Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013Quan hệ Australia – Việt Nam trong giai đoạn 19912013
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả và số liệu nghiên cứu được trình bày trong Luận án là trung thực, khách quan Những kết luận của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 09 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Tâm Sáng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ, hỗ trợ quý báu từ các thầy cô, đồng nghiệp và gia đình Công trình này có thể được xem như lời cảm ơn thiết thực nhất dành cho những người mà tôi vô cùng biết ơn và yêu quý
Xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS TS Trần Nam Tiến, người đã định hướng cho tôi con đường nghiên cứu trong thời gian đầu bước chân vào con đường khoa học, động viên và tạo cơ hội để tôi học hỏi, tìm tòi và thực hiện luận án này PGS TS Trần Nam Tiến đã giúp đỡ tôi từng bước hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học, tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện cũng như phát triển và mở rộng các hướng nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô của Học viện Khoa học
xã hội, Viện Sử học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã giúp tôi mở rộng kiến thức chuyên ngành, truyền đạt và chia sẻ cho tôi những kiến thức nền tảng cơ bản và nâng cao trong suốt chặng đường nghiên cứu sinh của tôi
Cuối cùng, nhưng vô cùng quan trọng là sự ủng hộ và động viên của gia đình vào sự lựa chọn, quyết tâm theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học của tôi Việc tin tưởng vào sự hiểu biết - nền tảng giúp hoàn thiện bản thân, đã được hun đúc và kế thừa, giờ đây lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết, đặc biệt là đối với công trình khoa học này./
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9
1.1 Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia và Việt Nam 9
1.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ Australia - Việt Nam 22
1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cần giải quyết 27
Chương 2: KHÁI QUÁT QUAN HỆ AUSTRALIA - VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1991 30
2.1 Chính sách đối ngoại của Australia thời kỳ Chiến tranh Lạnh 30
2.2 Quan hệ Australia - Việt Nam trước năm 1973 Error! Bookmark not defined 2.3 Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 1973-1978Error! Bookmark not defined 2.4 Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 1979-1990Error! Bookmark not defined Chương 3: QUAN HỆ AUSTRALIA - VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991-2000 55
3.1 Những chuyển biến của tình hình quốc tế và khu vựcError! Bookmark not defined 3.2 Những chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Australia và Việt Nam thời kỳ sau Chiến tranh lạnh 36
3.3 Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 1991-2000 55
Chương 4: QUAN HỆ AUSTRALIA - VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2013Error! Bookmark not defined 4.1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 2001-2008 84 4.2 Sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Australia và Việt NamError! Bookmark not defined 4.3 Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 2001-2008 84
4.4 Quan hệ “đối tác toàn diện” Australia - Việt Nam giai đoạn 2009-2013Error! Bookmark not defined Chương 5: KẾT QUẢ, ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ AUSTRALIA - VIỆT NAM (1991 - 2013) 133
5.1 Kết quả 133
5.2 Đặc điểm của quan hệ Australia - Việt Nam 146
5.3 Tác động của mối quan hệ đến chủ thể hai nước và khu vực 155
KẾT LUẬN 162
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 167
TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT
TẮT TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
ABS Australian Bureau of Statistics Cục thống kê Australia
ACIAR
Australian Centre for International Agricultural Research
Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
ADMM ASEAN Defence Ministers
Meeting
Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN
AFP Australian Federal Police Cảnh sát liên bang Australia
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN
AIDAB Australian International
Development Assistance Bureau
Cơ quan Viện trợ Phát triển Quốc tế Australia
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
APLMA Asia-Pacific Leaders Malaria
Alliance
Liên minh các nhà Lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương chống bệnh sốt rét
APCSS Asia-Pacific Center for Security
Studies
Trung tâm Nghiên cứu An ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương
ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
ARLEMP Asia Region Law Enforcement
Management Program
Chương trình quản lý thực thi pháp luật khu vực châu Á
Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEM The Asia-Europe Meeting Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu
Trang 6International Development Australia
Management Program
Chương trình Quản lý dành cho các Cơ quan Kiểm soát biên giới
COC Code of Conduct in the South
DEET Department of Employment,
Education and Training
Bộ Nhân dụng, Giáo dục và Đào tạo
DIFF Development Import Finance
Facility
Phương thức Tài chính nhập khẩu nhằm mục tiêu phát triển
DOC
Declaration on the Conduct
of Parties in the South China Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
EAS East Asia Summit Hội nghị Thượng đỉnh Đông
Á
EU European Union Liên minh châu Âu hay Liên
hiệp châu Âu FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FOCAC Forum on China-Africa
Cooperation
Diễn đàn hợp tác Trung Quốc
- Châu Phi FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa/ quốc
nội GMS Greater Mekong Subregion Tiểu vùng Mekong mở rộng
ICRC International Committee of the
IDP International Development Chương trình Phát triển Quốc
Trang 7Program tế IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế
JTCC Joint Transnational Crime
MOET Ministry of Education and
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OSB Overseas Service Bureau Tổ chức phục vụ hải ngoại PKO Peacekeeping Operations Gìn giữ hòa bình
PLAN People's Liberation Army Navy
Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa (hay Hải quân Trung Quốc) PPP Purchasing Power Parity Sức mua ngang giá
TNC Transnational Coporation Công ty xuyên quốc gia
TPP
Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
UNCLOS United Nations Convention on
Law of the SEA
Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển
UNDP United Nations Development
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Chiến tranh lạnh kết thúc (1991) tạo điều kiện thúc đẩy xu hướng Khu vực hóa và Toàn cầu hóa, cũng như quá trình hội nhập quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới Từ giai đoạn này, lợi ích quốc gia là nhân tố chủ yếu quy định tư duy
và thực tiễn đối ngoại của các quốc gia Về chính sách đối ngoại, đa số các quốc gia chú trọng đối thoại thay cho đối đầu, làm cơ sở cải thiện hay làm sâu sắc các quan
hệ song phương, đồng thời thúc đẩy xu hướng hợp tác trong quan hệ quốc tế Cũng
từ đây, phát triển trên cơ sở “hợp tác và cạnh tranh đan xen” trong các tương quan lực lượng chủ chốt và sự vươn mình của các cường quốc mới nổi báo hiệu sự vận động phức tạp trong quan hệ quốc tế Trong bối cảnh quốc tế mới, việc tham gia tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế là cơ sở để gia tăng vị thế quốc tế cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia vừa và nhỏ Mối quan hệ giữa Australia và Việt Nam cũng thuộc vào sự vận động chung đó
1.2 Hòa cùng xu thế chung, các quốc gia coi trọng việc phát triển các quan hệ đối ngoại để thúc đẩy lợi ích quốc gia Trong tiến trình đó, quan hệ song phương, vốn không chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực mà đã dần mở rộng với tính chất liên khu vực, là nội dung được ưu tiên Trong bối cảnh đó, Australia mong muốn thúc đẩy sự phát triển quan hệ song phương với các quốc gia Đông Nam Á để tạo tiền đề hội nhập sâu hơn vào châu Á Với Việt Nam, hội nhập quốc tế và mở rộng hợp tác với các quốc gia có ý nghĩa quan trọng Như vậy, phát triển các mối quan hệ quốc tế dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia và độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ đã giúp Australia và Việt Nam xích lại gần nhau
1.3 Lịch sử quan hệ Australia - Việt Nam vốn có nhiều thăng trầm Trong giai đoạn khởi đầu, quan hệ giữa hai nước chịu sự tác động mạnh của cuộc Chiến tranh lạnh Trong thập niên 1960, việc Australia đưa quân tham chiến cùng với Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam là đỉnh điểm của sự căng thẳng Đến đầu thập niên 1970, Australia đã tự chủ hơn trong các vấn đề đối ngoại và chú trọng hơn đến lợi ích quốc gia Trên cơ sở đó, Australia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt
Trang 9Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 26-2-1973, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Australia - Việt Nam Từ giai đoạn này, quan hệ Australia - Việt Nam có nhiều biến động bởi những tác động phức tạp của tình hình khu vực và trong chính nhận thức của Australia Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (1991), cuộc đối đầu theo tiêu chí
“ý thức hệ” không còn nữa, quan hệ Australia - Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ, được thể hiện rõ nét qua việc gia tăng tương tác Việt Nam trở thành đối tượng quan trọng trong nhận thức và thực tiễn đối ngoại của Australia ở khu vực Đông Nam Á Trong quá trình tăng cường kết nối với Đông Nam Á, Australia xem Việt Nam là cầu nối giúp quốc gia này xích lại gần hơn với ASEAN Quan hệ hai nước được nâng lên tầm “Đối tác toàn diện” vào năm 2009 là cột mốc tạo điều kiện
để mối quan hệ này phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng và văn hóa - xã hội
1.4 Trên thực tế, quan hệ Australia - Việt Nam có ý nghĩa chiến lược đối với
cả hai nước Sự phát triển của mối quan hệ này mang đậm dấu ấn lịch sử và thời đại
