Quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LAN ANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG
TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LAN ANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG
TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 9 14 01 14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Tất Dong
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lan Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc đến GS.TS Phạm Tất Dong, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin cám ơn sâu sắc Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, các thầy cô giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục, các phòng ban của Học viện đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận án
Tôi xin cám ơn chân thành các thầy cô ở các cấp hội đồng đánh giá luận án đã chỉ bảo cho tôi những điều quý báu đề tôi hoàn thiện luận án
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án
Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lan Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 8
1.1.Tổng quan tinh hình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 8 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 20
Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 29
2.1 Trung tâm học tập cộng đồng 29 2.2 Nhu cầu bồi dưỡng của người dân tại cộng đồng và hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng 36 2.3.Quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng 47 2.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng 60
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TỈNH TUYÊN QUANG 66
3.1 Địa bàn,khách thể, tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực tiễn 66 3.2.Thực trạng hoạt động bồi dưỡng tại các Trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 73 3.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 91 3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng 105 3.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 109
Trang 6Chương 4: GIẢI PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TỈNH TUYÊN QUANG 115
4.1 Những yêu cầu mới đối với hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng 115 4.2 Nguyên tắc đề xuất giải pháp bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 117 4.3 Giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 119 4.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 134 4.5 Thử nghiệm một giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các tung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang 139
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155 TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 3.1: Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu chính thức (cán bộ quản lý) 66
Bảng 3.2: Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu chính thức (giáo viên, cộng tác viên) 67
Bảng 3.3:Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu chính thức (Học viên) 67
Bảng 3.4: Cách tính điểm thang đo 71
Bảng 3.5: Cách tính điểm thang đo 71
Bảng 3.6 Tổng số trung tâm học tập cộng đồng và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trung tâm học tập cộng đồng 73
Bảng 3.7: Các lớp bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 74
Bảng 3.8: Mức độ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2012-2017 75
Bảng 3.9: Cơ sở vật chất của các trung tâm học tập cộng đồng 76
Bảng 3.10: Nhu cầu bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 77
Bảng 3.11: Mức độ thường xuyên thực hiện chương trình, nội dung bồi dưỡng 78
Bảng 3.12: So sánh giữa đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và học viên về mức độ thường xuyên tổ chức các nội dung bồi dưỡng 79
Bảng 3.13: Mức độ phù hợp của chương trình, nội dung bồi dưỡng 80
Bảng 3.14: So sánh đánh giá của cán bộ quản lý với giáo viên về mức độ phù hợp của các nội dung bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 81
Bảng 3.15: Mức độ thường xuyên thực hiện các hình thức bồi dưỡng 83
Bảng 3.16: So sánh đánh giá của cán bộ quản lý với giáo viên về mức độ phù hợp của các hình thức bồi dưỡng 84
Bảng 3.17: Mức độ phù hợp của các hình thức bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 84
Bảng 3.18: So sánh đánh giá của cán bộ quản lý với giáo viên, học viên về mức độ phù hợp của các hình thức bồi dưỡng 85
Bảng 3.19: Mức độ thường xuyên thực hiện các khung thời gian bồi dưỡng Giáo viên 86
Bảng 3.20: So sánh đánh giá của cán bộ quản lý với giáo viên, học viên về mức độ thường xuyên thực hiện các khung giờ bồi dưỡng 86
Trang 9Bảng 3.21: Mức độ phù hợp của thời gian bồi dưỡng tại trung tâm học tập
cộng đồng 87
Bảng 3.22: Mức độ thực hiện các phương pháp bồi dưỡng 88
Bảng 3.23: So sánh đánh giá của cán bộ quản lý với giáo viên, học viên về mức độ thường xuyên thực hiện các phương pháp bồi dưỡng 89
Bảng 3.24: Mức độ phù hợp của phương pháp bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 90
Bảng 3.25: Quản lý mục tiêu bồi dưỡng 91
Bảng 3.26 : Mức độ thực hiện quản lý nội dung, chương trình bồi dưỡng 93
Bảng 3.27: Mức độ quản lý hình thức bồi dưỡng 94
Bảng 3.28: Mức độ thực hiện nội dung quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng của giáo viên và cộng tác viên 95
Bảng 3.29: Mức độ thực hiện nội dung quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên Nội dung 96
