1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đề tài: Tìm hiểu về biện pháp sử dụng bẫy sinh học pheromone để phòng trừ sâu hại ở rau

24 245 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Tìm hiểu về biện pháp sử dụng bẫy sinh học pheromone để phòng trừ sâu hại ở rau: Tìm hiểu về đặc điểm, cơ chế, phân loại cũng như ứng dụng của bẫy sinh học pheromone trong phòng trừ sâu hại ở rau, nhằm giúp cho người nông dân hiểu rõ hơn về một cách phòng trừ sâu hại cho rau an toàn, hiệu quả hơn. Từ đó, giúp đáp ứng nhu cầu sử dụng rau sạch hiện nay của xã hội.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

KHOA SINH HỌC

 TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN : CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Đề tài: Tìm hiểu về biện pháp sử dụng bẫy sinh học pheromone để

phòng trừ sâu hại ở rau

Giảng viên hướng dẫn: Sv thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh

TS.Nguyễn Xuân Huy Msv: 16S3011004

Trang 2

Mục lục

PHẦN I: MỞ ĐẦU 3

I Lý do chọn đề tài 3

II Mục đích nghiên cứu 4

III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 4

PHẦN II: NỘI DUNG 5

Chương 1: Tổng quan về pheromone 5

1.1 Tình hình nghiên cứu về sử dụng bẫy pheromone trên thế giới. 5

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.3 Đặc điểm của pheromone giới tính 9

Chương 2: Cách sử dụng bẫy pheromone 13

2.1 Các cách sử dụng bẫy pheromone 13

2.2 Liều lượng sử dụng 17

2.3 Cách làm và đặt bẫy pheromone. 17

Chương 3: Một số ứng dụng của việc sử dụng bẫy pheromone trong phòng trừ sâu hại ở rau 20

3.1 Lợi ích của việc sử dụng pheromone trong phòng trừ sâu hại 21

3.2 Ứng dụng bẫy pheromone 21

PHẦN III: KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Trong xã hội hiện nay, nhu cầu sử dụng rau, củ, quả ngày càng nhiều vì chúng chứanhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể; cùng với đó thì các vấn đề về an toàn thựcphẩm, an toàn dinh dưỡng đang là trọng điểm chú ý của cộng đồng Hằng ngày, trên cáctrang mạng, thời sự, báo chí vẫn luôn đề cập đến các vụ ngộ độc thức ăn, thực phẩm bẩn,rau củ chứa nhiều chất hóa học độc hại, chất bảo quản, chất tăng trưởng vv Rau củkhông an toàn đang được trồng và bán tràn lan, người sản xuất và người bán không quantâm đến sức khỏe người tiểu dùng mà chỉ quan tâm đến lợi nhuận thu được là bao nhiêu,lời lãi bao nhiêu [1] “Lợi nhuận” đã làm cho người ta quên đi cái gì là đạo đức nghềnghiệp, cái gì là sức khỏe cộng đồng Dẫn đến tình trạng đi chợ mà phải lo lắng mua phảirau củ không sạch Chính vì vậy mà hiện nay trong sản xuất nông nghiệp, người ta chútrọng và cổ vũ sử dụng các biện pháp sinh học để bảo đảm mức độ an toàn của thực phẩmsản xuất ra Cũng như vậy, việc trồng rau sạch hiện nay đang được người dân chú trọng

và tiến hành trên diện rộng

Tuy nhiên, trong công tác trồng rau lại gặp khá nhiều khó khăn trong việc phòng trừsâu hại, nhất là sâu tơ và sâu khoang Từ trước tới nay, người nông dân chủ yếu là sửdụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV ) để phun trừ sâu tơ, sâu xanh và sâu khoang,đặc biệt là thuốc hóa học thì sâu tơ có khả năng kháng thuốc nếu sử dụng thường xuyên.Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đang được người dân hạn chế sử dụng vàtiến hành tìm hiểu và sử dụng các biện pháp sinh để đảm báo tính an toàn cho thực phẩm

Ví dụ như sử dụng biện pháp luân canh cây trồng, vệ sinh đồng ruộng, bắt giết sâu nonthủ công, sử dụng bả chua ngọt thu bắt sâu trưởng thành [2] Trong đó việc sử dụng chấtdẫn dụ giới tính, cụ thể là bẫy pheromone – là hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học cao

có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp sinh sản của con trùng đang là biện phápđược quan tâm nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới trong những năm trở lại đây.Việc sử dụng chất dẫn dụ giới tính không chỉ mang lại năng suất cao mà quan trọng hơnhết là có thể phòng trừ các loại sâu hại có khả năng phát triển tính kháng thuốc cao, các

