực hiện bình đẳng giới, nâng cao sức khỏe nhân dân, đảm bảo công bằng
xã hội, góp phần vào phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Hệ thống các đơn vị sự nghiệp GDCL với đông đảo đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và các nhà văn hóa đã đóng góp đáng kể thông qua
đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh
tế xã hội của đất nước
- Các khoản phí và lệ phí do các đơn vị sự nghiệp GDCL thu theo quy định của Nhà nước đã góp phần củng cố và tăng cường nguồn lực cho NSNN, cân bằng thu chi và ổn định kinh tế
2.1.4 Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp GDCL
- Cơ chế tạo lập nguồn thu tài chính:
❖ Đơn vị sự nghiệp không thụ hưởng NSNN
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp không thụ hưởng NSNN được hình thành từ hai nguồn bao gồm nguồn tài chính do các doanh nghiệp (DN), tập đoàn
và nguồn tài chính từ bên ngoài Nguồn tài chính do các DN, tổ chức kinh tế cấp cho đơn vị theo hình thức tài trợ toàn bộ kinh phí xây dựng ban đầu; tài trợ một phần hoặc không tài trợ các khoản chi thường xuyên tại đơn vị Mức độ cấp kinh phí phụ thuộc vào mức độ thực hiện nhiệm vụ, hoạt động sự nghiệp tại đơn vị Nguồn tài chính từ bên ngoài chính là các nguồn thu của đơn vị thông qua thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ theo chức năng; thu từ việc cho thuê (căn tin; bãi giữ xe;…); nhận biếu tặng từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;…
Việc quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp không thụ hưởng NSNN tuân thủ theo quy chế của các DN, tập đoàn đã thành lập nên các đơn vị này và trên
Trang 33cơ sở đảm bảo các nguyên tắc bao gồm tuân thủ pháp luật; tập trung dân chủ; an toàn; phòng ngừa rủi ro; công khai, minh bạch và hiệu quả
❖ Đơn vị sự nghiệp thụ hưởng NSNN
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp thụ hưởng NSNN bao gồm nguồn kinh phí do ngân sách cấp và nguồn tài chính ngoài ngân sách Nguồn tài chính
do ngân sách cấp phụ thuộc vào loại hình đơn vị sự nghiệp; khả năng ngân sách và mức độ tự chủ của đơn vị Trong điều kiện tự chủ tài chính, nguồn tài chính từ ngân sách cấp cho đơn vị có thể được phân chia theo hai hình thức như sau Nhà nước tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, chi đầu tư phát triển và một phần chi thường xuyên hoặc Nhà nước tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu và chi đầu tư phát triển, không tài trợ chi thường xuyên
Nguồn tài chính ngoài ngân sách được hình thành từ những khoản thu ngoài ngân sách thông qua việc tận dụng cơ sở vật chất hiện có tại đơn vị (như cho thuê phòng học, hội trường;…)
Thẩm quyền quyết định nguồn tài chính của đơn vị thường được giao cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp, Nhà nước chỉ quy định các nguyên tắc quản lý và thực hiện kiểm soát thông qua cơ chế lập dự toán, thực hiện dự toán và quyết toán ngân sách
- Cơ chế phân phối và sử dụng nguồn tài chính tại đơn vị:
❖ Đơn vị sự nghiệp không thụ hưởng NSNN
Việc sử dụng, phân phối nguồn tài chính được thực hiện theo quy định của Luật DN Người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, kiểm soát mọi hoạt động tại đơn vị như xây dựng, ban hành quy chế quản lý nội bộ; tổ chức BMKT…
❖ Đơn vị sự nghiệp thụ hưởng NSNN