Bảng 3.30: Mức độ thực hiện quản lý giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học viên 97
Bảng 3.31: Quản lý giáo viên thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học viên 99
Bảng 3.32: Mức độ thực hiện nội dung quản lý tài liệu bồi dưỡng 100
Bảng 3.33: Mức độ thực hiện quản lý nội dung đánh giá 101
Bảng 3.34: Mức độ quản lý cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ bồi dưỡng 102
Bảng 3.35: Tương quan giữa các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng 104
Bảng 3.36: Hệ số hồi quy của các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng 105
Bảng 3.37: Hệ số hồi quy yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý giáo viên, tài liệu bồi dưỡng và đánh giá kết quả bồi dưỡng 107
Bảng 3.38 Mức độ thực hiện quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng 109
Bảng 3.39 Mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng 110
Bảng 4.1: Mức độ cần thiết của các giải pháp (%) 137
Trang 10Bảng 4.2: Mức độ khả thi của các giải pháp (%) 138Bảng 4.3: Mức độ thực hiện tổ chức hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của người dân 145Bảng 4.4:Mức độ thực hiện tổ chức hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của người dân 147
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Hình 4.1: Mô hình trung tâm học tập cộng đồng thể hiện theo logo
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào đời sống
xã hội, là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, thế kỷ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) Trong bối cảnh đó, đối với Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao đã trở thành vấn đề có tính thời sự và cấp bách hơn bao giờ hết Nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ giới hạn ở những người được đào tạo chính quy mà nó phải được thể hiện ở phạm vi rộng hơn, mang tính cộng đồng
xã hội nhiều hơn Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước hiện nay, không chỉ giới hạn ở các trường đại học, cao đẳng mà còn được thực hiện ở các trung tâm học tập cộng đồng
Trung tâm học tập cộng đồng là một mô hình giáo dục năng động, linh hoạt, phù hợp với trình độ và điều kiện của đại đa số người dân Trung tâm này được xây dựng ở tất cả các địa phương trong cả nước Trong những năm qua, các trung tâm học tập cộng đồng đã đóng góp có ý nghĩa đối với việc đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ sản xuất và phát triển xã hội ở các địa phương Tuy vậy, việc tổ chức thực hiện ở các trung tâm này còn có những khó khăn và hạn chế nhất định Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới thực trạng này Trong đó, một nguyên nhân cơ bản là sự quản lý hoạt động bồi dưỡng của các trung tâm học tập cộng đồng còn chưa thật sự đáp ứng tốt các yêu cầu giáo dục tại địa phương nói riêng và giáo dục của đất nước nói chung
Việc nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng đã trở thành một nhiệm vụ cần thiết của các địa phương hiện nay nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đối với các trung tâm này Tuy là một vấn đề nghiên cứu có tính thời sự, song nó lại chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta hiện nay
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí đặc biệt là trình độ của nông dân, các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa còn nhiều hạn chế Việc tổ chức bồi dưỡng về tri thức, kĩ năng phục vụ sản xuất kinh doanh cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng của tỉnh Tuyên Quang là rất cần thiết Hiện nay, toàn tỉnh Tuyên Quang đã có 141 trung tâm học tập cộng đồng ở khắp các huyện, xã, phường và thị trấn trong tỉnh Các trung này đã thực sự
Trang 12trở thành trường học của nhân dân lao động, đang đi vào cuộc sống, từng bước đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới, góp phần xóa đói giảm nghèo, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang Tuy nhiên, hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng với nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng còn gây ra nhiều bàn luận và chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu bức thiết của người dân Có nhiều lí do dẫn tới kết quả này, tuy nhiên một trong những lí do chính đó là các giải pháp quản lý hoạt động này chưa thật sự đem lại hiệu quả như mong muốn
Do vậy, để đề xuất được những giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang hiện nay thì rất cần có một đề tài nghiên cứu chính thức, chuyên sâu về vấn đề này từ góc độ khoa
học quản lý giáo dục Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài:“Quản
lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang”
với mong muốn tìm ra giải pháp quản lý hiệu quả hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương và xây dựng xã hội học tập ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tập học tập cộng đồng
Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tập học tập cộng đồng
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang để tìm ra các bất cập, nguyên nhân và các yếu
Trang 13tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học
tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang, thử nghiệm 1 giải pháp trong thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học
tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1.Giới hạn về phạm vi nội dung nghiên cứu