Trang 4

đối tượng mà việc phun thuốc phòng trừ chúng dễ gây ảnh hưởng đến chất lượng nôngsản, từ đó bảo đảm tính an toàn của thực phẩm Chính vì vậy, mà em chọn đề tài “ TÌM HIỂU VỀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẪY SINH HỌC PHEROMONE ĐỂ PHÒNG TRỪ SÂU HẠI Ở RAU ”, nhằm mục đích tìm hiểu các thông tin về việc sử dụng bẫy

pheromone, lợi ích cũng như cách sử dụng để cung cấp cho mọi người biết thêm về mộtcách phòng trừ sâu bệnh an toàn và hiệu quả trong sản xuất rau, củ, quả trong nôngnghiệp

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu về đặc điểm, cơ chế, phân loại cũng như ứng dụng của bẫy sinh họcpheromone trong phòng trừ sâu hại ở rau, nhằm giúp cho người nông dân hiểu rõ hơn vềmột cách phòng trừ sâu hại cho rau an toàn, hiệu quả hơn Từ đó, giúp đáp ứng nhu cầu sửdụng rau sạch hiện nay của xã hội

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Bẫy sinh học pheromone sử dụng trong trồng rau

- Phương pháp nghiên cứu trong bài tiểu luận đươc sử dụng chủ yếu là phương phápnghiên cứu lý thuyết, tổng hợp tài liệu nhằm làm rõ vấn đề được nghiên cứu

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHEROMONE

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG BẪY PHEROMONE TRÊN THẾ GIỚI.

Trên thế giới, vấn đề rau sạch, thực phẩm an toàn luôn được các nước rất chútrọng, vì thế họ đã nghiên cứu và áp dụng rất nhiều biện pháp sinh học trong trồng trọt,chăn nuôi Và biện pháp sử dụng bẫy sinh học pheromone-chất dẫn dụ giới tính (CDDGT)

đã được nghiên cứu và áp dụng từ lâu Những nước đã nghiên cứu áp dụng rộng rãi làCanada, Mỹ, Anh, Hà lan, Đức, Nhật Bản, Australia, Đài Loan và nhiều quốc gia khác.Đến nay, trên thế giới đã có hàng nghìn loại chế phẩm CDDGT đã được tổng hợp và sửdụng để dự báo, phòng trừ các đối tượng sâu hại trên cây trồng ngoài đồng ruộng cũngnhư nông sản trong kho Đặc biệt là các đối tượng sâu hại có khả năng phát triển tínhkháng thuốc cao, các đối tượng mà việc phun thuốc phòng trừ dễ gây ảnh hưởng đến chấtlượng nông sản như sâu tơ, sâu xanh da láng ( ở rau cải, bắp cải, xu hào,xà lách,…), sâuxanh đục quả cà chua, sâu khoang, sâu đục thân, đục quả, bướm chích quả, Ví dụ nhưviệc Áp dụng bẫy pheromone giới tính để phòng trừ sùng khoai lang ở mật độ 4 – 10 bẫy/0,1 ha đã được ghi nhận thành công ở nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á (Talekar

1991, Hwang & Hung 1991, Palaniswamy et al 1992, Chiranjeevi & Reddy 2003, NhậtBản (Yasuda et al 1992)), Châu Phi (Smit et al 1997, 2001) và vùng Ca-ri-bê (Alvarez etal., 1996, Alcázaret al 1997, Jackson et al 2002) [3] Trong bách khoa thư về quản lýdịch hại, bẫy pheromone đã được ghi nhận là một biện pháp hữu hiệu để phòng trừ sùngkhoai lang ở Mỹ, Nhật và Đài Loan [3] Phương pháp bẫy được áp dụng phổ biến ở cácnước đang phát triển vì chi phí mua pheromone chỉ vào khoảng 40-60 USD/ha để phòngtrừ một loài sâu, ít hơn phương pháp quấy rỗi giao phỗi tới 60% và nông dân chấp nhận vì

họ dễ dàng nhìn thấy sâu hại trưởng thành rơi vào bẫy [3] Ở Đài loan, 100% diện tích sửdụng pheromone đều thực hiện theo phương pháp bẫy Trái lại, ở các nước thuộc khu vựcChâu Âu, Bắc Mỹ và các nước phát triển khác lại sử dụng pheromone để phòng trừ sâu

Trang 6

hại theo phương pháp quấy rỗi giao phối giữa các côn trùng, còn bẫy chỉ để theo dõi, dựbáo là chính [4].