Trang 34Đối với nguồn tài chính thuộc NSNN: thẩm quyền quyết định các khoản chi tiêu từ nguồn này phụ thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp và cơ chế quản lý ngân sách
Đối với nguồn tài chính ngoài NSNN: thẩm quyền quyết định các khoản chi tiêu cũng dựa trên cơ sở mức độ tự chủ tài chính mà Nhà nước quy định Người đứng đầu đơn vị quyết định các khoản chi và mức chi trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật và các nguyên tắc bao gồm đảm bảo tính dân chủ; công khai, minh bạch, hiệu quả và tuân thủ tỷ lệ chi hoặc khung các khoản chi được quy định bởi cơ quan Nhà nước
2.2 Tổng quan về TCCTKT
2.2.1 Các quan điểm về TCCTKT
KTC là một bộ phận quan trọng của hệ thống kế toán vì đây là công cụ phục
vụ cho quá trình quản lý NSNN và kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế - tài chính của Nhà nước, chứng minh cho việc chấp hành chế độ sử dụng NSNN của các đơn
vị HCSN (Nguyễn Thị Hằng, 2016) Do đó, để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý đắc lực, vấn đề TCCTKT khoa học và hợp lý là một trong những tiền đề tiên quyết của các đơn vị (Nguyễn Thị Hải Ly, 2016) Vì vậy, để vận dụng tốt công tác
tổ chức kế toán tại các đơn vị SNCL, việc tìm hiểu khái niệm, nguyên tắc và nội dung TCCTKT là một điều cần thiết
Tuy nhiên, khái niệm, thuật ngữ và nội dung của TCCTKT đã được sử dụng nhiều nhưng đến nay vẫn chưa thực sự thống nhất trong quá trình triển khai áp dụng
và vẫn có nhiều cách tiếp cận và luận giải khác nhau về TCCTKT (Phùng Thị Bích Hòa, 2014)
TCCTKT là tổ chức BMKT và tổ chức HTTTKT tại đơn vị, trên cơ sở thực hiện đầy đủ các NTKT để thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin tài chính trung thực, kịp thời, đầy đủ và hiệu quả (Lê Thị Thanh Hương, 2012)
Khác với nhận định trên, TCCTKT được hiểu theo một khía cạnh khác là tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trên cơ sở hiểu biết về kế toán,
Trang 35các qui định của pháp luật kế toán, pháp luật khác có liên quan, quy mô, đặc điểm và yêu cầu quản lý của đơn vị (Bùi Thị Yến Linh, 2014)
TCCTKT là việc gắn kết giữa các công việc kế toán, giữa bộ phận người làm
kế toán trong đơn vị nhằm thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin KTTC một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả cao nhất (Nguyễn Thế Ích, 2015)
Từ những quan điểm về TCCTKT của các tác giả trên, tác giả cho rằng TCCTKT trong các đơn vị sự nghiệp GDCL sử dụng NSĐP có thể được hiểu là một
hệ thống do nhiều yếu tố cấu thành bao gồm Tổ chức hệ thống CTKT; Tổ chức hệ thống TKKT; Tổ chức hệ thống SSKT; Tổ chức BMKT; Tổ chức hệ thống BCTC (BCTC và BCQT); Tổ chức KKTS, bảo quản và lưu trữ TLKT; Tổ chức kiểm tra kế toán (KTKT) có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu liên kết các KTV thực hiện tốt TCCTKT và áp dụng các NTKT, PPKT nhằm cung cấp các thông
tin kinh tế tài chính hữu ích phục vụ công tác quản lý tại đơn vị
2.2.2 Yêu cầu đối với TCCTKT
Vì thế, việc tổ chức tốt công tác kế toán là một công việc vô cùng quan trọng vì