và hệ quả là quan hệ Australia - Việt Nam không chỉ tác động đến sự phát triển của hai nước mà còn có tầm ảnh hưởng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung
và khu vực Đông Nam Á nói riêng Trong khi các công trình nước ngoài (và trong chừng mực nào đó là các công trình trong nước) nghiên cứu về sự can thiệp của Australia trong chiến tranh Việt Nam là khá phong phú thì những công trình trong nước nghiên cứu về Australia và hẹp hơn là quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh, đặc biệt là giai đoạn đầu thế kỷ XXI còn khá hạn chế Trong khi Australia là một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam, bên cạnh
đó, hai nước cũng là thành viên của nhiều tổ chức trong khu vực thì việc nghiên cứu
về mối quan hệ này là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Từ góc độ khoa học và thực tiễn, việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ Australia -
Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” nhằm hướng đến cái nhìn bao quát, đầy đủ
và khách quan hơn về quan hệ hai nước Luận án tiếp cận từ cả góc nhìn Australia
và Việt Nam để làm rõ những chủ trương, chính sách hay biến chuyển trong quan
hệ hai nước; tuy vậy ưu tiên tiếp cận mối quan hệ song phương này từ góc nhìn của Australia, qua đó giúp hiểu biết tốt hơn tư duy và định hướng phát triển quan hệ của
Trang 10Australia đối với Việt Nam Trước thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu về quan
hệ Australia - Việt Nam ở hai nước là không nhiều Mặc dù gần đây, nghiên cứu mối quan hệ này được chú ý hơn nhưng số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu vẫn chưa tương xứng với tầm vóc quan hệ
Xuất phát từ sự phát triển đặc thù của quan hệ Australia - Việt Nam trong lịch
sử, tầm quan trọng của mối quan hệ này đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và
tác động của nó đối với quan hệ quốc tế khu vực, tác giả chọn “Quan hệ Australia -
Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của nghiên cứu là làm rõ quá trình vận động của quan hệ Australia - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2013, đồng thời làm rõ thực chất sự tiến triển trong quan hệ hai nước Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những nhân tố tác động, những thành tựu và hạn chế của mối quan hệ này trên các lĩnh vực chủ chốt, cũng như bước đầu hệ thống lại những đặc điểm chính của quan hệ song phương, nêu lên đánh giá và tác động của mối quan hệ này đối với sự phát triển của hai nước cũng như đối
với khu vực
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ Australia - Việt
Nam (nhân tố bên ngoài, nhân tố bên trong và nhân tố lịch sử)
- Thứ hai, làm rõ sự tiến triển của quan hệ Australia - Việt Nam từ năm 1991
đến năm 2013 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng và một số lĩnh vực trọng tâm khác…
- Thứ ba, từ kết quả của quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn
1991-2013, nhận xét, rút ra đặc điểm của quan hệ và phân tích sự tác động của mối quan
hệ này đối với Australia, Việt Nam và Đông Nam Á
- Thứ tư, nhận diện những cơ hội và thách thức, cũng như trong chừng mực
nào đó, là những vấn đề đặt ra cho quan hệ hai nước trong thời gian tới
Trang 113 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là quan hệ Australia - Việt Nam
trong giai đoạn 1991-2013
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, tính chất của đề tài là nghiên cứu về quan hệ song phương
nên không gian nghiên cứu chính là Australia và Việt Nam Bên cạnh đó, quan hệ Australia - Việt Nam là liên khu vực nên được đặt trong sự vận động của khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương Xác định như vậy để có cái nhìn đầy
đủ hơn về các nhân tố có tác động đến quan hệ hai nước
Quan hệ Australia - Việt Nam diễn ra trên hai bình diện là song phương và đa phương Trong khuôn khổ đề tài, tác giả tập trung vào khía cạnh song phương Đó
là quan hệ hai chiều Australia - Việt Nam và Việt Nam - Australia
Về mặt thời gian, giai đoạn 1991-2013 là khung thời gian mà Luận án tập
trung nghiên cứu Mốc thời gian 1991 là khởi đầu bởi lẽ: (i) Chiến tranh lạnh kết thúc, mở đầu cho bối cảnh mở rộng và tăng cường các quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn thế giới; (ii) Vấn đề Campuchia được giải quyết thỏa đáng đã tạo điều kiện cho quan hệ Australia - Việt Nam có nhiều bước phát triển; (iii) Tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra phương châm: “Việt Nam muốn
là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập
và phát triển”; (iv) Paul Keating nhậm chức Thủ tướng của Australia và nhấn mạnh
rằng Australia sẽ thúc đẩy các hoạt động đối nội lẫn đối ngoại để đưa Australia trở thành một bộ phận của châu Á
Năm 2013 là mốc kết thúc thời gian nghiên cứu vì đây là cột mốc đánh dấu 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Australia - Việt Nam Việc kết lại đề tài vào năm
2013 cũng nhằm đánh giá đúng đắn triển vọng của Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về xác định “đối tác, đối tượng” trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước Thêm nữa, giới hạn đề tài trong giai đoạn 1991-2013 giúp việc nghiên cứu tập trung và thể hiện rõ tính chất lịch sử của đề tài, cũng như đủ độ lùi về mặt thời gian để rút ra những bài học và dự báo cho mối quan hệ này trong tương lai
Trang 12Về nội dung, Luận án tập trung nghiên cứu (i) các nhân tố tác động đến quan
hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013, (ii) sự tiến triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chủ chốt là chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa - xã hội , (iii) kết quả, đặc điểm và tác động của mối quan hệ đối với sự phát triển của Australia, Việt Nam, Đông Nam Á
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo của luận án
Cách tiếp cận của Luận án là cách tiếp cận cấu trúc Tiếp cận cấu trúc tạo
điều kiện để tìm hiểu môi trường của quan hệ Australia - Việt Nam, giúp soi xét các nhân tố tác động tới quan hệ, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong quan hệ, các nhân tố chi phối hành vi của các chủ thể quan hệ quốc tế, tạo thêm cơ
sở để nhận biết và dự báo chiều hướng phát triển của quan hệ Cách tiếp cận này cũng giúp làm rõ những chủ trương, chính sách và những chuyển biến trong quan
hệ hai nước Bên cạnh đó, các cách tiếp cận của khoa học địa chính trị, lý luận về quan hệ quốc tế, các lý thuyết quan hệ quốc tế (chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa kiến tạo) cũng được sử dụng để làm rõ những nội dung trong mối quan hệ này
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của Luận án là phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm xem xét toàn bộ tiến trình từ khi Australia chú trọng gắn sự phát triển của quốc gia với châu Á cho đến khi Australia tập trung vào Đông Nam Á và bắt đầu chuyển biến tư duy đối ngoại với Việt Nam mà cụ thể
là thành tựu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm
1973 Các cơ sở này giúp nghiên cứu quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013 phản ánh được tính tiếp nối với các giai đoạn trước đó Đồng thời, mối liên hệ giữa các sự kiện từ đồng đại (giữa Australia và Việt Nam) và lịch đại (các giai đoạn trước, sau) cũng là dòng mạch xuyên suốt của Luận án Để bổ trợ cho phương pháp lịch sử, một số phương pháp cũng được vận dụng trong Luận án:
- Phương pháp logic giúp tập trung vào những diễn biến cốt lõi của vấn đề,
tính chất phổ biến và quy luật vận động của quan hệ Nghiên cứu quan hệ Australia
- Việt Nam (i) phải được đặt trong mục tiêu phát triển quan hệ đối ngoại của cả hai quốc gia; và (ii) phải được xem xét, nghiên cứu trong tương quan với những định
Trang 13hướng trong chính sách đối ngoại của hai quốc gia với tổng thể khu vực châu Á - Thái Bình Dương Qua đó, tác giả rút ra đặc điểm, tính chất và xu hướng vận động của quan hệ hai nước trong tổng thể sự vận động của quan hệ quốc tế khu vực
- Phương pháp so sánh giúp rút ra những đặc trưng, lý giải các khác biệt của
mối quan hệ qua các giai đoạn lịch sử Tác giả sử dụng phương pháp này để tìm ra những tương đồng và khác biệt trong quan hệ hai nước qua các giai đoạn và cũng nhằm làm rõ tương quan so sánh về nhiều chiều kích như tiềm lực, vị thế quốc tế, thái độ và cả mức độ quyết tâm của hai quốc gia trong việc phát triển quan hệ
- Phương pháp thống kê được vận dụng để thống kê tần suất các chuyến thăm,
mức độ xuất hiện các thuật ngữ trong các bài phát biểu, các văn bản ngoại giao, các tuyên bố chung… để trên cơ sở đó tìm ra khuynh hướng phát triển và sự chuyển biến của mối quan hệ Australia - Việt Nam Kết quả của lượng hóa là căn cứ giúp hiểu rõ mức độ suy giảm hay tăng cường của quan hệ trên các lĩnh vực và giúp rút
ra các nhận định, đánh giá xác thực và có tính thuyết phục
Các phương pháp được kết hợp chặt chẽ bởi trong nhiều trường hợp, bản thân của phương pháp này đã có sự thâm nhập của phương pháp kia Các phương pháp nêu trên được áp dụng lồng ghép và linh hoạt nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
và tăng tính khoa học cho đề tài
Bên cạnh đó thì, các quan điểm và ý tưởng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đối ngoại cũng giúp soi chiếu nhiều luận điểm trong Luận án, vì thế mà giá trị của chúng là không thể chối bỏ
Nguồn tài liệu được sử dụng trong Luận án bao gồm các văn kiện của Chính phủ
hai nước, các tuyên bố báo chí của hai bên, các ấn phẩm liên quan đến chính sách đối ngoại hai nước… Các luận luận án tiến sĩ ở Australia và Việt Nam có liên quan đến công trình nghiên cứu cũng là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho Luận án Nguồn tài liệu từ sách chuyên khảo, sách tham khảo, báo chí, tạp chí chuyên ngành,
kỷ yếu hội thảo, văn bản pháp luật, Internet… cũng được tham khảo có chọn lọc Ngoài ra, tác giả còn chú ý tham khảo các thông tin qua phỏng vấn các chuyên gia
Trang 14quan hệ quốc tế từ phía Australia và Việt Nam