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụng pheromone trong công tác bảo vệ thực vật để

dự báo phòng trừ sâu hại vẫn còn khá mới Từ năm 2002, các nhà khoa học của Viện Bảo

Vệ Thực vật (BVTV) đã tiến hành nghiên cứu sử dụng bẫy pheromone trong công tác dựbáo, phòng trừ một số đối tượng sâu hại quan trọng trên rau và cây ăn quả như sâu tơ, sâukhoang, sâu xanh da láng, sâu đục cuống quả vải, Theo đánh giá của các nhà khoa học,việc áp dụng các loại bẫy này trên đồng ruộng đã hạn chế được việc phát sinh gây hại củacác đối tượng sâu hại trên, giúp giảm 40-70% lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng việc

áp mà vẫn đảm bảo an toàn [4]

Viện BVTV vào năm 2002 đã bước đầu tiến hành phối chế tạo chất dẫn dụ giới tính sâu tơ đạt chất lượng tốt và đã sản xuất thử nghiệm thành công 500 mồi bẫy pheromone sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh và sâu da láng đạt kết quả tốt, hiệu quả hấpdẫn, phát tán và thời gian duy trì tính hấp dẫn sâu gần tương đương với các chế phẩmcùng loại của Nhật Bản và Trung Quốc Giá thành sản xuất cho 1 mồi bẫy vào khoảng

806 đồng, bằng 14,6 – 26,4% giá bán của các nước Xây dựng quy trình kỹ thuật đánh giá nhanh chất lượng sản phẩm pheromone trong điều kiện phòng thí nghiệm cho kết quả chính xác, góp phần từng bước hình thành quy trình kiểm định chất lượng các loại sản phẩm pheromone của các nước nhập nội vào Việt Nam sau này, cũng như kiểm định chất lượng sản phẩm pheromone tự sản xuất trước khi đưavào sử dụng có quy mô rộng, đã xác định bẫy bát là dạng bẫy có hiệu quả bẫy trưởng thành sâu tơ và sâu đục cuống quả vải, còn kiểu bẫy lọ thích hợp với sâu khoang, sâu xanh và sâu xanh da láng Chế phẩm chất dẫn dụ giới tính có hiệu quả cao trong dự báo sự phát triển quần thể sâu tơ, sâu khoang, sâu đục cuống quả vải và ruồi đục quả Việc sử dụng chất dẫn dụ giới tính (CDDGT) là một biện pháp có hiệu quả

để phát hiện và đánh giá tình hình phát sinh gây hại của chúng trên đồng ruộng, làm cơ sở cho việc chỉ đạo phòng trừ có hiệu quả Sử dụng chế phẩm

Trang 7

CDDGT theo phương thức bẫy với mật độ 100 bẫy/ha có thể hạn chế đáng kể

số lượng quần thể sâu tơ, sâu khoang, sâu đục cuống quả vải và ruồi đục quả trên đồng ruộng Phối hợp dùng bẫy CDDGT vừa dự báo vừa phòng trừ kết hợp với các biện pháp khác đã góp phần giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên cây trồng, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm [4]

Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra đã chỉ ra hiệu lực hấp dẫn sâu hại của các pheromone khá cao, nhất là sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh và sâu xanh

da láng Thời gian tồn tại hiệu lực của các pheromone trong khoảng hơn 20 ngày Sản phẩm giá thể bằng cao su nhân tạo tự sản xuất đảm bảo chất lượng

sử dụng pheromone gần tương đương với giá thể do Nhật Bản sản xuất Đã xác định vị trí đặt bẫy pheromone tối ưu là cao hơn mặt ruộng rau từ 5 – 10

cm với mật độ 100 bẫy/ha là thích hợp đối với sâu tơ và sâu khoang Phòng trừ sâu tơ và sâu khoang theo phương pháp quấy rối giao phối đều cho hiệu quả cao Nhưng chi phí mua pheromone quá lớn, tới 4,8 triệu đồng/ha/vụ đối với sâu khoang và 3,0 triệu đồng/ha/vụ đối với sâu tơ Sử dụng pheromone theo phương pháp bẫy để trừ sâu khoang cho hiệu quả cao, giảm được 4 lần

sử dụng thuốc hóa học Kết hợp dùng thuốc sinh học để trừ sâu tơ cho kết quả tốt, giảm được 2 lần dùng thuốc trong một vụ rau, góp phần đáng kể đảm bảo chất lượng sản phẩm và sức khỏe người lao động [4]

