1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuế và tăng trưởng kinh tế phân tích trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại các quốc gia đông nam á giai đoạn 1990 2017

74 106 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các bảng Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến Bảng 4.1: Kết quả kiểm định của thuế và cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Bảng 4.2: Thuế suất các loại thuế chính tại các quốc gia

Trang 1

CHÂU THỊ HOÀNG YẾN

THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:

PHÂN TÍCH TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

GIAI ĐOẠN 1990-2017 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHÂU THỊ HOÀNG YẾN THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:

PHÂN TÍCH TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

GIAI ĐOẠN 1990-2017

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI

TP.HCM, năm 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài “THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: PHÂN TÍCH TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 1990-2017” là công

trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn trích dẫn rõ ràng và kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên cao học

Châu Thị Hoàng Yến

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu: 7

1.6 Cấu trúc luận văn 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

2.1 Các khái niệm chính 11

2.1.1 Thuế và vai trò của thuế 11

2.1.2 Phân loại thuế 12

2.2 Cở sở lý thuyết về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế 14

2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng của Keynes 14

2.2.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh 15

2.2.3 Lý thuyết cạnh tranh thuế 17

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 18

Tóm tắt chương 2 21

Trang 5

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 23

3.1 Quy trình nghiên cứu 23

3.2 Mô hình thực nghiệm 25

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp kiểm định sự độc lập của các đơn vị chéo 28

3.4.2 Phương pháp ước lượng sai số tương quan phổ biến động (Dynamic Common Correlated Effects) 29

3.4.3 Phương pháp hồi quy điều chỉnh sai số 29

Tóm tắt chương 3 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Kiểm động thuế và cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế 32

4.2 Kiểm định tác động của thuế và cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế 34

4.2.1 Xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á 34

4.2.2 Kiểm định tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế 43

4.3 Kiểm định tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn 45

4.3.1 Kết quả kiểm định tính dừng 46

4.3.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết 47

4.3.3 Kết quả kiểm định PMG 47

Tóm tắt chương 4 49

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 51

Trang 6

5.1 Kết luận 51 5.2 Hàm ý chính sách 53 5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Danh mục các chữ viết tắt

ADB Asian Development Bank – Ngân Hàng Phát Triển Châu Á AEC ASEAN Economic Community

DCCE Dynamic Common Correlated Effects

FEM Fix Effects Method

NSNN Ngân sách nhà nước

PMG Pooled Mean Group

PPP Public-Private Partnerships – Hợp tác công tư

PWT Penn World Table

REM Random Effects Method

Trang 9

Danh mục các bảng

Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến

Bảng 4.1: Kết quả kiểm định của thuế và cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Bảng 4.2: Thuế suất các loại thuế chính tại các quốc gia Đông Nam Á năm 2016 Bảng 4.3: Kết quả kiểm định các đơn vị chéo độc lập của biến số thu thuế

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định tác động của thuế và cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong những thập niên gần đây, tác động kinh tế của thuế trở thành đề tài nhận được nhiều quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay Cùng với chi tiêu công, thuế là một công cụ chính yếu của của chính sách Theo

lý thuyết tài chính công hiện đại, thuế không chỉ có vai trò cơ bản là huy động nguồn lực đáp ứng nhu cầu chi tiêu công (chi thường xuyên và đầu tư công) mà còn là công cụ quan trọng của chính sách tài khóa, giúp chính phủ can thiệp vào nền kinh tế, hướng đến các mục tiêu phát triển như tăng trưởng kinh tế (Thành & Hoài, 2009) Tuy nhiên, lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy, tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều tranh luận

Theo đó, lý do tác giả tiếp cận đề tài nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu Ở một phương diện, bối cảnh thực tiễn cho thấy tác động kinh

tế của thuế rất cần được nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á Các quốc gia Đông Nam Á đang tích cực hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới mà bước ngoặt lớn là việc hình thành cộng đồng kinh tế chung ASEAN Economic Community (AEC) Tuy nhiên, mặc dù hướng đến thành lập một cộng đồng chung song các quốc gia thành viên lại đang duy trì các chính sách thuế có nhiều khác biệt (Thanh & cộng sự, 2014) Số liệu thực tế cho thấy, các quốc gia này đang có xu hướng cắt giảm thuế suất, thực hiện nhiều

ưu đãi thuế nhằm thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (IMF, 2017) Điều này đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho những quốc gia thành viên có mức chi tiêu công cao như Việt Nam

Ở một phương diện khác, lược khảo các nghiên cứu trước chỉ ra, tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế được lý giải theo nhiều hướng khác nhau và kết quả kiểm định cũng chưa rõ ràng và thống nhất

Trang 11

tăng lên của thuế giúp mở rộng nguồn tài trợ cho chi tiêu công, qua đó tạo động lực phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nhiều hơn các hàng hóa, dịch vụ công hỗ trợ sản xuất (Modica & cộng sự, 2018; Yanıkkaya & Turan, 2017) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng, mức thuế suất thấp sẽ khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng và tạo việc làm (Afonso & Furceri, 2010; Macek, 2014) Trong khi đó, xét trên phương diện quốc tế, lý thuyết cạnh tranh thuế chỉ ra, số thu thuế của các quốc gia không độc lập mà tương tác lẫn nhau (Arachi & cộng sự, 2015; Edwards & Mitchell, 2008; Thanh & cộng sự, 2014) Theo Edwards & Mitchell (2008), do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia, một bộ

phận người nộp thuế sẽ thực hiện “Voted by their feet” – “bỏ phiếu bằng chân” Nghĩa

là, các nhà đầu tư sẽ dịch chuyển vốn từ cộng đồng có thuế suất cao sang cộng đồng có

thuế suất thấp hơn để nhận được phần lợi nhuận sau thuế là lớn nhất Kết quả của quá trình này là chính sách thuế của quốc gia này sẽ tác động số thu thuế của các quốc gia khác và ngược lại Vì vậy, tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế cần được xem xét trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay

Về các nghiên cứu thực nghiệm, kết quả kiểm định về tác động động này vẫn chưa

rõ ràng và thống nhất Một cách khái quát, lược khảo nghiên cứu chỉ ra 3 nguyên nhân chính dẫn đến kêt quả kiểm định hỗn hợp này Thứ nhất, cấu trúc thuế chưa được nhiều nghiên cứu chú trọng phân tích (Acosta‐Ormaechea & cộng sự, 2012; Arnold & cộng sự, 2011) Lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy, đề tài về cấu trúc thuế thường được phân tích tại các quốc gia phát triển bởi sự sẵn có của dữ liệu (Arnold & cộng sự, 2011; Baiardi & cộng sự, 2017; McNabb & LeMay-Boucher, 2014) Trong khi đó, các nghiên cứu với trường hợp các quốc gia đang phát triển thường chỉ dừng lại ở số thu thuế tổng thể do những thách thức về dữ liệu (Gbato, 2017; Tanzi, 2000) Thứ hai, các nghiên cứu thực nghiệm vẫn chưa rõ ràng và thống nhất bởi sự khác biệt về phương pháp kiểm định Một số học giả nhận định, phương pháp kiểm định thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước là các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với giả định phổ biến là các đơn vị