Có rất nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng Tuy nhiên, luận án này sử dụng các cách tiếp cận nghiên cứu như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận nhu cầu và tiếp cận quá trình kết hợp với tiếp cận chức năng quản lý Tiếp cận chính để xác định nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng là tiếp cận phối hợp giữa tiếp cận quá trình kết hợp với tiếp cận chức năng quản lý
3.2.2.Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại 32 trung tâm học tập cộng đồng của 7 huyện,
thành phố trên toàn tỉnh Tuyên Quang(chi tiết xem tại chương 3 của luận án)
3.2.3 Giới hạn về khách thể điều tra, khảo sát của luận án
Tổng số khách thể nghiên cứu tham gia vào quá trình khảo sát (khảo sát thử để xây dựng bộ công cụ và khảo sát chính thức) đề tài luận án gồm có: 810 người Gồm có 3 nhóm khách thể: cán bộ lãnh đạo quản lý; giáo viên, cộng tác viên; học viên và người dân (chi tiết xem tại chương 3 của luận án)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang, luận án xác định các cách tiếp cận nghiên cứu sau:
-Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu quản lý hoạt động bồi
dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng chính là việc xem xét các trung tâm học tập cộng đồng như là một thành tố của hệ thống xã hội, có quy luật
Trang 14vận hành, có mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố để tạo thành một chỉnh thể Nói cách khác, nó chính là việc xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu của người dân trọng cộng đồng về hoạt động bồi dưỡng, yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực của xã hội, của địa phương với các trung tâm học tập cộng đồng trên phương diện cung cầu trong hệ thống xã hội Mặt khác, cách tiếp cận này sẽ giúp cho chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng đặt các giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng trong hệ thống các nội dung quản
lý khác của quản lý trung tâm học tập cộng đồng nhằm đảm bảo tính đồng bộ và tính khả thi của các giải pháp đề xuất
-Phối hợp giữa tiếp cận quá trình bồi dưỡng theo giáo dục học với tiếp cận
chức năng quản lý: Tiếp cận quá trình bồi dưỡng theo giáo dục học là xem xét các
thành tố của quá trình bồi dưỡng vận dụng vào bồi dưỡng theo lý luận giáo dục học
để nhận biết thành tố nào có trước, thành tố nào có sau, mối quan hệ tương hỗ của các thành tố đó với nhau để tạo nên chất lượng đào tạo Mặt khác, có thể nói rằng, các tác động quản lý từ phía các trung tâm học tập cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này là một quá trình tác động đồng bộ đến nhận thức, tình cảm và hành vi của cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên gia, học viên Do vậy, các giải pháp
đề xuất phải được sắp xếp theo trật tự tuyến tính của quá trình hình thành nhận thức, thái độ và hành động cho giáo viên và chuyên gia cũng như học viên tham gia các lớp bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng
Tiếp cận chức năng quản lý trong nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng là việc xác định các giải pháp chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng
Có thể nói việc phối hợp tiếp cận quá trình theo giáo dục học và tiếp cận chức năng quản lý trong quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng là việc quản lý các thành tố của quá trình bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng thông qua việc thực hiện 4 chức năng quản lý
sẽ đảm bảo hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại cộng đồng đạt được chất lượng theo mục tiêu đã đề ra
-Tiếp cận theo nhu cầu của người dân trong cộng đồng và địa phương:Hoạt
động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng phải được Giám đốc
Trang 15các trung tâm học tập cộng đồng xác định dựa trên nhu cầu thực sự cấp bách của người dân địa phương, cũng như nhu cầu sử dụng lao động của các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp tại địa phương Do vậy, trong việc xây dựng các giải pháp quản
lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng chủ thể quản lý cần chú trọng vào việc xác định các nhu cầu này để xác định mục tiêu, nôi dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho người dân trong cộng đồng thật sự phù hợp và có hiệu quả
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
- Phương pháp phỏng vấn sâu;
-Phương pháp nghiên cứu sản phẩm bồi dưỡng;
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
4.3 Giải thuyết khoa học
Quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang còn bộc lộ những hạn chế trong quản lý mục tiêu bồi dưỡng; nội dung, chương trình bồi dưỡng; hình thức bồi dưỡng; đội ngũ giáo viên thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng; tài liệu bồi dưỡng; kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng; cơ sở vật chất phục vụ bồi dưỡng dẫn tới hạn chế trong việc bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang Nếu đề xuất và thử nghiệm giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận quá trình bồi dưỡng và chức năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
4.4 Câu hỏi nghiên cứu
Việc thực hiện luận án này nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1)Việc nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng được tiếp cận từ quan điểm khoa học nào? Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng là gì?