mục tiêu của TCCTKT là cung cấp được thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng Trong các đơn vị SNCL, việc tổ chức tốt công tác kế toán sẽ đảm bảo ghi chép, theo dõi, phản ánh và giám sát chặt chẽ các loại tài sản, nguồn kinh phí của đơn vị, giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nguồn kinh phí trong các đơn vị; tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị SNCL có được BMKT gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của BMKT (Nguyễn Thị Hải Ly, 2016) Do đó, TCCTKT cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- TCCTKT tại các đơn vị SNCL cần chấp hành đúng các nguyên tắc tổ chức, phù hợp với các chính sách; chế độ; thể lệ quy chế tài chính kế toán hiện hành và biên chế đội ngũ và khả năng trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên kế toán hiện có Ngoài
ra, công tác kế toán của đơn vị cần tổ chức sao cho phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý và đặc điểm hoạt động của đơn vị
Trang 36- TCCTKT cần thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ kế toán trong đơn vị như thu nhận, xử lý, kiểm tra và cung cấp thông tin kế toán phát sinh tại đơn vị
- Đồng thời, đơn vị cần thực hiện TCCTKT theo hướng tiết kiệm chi phí hạch toán nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc
Do đó, để đạt được những yêu cầu trên, TCCTKT tại đơn vị SNCL cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định
2.2.3 Nguyên tắc cần tuân thủ trong TCCTKT
- TCCTKT trong đơn vị phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu tổ chức của chính đơn vị và cơ quan chủ quản
- TCCTKT cần hướng đến việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm để kế toán có thể trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong công tác quản lý tài chính tại đơn
vị
- TCCTKT trong đơn vị cần thống nhất trong thực hiện nội dung và phương pháp hạch toán, kỳ kế toán và niên độ kế toán
2.2.4 Nội dung của công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp GDCL
TCCTKT trong đơn vị sự nghiệp GDCL phải tuân thủ theo quy định của Luật
Kế toán Việt Nam số 88/2015/QH 13 (Dương Hồng Cúc và Lê Đoàn Minh Đức, 2018) và bao gồm những nội dung sau: Tổ chức hệ thống CTKT; Tổ chức hệ thống TKKT; Tổ chức hệ thống SSKT; Tổ chức hệ thống BCTC; Tổ chức KTKT; Tổ chức KKTS, bảo quản và lưu trữ TLKT; Tổ chức BMKT và TCCTKT trong điều kiện ứng dụng CNTT
2.2.4.1 Tổ chức hệ thống CTKT
CTKT là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán (Luật Kế toán Việt Nam, 2015; Trần Thị Thu, 2018) Tổ chức hệ thống CTKT là khởi điểm của TCCTKT và xây dựng hệ thống KSNB của đơn vị (Trương Huyền Minh, 2017) vì đây chính là công việc tổ chức thu nhận thông tin về nội dung các nghiệp vụ, giao dịch kinh tế tài chính
Trang 37phát sinh ở đơn vị và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ và giao dịch
đó (Bùi Thị Yến Linh, 2014) phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và tổng hợp kế toán (Phan Thị Thu Mai, 2012)
Do đó, các đơn vị SNCL cần căn cứ vào các quy định trong hệ thống VBPQ của Nhà nước, đặc điểm hoạt động và đặc điểm quản lý của đơn vị để thực hiện tổ chức hệ thống CTKT phù hợp Việc tuân thủ tốt chế độ CTKT sẽ giúp dữ liệu đầu vào của kế toán hợp lý, hợp lệ; góp một phần vào tính tin cậy của thông tin kế toán (Trần Đình Khôi Nguyên, 2013)
2.2.4.2 Tổ chức hệ thống TKKT
TKKT dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế (Luật Kế toán Việt Nam, 2015) TKKT trong đơn vị HCSN được dùng để phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình về tài sản, tiếp nhận
và sử dụng nguồn kinh phí do NSNN cấp và các nguồn kinh phí khác; tình hình thu, chi hoạt động, kết quả hoạt động; các khoản khác ở các đơn vị HCSN (Thông tư 107/2017/TT-BTC)