Trang 12

chéo độc lập, hàm ý chính sách thuế của quốc gia này không ảnh hưởng đến các quốc gia khác và ngược lại (Arachi & cộng sự, 2015; Xing, 2012) Hay nói cách khác, các nghiên cứu này thường bỏ qua sự tương tác về chính sách thuế, hay cụ thể hơn là sự cạnh tranh thuế, giữa các quốc gia phân tích Tuy nhiên, điều này rất khó xảy ra trong thực tế, cụ thể

là đối với trường hợp nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á Vì vậy, giả định này có thể làm chệch đi kết quả kiểm định về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiền cứu này (Arachi & cộng sự, 2015) Trong khi đó, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra sự cần thiết của việc phân tích chi tiết tác động ngắn hạn và dài hạn của thuế đối với tăng trưởng kinh tế (Arnold & cộng sự, 2011; Atems, 2015; Ojede & Yamarik, 2012) Như Arnold & cộng sự (2011) nhận định, việc thiết kế chính sách thuế sao cho vừa đạt được mục tiêu thúc đẩy tốc độ phục hồi của nền kinh tế trong ngắn hạn (sau giai đoạn khủng hoảng) vừa tạo động lực cho tăng trưởng trong dài hạn là nhiệm vụ rất thách thức bởi phục hồi nền kinh tế trong ngắn hạn đòi hỏi gia tăng tổng cầu còn tăng trưởng trong dài hạn đòi hỏi cần gia tăng trong tổng cung trong nền kinh tế Theo đó, tác động kinh tế của thuế trong ngắn và dàn hạn có nhiều khác biệt

Chính vì những lý do trên, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Thuế và tăng trưởng kinh tế: phân tích trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam

Á giai đoạn 1990-2017” Việc phân tích cấu trúc thuế và sử dụng các phương pháp ước

lượng khác nhau nhằm kiểm định tính vững của tác động kinh tế của thuế là điểm thú vị của luận văn Từ kết quả kiểm định, tác giả rút ra các hàm ý chính sách nhằm cải thiện nguồn thu thuế trong bối cảnh hội nhập hiện nay tại các quốc gia Đông Nam Á nói chung

và Việt Nam nói riêng

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu khái quát của luận văn là đánh giá tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần trên, lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế vẫn còn chưa rõ ràng bởi ba vấn đề (cấu trúc thuế, xu hướng cạnh tranh thuế và

Trang 13

phải làm rõ như sau:

(1) Tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á

giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

(2) Tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại các

quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

(3) Liệu có sự khác biệt về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và

dài hạn tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017?

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là mối quan hệ giữa thuế, cấu trúc thuế

và và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia gia Đông Nam Á Ngoài ra, các mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến kiểm soát khác như vốn đầu tư, vốn con người, tỷ lệ tăng dân số cũng là mối quan tâm của đề tài

Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Do sự sẵn có của dữ liệu, tác giả tập trung phân tích mối quan hệ giữa thuế, cấu trúc thuế và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2017

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả tiến hành một quy trình phân tích và kiểm định để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, như sau:

(1) Để xem xét tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia

Đông Nam Á, bên cạnh số thu thuế tổng thể, tác giả đánh giá sự thay đổi tỷ trọng của hai

loại thuế chính (thuế thu nhập và thuế tiêu dùng) trong tổng nguồn thu từ thuế tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiên cứu này Theo đó, tương tự Arnold & cộng sự (2011) và Acosta‐Ormaechea & cộng sự (2012), tác giả thiết lập mô hình thực nghiệm về tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990 – 2017 Mô hình thực nghiệm có dạng như sau:

Trang 14

Trong đó, i ~ i.i.d (0, ση ) ; εit ~ i.i.d (0, σε ) ; E(ηiεit ) = 0

t và i là chỉ số về thời gian và quốc gia

là sai phân bậc nhất của GDP bình quân đầu người, đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế, được đo lường bằng

lnyt-1 là GDP bình quân đầu người năm t-1 dạng logarit, đại diện cho GDP nội tại

lnkit là vốn đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội GDP dạng logarit, đại diện vốn đầu tư lnhcit được đo lường bằng chỉ số vốn con người dạng logarit, đại diện cho vốn con người,

popit là chỉ số tốc độ tăng dân số hằng năm, đại diện cho tốc độ tăng dân số

taxrevit là số thu thuế trên tổng sản phẩm quốc nội GDP hàng năm đại diện cho số thu thuế

taxjit là số thuế j, được đo lường bằng tỷ trọng loại thuế j trên tổng số thu từ thuế hàng năm

Tương tự các nghiên cứu trước, tác giả sử dụng các phương pháp hồi quy như phương pháp ước lượng với sai số cố định (Fixed Effects) và ngẫu nhiên (Random Effects) để làm cơ sở đối chiếu, so sánh và thảo luận kết quả kiểm định tại trường hợp nghiên cứu này

(2) Trả lời câu hỏi tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh

tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào, tác giả

tiến hành hai bước kiểm định

Trang 15

các đơn vị chéo độc lập của De Hoyos & Sarafidis (2006), tác giả đánh giá xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á Bằng số liệu thực tế, luận văn phân tích xu hướng cắt giảm thuế suất, thực hiện nhiều ưu đãi thuế tại các quốc gia Đông Nam Á Các phân tích về thuế được kết hợp với các phân tích về chi tiêu công, cán cân ngân sách và tăng trưởng kinh tế nhằm chỉ ra sự tương quan giữa chính sách cắt giảm thuế và tình hình ngân sách cũng như mục tiêu tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định giả định các đơn vị chéo độc lập của De Hoyos & Sarafidis (2006) Kết quả kiểm định từ phương pháp này không chỉ củng cố thêm bằng chứng về cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á mà còn là cơ sở để thực hiện các phương pháp ước lượng với dữ liệu bảng thích hợp

Ở bước kiểm định thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng sai số tương quan phổ biến động (Dynamic Common Correlated Effects) để ước lượng tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiên cứu này Xing (2012) và Arachi & cộng sự (2015) nhận định, các phương pháp hồi quy này thường bị chệch do giả định phổ biến là các đơn vị chéo độc lập, hàm ý chính sách thuế của quốc gia này không ảnh hưởng đến các quốc gia khác và ngược lại (Xing, 2012) Tuy nhiên, kết quả kỳ vọng ở bước đầu tiên cho thấy, điều này rất khó xảy ra trong thực tế, cụ thể là đối với trường hợp nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á Theo Ditzen (2016) và Diallo (2017), ước lượng sai số tương quan phổ biến động là phương pháp ước lượng phù hợp khi dữ liệu có hiện tượng sự không đồng nhất của tham số, các đơn vị chéo phụ thuộc và

mô hình động

(3) Xem xét sự khác biệt về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn

và dài hạn tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017, tác giả sử dụng phương

pháp ước lượng điều chỉnh sai số với dữ liệu bảng Pooled Mean Group để kiểm định tác động dài hạn và ngắn hạn của thuế, cấu trúc thuế trong trường hợp nghiên cứu này Để phù hợp với phương pháp kiểm định, mô hình thực nghiệm được điều chỉnh có dạng như sau:

Trang 16

là độ lệch từ phương trình cân bằng dài hạn ở bất kỳ thời gian nào đối với quốc gia

I với ϕ là hệ số điều chỉnh sai số

là hệ số đo lường tác động ngắn hạn của các biến độc lập

Kết quả kiểm định từ phương pháp ước lượng PMG không chỉ giúp luận văn khám phá tác động của các biến ngắn hạn và dài hạn mà còn là cơ sở để tác giả so sánh

và thảo luận về tính vững của kiểm quả kiểm định trong trường hợp nghiên cứu này

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu đáng tín cậy Cụ thể hầu hết các biến được thu thập từ Ngân hàng thế giới World bank -bộ dữ liệu World Development Indicators (WDI); chỉ số vốn con người lấy từ bộ dữ liệu Penn World Table 9.0 (PWT 9.0) của trung tâm tăng trưởng và phát triển Groningen (Groningen Growth and Development Centre) của Trường Đại Học Groningen, Hà Lan ( Groningen University)

1.5 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu:

Đóng góp về mặt lý thuyết:

Thực hiện luận văn này, tác giả kỳ vọng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm

về tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990 -2017 Bằng việc sử dụng nhiều phương pháp kiểm định khác nhau, tác

Trang 17

thêm tính vững cho kết quả kiểm định Qua đó, tác giả mong đợi luận văn có thể mang lại một giá trị tham khảo nhất định cho các nghiên cứu tiếp theo về mối quan hệ giữa cấu trúc thuế và tăng trưởng kinh tế nói chung và mối quan hệ này ở các quốc gia Đông Nam

Á nói riêng

Đóng góp về mặt thực tiễn:

Bối cảnh thực tiễn hiện nay tạo ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều khó khăn thách thức cho các quốc gia Đông Nam Á Ớ góc độ tài chính công, tác động kinh tế của thuế rất cần được nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á bởi vai trò quan trọng thuế đối với nền kinh tế, đặc biệt là trong xu hướng cạnh tranh thuế trong khu vực hiện nay Kết quả kiểm định về tác động này kì vọng sẽ mang lại một giá trị tham khảo nhất định cho các nhà làm chính sách khi hoạch định các chính sách có liên quan

1.6 Cấu trúc luận văn

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, ngoài chương tổng quan nghiên cứu, luận văn được cấu trúc thành các chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương đầu tiên của luận văn cung cấp cho người đọc các thông tin tổng quan về đề tài nghiên cứu như lý do tác giả lựa cho đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Tác giả cũng trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Nội dung chương hai trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tại nghiên cứu Trong đó, phần đầu tiên của chương diễn giải khái niệm về yếu tố chính mà đề tài quan tâm nghiên cứu là thuế, cấu trúc thuế và tăng trưởng kinh tế Phần hai lược khảo các

lý thuyết lý giải tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á Tổng quan các nghiên cứu trước cũng được trình bày ở phần cuối của chương

Trang 18

Chương 3: Mô hình thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết được trình bảy ở chương trước, tác giả đề xuất mô hình thực nghiệm thích hợp nhằm kiểm định tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh

tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 Chương ba của luận văn cũng trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu và mô tả các phương pháp nghiên cứu được ứng dụng Một cách khái quát, quy trình nghiên cứu hướng đến trả là ba câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để giải quyến các vấn đề mà câu hỏi nghiên cứu đặt ra Thống kê mô tả về dữ liệu nghiên cứu cũng được trình bày ở chương này

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Dựa vào quy trình nghiên cứu được trình bày ở chương trước, tác giả thực hiện kiểm định, phân tích và thảo luận về kết quả kiểm định về tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 Theo

đó, nội dung chương bốn trình bày kết quả kiểm định theo từng giai đoạn nghiên cứu Kết quả kiểm định được phân tích và thảo luận chi tiết trong nội dung của chương

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Từ lược khảo lý thuyết và kết quả nghiên cứu được thảo luận từ các chương trước, tác giả hình thành các đúc kết chính về đề tài nghiên cứu Theo đó, tác giả chỉ ra bằng chứng về xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á đưa ra kết luân về chiều hướng tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia này giai đoạn 1990 – 2017 Từ cơ sở này, tác giả đề xuất các hàm ý chinh sách có liên quan

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Một cách khái quát, chương hai của luận văn trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Đây sẽ là cơ sở để luận văn thiết lập mô hình thực nghiệm, thực hiện các kiểm định thực nghiệm nhằm khám phá các tác động này tại trường hợp các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-

2017

Lược khảo lý thuyết cho thấy, tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế được luận giải dựa trên nhiều nền tảng lý thuyết khác nhau Theo quan điểm tài chính công truyền thống, một chính sách thuế tốt cần có tính trung hòa, không tác động đến giao dịch kinh tế của các chủ thể trên thị trường Tuy nhiên, theo thời gian, quan điểm tài chính công hiện đại ra đời và nhận định, chính sách thuế cần được xem như một công cụ quan trọng của chính sách tài khóa, giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế mong muốn

Tuy nhiên, tác động kinh tế của thuế đến các mục tiêu phát triển kinh tế như tăng trưởng kinh tế vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều nhận định trái chiều Một số nghiên cứu nhận định, tác động kinh tế của thuế phụ thuộc vào cấu trúc thuế bởi một số loại thuế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế còn các loại thuế khác thì ngược lại

Lý thuyết cạnh tranh thuế chỉ ra sự cần thiết của việc xem xét tác động của thuế trong bối cảnh cạnh tranh thuế bởi sự tương tác của chính sách thuế giữa các quốc gia

Theo đó, nội dung chương được cấu trúc như sau: phần thứ nhất trình bày các khái niệm chính; phần thứ hai trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Đây là cơ sở để tác giả thiết lập mô hình thực nghiệm kiểm định tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á Phần cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan

Trang 20

2.1 Các khái niệm chính

2.1.1 Thuế và vai trò của thuế

Theo từ điển kinh tế của đại học Oxford1, thuế là khoản thu bắt buộc của các

tổ chức và cá nhân cho chính phủ, hình thành nên nguồn thu ngân sách để tài trợ cho các khoản chi tiêu công cộng Định nghĩa này chỉ ra hai đặc điểm quan trọng

của thuế: tính chất bắt buộc và thuế được dùng cho chi tiêu công Nghĩa là, chuyển

giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn liền với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, vì vậy, người nộp thuế không muốn nộp thuế Trong khi đó, nhà nước lại cần nguồn tài chính để duy trì bộ máy nhà nước cũng như tài trợ cho các khoản chi tiêu công cộng như trả lương cho cán bộ công chức, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp hàng hóa dịch vụ công Vì vậy, nhà nước phải dùng quyền lực nhà nước của mình, thông qua hệ thống tòa án và cảnh sát, buộc các đối tượng có thu nhập chịu thuế phải nộp thuế