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Cho đến thời điểm hoàn thành thì Luận án được xem là một trong những công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống về “Quan
hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” Với ý nghĩa đó, Luận án có
những đóng góp mới về khoa học như sau: (i) là một trong số những công trình chuyên khảo đầu tiên từ góc nhìn Việt Nam về mối quan hệ này trong giai đoạn 1991-2013; (ii) nghiên cứu toàn diện và hệ thống về các nhân tố tác động, sự tiến triển của quan hệ trên các lĩnh vực chủ chốt và nhận xét về tác động của mối quan
hệ đối với tình hình của mỗi quốc gia và khu vực
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thứ nhất, Luận án kết hợp cách tiếp cận lịch sử với cách tiếp cận quan hệ
quốc tế Điều này được phản ánh qua việc phác dựng lại một giai đoạn lịch sử trong quan hệ hai nước trên những lĩnh vực chủ chốt, kết hợp với cách tiếp cận từ Chủ nghĩa Tự do (Liberalism) và Chủ nghĩa Kiến tạo (Constructivism) trong quan hệ quốc tế và góc nhìn địa chính trị (Geopolitics)
Thứ hai, Luận án cung cấp góc nhìn thực tiễn từ nghiên cứu và phân tích quan
hệ song phương trên các cấp độ phân tích (Levels of analysis) là cá nhân, quốc gia
và hệ thống
Thứ ba, Luận án đóng góp lý luận cho việc phân tích mối quan hệ song phương
giữa hai nước với tính chất liên khu vực và trong sự tương tác với các nước lớn
Thứ tư, Luận án đóng góp lý luận cho việc đưa quan hệ vốn tồn tại nhiều vấn
đề lịch sử (đối đầu và thiếu tin tưởng) sang quan hệ đối tác toàn diện
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, Luận án hướng đến phục vụ cho công tác đối ngoại của Australia và
Việt Nam Kết quả của Luận án gợi mở về phương diện hoạch định chính sách của Australia đối với Việt Nam trong tương lai Xa hơn, Australia có thể trên cơ sở quan
hệ với Việt Nam để kiến tạo các mô hình quan hệ với các quốc gia khác tại Đông Nam Á Bên cạnh đó, phía Việt Nam có thể tổng kết, kiểm nghiệm và đánh giá xác
Trang 15đáng hơn thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại với Australia từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011)
Thứ hai, Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy Luận án là tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho giảng viên và sinh viên của các trường Đại học, Cao đẳng…; các Viện nghiên cứu hay các cơ quan, ban ngành, cá nhân có nhu cầu Chính sách đối ngoại Australia, Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Chính sách đối ngoại Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Quan hệ Quốc tế phương Đông… là những môn học có thể trực tiếp tham khảo những nội dung của Luận án
Thứ ba, Luận án là một trong những cơ sở để các cơ quan phía Australia đánh
giá đầy đủ hơn về tình hình, mức độ nghiên cứu quan hệ Australia - Việt Nam Việc rút kinh nghiệm từ Luận án hay khảo cứu những thông tin từ luận án cũng góp phần định hướng và làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu hoặc mở rộng hơn về phạm vi và đối tượng nghiên cứu trong tương lai
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu tạo theo 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 2: Những nhân tố tác động đến quan hệ Australia - Việt Nam
Chương 3: Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 1991-2013
Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ Australia - Việt Nam (1991-2013)
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia và Việt Nam
1.1.1 Các công trình về chính sách đối ngoại của Australia
Các công trình ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia và sự vận động của quan hệ quốc tế tại châu Á - Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh
(1991) khá phong phú và đa dạng Trong cuốn “Making Australian Foreign Policy”
(Cambridge University Press, 2007), Allan Gyngell và Michael Wesley tập trung vào 4 vấn đề chính là an ninh, thịnh vượng, các giá trị và vị thế của Australia Các tác giả đã thảo luận về các quy trình, các tổ chức, chủ thể và các tính toán liên quan đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Australia Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm và đánh giá của những nhà ngoại giao Australia, hai tác giả làm rõ vai trò của các cơ quan Chính phủ và các tổ chức tình báo hỗ trợ hoạch định chính sách của Chính phủ Nhìn chung, cuốn sách đã cung cấp chi tiết quá trình, nội dung và những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Australia Những cơ sở này giúp tác giả tìm hiểu những yếu tố chi phối chính sách đối ngoại của Australia
Đặt trọng tâm vào tìm hiểu vai trò của Australia tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Taylor Brendan xem xét các tác động từ môi trường bên ngoài đối
với tư duy đối ngoại của Australia Cuốn “Australia as an Asia-Pacific Regional
Power: Friendships in Flux?” (Routledge, 2007) đánh giá tính ổn định của
Australia trong vai trò cường quốc khu vực truyền thống Những thách thức mới như một Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng, một nước Mỹ ngày càng quyết đoán và tác động từ cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động đã buộc Australia phải điều chỉnh thứ tự ưu tiên cả về an ninh lẫn quan hệ đồng minh Tác giả cũng nghiên cứu quan hệ của Australia với các cường quốc khác trong khu vực để từ đó đánh giá mục đích cơ bản, nguyện vọng và định hướng tương lai trong chính sách đối ngoại của Australia Rõ ràng là, chính sách đối ngoại của Australia đã có sự điều chỉnh dựa trên nhận thức về môi trường an ninh lân cận
Trang 17Cơ sở này giúp việc lý giải và đánh giá những thay đổi trong chính sách đối
ngoại của Australia với Việt Nam được toàn diện hơn
Được viết bởi một trong những nhà tư tưởng nổi bật nhất của Australia, cuốn
sách súc tích dày 224 trang “There Goes the Neighbourhood: Australia and the Rise
of Asia” (University of New South Wales Press, 2011) đã gợi nên những tranh luận
trong công chúng về tương lai chính sách đối ngoại của Australia Michael Wesley cho rằng, khi xét đến yếu tố địa lý và kinh tế thì Australia có quan hệ rất mật thiết với châu Á Ông lý luận, thay vì thực thi các chính sách khép kín thì Australia nên sáng tạo và chủ động tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu tại khu vực Đây
là những gợi mở để nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của châu Á trong chính sách đối ngoại của Australia và đồng thời là lý giải việc Australia ngày càng
tham gia tích cực vào các vấn đề của khu vực
Cuốn “Australia in International Politics: An Introduction to Australian
Foreign Policy” (Allen & Unwin, 2011) của Stewart Firth cũng rất đáng chú ý
Cuốn sách đã khắc họa bức tranh sinh động về thực tiễn quan hệ quốc tế kể từ sau khủng bố nước Mỹ năm 2001 và các vụ đánh bom Bali năm 2002 An ninh đã trở thành vấn đề chi phối chính sách ngoại giao của Australia, thể hiện qua việc lực lượng quân đội Australia hiện diện tại Afghanistan để chống lại mối đe dọa khủng
bố của Taliban Hàng trăm binh sĩ và cảnh sát Australia cũng tích cực phối hợp với các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương Trong ấn bản mới đã được sửa đổi và cập nhật, Stewart Firth đã lý giải cách mà Australia phản ứng lại với những thách thức mang tính toàn cầu Cuốn sách cũng mô tả sự phát triển trong chính sách đối ngoại của Australia song song với đánh giá vai trò của Australia trong Liên Hợp Quốc, chính sách quốc phòng, những nỗ lực kiểm soát vũ khí hạt nhân, can thiệp nhân đạo
và gìn giữ hòa bình Bên cạnh đó, Stewart Firth còn đánh giá sự trỗi dậy của Trung Quốc Không quá đề cao lý luận, tác giả đã mô tả và lý giải những bước chuyển quan trọng của Australia về tư duy đối ngoại, đó là vấn đề an ninh có vai trò đặc biệt quan trọng Chính sách của Australia đối với Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung cũng nằm trong nhận thức đó
Trong bài viết “Power shift: rethinking Australia's place in the Asian century”
Trang 18(Australian Journal of International Affairs, Vol 65, No 1, 2011), giáo sư Hugh
White tại College of Asia and the Pacific (ANU) xem xét sự thay đổi cán cân quyền
lực thời kỳ hậu chiến tranh Việt Nam, nổi bật là sự trỗi dậy của Trung Quốc đang thách thức vị thế của Mỹ tại châu Á Tác giả cho rằng mô hình “hòa hợp quyền lực” dưới sự chi phối của các cường quốc là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có thể mang lại hòa bình cho khu vực Trên cơ sở nhận thức trên, tác giả nhận định sự trỗi dậy của Trung Quốc chắc chắn có ảnh hưởng đến môi trường chiến lược của Australia Australia đối diện với 2 thách thức tồn tại song song: bảo vệ quyền lợi và chuẩn bị cho các diễn biến phức tạp trong tương lai Tác giả đề xuất, Australia nên xem xét vai trò của mình tại châu Á và chủ động gắn kết Trung Quốc và Mỹ trong trật tự “hòa hợp quyền lực” Hugh White cho rằng để củng cố vị thế trung cường trong “thế kỷ châu Á” thì Australia nên suy nghĩ nghiêm túc về chính sách ngoại giao và quốc phòng Tăng cường quan hệ với Việt Nam và các quốc gia Đông Nam
Á có thể nằm trong mục tiêu đó
Với bài viết “The Decline of US Economic Power and Influence: Implications
for Australian Foreign Policy” (Australian Journal of Political Science, Vol 48,
No 2, 2013), Mark Beeson nhận định Australia đang đối mặt với một tập hợp các tình huống khó xử trong 3 lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và kinh tế Australia có truyền thống dựa vào Mỹ để bảo đảm năng lực quốc phòng và thường xuyên chứng minh lòng trung thành với liên minh chiến lược Tuy nhiên, về khía cạnh kinh tế, Australia đã trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc Mark Beeson tập trung đánh giá các lý thuyết về cạnh tranh giữa các cường quốc và các yếu tố chủ yếu đang định hình khu vực và môi trường chính sách của Australia Tác giả lập luận, Australia có thể đạt được lợi ích và uy tín từ việc hợp tác với các trung cường khác trong các thể chế đa phương Tài liệu này cung cấp góc nhìn phong phú hơn về cạnh tranh giữa các cường quốc và sự chi phối của các cường quốc đến chính sách đối ngoại của Australia Trong nỗ lực khẳng định mình và thoát thế lưỡng nan Mỹ - Trung, Australia có thể tăng cường quan hệ với ASEAN Quan hệ Australia - Việt Nam có nhiều giá trị tiềm năng Những đánh giá về tương lai mối quan hệ này sẽ