Trong năm 2003, Viện Bảo vệ thực vật Việt Nam phối hợp với Viện nghiên cứu động vật và chuột hại Trung Quốc đã sản xuất được 65.900 mồi pheromone và 38.180 bẫy sử dụng pheromone, nhập nội 6.400 mồi pheromone và đã sử dụng để phòng trừ 6 loài sâu hại của 7 loại cây trồng khác nhau Một bẫy pheromone trong một ngày đêm có thể thu hút được từ 27 - 415 sâu

tơ trưởng thành, 15 - 438 sâu khoang, 23 - 462 sâu xanh và 19 - 395 sâu xanh da láng [5] Kết quả nghiên cứu phòng chống sâu hồng (Pectionophora gossypiella) trên bông đã được thử nghiệm tại một số vùng trồng bông ở Việt Nam cho kết quả khả quan Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Út và Nguyễn Thơ, 1997) [5] tại vùng bông Nha Hố cho thấy, với số lượng 40 bẫy/ha, trong

Trang 8

trường hợp số lượng trưởng thành trên đồng ruộng cao (vào cuối vụ bông) thì loại bẫy chậu có hiệu quả bắt tốt nhất (trung bình bắt được 29,1 con/bẫy/đêm), sau đó đến loại bẫy chai (trung bình bắt được 6,82 con/bẫy/đêm), các loại bẫy khác cho hiệu quả thấp Trong trường hợp số lượng trưởng thành trên đồng ruộng thấp (đặt bẫy đầu vụ) thì hiệu quả bắt con đực của bẫy chai tương đương bẫy chậu (trung bình đạt 1,9 và 2,0 con/bẫy/đêm) Ngoài ra, kết quả thử nghiệm trên đồng bông ngoài sản xuất tại Nha Hố và Đak Lak cũng cho thấy kết quả bắt con đực của bẫy pheromone khá tốt Cây khoai lang là một trong những cây lương thực quan trọng đốivới một số vùng ở nước ta, với diện tích chung cả nước là 254.300 ha và năng suất trung bình đạt 63,4 tạ/ha (Tổng cục Thống kê, 2002) [4] Ở nhiều nơi, khoai lang bị bọ hà gây hại nặng, nhất là trong vụ hè thu tỷ lệ củ bị hại có thể lên đến 30-50%, thậm chí 100% Nguyễn Văn Đĩnh (2003) đã tiến hành

nghiên cứu tác dụng của pheromone Tula absoluta phòng trừ bọ hà trên khoai

lang sau trồng 30 ngày đến khi thu hoạch Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng bẫy pheromone là một trong những biện pháp quan trọng trong quản lý tổng hợp bọ hà hại khoai lang đã bước đầu được nông dân đánh giá là có hiệu quả Ở vị trí càng xa nơi đặt bẫy, tỷ lệ dây gốc bị hại và tỷ lệ củ bị hại càng tăng Tại vị trí tâm của bẫy và cách bẫy 25-50 mét tỷ lệ hại là thấp nhất Bình quân chung, tỷ lệ hại trong khoảng cách dưới 100 mét so với vị trí đặt bẫy không khác nhau nhiều Tuy nhiên, với khoảng cách trên 100 mét, tỷ lệ này khác nhau rõ rệt [ 4 ]

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA PHEROMONE GIỚI TÍNH

1.3.1 Giới thiệu về pheromone giới tính

Thuật ngữ chất dẫn dụ (pheromone) được Karlson & Butenandt sử dụng lần đầu tiênvào năm 1959 Chất dẫn dụ giới tính là chất hóa học được các cá thể côn trùng của mộtgiới tính tiết ra ngoài và gây phản ứng kích thích sinh dục ở các cá thể giới tính kia Chất

Trang 9

dẫn dụ giới tính được các tuyến ngoại tiết đặc biệt tiết ra, cấu tạo và vị trí của các tuyếnnày trong cơ thể côn trùng rất đa dạng (Nguyễn Văn Đỉnh, 2004).