Tuy nhiên, định nghĩa trên chưa giải thích vì sao nghĩa vụ thuế lại không gắn liền với lợi ích cụ thể của người nộp thuế Theo đó, Jones & cộng sự (2003) diễn

giải, ngoài hai đặc điểm trên, thuế còn mang tính chất không không hòan trả một

cách trực tiếp Nghĩa là, mức thuế mà người nộp thuế nộp cho nhà nước không dựa

trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những hàng hóa, dịch vụ công do Nhà nước cung cấp Mức độ người dân được thừa hưởng hàng hóa, dịch vụ công là tương đương nhau bởi tính chất không loại trừ và không cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ công, không căn cứ vào mức độ đóng góp thuế của người nộp thuế Vì vậy, người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp dịch vụ công trực tiếp cho mình thì mới nộp thuế Như tòa án tối cao Hoa Kỳ khẳng định: “Lợi ích duy nhất mà người nộp thuế được hưởng theo Hiến pháp là việc họ được sống trong một xã hội có tổ chức, có trật tự và an ninh, được xây dựng từ các khoản đóng góp tiền thuế” (Raabe & cộng sự, 2011)

1

Oxford Dictionary, https://en.oxforddictionaries.com/definition/tax [ truy cập ngày 09/09/2018]

Trang 21

Bên cạnh vai trò cơ bản là tạo nguồn thu tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ, thuế còn được xem là một công cụ kinh tế quan trọng, một trong hai công cụ chính yếu của chính sách tài khóa, giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế Tuy nhiên, vai trò kinh tế của thuế hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận

Theo quan điểm tài chính công truyền thống mà đại diện là nhà kinh tế học Adam Smith với lý thuyết bàn tay vô hình luận giải, các hoạt động kinh tế nên để cho khu vực tư nhân quyết định, hay khái quát hơn, chính phủ không nên can thiệp vào các hoạt động kinh tế, “Lassez-faire” – hãy để mặc thị trường (Hyman, 2014)

Do đó, một chinh sách thuế tốt cần phải có tính trung hòa (neutral), nghĩa là, chính sách thuế không tác động đến hành vi kinh tế của người nộp thuế (Jones & cộng sự, 2003)

Tuy nhiên, lịch sử kinh tế thế giới chỉ ra, bản thân nền kinh tế tự do cạnh tranh không thể mãi duy trì sự ổn định Hơn nữa, chính phủ cũng không thể giải quyết các vấn đề tài chính công một cách độc lập mà không gây ra tác động đến nền kinh tế Để thị trường phát triển ổn định, một quan điểm mới về tài chính công hình thành: cần có sự điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế Theo đó, quan điểm tài chính công hiện đại mà đại diện là nhà kinh tế học Keynes luận giải, chính sách thuế không thể chỉ là công cụ huy động nguồn lực tài trợ chi tiêu của chính phủ

mà còn phải là công cụ kinh tế giúp nhà nước can thiệp vào các hoạt động của thị trường nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế mà nhà nước đề ra (Hyman, 2014; Jones & cộng sự, 2003) Tuy nhiên, chiều hướng và mức độ tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều tranh luận

2.1.2 Phân loại thuế

Lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn kết quả kiểm định hỗn hợp và chưa thống nhất về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế là sự khác biệt về cấu trúc thuế Theo đó, thay vì nghiên cứu với các số liệu

về thuế tổng thể, các nghiên cứu xem xét tác động của cấu trúc thuế hay các loại thuế khác nhau đến tăng trưởng (Acosta‐Ormaechea & cộng sự, 2012; Arachi &

Trang 22

cộng sự, 2015; Arnold & cộng sự, 2011; Kneller & cộng sự, 1999; Xing, 2012) Tùy vào mục tiêu nghiên cứu, các thành phần chi tiêu công được phân loại theo các tiêu chí khác nhau như theo phương thức đánh thuế (thuế trực thu và thuế gián thu), theo

cơ sở đánh thuế (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản); theo phân cấp quyền đánh thuế ( Thuế liên bang, thuế tiểu bang và thuế địa phương) hay theo tác động của các loại thuế đến hoạt động kinh tế ( Thuế gây biến dạng thị trường -

“distortionary tax” và thuế không gây biến dạng thị trường “non- distortionary

tax”)

Trong đó, cách phân loại thuế thành thuế gây biến dạng thị trường và thuế không gây biến dạng thị trường là các phân loại thường được sử dụng trong nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế (Gemmell & cộng sự, 2012; Kneller & cộng sự, 1999; McNabb & LeMay-Boucher, 2014; Mendoza & cộng sự, 1997) Như Kneller & cộng sự (1999) luận giải, cách phân loại này dựa trên mức độ các khoản thuế tác động trực tiếp đến hành vi kinh tế của các chủ thể trên thị trường Thuế biến dạng thị trường là những loại thuế ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các chủ thể, qua đó, bóp méo tăng trưởng kinh tế Ngược lại, thuế không gây biến dạng thị trường không ảnh hưởng đến quyết định tiết kiệm / đầu tư, và do đó, không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, trong nghiên cứu thực nghiệm, rất khó để phân định loại thuế nào

là thuế gây biến dạng thị trường hay thuế không gây biến dạng thị trường (Barro, 1990; Gemmell & cộng sự, 2012; Kneller & cộng sự, 1999; Mendoza & cộng sự, 1997) bởi tính chất, cơ chế tác động phức tạp của các loại thuế Dựa vào tính chất của thuế trực thu và thuế gián thu ( Thuế gián thu được xem như một khoản giá trị cộng thêm vào giá bán hàng hóa, dịch vụ), một trong những phương thức phân loại phổ biến nhất trong thực nghiệm là phân loại thuế trực thu (thuế thu thập và thuế tài sản ) là thuế gây biến dạng thị trường và thuế gián thu (thuế tiêu dùng) là loại thuế không gây biến dạng thị trường (Barro, 1990; Kneller & cộng sự, 1999) Theo đó, tương tự Kneller & cộng sự (1999), tác giả thu thập dữ liệu về thuế thu nhập (thuế gây biến dạng thị trường) và thuế tiêu dùng (thuế không gây biến dạng thị trường)

Trang 23

để kiểm định tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiên cứu này2

2.2 Cở sở lý thuyết về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế

Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế hay cụ thể hơn là bản chất kinh tế của tài chính công bắt nguồn từ mối quan tâm của chính phủ đối với quy mô chiếc bánh kinh tế Theo quan điểm tài chính công chuẩn tắc, các hoạt động thu, chi ngân sách của chính phủ phải hướng đến tối đa hóa hiệu quả kinh tế (Thành & Hoài, 2009) Tác giả tập trung lược khảo các lý thuyết về tác động của thuế, một công cụ của chính sách tài khóa, đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Khái lược lý thuyết cho thấy, mối quan hệ giữa thuế và tăng trưởng được xem xét, luận giải dưới nhiều góc độ, nền tảng lý thuyết khác nhau

2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng của Keynes

Trường phái kinh tế học Keynes ra đời trong bối cảnh sau cuộc đại khủng

hoảng kinh tế 1929 – 1933 với tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm,

lãi suất và tiền tệ” Trong tác phẩm này, Keynes luận giải tổng cầu của nền kinh tế

quyết định tổng cung hàng hóá Trong đó, tổng cầu của một nền kinh tế được hiểu

là tổng lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng trong nước Tổng cầu thường được đo lường bằng tổng sản phẩm quốc dân (GNI) hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể Theo đó, Keynes quan tâm đến tính khả thi của các chính sách kinh tế với sự can thiệp vào tổng cầu