được làm rõ trong đề tài
Trang 19Các công trình trong nước
Luận án tiến sĩ Sử học của Đỗ Thị Hạnh với tên gọi “Quan hệ Australia với
Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thập niên 90” mà sau này
đã được NXB Giáo dục xuất bản (1999) với tên gọi “Quan hệ của Australia với
Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai” đã khắc họa lại quan hệ đối
ngoại của Australia với các quốc gia Đông Nam Á Trong đó, tác giả dành một dung lượng nhất định để bàn về quan hệ Australia - Việt Nam trong nửa đầu thập niên 90 Tuy nhiên, do tính chất khá rộng về không gian và thời gian nghiên cứu nên quan hệ Australia - Việt Nam chưa được khắc họa đầy đủ Luận án nghiên cứu quan hệ Australia - Việt Nam trên cơ sở xem xét sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Australia với các nước Đông Nam Á nhằm hiện thực hoá mục tiêu “một quốc
gia châu Á - Thái Bình Dương”
Cuốn sách “Chính sách của Australia đối với ASEAN từ 1991 đến nay: Hiện
trạng và triển vọng” do Vũ Tuyết Loan chủ biên (NXB Khoa học Xã hội, 2005) đã
xem xét các chính sách của Australia đối với ASEAN trên từng lĩnh vực cụ thể như chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, kinh tế, giáo dục… Trên cơ sở xem xét
sự điều chỉnh chính sách của Australia đối với ASEAN qua hai giai đoạn là
1991-1996 và 1991-1996-2004, các tác giả đã khái quát quan hệ song phương Australia - Việt Nam (giai đoạn 1991-1996; giai đoạn 1996-2004) Những dự báo về xu thế phát triển quan hệ Australia - ASEAN từ những năm đầu thế kỷ XXI trong sự vận động của các nhân tố khu vực và quốc tế cũng sẽ được xem xét và đánh giá khi liên hệ chúng với thực tiễn quan hệ hai nước Thông tin và tư liệu mà tác giả khai thác và
hệ thống sẽ được Luận án kế thừa
Vào năm 1997 và 1999, Khoa Đông phương học (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) tổ chức 2 Hội thảo khoa học về
Australia Thành quả của Hội thảo lần thứ nhất là Kỷ yếu “Hành trình vào
Australia” (cuối năm 1998) Các bài viết trong hai hội thảo này cũng đề cập ít nhiều
đến các chính sách đối ngoại của Australia trong bối cảnh thế giới và khu vực đang vận động, thời gian là kết thúc thế kỷ XX và chuẩn bị bước sang thế kỷ XXI
Tiếp theo đó, quyển “Ôxtrâylia ngày nay” do Vũ Tuyết Loan chủ biên (NXB
Trang 20Khoa học Xã hội, 1998) cũng đã giới thiệu bức tranh khái quát về lịch sử, hệ thống chính trị, con người, văn hóa - nghệ thuật, phong tục… của Australia Quan trọng là cuốn sách đã tổng kết mối quan hệ xuyên suốt 25 năm từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Australia với Việt Nam (1973-1998) Đây là cơ sở quan trọng giúp đánh giá một số thành tựu trong quan hệ hai nước từ thực tiễn triển khai đường lối đối ngoại của Australia và Việt Nam
Trong cuốn “Nghiên cứu Australia” do Bùi Khánh Thế chủ biên (NXB Giáo
dục, 1999), trong đó tác giả Luận án chú ý đến các nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam tại Australia (của Bùi Huy Khoát, Trần Trọng Đăng Đàn), sự chuyển biến qua các giai đoạn và đóng góp của họ vào sự phát triển của Australia nói riêng và quan hệ Australia - Việt Nam nói chung; những bài viết về văn hóa Australia (của
Đỗ Thị Hạnh, Ngô Văn Lệ) cũng có nhiều giá trị tham khảo
Bài viết “Châu Á trong chính sách đối ngoại của Australia - lịch sử và hiện
tại” (Tập san Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội &
Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Số 53, 2012) của Trần Nam Tiến đã
hệ thống hóa lịch sử và tầm quan trọng của châu Á trong chính sách đối ngoại của Australia Tác giả đã trình bày lịch sử hiện diện của Australia tại châu Á với các
mốc lịch sử: từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX là
giai đoạn mà chính sách đối ngoại của Australia bị chi phối bởi các yếu tố quốc
phòng và an ninh trong sự phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ, từ giữa thập niên 70 của thế
kỷ XX là giai đoạn mà Australia hướng đến chính sách đối ngoại độc lập và có
những điều chỉnh cơ bản đối với châu Á khi nhận thức sâu sắc về bối cảnh và cục
diện quốc tế có liên quan đến lợi ích của Australia, từ đầu đến giữa thập niên 90
của thế kỷ XX là giai đoạn Australia hoàn thiện và đẩy mạnh chính sách “hướng Á”
với các hoạt động giao lưu kinh tế và chính trị, từ khi Thủ tướng John Howard lên
nắm quyền (1996) là giai đoạn Australia đẩy mạnh hội nhập vào châu Á và có những
đóng góp rất thiết thực cho sự phát triển của khu vực Trong đó, hai giai đoạn sau với đặc trưng là sự chuyển biến về nhận thức của Australia đối với một châu Á năng động và giàu tiềm năng được lưu tâm Đây là cơ sở để “kết dính” quan hệ Australia -
Việt Nam trong tổng thể tư duy đối ngoại của Australia đối với châu Á
Trang 21Trong quá trình nghiên cứu sự thay đổi tư duy của Australia mà kết quả của nó
là Australia chủ động triển khai chính sách “hướng Á” - thúc đẩy quan hệ ngoại
giao và kinh tế với các quốc gia Đông Nam Á, tác giả chú ý bài viết “Khái niệm
“cường quốc tầm trung” trong chính sách đối ngoại Úc” (Tập san Khoa học Xã hội
& Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh, Số 53, 2012) của Nguyễn Tuấn Khanh Bài viết nghiên cứu vai trò
“cường quốc tầm trung” (middle power) của Australia thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực để tiến đến khẳng định sự vươn xa về vị thế của Australia trong các hoạt động ngoại giao, và việc đề xuất khái niệm “cường quốc chủ yếu” (pivotal power) vào thời Alexander Downer cũng rất đáng lưu tâm Cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai hoạt động ngoại giao của Australia tại châu Á góp phần vào sự hiểu biết đầy đủ hơn về những chuyển biến trong tư duy đối ngoại của Australia Quan
hệ Australia - Việt Nam cũng không nằm ngoài sự vận động đó
1.1.2 Các công trình về chính sách đối ngoại của Việt Nam
Các công trình ở nước ngoài
Trong tài liệu được sử dụng để báo cáo cho Nghị viện Australia dưới tiêu đề
“Vietnam’s Foreign Policy: Dilemmas of change” (Parliament of Australia, 1991),
Frank Frost đánh giá về quá trình “đổi mới” của Việt Nam kể từ năm 1986, tập trung vào các chiều kích kinh tế, chính trị và sự thay đổi về cách nhìn thế giới của Việt Nam Quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các quốc gia tiêu biểu tại châu Á - Thái Bình Dương cũng được tác giả bàn luận, qua đó tác giả cho rằng Việt Nam nên chú trọng hơn đến việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại để tạo sức bật cho quốc gia Hơn nữa, một số tiến triển trong quan hệ Australia - Việt Nam cũng được giới thiệu Về cơ bản, ấn phẩm này là một nghiên cứu khá sớm của Australia về chính sách đối ngoại của Việt Nam; chứng tỏ rằng Australia đã dành nhiều sự chú ý đến sự phát triển, đặc biệt là những bước ngoặt trong tư duy đối ngoại của Việt Nam
Là sự bổ sung và hoàn thiện trên cơ sở báo cáo “Vietnam’s Foreign Policy:
Dilemmas of change” vào năm 1991, ấn bản “Vietnam's Foreign Relations: Dynamics of Change” (Institute of Southeast Asian Studies, 1993) tập trung khảo
Trang 22sát các thách thức và vấn đề của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại Trong ấn phẩm này, Frank Frost, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Institute of Southeast Asian Studies), đánh giá sự phát triển trong quá trình đổi mới chính trị và kinh tế của Việt Nam cũng như nêu bật tác động của áp lực trong nước đối với những thay đổi (đặc biệt là chính sách kinh tế) về quan hệ đối ngoại Tác giả
đã thảo luận chi tiết về quá trình thích nghi của Việt Nam đối với các mối quan hệ đối ngoại chủ chốt như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Dương, các nước ASEAN, các nước Tây Âu và các quốc gia trong khu vực châu Á
- Thái Bình Dương Frank Frost cho rằng, mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng
kể trong việc thích ứng với môi trường khu vực và quốc tế thay đổi mạnh mẽ nhưng Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh
Đặt trọng tâm vào “tái định vị” một Việt Nam năng động trên nhiều chiều kích, cuốn “Rethinking Vietnam” (Routledge, 2008) của Duncan McCargo mang
đến cách tiếp cận hệ thống hơn về một Việt Nam đương đại với những nghiên cứu chuyên sâu Quyển sách bao gồm 4 nội dung chính là chính trị, kinh tế, xã hội và quan hệ đối ngoại của Việt Nam Cách tiếp cận từ góc độ lịch sử và văn hóa cũng được vận dụng để hiểu thêm về đặc thù của Việt Nam trong quá trình phát triển Những thay đổi về cấu trúc chính trị ở Việt Nam, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tiến bộ từ những cuộc cải cách trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
xã hội… từ năm 1986 và tác động của nó đến các quan hệ đối ngoại cũng được thể
hiện rõ Tác giả khẳng định những thành tựu từ công cuộc “đổi mới” cung cấp cơ
sở quan trọng để Việt Nam tiến hành các quan hệ đối ngoại Thực tiễn “đổi mới” của Việt Nam cũng được trình bày khá chi tiết trong cuốn “Vietnam: A Transition
Tiger?” (Asia Pacific Press, The National Library of Australia, 2003) của Brian
Van Arkadie và Raymond Mallon Thực tiễn quan hệ Australia - Việt Nam từ sau Chiến tranh lạnh cũng được đặt trong bối cảnh đó
Tập trung vào sự chuyển đổi chính sách đối ngoại của Việt Nam từ cuối thập niên 80 và những chuyển biến về nhận thức của Việt Nam trong quan hệ với các
quốc gia khu vực, cuốn sách “Vietnamese Foreign Policy in Transition” (Palgrave
Macmillan, 2000) của Carlyle Thayer và Ramses Amer cung cấp nhiều nội dung
Trang 23quan trọng Các tác giả đánh giá Việt Nam là nhân tố triển vọng trong tổng thể sự vận động quan hệ quốc tế ở cấp độ khu vực (Đông Nam Á) và cấp độ toàn cầu Nội dung rất có ý nghĩa là các tác giả tập trung vào những biến chuyển quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ đầu những năm 90, cụ thể là Việt Nam càng