Những nghiên cứu một cách khoa học về bản chất, vai trò của chất dẫn dụ nói chung

và chất dẫn dụ giới tính nói riêng trong đời sống côn trùng chỉ được bắt đầu từ sau năm

1959 Sau 20 năm nghiên cứu, Butenandt và cộng sự là những người đầu tiên đã xác định,

tổng hợp được chất dẫn dụ giới tính của trưởng thành cái loài tằm B mori gọi là

bombicol Đây là chất hóa học đầu tiên được mô tả chính xác có khả năng hấp dẫn và gâykích thích sinh dục ở trưởng thành đực của côn trùng [6]

Đến năm 1965, trên thế giới đã xác định được chất dẫn dụ giới tính côn trùng dotrưởng thành cái tiết ra ở 159 loài (có 109 loài cánh vảy) và do trưởng thành đực tiết ra ở

53 loài Hầu hết thành phần hóa học của các chất dẫn dụ giới tính này vẫn chưa được xác

định và giải mã Trong đó có 3 chất dẫn dụ giới tính đã được xác định là bombicol từ B.

mori, diptol từ P dispar và propalup từ P gossypiella Thực tế chỉ có chất bombicol là

xác định đúng (Nguyễn Văn Đỉnh, 2004)

Đến năm 1973, trên thế giới đã giải mã được 49 chất hóa học có trong thành phầnchất dẫn dụ giới tính và chất dẫn dụ bầy đàn của hơn 50 loài thuộc 4 bộ côn trùng [6].Đến năm 1982 đã thống kê được 672 loài thuộc 12 bộ côn trùng và nhện nhỏ có chấtdẫn dụ giới tính đã xác định được Con số này đến năm 1990 đạt khoảng hơn 900 loài.Phần lớn chúng thuộc bộ cánh vảy (475 loài) Chất dẫn dụ giới tính của 273 loài đã đượcnghiên cứu sử dụng trong thực tiễn Các loài có chất dẫn dụ giới tính được sử dụng tậptrung ở bộ cánh vảy (189 loài); bộ cánh cứng và bộ hai cánh tương ứng có 47 và 12 loài

đã được sử dụng chất dẫn dụ giới tính [6]

Pheromone là khái niệm dùng để chỉ một chất do sinh vật sản sinh ra hay được con người tổng hợp, gây ra một hoặc một số phản ứng ở một số cá thể cùng loài Đối với côn trùng, việc định vị, nhận ra nhau hoặc nhận ra những thông tin của nhau, giữa những cá thể sống trong cùng loài, được thực hiện nhờ những phương pháp cảm nhận khác nhau, trong đó cách phổ biến nhất là chúng tiết ra những chất từ những tuyến đặc biệt dùng làm tín hiệu truyền thông tin, được gọi là các pheromone Nó là chất báo động, chất giúp cho côn trùng nhận biết ra

Trang 10

nhau, chất hấp dẫn sinh dục, chất quyết định cho việc tụ tập lại thành đàn của côn trùng

và cũng là chất quyết định cho các loài của côn trùng sống thành xã hội Đôi khi chất nầycòn được gọi là hormone xã hội (social hormone) hay được xem như một hệ thống thôngtin hóa học Có loài chỉ sản xuất một số ít pheromone, một số loài khác lại có khả năngsản xuất nhiều hơn Hệ thống pheromone khá phức tạp ở các loài côn trùng sống thành xãhội [7]

Sự truyền bá thông tin bởi pheromone tương đối chậm (pheromone phân tántrong không khí) nhưng tín hiệu của pheromone được duy trì lâu, xa và đôi khi đến 2 kmhay xa hơn nữa

Các pheromone sinh dục (pheromone giới tính) đóng vai trò đặc biệt quan trọng trongcông tác giám sát, theo dõi sự xuất hiện của sâu hại Đây là nhóm pheromone đượcnghiên cứu và ứng dụng rộng rãi nhất trong IPM (Intergrated Pest Management), nó hoạtđộng như những hóa chất sinh học có tính chọn lọc cao và ở nồng độ rất thấp vì vậykhông ảnh hưởng đến môi trường sinh thái [4]