Tổ chức hệ thống TKKT là quá trình thiết lập một hệ thống TKKT trên cơ sở đối tượng kế toán (Nguyễn Thế Ích, 2015; Hoàng Thị Phương Lan, 2017) phù hợp với nhu cầu quản lý nhất định (Lê Kim Ngọc, 2009) nhằm cung cấp các thông tin về tài sản, nguồn kinh phí, sử dụng nguồn kinh phí và quá trình hoạt động của đơn vị (Nguyễn Thế Ích, 2015)
2.2.4.3 Tổ chức hệ thống SSKT
SSKT dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ nghiệp vụ kinh tế, tài chính
đã phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam, 2015) Mọi số liệu được ghi nhận trong SSKT phải được chứng minh bởi chứng từ hợp pháp, hợp
lý Xét về mặt lý thuyết, sổ kế toán là biểu hiện vật chất của phương pháp tài khoản
và ghi chép trên sổ kế toán là sự thể hiện nguyên lý của phương pháp ghi kép Hình thức kế toán (HTKT) là các mẫu sổ kế toán, trình tự, phương pháp ghi sổ và mối liên quan giữa các sổ kế toán (Luật Kế toán Việt Nam, 2015)
Trang 38Tổ chức hệ thống SSKT là việc thiết lập, xây dựng cho đơn vị một hệ thống SSKT chính thức và duy nhất theo một HTKT phù hợp với đặc điểm của đơn vị hay chính là việc kết hợp các loại sổ có kết cấu khác nhau theo một trình tự ghi sổ nhất định (Hoàng Thị Phương Lan, 2017) nhằm hệ thống hóa một cách kịp thời; đầy đủ; trung thực; chính xác các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thu thập thông tin cần thiết cung cấp cho hoạt động quản lý (Phan Thị Thu Mai, 2012)
tư 107/2017/TT-BTC)
Đơn vị HCSN có sử dụng NSNN phải lập BCQT ngân sách đối với phần kinh phí do NSNN cấp BCQT ngân sách dùng để tổng hợp tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí NSNN của đơn vị HCSN, được trình bày chi tiết theo mục lục NSNN
để cung cấp cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và cơ quan có thẩm quyền khác Trường hợp đơn vị HCSN có phát sinh các khoản thu, chi từ nguồn khác, nếu có quy định phải quyết toán như nguồn NSNN cấp với cơ quan có thẩm quyền thì phải lập BCQT đối với các nguồn này (Thông tư 107/2017/TT-BTC)
2.2.4.5 Tổ chức KTKT
KTKT là một trong những công cụ hết sức quan trọng (Lê Kim Ngọc, 2009;
Phan Thị Thu Mai, 2012; Nguyễn Thị Hải Ly, 2016; Nguyễn Đức Thọ và Lê Thế Tuyên, 2017; Dương Hồng Cúc và Lê Đoàn Minh Đức, 2018) không thể thiếu trong TCCTKT (Nguyễn Thế Ích, 2015; Hoàng Thị Phương Lan, 2017) KTKT là việc xem
Trang 39xét, đánh giá tuân thủ pháp luật về kế toán; sự trung thực, chính xác của thông tin, số liệu kế toán (Luật Kế toán Việt Nam, 2015); kiểm tra việc thực hiện tổ chức chỉ đạo TCCTKT trong đơn vị (Bùi Thị Yến Linh, 2014); tính hợp lý của các phương pháp
kế toán mà đơn vị đang áp dụng (Ngô Anh Tuấn và Trần Thị Nhung, 2017) Ngoài
ra, việc KTKT còn nhằm đánh giá tình hình chấp hành dự toán ngân sách (Nguyễn Đức Quý, 2017) và hiệu quả chi tiêu NSNN trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao (Nguyễn Thị Minh Phương, 2014; Dương Hồng Cúc và Lê Đoàn Minh Đức, 2018) nhằm ngăn chặn kịp thời những hạn chế và sai sót trong TCCTKT, công tác quản lý tài chính; chống những hành vi vi phạm CĐKT, tài chính (Nguyễn Thị Hải
Ly, 2016) và có biện pháp xử lý theo đúng thẩm quyền được phân cấp (Nguyễn Thế Ích, 2015; Nguyễn Đức Quý, 2017) KTKT có thể được thực hiện bởi cơ quan chức năng hoặc đơn vị tự tổ chức thực hiện KTKT (Ngô Anh Tuấn và Trần Thị Nhung, 2017)