tự chủ trong đối ngoại và giảm dần vai trò của hệ tư tưởng trong quá trình hoạch định chính sách Các quan hệ đa phương trên cơ sở cân bằng nước lớn và những thành công lẫn hạn chế đã được tập trung luận giải Việc các tác giả đã tham khảo nguồn tài liệu phong phú (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc ) giúp cuốn sách tăng giá trị khoa học Các bài viết có đầu tư và được biên tập bởi hai chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại Việt Nam trong hơn 30 năm và vì thế, mang nhiều giá trị khoa học
Được viết bởi nhà nghiên cứu từng có thời gian phục vụ tại Việt Nam từ đầu
những năm 60, cuốn sách “Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War
to Globalization” (Oxford University Press, 2012) có nhiều giá trị khoa học Qua
tiếp xúc lâu dài với các chính trị gia, các nhà nghiên cứu và các cán bộ trong ngành
an ninh, quân đội… của Việt Nam, David Elliott cung cấp một cái nhìn sâu sắc về
tư duy đối ngoại của Việt Nam Tác giả nhấn mạnh, kinh tế và chính trị là hai nhân
tố quan trọng góp phần vào sự chuyển đổi tư duy đối ngoại của Việt Nam Elliott cho rằng Việt Nam đã và đang theo đuổi “một nền ngoại giao cơ động theo kiểu Bismarck”, chú trọng đa dạng hóa quan hệ ngoại giao với ASEAN và Mỹ, trong khi vẫn giữ quan hệ kinh tế và mối liên hệ về ý thức hệ với Trung Quốc Tác giả cho rằng, với những thách thức mới, Việt Nam cần thiết lập một cơ chế để điều phối các mối quan hệ hiệu quả Quan hệ Australia - Việt Nam được soi rọi trong bối cảnh sự vận động của tư duy đối ngoại của Việt Nam
Cũng trong tầm nhìn đó, Luận án “Vietnamese foreign policy since Doi Moi:
the dialectic of power and identity” của Nguyen Nam Duong (Australian Defence
Force Academy, School of Humanities and Social Sciences, 2010) giải thích sự chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam kể từ “Đổi mới” (1986) như một quá trình tái thiết bản sắc dân tộc và lợi ích quốc gia Tác giả nhận định rằng trong khi chính sách đối ngoại của Việt Nam kể từ năm 1986 được định hình bởi sự
Trang 24tương tác giữa những nhân tố là quyền lực và bản sắc thì quá trình chuyển đổi chiến lược chủ yếu được đặc trưng bởi bản sắc quốc gia Chính sách đối ngoại là sự thể hiện cụ thể cho bản sắc của Việt Nam, truyền thống đối ngoại của Việt Nam trong lịch sử và tư duy đối ngoại của Hồ Chí Minh được tác giả tập trung phân tích, trong
đó quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sau Chiến tranh lạnh cũng được tác giả dành nhiều dung lượng để trình bày và đánh giá Những luận giải từ công trình của tác giả cung cấp nhiều gợi mở cho Luận án, đặc biệt là từ góc nhìn kiến tạo
Quá trình định vị chính sách đối ngoại Việt Nam chủ động, linh hoạt và theo kịp những diễn biến của tình hình mới đã được Luong Ngoc THANH tập trung luận
giải trong Luận án “Vietnam’s Foreign Policy in the post-Cold War Era: Ideology
and Reality” (Hiroshima University, 2013) với cách tiếp cận ý thức hệ (ideology) và
thực tiễn (reality) Giai đoạn 1991-2001, “lợi ích quốc gia” được tác giả xem là hạt
nhân quy định chính sách đối ngoại của Việt Nam Cách tiếp cận chính sách đối ngoại từ Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến đến hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo lợi ích quốc gia cho đến chính sách đối ngoại mang tính độc lập về chiến lược cũng được xem xét Đặc biệt, nội dung bàn về “đối tác, quan hệ đối tác, khuôn khổ quan hệ đối tác và việc cụ thể hóa trong chính sách đối ngoại thời “đổi mới” của Việt Nam” đã được tác giả bàn luận khá chi tiết từ cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn Nguồn tài liệu tham khảo đồ sộ (dày 33 trang) với nhiều tài liệu có giá trị khoa học cao (chủ yếu là tiếng Việt và tiếng Anh) sẽ được Luận án kế thừa Đây là công trình có giá trị tham khảo cao đối với nghiên cứu quan hệ đối ngoại của Việt Nam Tiếp cận quan hệ Australia - Việt Nam từ nhận thức và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng là một góc nhìn trong Luận án
Bên cạnh điểm lại những chủ trương và chính sách của Việt Nam từ sau “Đổi mới” cũng như sự phát triển của nền ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ mới, cuốn
“Vietnam’s Foreign Policy under Doi Moi” (Le Hong Hiep và Anton Tsvetov đồng
chủ biên, ISEAS - Yusof Ishak Institute, 2018) cung cấp một phân tích chuyên sâu
về nhiều khía cạnh và sự chuyển biến về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong
ba mươi năm (1986-2016) Trọng tâm của cuốn sách là xem xét mối quan hệ song phương của Việt Nam với các đối tác quan trọng, bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật
Trang 25Bản, Ấn Độ, Nga, một số nước láng giềng nhỏ hơn (Campuchia, Lào) và ASEAN Cuốn sách cũng cập nhật chính sách của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Những chuyên luận trong cuốn sách cung cấp nhiều điểm nhấn xung quanh những chiều kích phong phú trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam; nhiều phân tích, đánh giá mang hàm ý chính sách và có giá trị thời sự
Các công trình trong nước
Về chính sách đối ngoại của Việt Nam, cuốn “Định hướng chiến lược đối
ngoại Việt Nam đến 2020” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011) do Phạm Bình
Minh chủ biên gồm nhiều bài viết của các chuyên gia về chính sách đối ngoại Đáng
chú ý là các bài viết: “Một số suy nghĩ về định hình chính sách đối ngoại mới”
(Phạm Bình Minh) đã trình bày quá trình cụ thể hoá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986); “Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam
giai đoạn mới” (Đặng Đình Quý) cung cấp các cơ sở tiếp cận lợi ích quốc gia trong
các văn kiện, chính sách với các thứ tự ưu tiên cụ thể và trên cơ sở đó để xác định
lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI; “Độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” (Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng) trình bày vấn
đề “độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” trên hai phương diện lý luận và thực tiễn
gắn với tình hình cụ thể của Việt Nam từ năm 1986; “Lòng tin trong quan hệ quốc
tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại Việt Nam”
(Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng) ngoài làm rõ tầm quan trọng của lòng tin trong
quan hệ quốc tế thì còn đề ra các nhóm biện pháp để xây dựng lòng tin; “Đối tác và
khuôn khổ đối tác trong chính sách đối ngoại Việt Nam” (Nguyễn Vũ Tùng) bàn về
khái niệm “đối tác” trong hợp tác quốc tế của Việt Nam giai đoạn đổi mới, sự mở rộng khái niệm đối tác trong các văn kiện, chính sách của Đảng, sự hình thành và phát triển quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong mô hình đối tác Các bài viết khẳng định nguyên tắc, mục tiêu, phương châm và chiến lược đối ngoại Việt Nam trong quá trình đảm bảo độc lập, tự chủ quốc gia Mục tiêu và thành tựu đối ngoại của Việt Nam từ sau năm 1991 gắn với quá trình hội nhập quốc tế là cơ sở tham khảo tốt
Trang 26Tập trung vào chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh mới, cuốn
“Đường lối chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn mới” (NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2011) do Phạm Bình Minh chủ biên bàn về nội hàm các chủ trương, định hướng và đường lối đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới Các chủ trương và các hướng tiếp cận để nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh hội nhập
quốc tế cũng được đề xuất Đáng chú ý là các nội dung “An ninh, phát triển và ảnh
hưởng trong hoạt động đối ngoại”, “Về đối tác và quan hệ đối tác của Việt Nam”,
“Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới”, “Về lợi ích quốc gia, dân tộc trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020”, “Lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam”, “Tiếp cận vấn đề đưa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi vào chiều sâu” Những hướng tiếp cận về
quan hệ song phương và đa phương của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ Đổi mới
“đổi mới tư duy, đổi mới chính sách và đổi mới triển khai” là một trong những cơ
sở quy định quan hệ Australia - Việt Nam
Cuốn sách “Chính sách đối ngoại Đổi mới của Việt Nam (1986-2010)” (NXB
Thế giới, Hà Nội, 2012) của Phạm Quang Minh tập trung vào 3 nội dung (i) nguyên nhân hình thành chính sách đối ngoại đổi mới, (ii) quá trình hình thành và phát triển chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam 1986-2010 và (iii) kết quả thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới Với những vấn đề được bàn luận, tác giả đánh giá về nguyên nhân hình thành và thực tiễn đối ngoại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
Cụ thể là: giai đoạn 1996-2001 “Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”; giai đoạn 2001-2006 “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và giai đoạn 2006-2010 “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững, gia nhập WTO” Quan hệ Australia - Việt Nam thuộc vào bối cảnh nhận thức và phát triển các quan hệ đối ngoại của Việt Nam Đặc biệt, thành tựu đối ngoại của Việt Nam với Australia được xem xét trong tổng thể thành tựu đối ngoại của Việt Nam
Bên cạnh đánh giá xu thế vận động của chính trị quốc tế từ đầu thế kỷ XXI
Trang 27đến nay và những vấn đề nổi bật, cuốn “Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai
đoạn hiện nay” (Nguyễn Hoàng Giáp chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2013) còn dành một nội dung quan trọng để bàn về quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về những vấn đề chính trị quốc tế Cơ sở, đường lối và nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được trình bày khá chi tiết
Các tác giả nhấn mạnh: “Thị trường Australia được xem là thị trường chủ lực hỗ
trợ đắc lực cho cho hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam” (tr 279) Những vấn đề chính trị quốc tế từ đầu thế kỷ XXI
đến nay sẽ được nghiên cứu và đánh giá dưới hai góc độ: “lực cản” và “lực đẩy” cho quan hệ Australia - Việt Nam Khi nghiên cứu các xu hướng chính trị từ năm
1991 đến nay thì cuốn “Một số xu hướng chính trị chủ yếu trên thế giới hiện nay”