Trong mô hình tăng trưởng của Keynes, chi tiêu công, cùng với các nhân tố khác như tiêu dùng, thu nhập và xuất khẩu ròng hình thành nên tổng cầu của một nền kinh tế Có thể thấy rằng, mặc dù mô hình tăng trưởng này không bao gồm nhân tố thuế song như Keynes luận giải, vài trò của thuế được thể hiện thông qua chi tiêu công Một sự tăng lên trong chi tiêu công (G) cần có nguồn tài trợ, thường

là từ tăng thuế Vì vậy, tăng thuế được hiểu là gia tăng nguồn trợ cho chi tiêu công,

2 Trong phân tích thực nghiệm, tác giả loại bỏ thuế tài sản bởi sự hạn chế về cơ sở dữ liệuvà tránh xảy ra trường hợp đa cộng tuyến hoàn hảo

Trang 24

qua đó, tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, do lý giải tác động của thuế thông qua chi tiêu công, việc luận giải tác động của thuế đến tăng trường kinh

tế theo lý thuyết này vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều Trong đó, một trong những điểm còn nhiều tranh luận của lý thuyết Keynes là câu hỏi về nguồn tài trợ chi tiêu chính phủ: từ thuế, vay nợ hay in tiền Nếu chính phủ tăng thuế, người dân sẽ có ít thu nhập hơn, vì vậy, mỗi đồng tăng lên trong chi tiêu công sẽ được cân đối bằng một đồng giảm chi ở những nhân tố khác3

2.2.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh

Một số nghiên cứu nhận định, thuế tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua tác động của nó đến thu nhập của các cá nhân trong xã hội (Kotlan & cộng sự, 2011; Macek, 2014) Vì vậy, như Macek (2014) luận giải, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng nội sinh là các lý thuyết thích hợp luận giải tác động của thuế đối với tăng trưởng kinh tế

Trường phái lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển mà điển hình Solow (1956) và Swan (1956) luận giải, tăng trưởng kinh tế dài hạn phụ thuộc vào quá trình tích lũy các nhân tố như vốn, lao động, tăng trưởng dân số, và tiến bộ công nghệ Trong đó, tiến bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh, quyết định tốc độ tăng trưởng trong dài hạn (Yanıkkaya & Turan, 2017) Tuy nhiên, các mô hình này chưa xem xét vai trò của các biến số tài khóa như thuế hay chi tiêu công đên tăng trưởng kinh tế

Từ các nghiên cứu này, các học giả mở rộng mô hình theo nhiều hướng khác nhau, xem xét vai trò của chính phủ, cụ thể là thuế và chi tiêu công, đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Macek, 2014; Yanıkkaya & Turan, 2017) Judd (1985) là một trong những học giả tiên phong trong việc xem xét vai trò của chính phủ, thông qua biến tài khóa là số thu thuế của các quốc gia, đối với tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, các nghiên cứu của Barro (1990) và King & Rebelo (1990) là những nghiên cứu điển hình, phân tích vai trò của thuế trong các mô hình tăng trưởng nội sinh (Macek, 2014; Yanıkkaya & Turan, 2017) Lý giải nguyên nhân của

3 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, 20100511.pdf [ truy cập ngày 05/09/2018]

Trang 25

http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP05-512-LN14V-2012-11-13-sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn giữa các quốc gia, King & Rebello (1990) nhận định, câu trả lời nằm ở sự khác biệt về chính sách thuế Theo các tác giả, chính sách thuế của các quốc gia tác động đáng kể đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bởi các ưu đãi thuế sẽ thúc đẩy quá trình tích lũy vốn vật chất, lao động và cả tiến bộ công nghệ Ngược lại, tăng thuế có thể làm giảm lợi tức đầu tư, thay đổi quyết định cung cấp lao động, ngăn cản thương mại hiệu quả cũng như cản trở việc tiết kiệm hoặc tích lũy vốn Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu lý giải về tác động của thuế một cách tổng thể mà chưa chú trọng về cấu trúc thuế Mặc dù nghiên cứu của Barro (1990) có xem xét tác động của các loại thuế khác nhau trong phần mở rộng mô hình song mục tiêu chính của bài nghiên cứu là luận giải tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế

Theo thời gian, các nghiên cứu chú trọng phân tích tác động của cấu trúc thuế hay các loại thuế khác nhau đến tăng trưởng kinh tế (Kneller & cộng sự, 1999; Mendoza & cộng sự, 1997) Tuy nhiên, các mô hình luận giải tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh luận Chẳng hạn, như trình bày ở phần trên, mô hình nghiên cứu của Kneller & cộng sự (1999) xem xét cấu trúc thuế bằng cách phân loại thuế thành thuế gây biến dạng thị trường và thuế không gây biến dạng thị trường Trong nghiên cứu thực nghiệm, tác giả phân định thuế tiêu dùng (thuế gián thu) là loại thuế không gây biến dạng thị trường, nghĩa là không gây ảnh ưởng đến giao dịch kinh tế của các chủ thể Trong khi đó, mô hình tăng trưởng nội sinh của Mendoza & cộng sự (1997) lại nhận định, tất cả các loại thuế đều gây biến dạng thị trường bao gồm cả thuế tiêu dùng Cụ thể, mô hình xem xét tác động của vốn con người, vốn vật chất và các loại thuế tiêu dùng đến tăng trưởng kinh tế Theo các dự đoán của mô hình, thuế tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến yếu tố vốn con người trong hàm sản xuất Nghiên cứu lý giải, mức thuế tiêu dùng cao hơn, chẳng hạn như tăng thuế VAT, sẽ làm cho hàng tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn Quá trình này sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung lao động vì tăng thuế tiêu dùng (hàng hóa tở nên đắt đỏ hơn) đồng nghĩa với phần thưởng cho công việc của người lao động bị thấp đi (Arnold & cộng sự, 2011)

Trang 26

2.2.3 Lý thuyết cạnh tranh thuế

Ngoài ra, sự tương tác giữa các chính sách thuế, hay cụ thể hơn là là sự cạnh tranh thuế, chưa được chú trọng phân tích trong các mô hình lý thuyết về tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Lược khảo lý thuyết cho thấy, phần lớn các mô hình lý thuyết luận giải về tác động của chính sách thuế đến tăng trưởng kinh tế thường giới hạn trong phạm vi của một quốc gia Vì vậy, các nghiên cứu chưa chú trọng phân tích sự tương tác giữa chính sách thuế của các quốc gia