2)Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng hiện nay là như thế nào? Nó có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Những yếu tố nào
có ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng này?
Trang 163)Những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay?
5.Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và xác định được một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng Đây là một vấn đề còn rất
ít được nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay Ở đây, đề tài luận án đã phân tích tính đặc thù của hoạt động bồi dưỡng cho người dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường tại một địa phương miền núi, cũng như yêu cầu của hoạt động bồi dưỡng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0)
Luận án đã đánh giá được thực trạng hoạt động bồi dưỡng, thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng tại một số trung tâm học tập cộng đồng của tỉnh miền núi (tỉnh Tuyên Quang) Hoạt động bồi dưỡng này đã đáp ứng một cách cơ bản nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, nhu cầu nâng cao dân trí (xóa mù chữ và xóa tái mù chữ cho người dân, học ngoại ngữ, tin học ), nhu cầu chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất,…cho người dân Luận án cũng đã làm rõ được tính đặc thù của hoạt động quản lý đối với việc bồi dưỡng kiến thức cho người dân các xã miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Tuyên Quang Luận án đã xây dựng được các tiêu chí quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang.Đây cũng là một vấn đề còn rất ít được nghiên cứu từ góc độ khoa học quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận
về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng ở nước ta hiện nay, đặc biệt là đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn của các tỉnh miền núi Kết quả nghiên cứu về mặt lý luận, về mặt phương pháp của luận án cũng là cơ sở khoa học để có thể tiến hành những nghiên cứu tiếp theo
trong lĩnh vực Quản lý giáo dục ở Việt Nam hiện nay
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy quản lý hoạt động bồi dưỡng tại một
số trung tâm học tập tỉnh Tuyên Quang ở mức độ trung bình, trong đó mức độ quản
Trang 17lý, kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng, quản lý tài liệu bồi dưỡng ở mức khá yếu Kết quả nghiên cứu này là những chỉ số tham khảo bổ ích cho những người quản lý các trung tâm học tập cộng đồng đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý của các trung tâm học tập cộng đồng hiện nay
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các giải pháp của luận án đề xuất và kết quả thử nghiệm một giải pháp có tính cần thiết, tính hiệu quả và tính khả thi cao Các trung tâm học tập cộng đồng có thể sử dụng các giải pháp này để nâng cao chất lượng và hiệu quả bổi dưỡng cho người dân
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo bổ ích đối với nghiên cứu và giảng dạy về hoạt động bồi dưỡng trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
Chương 4: Giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
Trong chương 1 này, chúng tôi tập trung vào việc tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng Để tìm hiểu và có những khẳng định về cách tiếp cận, sự kế thừa các nghiên cứu đi trước để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng, chúng tôi tập trung vào hai vấn đề chính sau đây: 1) Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng; 2) Quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng
1.1.Tổng quan tinh hình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Trên thế giới, vấn đề học tập tại cộng đồng dân cư có nội dung hết sức phong phú với cách thức tổ chức đa dạng Tại nhiều nước ở Châu Á, người ta tổ chức các trung tâm học tập cộng đồng, nhất là ở Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philippines, Malaysia, và ở nhiều quốc gia khác họ phát triển mạnh các hình thức học gắn với cộng đồng nhưng thường tổ chức thành những dự án như học tập tại nơi làm việc, học tập tại nhà, học tập điện tử,… Khi một số nước Châu Á phát triển một loại thiết chế giáo dục không chính quy gắn với cộng đồng gọi là trung tâm học tập cộng đồng thì Unesco đã coi đây là một phát kiến vĩ đại, mở ra một hướng học tập suốt đời dựa vào cộng đồng, gắn với cộng đồng và vì sự phát triển của cộng đồng
Do vậy, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu cụ thể của các nhà nghiên cứu bàn luận một cách sâu sắc và có hệ thống về học tập tại cộng đồng dân cư Ở Việt Nam, vấn
đề học tập tại cộng đồng dân cư được triển khai để hiện thực hóa việc xây dựng xã hội học tập Trong đó, trung tâm học tập cộng đồng là loại thiết chế giáo dục thường xuyên được tổ chức trên địa bàn xã, phường và thị trấn, là tổ chức giáo dục đưa đến tận người dân Đúng như nhận định của Tổng Giám đốc Unesco khu vực ông Victor Ordonez đã khẳng định: “trung tâm học tập cộng đồng có thể coi là phát minh quan trọng nhất mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm” [dẫn theo 12] Chính vì vậy, ở Việt Nam các nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trang 19Các nghiên cứu về vấn đề này được bàn luận theo 2 hướng chính: (1) Hướng nghiên cứu về vai trò, mục đích, nhiệm vụ, chức năng, quy trình hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng; (2) Hướng nghiên cứu về nội dung, hình thức bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng Dưới đây chung tôi sẽ nêu dẫn và phân tích cụ thể về các hướng nghiên cứu này