(Lê Minh Quân chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014) cũng cung cấp nhiều nội dung có giá trị tham khảo hữu ích Đặc biệt là xu thế “hoà bình, hợp tác
và phát triển trên thế giới” cung cấp nhiều bài học và kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam trong các hoạt động hợp tác
Cuốn sách “Văn hóa đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”
(Vũ Trọng Lâm và Lê Thanh Bình đồng chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015) mang đến hiểu biết sâu sắc hơn về “văn hóa đối ngoại” - một bộ phận của chính sách đối ngoại gắn với thực tiễn Việt Nam (đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI) Những phương hướng và giải pháp phát triển văn hóa đối ngoại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế sẽ được xem xét để qua đó đề xuất các gợi ý thúc đẩy quan hệ Australia - Việt Nam Tác giả sẽ lưu ý nhiều hơn đến nhân tố văn hóa trong hoạt động đối ngoại và có những gợi ý hữu ích để xem văn hóa như cầu nối góp phần tăng tính gắn kết trong quan hệ Australia - Việt Nam
Bên cạnh đó, các công trình như: “Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi
mới mới” (Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, NXB Chính trị - Hành chính, Hà
Nội, 2013) và “Quá trình đổi mới đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt
Nam (1986-2012)” (Đinh Xuân Lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) không
chỉ dừng lại ở việc trình bày sự đổi mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam và nêu lên những phương châm đối ngoại hay đường lối đối ngoại đối với các vấn đề quốc
Trang 28tế và khu vực có ý nghĩa quan trọng mà còn làm nổi bật những chuyển biến, thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh từng bước thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập quốc tế Một số kinh nghiệm để tăn cường năng lực đối ngoại cũng được trình bày Những kinh nghiệm ngoại giao của Việt Nam, đặc biệt là trong quan hệ với các nước lớn, những bài học cần tránh; quá trình đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam; những nét mới của ngoại giao thế kỷ XXI và những vấn đề đặt ra cho ngoại
giao Việt Nam là những chủ đề có ý nghĩa tham khảo quan trọng từ cuốn “Về chính
sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2018)
của Vũ Dương Huân
Về những nội dung cụ thể hơn như “ngoại giao đa phương” thì cuốn “Ngoại
giao đa phương trong hệ thống quan hệ quốc tế đương đại” (Lưu Thúy Hồng, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015) và “Đối ngoại đa phương Việt Nam trong thời kỳ
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” (Lê Hoài Trung chủ biên, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2017) có giá trị tham khảo hữu ích Hai công trình mà tác giả Luận án lưu tâm khi tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của các khuôn khổ quan
hệ đối tác của Việt Nam, từ lý luận cho đến thực tiễn, là “Quan hệ đối tác chiến
lược trong quan hệ quốc tế: Từ lý thuyết đến thực tiễn” (Nguyễn Vũ Tùng, Hoàng
Anh Tuấn, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2006) và “Khuôn khổ quan hệ đối
tác của Việt Nam” (Nguyễn Vũ Tùng chủ biên, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội,
2007) Cuốn sách do Nguyễn Vũ Tùng chủ biên là kết quả nghiên cứu của đề tài
nghiên cứu cấp Bộ “Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam: Thực trạng và triển
vọng” và đồng thời là phần tiếp theo của cuốn “Quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế: Từ lý thuyết đến thực tiễn” Hai tài liệu lưu hành nội bộ này đặc
biệt hữu ích, mặc dù không đề cập trực tiếp đến quan hệ Australia - Việt Nam, do phạm vi thời gian nghiên cứu, song đã cung cấp khuôn khổ lý luận về hợp tác, các
mô hình đối tác chiến lược; những tiêu chí xác định, điều kiện hình thành và hiệu quả của khuôn khổ quan hệ đối tác trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam; các nghiên cứu tình huống (nước lớn - nước lớn, nước lớn - nước nhỏ và nước nhỏ - nước nhỏ); các bước phát triển và những bài học kinh nghiệm
Trang 291.2 Các công trình nghiên cứu về quan hệ Australia - Việt Nam
1.2.1 Quan hệ hai nước với tính chất khái quát
Là công trình đề cập đến các mối bang giao của Australia trong những năm 90,
cuốn “Quan hệ quốc tế của Australia trong những năm 90” (NXB Giáo dục, 1999) -
kết quả mà tập thể Khoa Đông phương học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) dịch lại từ cuốn “Australia's Foreign
Relations: In the World of the 1990s” của Gareth Evans và Bruce Grant cung cấp cơ sở
nhận thức về những mối bang giao tiêu biểu giữa Australia với khu vực và thế giới Với mong muốn gia tăng hiểu biết về Đông Dương, Australia đã nỗ lực tìm kiếm một nhận thức đầy đủ hơn về tiềm năng của khu vực Với Việt Nam, Australia nhận định
“Việt Nam với nền kinh tế đang được cải cách và mở rộng sẽ là một môi trường kinh doanh đầy hứa hẹn cho các quốc gia, đặc biệt là Australia” (tr 293) Sang thập niên
cuối cùng của thế kỷ XX, Australia “chưa có sự quan tâm nhiều đến kinh tế và thương
mại ở Đông Dương nhưng tiềm năng phát triển - đặc biệt ở Việt Nam - thì rất lớn, và
do các cam kết của chúng ta về ngoại giao, chúng ta đặc biệt sẵn sàng để tận dụng cơ hội này” (tr 294)
Để củng cố cho nhận thức về “quan hệ đối tác toàn diện Australia - Việt
Nam”, bài viết “Australia - Vietnam Relations: Enhancing the Comprehensive
Partnership” (International Conference on Australia - Asia Relations under Prime
Minister Tony Abbott, National ChenChi University Taipei, Taiwan, March April 1, 2015) của Carlyle Thayer có nội dung bàn về những điểm sáng trong quan
31-hệ Australia (1991-2008), bao gồm: các chuyến viếng thăm cấp cao, hỗ trợ phát triển, giáo dục và đào tạo, thương mại và đầu tư, hợp tác quốc phòng và an ninh, hợp tác thực thi pháp luật Phần 2 của bài viết tập trung làm rõ những chuyển biến trong quan hệ hai nước theo đúng tinh thần “quan hệ đối tác toàn diện” Đây là tài liệu tương đối toàn diện về quan hệ hai nước từ năm 1991 đến 2015 Với tính chất tổng kết, bài viết giới thiệu và điểm qua các thành tựu nổi bật trong quan hệ hai nước Những phân tích và đánh giá chuyên sâu chưa thể hiện rõ Bài viết cung cấp ý tưởng để phát triển Luận án và tập trung vào các nội dung trọng tâm Với tinh thần điểm qua sự vận động chủ yếu và đánh giá quan hệ hai nước từ năm 1976 cho đến
Trang 30nay, bài viết “From enmity to strategic partnership: Australia-Vietnam relations
since 1976” của Peter Edwards, trong cuốn “Vietnam in the Indo-Pacific: Challenges and opportunities in a new regional landscape” do Jeffrey Wilson chủ
biên (Perth: Perth USAsia Centre at The University of Western Australia, 2018) đã cung cấp nhiều thông tin về những chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Australia đối với Việt Nam, đặc biệt là thành tựu hay hạn chế cũng như các bước ngoặt chủ yếu trong quan hệ hai nước, được dự phần bởi các chính trị gia Australia, cung cấp nhiều thông tin hữu ích
Trong bài “The Present Role and Position of the Socialist Republic of Vietnam
in the International System, 1976-2015” (Presentation to International Conference
on Viet Nam: 40 Years of National Reunification with the Cause of Reform (Doi Moi), Development and International Integration, Vietnam Academy of Social Sciences, Hanoi, Vietnam, April 27, 2015), Carlyle Thayer cung cấp cái nhìn tổng quan về những bước phát triển quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
từ sau năm 1991 và qua đó kết luận rằng chính sách này thành công là vì đã sử dụng chính sách ngoại giao để duy trì độc lập, phát triển kinh tế, thúc đẩy an ninh khu vực và đóng góp tích cực cho an ninh toàn cầu Trong đó, quan hệ Australia - Việt Nam được khái quát từ năm 2008 đến năm 2010 Vì đặt mối quan hệ này trong tổng thể các quan hệ đối ngoại Việt Nam nên tác giả chỉ tập trung bàn về hai vấn đề: quan hệ đối tác toàn diện Australia - Việt Nam (2009) và Kế hoạch hành động để hiện thực hoá quan hệ đối tác toàn diện (2010-2013) với dung lượng 1,5 trang giấy
Nội dung về “Tuyên bố Tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Australia - Việt
Nam” cũng được bàn trong “Australia and Vietnam Enhance Their Comprehensive Partnership” (The Diplomat, 2015) Carl Thayer nhận định “Quan hệ đối tác toàn
diện tăng cường thể hiện sự khôn ngoan trong chính sách lâu dài của Việt Nam nhằm “đa phương hóa và đa dạng hóa” quan hệ đối ngoại và chủ động tìm cách hội nhập quốc tế Tuyên bố về tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Australia - Việt Nam cũng nhấn mạnh Australia, là một phần đóng góp quý giá vào sự phát triển kinh tế và an ninh không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”
Trang 31Bài viết “Chính sách hướng Đông của Australia và những kết quả” (Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 1, 2011) của Nguyễn Đức Hòa tập trung vào quá trình hợp tác và hội nhập của Australia với các nước châu Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Những chuyển đổi về chính sách của Australia trong thập niên cuối của thế
kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI được phân tích trên cơ sở chú trọng quan hệ kinh tế Australia - ASEAN Về kết quả hội nhập, tác giả đề cập quan hệ Australia - Việt Nam trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, thương mại, giáo dục và đào tạo và
qua đó nhận định “xây dựng kế hoạch phát triển mối quan hệ giữa Ốtxtraylia và
Việt Nam phải là một kế hoạch có tham vọng lớn và là kế hoạch của những đối tác thực tiễn, trong đó quan trọng nhất là quan hệ chính trị” Quan hệ Australia - Việt
Nam chỉ dừng lại ở những giới thiệu mang tầm khái quát
Nhận thức của Australia về Việt Nam được tập trung luận giải trong bài viết
“Sự tiến hoá trong chính sách Việt Nam của Australia” (Tạp chí Phát triển Khoa
học và Công nghệ, Tập 16, Số X1, 2013) của Đỗ Thị Hạnh Tác giả nhận định bối cảnh sau năm 1991 nằm trong chiến lược “hội nhập châu Á” của Australia Trên cơ