Lý thuyết về cạnh tranh thuế chỉ ra, chính sách thuế giữa các quốc gia không độc lập mà có sự tương tác Theo Edwards & Mitchell (2008), do khác biệt về chính

sách thuế giữa các quốc gia, một bộ phận người nộp thuế sẽ thực hiện “Voted by

their feet” – “bỏ phiếu bằng chân” Nghĩa là, các nhà đầu tư sẽ dịch chuyển từ

cộng đồng (quốc gia) có thuế suất cao sang cộng đồng có thuế suất thấp hơn để nhận được phần lợi nhuận sau thuế là lớn nhất Quá trình này dẫn đến chính sách thuế của quốc gia này tăng lên trong khi số thu thuế của các quốc gia khác bị thiệt hại và ngược lại Tương tự, phân tích tư góc độ của doanh nghiệp, Jones & cộng sự (2003) nhận định, chuyển lợi nhuận theo thực thể là một trong những chiến lược hoạch định thuế phổ biến của các công ty đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp (nếu chỉ xét yếu tố thuế) hoặc tối ưu hóa dòng tiền Tuy nhiên, quá trình này làm ảnh hưởng đáng kể đến nguồn thu từ thuế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có chi phí thuế quá cao

Như vậy, lược khảo lý thuyết cho thấy, mặc dù nhiều nghiên cứu đã lý giải tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế song các luận giải vẫn chưa

có sự thống nhất và còn nhiều ý kiến trái chiều Những nguyên nhân chính của những tranh luận này là tác động khác nhau của các loại thuế đến tăng trưởng kinh

tế và sự tương tác giữa chính sách thuế của các quốc gia Theo đó, mục tiêu chính của luận văn này là kiểm định tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh

tế tại các quốc gia Đông nam Á giai đoạn 1990-2017 Qua đó, bài viết cung cấp thêm một minh chứng thực nghiệm, chỉ ra sự cần thiết của việc cần phải xem xét vai

Trang 27

trò của cấu trúc thuế và cạnh tranh thuế trong các nghiên cứu về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế

2.3 Lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Tác giả lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thuế và tăng trưởng kinh tế Theo thời gian, các nghiên cứu ngày càng làm rõ hơn tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế:

Trong giai đoạn đầu của các nghiên cứu về đề tài này, như một phần của các nghiên cứu khám phá nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định tác động của các biến tài khóa như thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu thường chỉ sử dụng biến số thu thuế tổng thể Một số nghiên cứu (Agell & cộng sự, 2006; Barro, 1990, 1991; Easterly & Rebelo, 1993; Fölster & Henrekson, 2001; Koester & Kormendi, 1989; Levine & Renelt, 1992) đã nghiên cứu mối quan hệ giữasố thu thuế tổng thể (hoặc chi tiêu công) và tăng trưởng kinh tế với dữ liệu nhiều quốc gia và các giai đoạn nghiên cứu khác nhau song vẫn chưa có sự đồng thuận rõ ràng về bản chất và ý nghĩa của mối quan hệ này Theo Bujang & cộng sự (2013) và Paparas & cộng sự (2015) điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi tác động kinh tế của thuế tạo ra hai hiệu ứng trái chiều Một mặt, mức thuế cao hơn gia tăng khả năng làm méo mó thị trường, qua

đó, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Mặt khác, mức thuế cao lại hàm ý mức chi tiêu công cho xã hội nhiều hơn Trong đó, một số thành phần chi tiêu công hiệu quả tăng lên tạo ra tác động tích cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Theo thời gian, để làm rõ hơn tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế, một

số nghiên cứu phân tích tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Thảo luận về cấu trúc thuế chủ yếu tập trung vào sự khác biệt về tác động của các loại thuế đến khả năng tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bujang & cộng sự, 2013) Kết quả từ các phân tích thực nghiệm của Kneller & cộng sự (1999), Widmalm (2001), Lee & Gordon (2005), J Arnold (2008), Schwellnus & Arnold (2008), Vartia (2008), J M Arnold & cộng sự (2011),Dackehag & Hansson (2012),

Trang 28

Hansson (2012),Acosta‐Ormaechea & cộng sự (2012); Xing (2012), Bernardi & cộng sự (2013), Bujang & cộng sự (2013), Canavire-Bacarreza & cộng sự (2013), Szarowská (2013), Arachi & cộng sự (2015); Tanchev (2016) đã làm sáng tỏ hơn bản chất và ý nghĩa của mối quan hệ giữa cấu trúc thuế và tăng trưởng

Dù vậy, kết quả kiểm định vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều ý kiến trái chiều Ở một phương diện, một số nghiên cứu kết luận về tác động tiêu cực của của các loại thuế, đặc biệt là thuế thu nhập, đến tăng trưởng kinh tế Kneller, Bleaney & Gemmell (1999) sử dụng dữ liệu bảng gồm 22 quốc gia OECD giai đoạn 1970–

1995 để đánh giá hiệu ứng tiêu cực của các loại thuế được cho là “thuế gây biến dạng thị trường”, bao gồm thuế đối với thu nhập và tài sản đến tăng trưởng kinh tế Những phát hiện này được củng cố thêm bởi nghiên cứu của Gemell, Kneller & Sanz (2006), cung cấp bằng chứng mới về tác động tiêu cực lâu dài của thuế gây biến dạng thị trường đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia OECD giai đoạn 1970-

2004 Quan tâm đến mức thuế suất, Lee & Gordon (2005) chỉ ra mối quan hệ tiêu cực có ý nghĩa giữa thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế với

dữ liệu 70 quốc gia giai đoạn 1970–1997 Tương tự, Dackehag & Hansson (2012) nghiên cứu cách thức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp 25 quốc gia OECD giai đoạn 1975-2010 Nghiên cứu chỉ ra, cả thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập

cá nhân đều ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Các phân tích thực nghiệm của Schwellnus & Arnold (2008) và Vartia (2008), dựa trên các tập dữ liệu lớn của các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp ở các quốc gia OECD, cũng cho thấy tác động tiêu cực của thuế thu nhập doanh nghiệp đến năng suất và đầu tư

Mặc khác, một số nghiên cứu lại cho thấy tác động tích cực của một số loại thuế đến tăng trưởng kinh tế Canavire-Bacarreza & cộng sự (2013) đánh giá tác động của các loại thuế khác nhau đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Mỹ Latinh Nghiên cứu cho thấy thuế thu nhập cá nhân không có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế như mong đợi Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự phụ thuộc lớn hơn vào thuế thu thập doanh nghiệp có

Trang 29

thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực Trong khi đó, Tanchev (2016) đánh giá tác động của thuế thu nhập cá nhân đối với tăng trưởng kinh tế ở Bungari trong giai đoạn 2004-2012 và kết quả nghiên cứu cho thấy thuế thu nhập lũy tiến có tác động tích cực đến tăng trưởng

Luận giải kết quả kiểm định hỗn hợp này, bên cạnh cấu trúc thuế, lược khảo nghiên cứu chỉ ra hai vấn đề trong nghiên cứu thực nghiệm: giả định sự độc lập của các đơn vị chéo và sự khác biệt về tác động của thuế, cấu trúc thuế trong ngắn hạn

và dài hạn

Với vấn đề thứ nhất, Arachi & cộng sự (2015) cho rằng giả định các đơn vị chéo độc lập là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tính cững của kết quả kiểm định Lược khảo nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đều sử dụng các phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng thông thường với giả định các đơn vị chéo là độc lập (Canavire-Bacarreza & cộng sự, 2013; Kneller & cộng sự, 1999; Lee & Gordon, 2005; Widmalm, 2001) Tuy nhiên, với trường hợp nghiên cứu này, lý thuyết cạnh tranh thuế, số liệu thực tế và các nghiên cứu về kinh tế lượng đều chỉ ra sự không phù hợp của giả định này Các nghiên cứu của Phillips & Sul (2003); Pesaran (2006) và Pesaran (2007) cho rằng nếu không kiểm soát sự phụ thuộc của các đơn vị chéo, các ước tính dựa trên dữ liệu bảng đa quốc gia có thể bị chệch (Arachi & cộng sự, 2015; J M Arnold & cộng sự, 2011)