-Hướng nghiên cứu về vai trò, mục đích, nhiệm vụ, chức năng và quy trình hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
+Các nghiên cứu trên thế giới
Bàn luận và nghiên cứu về vai trò, mục đích, nhiệm vụ, chức năng và quy trình hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng có các tác giả như: Edgar Faure; Jin Yang, Rika Yoruku, Koeum Lee; Rober M Hutchins,
Tác giả Edgar Faure,người lãnh đạo Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục thế
kỷ XXI đã bàn về vai trò của hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại cộng đồng, giúp người dân có thể học tập suốt đời Edgar Faure đã đưa ra khái niệm “Learning
to be” (Học để tồn tại, mà ý nghĩa sâu xa là học để làm người) Trong ý tưởng này, Edgar Faure cho rằng, kiến thức giáo dục ban đầu không bao giờ đủ dùng trong suốt cuộc đời Với các khẳng định của Edgar Faure trong cuốn sách này đã mở đầu cho việc thảo luận toàn cầu và kéo dài đến đầu thế kỷ XXI Trong đó, việc bàn luận của các nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm ra mô hình học tập suốt đời và xã hội học tập [dẫn theo 12]
Các tác giả Jin Yang, Rika Yoruku, Koeum Lee, với bài viết: “Xây dựng xã hội học tập ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore”, đã nêu dẫn kinh nghiệm của 3 quốc gia này về xây dựng xã hội học tập Chẳng hạn, ở Singapore, Chính phủ cho rằng, con đường duy nhất để đất nước có thể cạnh tranh được với các quốc gia khác, nhất
là các quốc gia phát triển, là đầu tư thật mạnh mẽ cho giáo dục và liên tục nâng cao
kỹ năng cho người lao động qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng tại cộng đồng Tỷ lệ đầu tư cao cho giáo dục đã bảo đảm cho Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore có được lực lượng lao động có trình độ và chất lượng tốt, năng suất lao động đạt hiệu quả lớn, tăng tỷ lệ tiết kiệm và nguồn vốn cho nền kinh tế, di chuyển lực lượng lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ [69] Tiếp theo sự khẳng định của các tác giả Sungho Kwon, Jin Yang, Rika Yoruku, Koeum Lee về vai trò quan trọng phải hình thành các trung tâm học tập cộng đồng để hiện thực hóa ý tưởng xây dựng xã hội học tập thì có nhiều tác giả khác cũng khẳng định sự cấp thiết phải xây dựng xã hội học tập nhằm giúp cho người dân trong cộng
Trang 20đồng thích ứng được với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước và toàn
cầu Với cuốn sách “Xã hội học tập” (The learning sociely),Rober M Hutchins khẳng
định: “Xã hội học tập trở nên cấp thiết” sự thay đổi một cách nhanh chóng của xã hội đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu thay đổi đó.Vì vậy giáo dục phải tạo điều kiện cho việc học tập của con người diễn ra liên tục [75] Công trình nghiên cứu của tác giả Donald Schon với ý tưởng các công ty, các phòng trào xã hội và các cơ quan đều phải là “các hệ thống học tập” (leaning system) [73]
Tác giảRoberto Carneirođã viết bài với nhan đề “Làm sống lại tinh thần cộng đồng: Một cách nhìn về vai trò xã hội hóa của nhà trường trong thế kỷ tới” Nội dung bài viết đã đề cập đến một vấn đề quan trọng: Bất cứ thiết chế giáo dục nào cũng phải coi như một lĩnh vực hành động công cộng Chính vì thế, trường học, trong đó có Trung tâm học tập cộng đồng - một loại hình trường học nằm trong cộng đồng dân cư dành cho người lớn, đều phải được tổ chức trong sự liên kết và cơ động xã hội cũng như trong việc phục vụ đời sống của cộng đồng Các thiết chế giáo dục tại cộng đồng luôn phải đồng hành với xã hội hóa và đi theo việc học tập suốt đời của mỗi người dân [6]
Tiếp tục các khẳng định về vai trò và tầm quan trọng của trung tâm học tập cộng đồng với nhiệm vụ giáo dục người dân trong cộng đồng theo triết lý học tập suốt đời tác giả Richard Ewards trong cuốn sách: “Thay đổi địa điểm? Tính linh
hoạt, học tập suốt đời và một xã hội học tập”, (Changing places? Flexibility,
lifelong learning and a learning society) đã chỉ ra khái niệm về một xã hội học tập
đã phát triển trong những năm gần đây: những thay đổi đã tạo ra yêu cầu về tính linh hoạt, những diễn biến và thực tiễn đã xuất hiện trong giáo dục và đào tạo người dân tại cộng đồng Trong đó, sự khẳng định chắc chắn rằng việc học của người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng nhằm tới giúp họ có khả năng tham gia vào đời sống xã hội, có thể thích ứng được với đời sống xã hội tốt hơn [72]
Một công trình nghiên cứu về xã hội học tập đáng quan tâm nhất là của
Hutsen, với tác phẩm: “Xã hội học tập”, (The learning sociely) đã khẳng định: sự
phát triển của khoa học kĩ thuật kéo theo sự phát triển về kinh tế xã hội của toàn thế giới đã đặt ra yêu cầu đối với cá nhân trên toàn cầu phải luôn luôn học tập, học tập suốt đời Tác giả tin rằng, nếu cá nhân không luôn học tập, không học các kĩ năng làm việc nhiều lần trong đời sẽ không bao giờ có thể theo kịp với tương lai ngày càng phát triển của công nghệ Khi cuộc sống ngày càng đòi hỏi trí thông minh và