sở đó, tác giả lý luận động lực tiến hoá trong chính sách Việt Nam của Australia bao gồm các nhóm: nhận thức về lợi ích quốc gia; gia tăng tính độc lập trong đường lối, chính sách và hoạt động đối ngoại; những thay đổi sâu sắc từ môi trường quốc tế, khu vực và Việt Nam Có thể xem Việt Nam là tiêu điểm và “đá thử vàng” cho chiến lược “hội nhập châu Á” của Australia từ sau Chiến tranh lạnh Bài viết cung cấp cơ sở cho việc phát triển quan hệ Australia - Việt Nam từ sau năm 1991 Tuy thế, sự chuyển biến tư duy của Australia qua các giai đoạn lịch sử cụ thể vẫn chưa được tác giả làm rõ
1.2.2 Quan hệ hai nước chuyên sâu trên các lĩnh vực cụ thể
Tập trung hệ thống và đánh giá thành tựu trong quan hệ Australia - Việt Nam
trên nhiều lĩnh vực, Luận án “Quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn
1973-1995” của Trịnh Thị Định (2001) cung cấp những thông tin hữu ích về quan hệ
Australia - Việt Nam trong lịch sử như: (i) các vấn đề xoay quanh lịch sử quan hệ Australia - Việt Nam như những nhân tố tác động đến quan hệ Australia - Việt Nam trước năm 1973 và các chính sách của Australia đối với Việt Nam; (ii) quan hệ
Trang 32Australia - Việt Nam từ khi được thiết lập đến giữa thập niên 90 với các nội dung quan trọng như định hướng đối ngoại của Australia và Việt Nam từ năm 1973 cho đến những thành tựu, chuyển biến trong quan hệ hai nước trong bối cảnh chính trị mới (1991-1995); (iii) đặc điểm, tính chất và bài học kinh nghiệm từ quan hệ Australia - Việt Nam Đặc biệt, những đánh giá về tình hình khu vực và quốc tế từ sau năm 1991, sự thay đổi tư duy đối ngoại của Australia và Việt Nam, mối quan hệ giữa Australia với Mỹ và Trung Quốc… là những thông tin quan trọng Những nhận xét, đánh giá của tác giả về sự chuyển biến của quan hệ Australia - Việt Nam qua các giai đoạn 1973-1978, 1979-1991 và 1991-1995 và những nguyên nhân, ý nghĩa của nó sẽ được kế thừa khi nghiên cứu quan hệ này trong khoảng thời gian 1991-
1995 trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá quan hệ hai nước kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (1973) cho đến năm 1991
Tiếp cận từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nguyễn Anh
Tuấn trong bài viết “Tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP) tới tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế,
Số 2 (89), 2012) đánh giá con đường tiến tới ký kết TPP góp phần cung cấp thông tin về nhận thức và nhu cầu gắn kết các hoạt động kinh tế giữa các quốc gia (bao
gồm cả Australia và Việt Nam) Trong đó, Australia mong muốn “có thể chuyển
biến TPP trở thành hình mẫu tương lai của APEC và là cơ sở để hình thành APFTA
để thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư với các nước châu Á - Thái Bình Dương” và Australia cũng xem đàm phán TPP là “một kênh đối thoại quan trọng
về chính sách quốc phòng và an ninh với các nền kinh tế TPP (nhất là Mỹ và Việt Nam) về Trung Quốc” Nhu cầu tìm kiếm vị thế quốc gia và theo đuổi mục tiêu hội
nhập kinh tế quốc tế của Australia là cơ sở quan trọng để Australia và Việt Nam tìm được tiếng nói chung Đây là nội dung được kế thừa và phát triển trong Luận án Trong quá trình nghiên cứu quan hệ quốc phòng Australia - Việt Nam, tác giả
chú ý bài viết “Vietnam People’s Army: Development and Modernization” (Sultan
Haji Bolkiah Institute of Defence and Strategic Studies, Brunei Darussalam, April
30, 2009) của Carlyle Thayer Bên cạnh nghiên cứu quá trình phát triển Quân đội Nhân dân Việt Nam theo hướng từng bước chính quy và hiện đại hoá, tác giả cũng
Trang 33nêu lên những nội dung chủ yếu trong hợp tác quân sự giữa Việt Nam với các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Australia Đối thoại quốc phòng Australia - Việt Nam, phối hợp gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc, trang thiết bị y tế
và phòng dịch bệnh cũng được trình bày Tuy nhiên, bài viết vẫn chỉ khai thác các giai đoạn mà quan hệ quốc phòng có những bước tiến rõ rệt và giới thiệu các hoạt động hợp tác khá khái quát Vì thế, tính chất xuyên suốt chưa được đảm bảo Qua tham khảo nguồn tài liệu khá phong phú của bài viết, tác giả vẫn chưa thấy có tài liệu nào liên quan mật thiết đến “Quan hệ quốc phòng Australia - Việt Nam” và vì vậy đây là nguồn tài liệu mang tính gợi mở
Hợp tác xây dựng năng lực thực hiện nhiệm vụ hòa bình của Liên Hợp Quốc
giữa Australia và Việt Nam được giới thiệu rất khái quát trong bài viết “Vietnam
Commits to UN Peacekeeping” (Chuyên đề nghiên cứu chính sách, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 1, 2014) Carlyle
Thayer nhấn mạnh đến “hoạt động cung cấp chi phí cho cán bộ Việt Nam tham dự
khóa học và tài trợ việc xây dựng phòng dạy tiếng Anh thứ hai tại Học viện Kỹ thuật Quân sự Hà Nội” Các hoạt động “trao đổi các phái đoàn quốc phòng cấp cao Australia - Việt Nam” như là nội dung quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ đối
tác toàn diện Australia - Việt Nam cũng được giới thiệu trong bài viết “The
Australia - Vietnam Comprehensive Partnership” (The 3rd "Engaging with
Vietnam: An Interdisciplinary Dialogue" Conference, 4th & 5th December 2011, University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hanoi)
của Carlyle Thayer “Australian Defence White Paper” (2013) nhấn mạnh Australia
sẽ mở rộng hợp tác thông qua tăng cường giáo dục và đào tạo, các cuộc đối thoại cấp cao và trao đổi con người với Quân đội Nhân dân Việt Nam (Điều 6.35, tr 60) Tuy nhiên, nội dung hợp tác quốc phòng được trình bày khá “khiêm tốn”
Chính sách quốc phòng của Australia được Nguyễn Đức Trọng bàn đến trong
bài viết “Chính sách quốc phòng của Ốtxtraylia tập trung tự vệ hay hướng ra thế
giới” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2011) Sau khi điểm qua “các trường phái chủ yếu trong chính sách quốc phòng của Australia”, tác giả đánh giá
“những biến động ảnh hưởng đến nền an ninh Australia từ sau Chiến tranh Lạnh”
Trang 34và “sự thay đổi trong chính sách quốc phòng của Australia trước tình hình mới”
Với lập luận rằng Australia đang nỗ lực mở rộng không gian sinh tồn và nâng cao khả năng tự vệ, tác giả nhận định việc Australia hợp tác với các quốc gia bên ngoài
đóng vai trò quan trọng Với tinh thần mà tác giả nhấn mạnh: “Tuy Việt Nam khác
với Ốtxtraylia khi luôn kiên trì đường lối “độc lập, tự chủ, không liên minh, liên kết quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia”, nhưng những đúc kết rút ra
từ lịch sử chính sách quốc phòng của Ốtxtraylia cũng là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong công tác hoạch định chiến lược của mình”, những nhân tố
chi phối chính sách quốc phòng Australia (đặc biệt là tình hình Đông Nam Á và “sự trỗi dậy” của Trung Quốc) và chuyển biến trong chính sách quốc phòng của Australia là cơ sở để hiểu biết sâu sắc hơn về quan hệ quốc phòng hai nước
Bên cạnh đó, các bài viết “Quan hệ Việt Nam - Ôxtrâylia (1973-2002)” (Trịnh Thị Định, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 1, 2003), “Nhìn lại 35 năm quan
hệ Việt Nam - Ôxtrâylia” (Vũ Tuyết Loan, Tạp chí Cộng sản, số 784, 2008), và
“Tác động của chính sách đối ngoại Australia đối với an ninh quốc gia Việt Nam”
(Phan Thị Thu Dung, Tạp chí Cộng sản, 2018) nhận định rằng trong bối cảnh chính sách của Australia đối với Đông Nam Á ngày càng toàn diện và thực chất hơn thì Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Australia và là nhân
tố giúp Australia hội nhập sâu sắc hơn vào khu vực Một điểm chung quan trọng trong các bài viết là sự khẳng định rằng quan hệ Australia - Việt Nam đã bước vào một giai đoạn mới, tính chất phát triển và tăng cường lòng tin được thể hiện rõ rệt hơn; hai nước nhìn nhận về nhau toàn diện hơn và xem trọng mối quan hệ, cũng như ủng hộ nhau đóng vai trò quan trọng hơn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
1.3.1 Nhận xét về các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống các tài liệu (ngoài nước và trong nước) liên quan đến Luận án, có thể rút ra những nhận xét:
Thứ nhất, chưa có công trình khoa học ngoài nước nào nghiên cứu đề tài
“Quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” Các nghiên cứu chỉ
Trang 35chú trọng vào quy trình hoạch định chính sách đối ngoại Australia, những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại Australia qua từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn triển khai quan hệ ngoại giao, kinh tế, quốc phòng với các cường quốc và các thể chế đa phương tại châu Á - Thái Bình Dương Quan hệ Australia - Việt Nam chưa được nghiên cứu hệ thống và đầy đủ Có chăng là các công trình mang tính lược thuật, khái quát ở những giai đoạn lịch sử ngắn hơn so với giai đoạn 1991-2013
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong nước hầu như chưa trình bày hệ
thống về “Quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” Các nghiên
cứu liên quan đến đề tài dừng lại ở tiếp cận đối tượng nghiên cứu với không gian và thời gian khá hạn chế Cụ thể là các tác giả chỉ nghiên cứu mối quan hệ này trên một số lĩnh vực cụ thể với thời gian khá ngắn ngủi Tính chất xuyên suốt của các nghiên cứu trong giai đoạn 1991-2013 vẫn chưa thể hiện rõ
Thứ ba, đa số các nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013” vẫn còn hạn chế ở hai điểm sau: một là, chưa
khai thác một cách hiệu quả các nguồn tài liệu tiếng nước ngoài để làm phong phú
và đa dạng cho nội dung cũng như đánh giá và nhìn nhận về quan hệ hai nước; hai
là, chưa tiếp cận mối quan hệ này từ quan điểm, chính sách của Australia mà chủ
yếu tập trung vào quan điểm, chính sách từ phía Việt Nam
Thứ tư, các nhân tố chủ quan và khách quan trong tiến trình vận động lịch sử
có tác động đến quan hệ Australia - Việt Nam qua từng giai đoạn vẫn chưa được làm rõ Nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu khái quát bức tranh quan hệ hai nước thông qua việc nêu lên và đánh giá các sự kiện lịch sử chứ chưa tập trung lý giải sự vận động mang tính logic của quan hệ hai nước
1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống những nhân tố góp phần vào sự chuyển biến trong tư duy