Với vấn đề thứ hai, nhiều nghiên cứu chỉ ra sự khác biệc về tác động của thuế trng ngắn hạn và dài hạn (Acosta‐Ormaechea & cộng sự, 2012; Arnold & cộng

sự, 2011; Atems, 2015; Ojede & Yamarik, 2012) Theo Arnold & cộng sự (2011), chính sách thuế rất khó để đạt được các mục tiêu kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Các tác giả luận giải, mục tiêu thúc đẩy tốc độ phục hồi của nền kinh tế trong ngắn hạn (sau giai đoạn khủng hoảng) đòi hỏi gia tăng tổng cầu trong khi mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn đòi hỏi cần gia tăng trong tổng cung trong nền kinh tế Theo

đó, tác động kinh tế của thuế trong ngắn và dàn hạn được kì vọng sẽ có nhiều khác biệt

Trang 30

Như vậy, mặc dù đã có những nghiên cứu về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế song kết quả kiểm định chưa thống nhất và còn nhiều tranh luận Lược khảo lý thuyết chỉ ra ba vấn đề chính trong nghiên cứu thực nghiệm là: (1) tác động của cấu trúc thuế, (2) kiểm soát sự phụ thuộc của các đơn vị chéo và (3) tác động ngắn hạn và dài hạn của thuế, cấu trúc thuế Vì vậy, với các kỹ thuật ước lượng thích hợp, luận văn xem xét tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế cũng như tác động ngắn hạn và dài hạn của thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 Từ cơ sở này, tác giả hình thành các câu hỏi nghiên cứu cụ thể mà luận văn phải giải quyết như sau:

(1) Tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam

Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

(2) Tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại

các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

(3) Liệu có sự khác biệt về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn

hạn và dài hạn tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017?

Tóm tắt chương 2

Nội dung chương hai của luận văn trình bày 3 phần nội dung cụ thể: các khái niệm chính, cơ sở lý thuyết về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm Quá trình này giúp tác giả nhận diện được các khỏang trống nghiên cứu từ cơ sở đó, tác giả hình thành mô hình thực nghiệm và thực thi các phương pháp kiểm định thích hợp nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra

Các khái niệm chính trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là khái niệm về thuế và cấu trúc thuế Một cách khái quát, thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các

tổ chức, cá nhân cho chính phủ nhằm hình nguồn tài chính tài trợ cho chi tiêu chính phủ Theo đó, thuế có ba đặc điểm chính: (1) tính chất bắt buộc, (2) tính không hoàn trả một cách trực tiếp và (3) thuế dùng cho chi tiêu công Bên cạnh vai trò cơ bản là

Trang 31

tạo nguồn thu tài trợ cho chi tiêu công, thuế còn là một công cụ quan trọng của chính sách tài khóa giúp chính phủ điều tiết nền kinh tế

Dù vậy, tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều tranh luận Lược khảo các nghiên cứu lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra sự cần thiết của việc xem xét cấu trúc thuế, kiểm soát sự tương tác về

số thu thuế giữa các quốc gia cũng như xem xét tác động ngắn hạn và dài hạn của thuế đến tăng trưởng kinh tế Từ cơ sở này, tác giả hình thành các câu hỏi nghiên cứu cụ thể mà luận văn phải giải quyết

Trang 32

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ các câu hỏi nghiên cứu được xác định ở chương hai, tác giả thiết lập quy trình nghiên cứu nhằm kiểm định thực nghiệm kiểm định tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông nam á giai đoạn 1990-2017

Một cách khái quát, quy trình nghiên cứu được thiết kế nhằm trả lời ba câu hỏi nghiên cứu chính của luận văn Bên cạnh cấu trúc thuế, tác giả cũng chú trọng giải quyết các vấn đề sự phụ thuộc của các đơn vị chéo và tác động của thuế trong ngắn hạn và dài hạn Vì vậy, việc phân tích và xác định các phương pháp nghiên cứu thích hợp để giải quyết từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể cũng cần được thảo luận Dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập cũng được trình bày trong nội dung của chương

Theo đó, nội dung của chương được cấu trúc như sau: Phần thứ nhất của chương

mô tả quy trình nghiên cứu; phần thứ hai trình bày mô hình thực nhiệm; phần thứ ba là

dữ liệu nghiên cứu Cuối cùng, phần thứ tư của chương thảo luận về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu

3.1 Quy trình nghiên cứu

Từ lược khảo lý thuyết ở chương trước, tác giả xác định ba câu hỏi nghiên cứu chính cần phải giải quyết trong phạm vi luận văn Theo đó, tác giả thiết lập quy trình ngiên cứu nhằm trả lời ba câu nghiên cứu chính như sau:

(1) Tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

Lược khảo lý thuyết chỉ ra sự cần thiết của việc phân tích tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế Theo đó bên cạnh số thu thuế tổng thể, tác giả đánh giá sự thay đổi tỷ trọng của hai loại thuế chính (thuế thu nhập và thuế tiêu dùng) trong tổng nguồn thu từ thuế tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiên cứu

Trang 33

cộng sự (2012), tác giả thiết lập mô hình thực nghiệm về tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990 – 2017 Cụ thể, các phương pháp ước lượng với dữ liệu bảng thường được sử dụng trong các nghiên cứu như phương pháp ước lượng với sai số cố định (Fixed Effects) và ngẫu nhiên (Random Effects) được thực thi để làm cơ sở đối chiếu, so sánh và thảo luận kết quả kiểm định Kiểm định Hausman test cũng được thực thi để lựa chọn phương pháp thích hợp hơn với

dữ liệu nghiên cứu

(2) Tác động của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 là như thế nào?