Trang 21khả năng thích nghi của cư dân thì chỉ có cá nhân không ngừng học tập mới có thể đối mặt được với sự phát triển của khoa học công nghệ, của xã hội loài người [74] Như vây, có thể nhận thấy rằng với các công trình nghiên cứu nêu trên, các nhà nghiên cứu về xã hội học tập đã khẳng định xu thế học tập suốt đời và xây dựng được một xã hội học tập như tính tất yếu của thời đại Các nghiên cứu nêu trên cũng
đã khẳng định việc thành lập các trung tâm học tập cộng đồng để hiện thực hóa triết
lý học tập suốt đời cho người dân là nhiệm vụ rất quan trọng
Bên cạnh việc nghiên cứu và khẳng định vai trò quan trọng của trung tâm học tập cộng đồng đối với việc thực hiện và xây dựng xã hội học tập, các nhà nghiên cứu trên thế giới còn bàn luận và nghiên cứu về việc tổ chức các hoạt động học tập
tại cộng đồng Tác giả Alexsandra Korhausertrong tác phẩm:Tạo các cơ hội Học
tập - một kho báu tiềm ẩn đã khẳng định: Muốn phát triển con người bền vững rất
cần phải tạo ra cho con người những cơ hội được học tập suốt đời Việc tổ chức các hoạt động học tập tại cộng đồng cần phải gắn chặt chẽ với việc làm của người dân tại cộng đồng đó, gắn với nhu cầu của thị trường lao động tại cộng đồng Mặt khác, tác giả cũng nhấn mạnh, muốn hoạt động học tập tại cộng đồng có hiệu quả thì rất cần tới sự khoan dung, xem sự khoa dung là một giá trị cốt lõi của hoạt động này Khoa dung thể hiện trong hoạt động học tập tại cộng đồng chính là sự thể hiện sự hợp tác, gắn bó mật thiết với nhau giữa các thành viên cùng học tập, giữa học viên tham gia học tập với giáo viên, với chuyên gia và với người quản lý [34]
Với nghiên cứu cụ thể của mình, tác giả Michael Manley đã khẳng định thêm quan điểm về triết lý học tập suốt đời cũng như quan điểm về sự đồng thuận xã hội
và gắn kết xã hội như là những giá trị cốt lõi tạo nên hiệu quả của hoạt động suốt đời cho người dân tại cộng đồng Tư tưởng này được tác giả bàn tới ở tác phẩm:
Giáo dục, sự tự chủ và sự hàn gắn xã hội “Học tập: một kho báu tiềm ẩn” Trong
tác phẩm này tác giả khẳng định, trong xã hội hiện nay, sự phân tầng xã hội và hiện tương chia rẽ cộng đồng này với cộng đồng khác diễn ra mạnh mẽ Có như vậy người dân mới có thể thoát được nghèo khó, tự chủ được trong bối cảnh xã hội đang phát triển và thay đổi mạnh mẽ [40]
Bên cạnh công bố của Alexsandra Korhauser, Michael Manley, tác giả Karan Singh đã công bố bài viết có tựa đề “Giáo dục vì một xã hội toàn cầu” Tác giả đã khẳng định, việc học tập của học viên tại các trung tâm học tập cộng đồng cần nhất là được bồi dưỡng các tri thức về con người, về xã hội về sự phát triển kinh
tế, xã hội, Để con người có thể sống tốt trong xã hội, cần phải được học tập và bồi
Trang 22dưỡng suốt đời và cũng thông qua học tập và bồi dưỡng con người phải thích ứng được với hiện trạng đa văn hoá trên thế giới [50]
Tác giả Rodolfo Stavenhagen,cũng có bài viết nhan đề “Giáo dục vì một thế
giới đa văn hóa “Học tập: một kho báu tiềm ẩn” Trong bài viết này, tác giả khẳng
định, con người sống trong xã hội, sống trong thế giới cần phải thích ứng được với tính đa dạng về văn hoá Sự thích ứng của con người với sự đa dạng về văn hoá trên thế giới có hiệu quả nhất là thông qua hoạt động học tập, bồi dưỡng và tự học tập,
tự bồi dưỡng Các quốc gia hiện đại ngày nay không còn thuần nhất một dân tộc, vì thế trong mỗi quốc gia, tính đa dạng về văn hóa đang hiện lên ngày càng rõ nét Chung sống phải là mục tiêu cuối cùng của giáo dục [55]
Tác giả Myong Won Suhr với bài viết: Mở rộng sự hiểu biết của chúng ta vì
một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”, tác giả
cho rằng, người lớn (những công dân) cần nhận thức rằng, chính sách đóng cửa của nhiều quốc gia sẽ hạn chế sự hiểu biết lẫn nhau trong cộng đồng thế giới, và đây là một trở ngại cho việc xây dựng lý tưởng về một nền hòa bình chung, về an ninh quốc gia và an ninh con người, về hợp tác và đoàn kết quốc tế [56]
Quy trình tổ chức hoạt động học tập, bồi dưỡng cho người lớn tại cộng đồng cũng
đã được tác giả Donal Alan Schon bàn tới Tác giả đã khẳng định: Vấn đề trung tâm của việc tổ chức hoạt động học tập cho người lớn tại cộng đồng là việc tổ chức học tập của người lớn sao cho có hiệu nghiệm ngay trong từng cộng đồng dân cư [73]
+Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, trong những năm vừa qua đã và đang xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng để tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại cộng đồng để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng xã hội học tập.Cụ thể như: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 927/QĐ-TTg ngày 22/6/2010 về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia xã hội học tập giai đoạn 2011-2020 chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình xã hội học tập [10] Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thức X (4/2006)
đã chủ trường: “Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân,… chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình
xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”[29] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến
Trang 23tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”,
“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội… Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục
mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập’’[17]
Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 với mục tiêu cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi lúc, mọi nơi, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập”[9]
Ngày 9/01/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 89 QĐ/TTg về xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020 Theo quyết định này, từ những nông dân, lao động nông thôn, công nhân trong các xí nghiệp, công chức, viên chức, người cao tuổi, người khuyết tật,… đều phải tham gia vào quá trình học tập suốt đời theo những chỉ tiêu pháp lệnh Tiếp theo, ngày 20/02/2014, Thủ tướng đã ra Quyết định số 281/QĐ-TTg về đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng
họ, cộng đồng và đơn vị đến năm 2020 Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT về Bộ tiêu chí đánh giá Cộng đồng học tập cấp
xã Do vậy, Trung tâm học tập cộng đồng trở thành một thiết chế giáo dục giúp cho từng người dân trong gia đình, dòng họ và cộng đồng tới học tập thường xuyên Ngày 01/7/2015, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 971/QĐ-TTg về “Dạy nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm học tập cộng đồng” Văn kiện này đã khẳng định rằng, Trung tâm học tập cộng đồng có chức năng đào tạo nghề, cung ứng các dịch vụ dạy nghề để đào tạo nhân lực tại chỗ, mở rộng mạng lưới nghề nghiệp nông thôn, phát triển những nghề ngắn hạn,… Đến đây, giai đoạn phát triển số lượng các Trung tâm học tập cộng đồng đã chuyển sang giai đoạn phát triển đa dạng các chức năng đào tạo, huấn luyện người lớn tại loại hình cơ sở giáo dục này
Khẳng định về vai trò quan trọng của trung tâm học tập cộng đồng trong việc hiện thực hóa chủ trương xây dựng xã hội học tập ở nước ta không thể không kể tới bài viết của tác giả Phạm Tất Dong: “Xây dựng xã hội học tập - một xu hướng đổi
Trang 24mới phát triển giáo dục thế kỷ XXI” đã khẳng định: Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tạo ra những tiền đề quan trọng để nền kinh tế công nghiệp trên thế giới tường bước chuyển sang nền kinh tế tri thức Sự bùng nổ thông tin và hệ thống tri thức mới, công nghệ mới cho thấy những kiến thức mà con người tiếp thu trong
hệ thống giáo dục ban đầu không thể sử dụng suốt đời, học vấn phổ thông không còn giúp con người đi thẳng vào lao động sản xuất đem lại hiệu quả cao Do vậy, con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội tri thức cần phải học suốt đời để thích ứng được với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ [13]
Tác giả Phạm Minh Hạc, với rất nhiều công trình nghiên cứu của mình về vấn
đề xã hội học tập và tư tưởng học tập suốt đời Năm 2000, tác giả đã xuất bản cuốn sách: “Tổng kết 10 năm (1990-2000) xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học” Trong cuốn sách này tác giả đã trình bầy kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục các bậc học của nước ta trong những năm 1990 đến năm 2000 Kết quả xoá mù chữ
và phổ cập giáo dục là một trong những thành công lớn của Việt Nam, mặt khác cũng thể hiện rõ nét những chủ trương của đất nước về việc xây dựng một xã hội học tập, ở đó người dân được đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của mình, tạo ra một
xã hội học tập công bằng [24] Năm 2001, tác giả lại xuất bản cuốn sách “Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Cuốn sách đã bàn tới rất nhiều vấn đề về phát triển con người Việt Nam gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt nhấn mạnh cần phải phát triển con người Việt Nam phù hợp
và đáp ứng được với sự phát triển của kinh tế, chính trị xã hội của Việt Nam hiện nay Các chỉ số phát triển con người việt Nam cần phải theo hướng giúp cho cá nhân đáp ứng và thích nghi được với thời kỳ CNH-HĐH đất nước Muốn vậy, con người cần phải được học tập, tạo cho họ môi trường học tập tốt để phát triển toàn diện các chỉ số, tăng chỉ số phát triển con người của Việt Nam ngang bằng các nước khu vực [25] Một tác phẩm bàn trực tiếp về xã hội học tập của tác giả Phạm Minh Hạc xuất bản vào năm
2004 là bài báo khoa học có nhan đề: “Tìm hiểu quan niệm về xã hội học tập” Tác giả
Phạm Minh Hạc cho rằng xã hội học tập là một xã hội mọi người đều lấy học tập là một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà trường, chính quy và không chính quy, như là một phần không thể thiếu được của đời mình, lấy học tập là phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lí) của cuộc sống nhằm phát triển con người bền vững - động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xã hội [26]
Tác giả Phạm Minh Hạc, với bài viết: “Kinh tế tri thức và giáo dục đào tạo, phát triển người” Tác giả cũng đã đưa ra 3 luận điểm về học tập suốt đời đó là:Dân
Trang 25trí phải trở thành nhân lực;Kết quả học tập phải trở thành nội lực của mỗi người; Giáo dục trong thời đại kinh tế tri thức phải tạo ra những giá trị mới như giá trị thông tin, giá trị công nghệ [24]
Tác giả Hoàng Minh Luật với bài viết: “Định hướng chiến lược phát triển giáo dục thường xuyên và xây dựng trung tâm học tập cộng đồng” đã khẳng định: Cần phải xem xét vấn đề phát triển giáo dục thường thường xuyên để xây dựng xã hội học tập Theo ông, triết lý “Giáo dục tinh hoa” phải chuyển sang triết lý “Giáo dục đại chúng”; triết lý “Giáo dục một lần” phải chuyển sang triết lý “giáo dục suốt đời” Đó là triết lý cơ bản để xây dựng xã hội học tập [38, tr4-5]