2.2.4.6 Tổ chức KKTS, bảo quản và lưu trữ TLKT
Theo Luật Kế toán Việt Nam (2015), KKTS là việc cân, đong, đo, đếm số lượng;
xác nhận và đánh giá chất lượng, giá trị của tài sản, nguồn vốn hiện có tại thời điểm kiểm kê để kiểm tra, đối chiếu với số liệu trong sổ kế toán Việc KKTS được thực hiện tại các đơn vị kế toán trong những trường hợp sau đây (1) Cuối kỳ kế toán năm; (2) Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản hoặc bán, cho thuê; (3) Đơn vị kế toán được chuyển đổi loại hình hoặc hình thức sở hữu; (4) Xảy ra hỏa hoạn, lũ lụt và các thiệt hại bất thường khác; (5) Đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (6) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Đơn vị kế toán phải lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê sau khi kết thúc quá trình KKTS Bên cạnh đó, đơn vị kế toán có trách nhiệm bảo quản đầy đủ, an toàn TLKT trong quá trình sử dụng và thực hiện lưu trữ TLKT theo đúng thời gian quy định và phải thực hiện các công việc theo đúng trình
tự quy định của pháp luật khi phát hiện TLKT bị mất hoặc bị hủy hoại
2.2.4.7 Tổ chức BMKT
Trang 40Tổ chức BMKT ở đơn vị được hiểu là việc tập hợp những cán bộ làm công tác
kế toán (Lê Kim Ngọc, 2009; Trần Viết Hùng, 2018) cùng với các trang thiết bị phương tiện kỹ thuật (Nguyễn Thế Ích, 2015; Trần Viết Hùng, 2018) sao cho phù hợp với quy mô hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị (Nguyễn Đức Quý, 2017) để thực hiện việc ghi chép, tính toán và xử lý các thông tin liên quan đến công tác kế toán từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, phân tích và cung cấp những thông tin các hoạt động của đơn vị (Tô Hồng Thiên, 2016; Trần Viết Hùng, 2018) Tổ chức BMKT là một trong những khâu quan trọng trong việc tổ chức thu nhận, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin của đơn vị, quyết định đến chất lượng của công tác kế toán, do đó việc lựa chọn các hình thức TCCTKT cũng có liên quan mật thiết đến việc thiết kế BMKT ở đơn vị (Nguyễn Đức Quý, 2017) Lựa chọn hình thức TCCTKT khoa học, hợp lý sẽ giúp khối lượng công việc kế toán được giảm bớt, tiết kiệm được chi phí và gia tăng hiệu quả hoạt động của đơn vị (Nguyễn Đức Quý, 2017) Do đó, để lựa chọn hình thức tổ chức BMKT phù hợp, đơn vị cần xem xét đặc điểm hoạt động (Nguyễn Đức Quý, 2017); địa bàn hoạt động; cơ sở hạ tầng; trình độ quản lý cũng như trình độ chuyên môn của BMKT tại đơn vị (Nguyễn Thị Minh Phương, 2014) Một trong ba mô hình tổ chức BMKT mà các đơn vị có thể cân nhắc để chọn lựa chính là (1) Mô hình tổ chức BMKT tập trung; (2) Mô hình tổ chức BMKT phân tán; (3) Mô hình tổ chức BMKT vừa tập trung vừa phân tán (Nguyễn Thị Minh Phương, 2014; Đặng Thùy Giang, 2017; Nguyễn Đức Quý, 2017)
2.2.4.8 TCCTKT trong điều kiện ứng dụng CNTT
Ứng dụng CNTT vào công tác kế toán trong các đơn vị SNCL là việc áp dụng
phần mềm kế toán (PMKT) để xử lý các công việc kế toán một cách tự động từ khâu nhập chứng từ; tổng hợp số liệu; ghi sổ kế toán và cuối cùng là kết xuất báo cáo (Nguyễn Đăng Huy, 2010; Nguyễn Thế Ích, 2015) Việc ứng dụng CNTT vào TCCTKT sẽ giảm bớt khối lượng công việc của KTV; tiết kiệm chi phí tổ chức BMKT và đảm bảo được tính chính xác của số liệu trên các BCKT (Nguyễn Đăng Huy, 2010) Để công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT được thực hiện