đối ngoại của Australia đối với Việt Nam (và của Việt Nam đối với Australia) qua từng giai đoạn lịch sử (với 2 giai đoạn chính là 1991-2000 và 2001-2013)
Thứ hai, giải quyết các vấn đề trọng tâm của đề tài từ chính sách cụ thể cho
đến thực tiễn triển khai và thành tựu của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị
- ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội…
Trang 36Thứ ba, phục dựng lại quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1991-2013,
phân tích thành tựu và hạn chế của quan hệ hai nước để trên cơ sở đó rút ra đặc điểm
và tác động của mối quan hệ đến từng quốc gia và quan hệ quốc tế khu vực
Trang 37Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ AUSTRALIA - VIỆT NAM
2.1 Tình hình quốc tế và khu vực
2.1.1 Tình hình quốc tế
Từ nửa sau thập niên 1980, quan hệ Xô - Mỹ tiến nhanh hơn vào giai đoạn hòa dịu với đặc điểm là quan hệ hai nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ quốc tế Tháng 12-1989, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev và Tổng thống Mỹ George Bush trong cuộc gặp cấp cao trên đảo Malta đã chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh, qua
đó chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt trong suốt hơn 40 năm qua Thay cho
sự đối đầu căng thẳng (tính chất) và toàn diện (mức độ), Liên Xô và Mỹ bắt đầu hợp tác trên nhiều lĩnh vực
Năm 1991, Trật tự hai cực Yalta được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ kéo theo sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở các quốc gia Đông Âu Hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ khiến các liên kết kinh tế - chính trị ở các quốc gia này bị giải thể Sự chấm dứt của khối kinh tế (Hội đồng Tương trợ kinh tế) và quân sự (Tổ chức Hiệp ước Warsaw) dẫn đến hệ quả là khủng hoảng lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới
Sau khi Liên Xô tan rã, thế giới chứng kiến một hệ thống quốc tế mới đang trong quá trình định hình với những trung tâm quyền lực mới, luật chơi mới, chuẩn mực mới và quy luật vận động mới Sự sụp đổ của Liên Xô đã chấm dứt thời kỳ lưỡng cực, tuy vậy, các học giả và các chuyên gia quan hệ quốc tế vẫn chưa thống nhất về chiều hướng phát triển của một trật tự thế giới mới Tuy nhiên, nhiều học giả lại cho rằng trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ này, thế giới ở trong tình trạng nhất siêu đa cường và dần dần chuyển sang trật tự đa cực [23, tr 197]
Nếu từ giữa những năm 70, xu hướng Toàn cầu hóa và chú trọng hợp tác thay cho đối đầu đã bắt đầu tác động tích cực lên quan hệ quốc tế thì từ đầu những năm
90, các chủ thể quan hệ quốc tế ngày càng gia tăng mối liên hệ và phụ thuộc Sau Chiến tranh lạnh, triển khai quan hệ quốc tế theo hướng đối đầu không còn là đường
Trang 38hướng phổ biến Thay vào đó thì, xu thế lấy phát triển kinh tế làm hạt nhân để thúc đẩy những lĩnh vực khác đi vào chiều sâu đã được chú trọng và trở thành dòng chảy chủ đạo trong quan hệ quốc tế [249, tr 131] Những lợi ích của quá trình này thúc đẩy những giải pháp cho các vấn đề khu vực
Cũng cần chú ý rằng, cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại (với hạt nhân là cách mạng công nghệ) từ nửa sau thế kỷ XX trên hàng loạt các lĩnh vực như khoa học cơ bản, thông tin liên lạc, công nghệ thông tin, giao thông vận tải, chinh phục
vũ trụ… đã đạt được nhiều thành tựu với quy mô và tốc độ lan tỏa nhanh chóng Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật là động lực thôi thúc các quốc gia tăng cường giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm để tận dụng các
cơ hội hợp tác Nói cách khác, sự phát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật hiện đại là nhân tố thúc đẩy các hoạt động kinh tế, thương mại quốc tế với mức độ ngày càng sâu sắc và phạm vi ngày càng mở rộng
Cùng với Toàn cầu hóa thì khu vực hóa cũng là quá trình tất yếu, trong đó, khu vực hóa là động lực thúc đẩy toàn cầu hóa Đứng trước cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa thì khu vực hóa với đặc trưng là nhận thức của các quốc gia dựa trên sự gần
kề về mặt địa lý và sự tương đồng về bản sắc trở thành động lực thôi thúc các quốc gia hợp tác nhằm (i) tối đa hóa lợi ích quốc gia; (ii) khẳng định vai trò và vị thế của quốc gia; và (iii) giải quyết những vấn đề thách thức sự phát triển của khu vực Điển hình là các quốc gia gắn nhu cầu an ninh và phát triển với khu vực thông qua gia nhập và đóng góp tích cực vào các thể chế khu vực Trong quá trình đó, các thể chế liên quan đến phát triển kinh tế và thúc đẩy an ninh khu vực được chú trọng
Cùng với những tín hiệu tích cực từ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế thì những vấn đề toàn cầu là thách thức Bên cạnh tích cực giao lưu, hợp tác trên lĩnh vực kinh tế thì các quốc gia vẫn phải tính đến khả năng quản lý rủi ro và đóng vai trò tích cực giải quyết các vấn đề toàn cầu Tóm lại, chuyển biến chủ yếu của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh có thể được khái quát theo nhận định trong Tuyên bố chung sau khi kết thúc hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila (Philippines) vào tháng 7-1992: “Tác động sâu sắc của sự kết thúc Chiến tranh lạnh và đối đầu Đông - Tây” đã tạo nên “những bất ổn chiến lược mới cũng
Trang 39như những cơ hội rõ rệt” [92]
Bước sang thế kỷ XXI, sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 chi phối chính sách đối ngoại của các quốc gia, hệ quả là, nhiều quốc gia đã cùng tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mỹ và tham gia vào cuộc chiến chống khủng bố [67, tr 5] Trên cơ sở
sự tương hỗ giữa lợi ích và an ninh quốc gia trong vấn đề chống khủng bố, quan hệ giữa các cường quốc chuyển biến với tính chất ấm dần [19, tr 51-52] Mặc dù mâu thuẫn, xung đột cục bộ giữa các quốc gia vẫn xảy ra nhưng một cuộc chiến tranh với quy mô lớn và lôi kéo nhiều quốc gia can dự vẫn chưa có khả năng Trải qua một thập niên khắc phục những hậu quả từ Chiến tranh lạnh, các quốc gia xem phát triển là điều kiện cho thịnh vượng và phồn vinh Diễn biến của tình hình thế giới từ sau sự kiện 11-9 có những đặc điểm đáng chú ý
Đặc điểm nổi bật đầu tiên là vai trò và vị thế của các cường quốc trên thế giới
được củng cố khi các cường quốc tiếp tục giữ vai trò chi phối trong quan hệ quốc tế Bên cạnh củng cố sức mạnh quốc gia thì các cường quốc cũng tận dụng mọi cơ hội
để can thiệp vào các vấn đề quan hệ quốc tế, từ cả góc độ đơn phương và thông qua tập hợp lực lượng Mặc dù thế và lực của các cường quốc đang trên đà gia tăng nhưng xu hướng chung là các cường quốc ngày càng có quan hệ đan xen phức tạp
về lợi ích và chiến lược Thay vì đối đầu trực diện thì các cường quốc lựa chọn giải pháp kiềm chế lẫn nhau Quan hệ giữa các cường quốc vẫn trong quá trình điều chỉnh để làm cơ sở cho một chính sách toàn diện hơn trong thế kỷ XXI
Đặc điểm nổi bật thứ hai là mặc dù thế giới bước vào kỷ nguyên hợp tác với
xu thế hòa bình là chủ đạo nhưng kỷ nguyên hòa bình và ổn định thật sự cho nhân loại vẫn chưa trở thành hiện thực Những vấn đề an ninh và xung đột vẫn diễn ra khá gay gắt và phức tạp Những yếu tố nổi bật khiến tình hình thế giới vẫn bất ổn là (i) Hành động của Mỹ; (ii) Chính sách của Trung Quốc; (iii) Sự mở rộng ảnh hưởng của thế giới Hồi giáo [63, tr 1-3] Ba nhân tố trên với sức chi phối tùy từng giai đoạn khiến quan hệ quốc tế diễn biến phức tạp An ninh truyền thống và phi truyền thống, với quan hệ đan xen về phạm vi, mức độ và xu hướng diễn biến, trở thành những mối quan tâm chủ đạo của các quốc gia
Đặc điểm nổi bật thứ ba là sự nổi lên của ba hiện tượng đan xen nhau với tác
Trang 40động thuận chiều và trái chiều tùy từng giai đoạn Đó là sự vận động phức tạp của toàn cầu hóa (globalization), khu vực hóa (regionalism) và chủ nghĩa dân tộc
(nationalism) Cục diện thế giới mới có bốn đặc điểm nổi bật: Thứ nhất là sức mạnh
của mỗi quốc gia được xác định không chỉ bởi quyền lực cứng (hard-power) mà còn bởi quyền lực mềm (soft-power), trong đó quyền lực mềm được nhiều quốc gia chú
trọng Thứ hai là thế giới trở nên phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, không quốc gia nào
có thể tồn tại biệt lập hoàn toàn và tự thân giải quyết tất cả các vấn đề quan hệ quốc tế; do đó mà, tăng cường các liên kết kinh tế và cùng phối hợp giải quyết các vấn đề
toàn cầu là xu hướng nổi trội Thứ ba là bàn cờ chính trị thế giới có sự tham gia của
nhiều chủ thể hơn, bao gồm các chủ thể truyền thống (quốc gia) và các chủ thể mới như các tổ chức phi chính phủ (NGO), các công ty xuyên quốc gia (TNC) và cả các
cá nhân Các chủ thể mới ngày càng gia tăng vai trò và uy tín Thứ tư là mô hình
kinh tế thị trường và dân chủ ngày càng nhận được sự thừa nhận ở nhiều quốc gia, các quốc gia đều nỗ lực tìm hướng đi phù hợp [41]
Cục diện thế giới mới bao gồm cả cơ hội và thách thức cho tất cả các quốc gia trên thế giới, và đáng lưu ý là, các quốc gia vẫn chưa bước vào một trật tự thế giới mới [73, tr 14-15] Mặc dù một trật tự thế giới mới chưa định hình nhưng hòa bình
và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; với các quốc gia, nhìn chung thì cơ hội vẫn nhiều hơn thách thức
2.1.2 Tình hình khu vực
Tại châu Á - Thái Bình Dương, sự khác biệt của tình hình thế giới trong và sau Chiến tranh lạnh được phản ánh khá sinh động Mặc dù mâu thuẫn và xung đột vẫn tồn tại nhưng một xu thế hòa dịu đã nổi lên và chi phối sự vận động của quan hệ quốc tế khu vực [44, tr 37] Thôi thúc bởi ý nguyện hòa bình, các quốc gia phát triển chính sách đối ngoại theo hướng củng cố sự hòa dịu và hạn chế đối đầu và xung đột Trong tiến trình khu vực hóa ngày một mạnh mẽ, ASEAN góp phần gắn kết các quốc gia trên tinh thần hợp tác vì hòa bình, phát triển và phồn vinh Các quốc gia ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hòa bình và an ninh đối với sự phát triển Khi “Trật tự hai cực Yalta” tan rã thì một trật tự lấy tính hợp pháp của các cường quốc Âu - Mỹ trong việc sắp đặt thế giới cũng bị phủ nhận [36, tr