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ hai, tác giả tiến hành hai bước phân tích và kiểm định

cụ thể

Ở bước đầu tiên, luận văn kết hợp phương pháp thống kê mô tả và phương pháp kiểm định giả định các đơn vị chéo độc lập của De Hoyos & Sarafidis (2006) nhằm đánh giá xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á Bằng phương pháp thống kê

mô tả, tác giả tiến hành phân tích thực trạng, tìm kiếm bằng chứng về dấu hiệu cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á như xu hướng cắt giảm thuế suất, các ưu đãi thuế đang được thực hiện tại các quốc gia thành viên Bên cạnh đó, các phân tích về thuế được kết hợp với các phân tích về chi tiêu công, cán cân ngân sách và tăng trưởng kinh tế nhằm chỉ ra sự tương quan giữa chính sách cắt giảm thuế và tình hình ngân sách cũng như mục tiêu tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Nam Á Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định giả định các đơn vị chéo độc lập của De Hoyos & Sarafidis (2006) Kết quả kiểm định từ phương pháp này không chỉ củng cố thêm bằng chứng về cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á mà còn là cơ sở để thực hiện các phương pháp ước lượng với dữ liệu bảng thích hợp

Ở bước thứ hai, sau khi đánh giá xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia nghiên cứu, tác giả thảo luận và thực thi các phương pháp kiểm định thích hợp để kiểm định tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại

Trang 34

các quốc gia Đông Nam Á Theo Xing (2012) và Arachi & cộng sự (2015) nhận định, các phương pháp hồi quy này thường bị chệch do giả định phổ biến là các đơn vị chéo độc lập, hàm ý chính sách thuế của quốc gia này không ảnh hưởng đến các quốc gia khác

và ngược lại (Xing, 2012) Tuy nhiên, kết quả kỳ vọng ở bước đầu tiên cho thấy, điều này rất khó xảy ra trong thực tế, cụ thể là đối với trường hợp nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á Theo đó, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng sai số tương quan phổ biến động (Dynamic Common Correlated Effects) để ước lượng tác động của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017 Phương pháp pháp ước lượng sai số tương quan phổ biến động được xem là phương pháp ước lượng phù hợp khi dữ liệu có hiện tượng sự không đồng nhất của tham số, các đơn vị chéo phụ thuộc và mô hình động.lần lượt sử dụng các phương pháp kiểm định khác nhau nhằm kiểm định, so sánh và thảo luận về tính vững của kết quả kiểm định (Diallo, 2017; Ditzen, 2016)

(3) Liệu có sự khác biệt về tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1990-2017?

Cuối cùng, tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng thích hợp để nhằm phân tích tác động của các biến trong ngắn hạn và dài hạn Cụ thể, phương pháp ước lượng điều chỉnh sai số với dữ liệu bảng Pooled Mean Group được thực thi để kiểm định tác động dài hạn và ngắn hạn của thuế, cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế trong trường hợp nghiên cứu này

Trang 35

Trong đó, i ~ i.i.d (0, ση ) ; εit ~ i.i.d (0, σε ) ; E(ηiεit ) = 0

t và i là chỉ số về thời gian và quốc gia

là sai phân bậc nhất của GDP bình quân đầu người, đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế, được đo lường bằng

lnyt-1 là GDP bình quân đầu người năm t-1 dạng logarit, đại diện cho GDP nội tại

lnkit là vốn đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội GDP dạng logarit, đại diện cho vốn đầu

lnhcit được đo lường bằng chỉ số vốn con người dạng logarit, đại diện cho vốn con người,

popit là chỉ số tốc độ tăng dân số hằng năm, đại diện cho tốc độ tăng dân số

taxrevit là số thu thuế trên tổng sản phẩm quốc nội GDP hàng năm đại diện cho số thu thuế

taxjit là số thuế j, được đo lường bằng tỷ trọng loại thuế j trên tổng số thu từ thuế hàng năm

Dựa trên lý thuyết về sự hội tụ, luận văn kỳ vọng mối quan hệ ngược chiều giữa GDP nội tại và tốc độ tăng trưởng kinh tế Theo lý thuyết này, thu nhập bình quân đầu người giữa các quốc gia sẽ sự hội tụ trong dài hạn, vì vậy, thu nhập bình quân đầu người nội tại có tác động âm đến tăng trưởng kinh tế Các nước kém phát triển có mức tư bản trên đầu người thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi bắt kịp các quốc giap phát triển về tỷ lệ tăng sản lượng và tư bản ở trạng thái cân bằng động và ngược lại (Barro, 1991)

Trang 36

Bài nghiên cứu cũng kì vọng tác động tích cực có ý nghĩa của vốn đầu tư, vốn con người đến tốc độ tăng trưởng kinh tế dựa trên lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và các mô hình tăng trưởng nội sinh (Barro, 1991, 1996; Levine & Renelt, 1992; Lucas, 1988; Mankiw & cộng sự, 1992; Romer, 1990) Trong khi đó, tốc độ tăng dân số được

kỳ vọng tạo ra tác động âm đến tăng trưởng kinh tế bởi những tác động tiêu cực trực tiếp

và gián tiếp của bùng nổ dân số đến nền kinh tế như tỷ lệ thất nghiệp cao, đô thị hóa, vấn

đề về nơi ở, an sinh xã hội hay ô nhiễm môi trường (Lee & cộng sự, 2011; Nagarajan & cộng sự, 2017) Về các các yếu tố thuế, như đã thảo luận ở chương hai, tác động của số thu thuế và các biến thuế thành phần vẫn còn nhiều tranh luận nên tác giả không đưa ra

kỳ vọng dấu đối với các biến này

3.3 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu là các dữ liệu thứ cấp và các biến được mô tả trong mô hình thực nghiệm Với trường hợp nghiên cứu này, dữ liệu thu thập là dữ liệu của các quốc gia Đông Nam Á được thống kê theo năm trong giai đoạn 1990-20174

Nguồn thu thập dữ liệu đều từ các nguồn đáng tin cậy Cụ thể, chỉ riêng chỉ số vốn con người được trích xuất bộ dữ liệu Penn World Table 9.0 (PWT 9.0) của trung tâm tăng trưởng và phát triển Groningen (Groningen Growth and Development Centre) thuộc Trường Đại Học Groningen, Hà Lan (Groningen University), hầu hết các biến được thu thập từ bộ dữ liệu WDI của Ngân hàng thế giới World Bank Trong đó, các loại thuế được phân loại thành thuế thu nhập và thuế tiêu dùng theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới World Bank Các chỉ số thống kê và hệ số tương quan giữa các biến được mô tả vắn tắt ở bảng dưới đây:

4 Do sự hạn chế về cở sở dữ liệu của thuế và cấu trúc thuế, dữ liệu được thu thập từ bảy quốc gia ASEAN:

Trang 37

biến số quan sát giá trị

trung bình

độ lệch chuẩn giá trị

nhỏ nhất

giá trị lớn nhất

Nguồn: do tác giả tính toán

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kiểm định sự độc lập của các đơn vị chéo

Do sự giới hạn về độ dài của dữ liệu chuỗi thời gian (n=27), các kiểm định với dữ liệu chuỗi thời gian chỉ hiệu quả khi xem xét tác động của từng cặp biến Vì vậy, tận dụng ưu thế của dữ liệu bảng, bài nghiên cứu thực hiện kiểm định sự độc lập của các đơn vị chéo bằng phương pháp kiểm định của Pesaran (2004), được hiệu chỉnh bởi De Hoyos & Sarafidis (2006)

Theo Sarafidis & De Hoyos (2006), kiểm định của Perasan (2004) sử dụng sự tương quan của các hệ số giữa các chuỗi thời gian cho một đơn vị chéo trong dữ liệu bảng Gọi rho*ij là những ước tính hệ số tương quan giữa các chuỗi thời gian cho quốc gia i và j, chỉ số thống kê Pesaran CD được xác định theo công thức sau:

CD = sqrt [2 / (N (N-1))] * [SUM_ (i = 1 đến N-1) SUM_ (j = i + 1 đến N) sqrt (Tijrho*ij)]

Ngày đăng: 16/03/2019, 19:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w