* Pheromone kiểu I

Chiếm khoảng 75% số lượng pheromone đã được xác định Bao gồm nhữngpheromone được tạo thành từ những hợp chất hữu cơ mạch thẳng không bão hòa, có độdài chuỗi từ 10 đến 18 carbon và có mang một nhóm chức ở đầu mạch, thông thường làacetate (-O2CCH3), hydroxyl (-OH) hoặc formyl (-CHO) Ví dụ: pheromone giới tính củabướm tằm (Bombyx mori L) là bombykol, (E,Z)-10,12-hexadecadinemyl-1-ol.Pheromone của loài trưởng thành sâu đục trái đước, Cryptophlebia amamiana Komai &Nasu,là hợp chất (Z)-8-dodecenyl acetate Trong nhóm này, mạch carbon với số lượng

Trang 11

carbon chẵn chiếm ưu thế do pheromone kiểu I là những dẫn xuất từ các acid béo nhưacid palmitic (16 carbon) và acid stearic (18 carbon) Tuy nhiên, đã có một số phát hiệnpheromone kiểu I với số lượng carbon lẻ trong mạch Pheromone của trưởng thành sâuđục thân mía, Chilo auricilius Dudgeon được tạo thành từ (Z)-8-tridecenyl acetate và (Z)-10-pentadecenyl acetate; sâu đục trái Việt quất, Acrobasis vacinii Riley được tạo thành

từ (E,Z)-8,10-pentadecadienyl acetate và (E)-9-pentadecenyl acetate

* Pheromone kiểu II

Là những pheromone được tạo thành từ những hợp chất hữu cơ không phân nhánh, có

độ dài chuỗi 17-23 carbon gồm (3Z,6Z,9Z)-trienes, (6Z, 9Z)dienes và những dẫn xuấtmonoepoxy của chúng Nhóm này được sinh tổng hợp từ linoleic và linolenic acid Pheromone của trưởng thành loài sâu đo lớn gây hại trên lá trà Nhật Bản, Ascotisselenaria cretacea Bulter được cấu tạo từ hỗn hợp của (Z,Z,Z)-3, 6, 9-nonadecatriene(Z3,Z6,Z9-19:H) và (Z,Z)-6,9-epoxy-3-nonadecadiene (Z3,Z6,epo3-19:H) với tỉ lệ 1:100

* Pheromone kiểu III

Là những pheromone được tạo thành từ những chất hữu cơ không thuộc hai nhóm trênchiếm khoảng 10% Pheromone của sâu cuốn lá trưởng thành ở cà phê, Leucopteracoffeela được tạo thành từ hỗn hợp của 5,9-dimethylpentadecane như thành phần chính và5,9-dimethylhexadecane như thành phần phụ [4]

1.3.3 Thành phần hóa học của pheromone

Bao gồm 3 nhóm hỗn hợp các chất hóa học:

- Nhóm các chất hoạt động: Thường có từ 1-3 chất hóa học khác nhau, các chất này có tácdụng thật sự trong hoạt động giao tiếp sinh sản của trưởng thành cái và trưởng thành đực.Các loại pheromone mà con người tổng hợp để dự báo phòng trừ sâu hại đều lấy thànhphần chính là một chất có hoạt tính sinh học cao nhất trong số các chất của nhóm này

- Nhóm các chất điều hòa: Thường có từ 2-3 chất hóa học, chung có tác dụng điều chỉnhhành vi hoạt động của trưởng thành cái hoặc trưởng thành đực cho phù hợp với điều kiệnmôi trường khi dự định phát tính hiệu hóa học là các chất hoạt động

Trang 12

- Nhóm các chất kìm hãm: Gồm chất kìm hãm quá trình hình thành pheromone trong cơthể trưởng thành cái và trưởng thành đực, đồng thời gồm các chất kìm hãm quá trìnhthăng hoa pheromone của con cái khi chúng phát ra tín hiệu pheromone Đối với côntrùng, quá trình nhận biết thành phần pheromone trong cơ thể con đực cũng đều diễn ramột chuỗi phản ứng hóa học rất phức tạp với sự tham gia của các enzyme đặc trưng chomỗi loài Điều này mang tính chất đặc trưng di truyền cho loài mà các loài khác không cóđược Do đó, không thể sử dụng loại pheromone của loài này để phòng trừ cho các loàisâu hại khác Vì vậy, pheromone hoàn toàn không độc hại tới các sinh vật khác và cũngkhông làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất [4].

Ngày đăng: 16/03/2019, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w