Bên cạnh các nghiên cứu về vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu đối với việc học suốt đời đã được phân tích ở trên thì còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác cũng đi sâu bàn luận về vấn đề này Cụ thể là các tác giả Phạm Tất Dong và Đào Hoàng Nam; Thái Thị Xuân Đào; Hoàng Minh Luật; Vũ Văn Tảo,… Tác giả Phạm Tất Dong và Đào Hoàng Nam trong cuốn sách “Phát triển giáo dục hướng tới một xã hội học tập” đã trình bầy rất rõ về nội dung và hình thức giáo dục thường xuyên cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng[15, tr189] Với kết quả nghiên cứu thông qua điều tra trên diện rộng Thái Thị Xuân Đào
đã khẳng định, hệ thống giáo dục không chính quy mà trung tâm học tập cộng đồng
là một thành tố trong hệ thống đó phải thực hiện đủ 4 chức năng giáo dục[19, tr27] Nhiều tác giả khác nhau với những bài viết cụ thể đã khẳng định rất rõ nhiệm
vụ của các trung tâm học tập cộng đồng chính là việc hiện thực hóa chủ trương xây dựng xã hội học tập Trong đó thống nhất cao những nhiệm vụ mà trung tâm học tập cộng đồng cần phải triển khai thực hiện Cụ thể gồm có các tác giả như: Hoàng Minh Luật, với bài viết: “Định hướng phát triển giáo dục thường xuyên và xây dựng trung tâm học tập cộng đồng”[38, tr4-5]; Phạm Tất Dong, Thái Xuân Đào, với bài viết:
“Trung tâm học tập cộng đồng - Công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập ở cơ sở”,
Kỷ yếu hội nghị quốc tế: “Diễn đàn Việt Nam - học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập[14] Tác giả Tô Bá Trượng, với tác phẩm: “Giáo dục thường xuyên” đã thống nhất những nhiệm vụ mà Trung tâm học tập cộng đồng phải triển khai Trung tâm học tập cộng đồng thông qua chương trình giáo dục không chính quy giúp người học cập nhật kiến thức và kỹ năng và xóa mù những kỹ năng cơ bản mà nền sản xuất yêu cầu phải có; hoàn thiện học vấn, hoàn thiện tay nghề và hoàn thiện nhân cách là nhiệm vụ mà mọi Trung tâm học tập cộng đồng thực hiện thường xuyên trong các lớp học, các buổi sinh hoạt theo chuyên đề hoặc các lớp tập huấn [65]
Trang 26Người có công lớn đưa vấn đề xã hội học tập vào đất nước phải kể đến Vũ Văn Tảo với chuyên đề:“Chiến lược xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam” Trong chuyên đề này tác giả khẳng định có 5 nguyên tắc bao trùm cả hai hệ thống giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục đó là:Mọi người học tập và học liên tục;Phát triển giáo dục gắn với phát triển văn hóa;Cả hai hệ thống đều phải mang tính đa dạng, mềm dẻo, liên thông;Hệ thống mang tính mở;Trình độ đào tạo phải theo hướng quốc tế hóa.Về xã hội học tập, Vũ Văn Tảo cho rằng, đây là một xã hội mà việc học tập của công dân phải đạt 3 mục tiêu: Mục tiêu 1: Xây dựng năng lực thích ứng (adaptableness) với những thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất cũng như trong đời sống xã hội; Mục tiêu 2: Xây dựng năng lực tự học sáng tạo trong quá trình học tập suốt đời, biết tự nhận thức và con người phải trở thành nhân lực biết tư duy (Thinking manfower); Mục tiêu 3: Xây dựng năng lực chung (competences generales) để vượt qua giới hạn của đào tạo chuyên môn hẹp [58] Như vậy, với những công trình này, các tác giả đã bàn rất sâu và cụ thể về mục đích, chức năng, quy trình hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng Đây là cơ sở
lý luận quan trọng để đề tài luận án xem xét nghiên cứu các vấn đề liên quan mật thiết đến mục đích, chức năng và quy trình hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Các nghiên cứu về nội dung, hình thức hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng có các nghiên cứu sau:
- Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu cụ thể về nội dung, hình thức hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng cũng đã được thực hiện và bước đầu đã có những kết quả đáng kể Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra những nội dung, hình thức cụ thể về hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng nhằm định hướng cho các quốc gia, các cộng đồng xây dựng nội dung, hình thức hoạt động này trong thực tiễn Bàn về nội dung hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại cộng đồng thì hầu như các quốc gia đều tổ chức học tập suốt đời cho người dân gắn với các cộng đồng dân cư, xoay quanh bốn trụ cột giáo dục như Unesco khuyến cáo:Học để biết (Learning to Know);Học
để làm (Learning to do);Học để chung sống (Learning to live together);Học để làm người (Learning to be).Bốn trụ cột giáo dục này được JacquesDelors trình bày trong báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đệ trình Unesco, có tiêu đề: Học tập - một kho báu tiềm ẩn (Learning: The Treasure within)[11]
Trang 27Bên cạnh việc chỉ ra vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của hoạt động giáo dục người dân tại cộng đồng để xây dựng xã hội học tập như đã bàn luận ở trên, các nhà nghiên cứu trên thế giới còn đi sâu vào việc nghiên cứu và chỉ ra các nội dung
cơ bản của hoạt động giáo dục người dân tại cộng đồng Tác giả Gwang - Jo Kim
trong bài viết: “Các quan điểm toàn cầu về học tập suốt đời và bài học cho các nhà
hoạch định chính sách” Tác giả đã phân tích việc triển khai ý tưởng học tập để làm
theo hướng phát triển các kỹ năng như một lợi thế cạnh tranh trong việc tạo việc làm bền vững Theo quan điểm của ông, kỹ năng tìm kiếm việc làm là yêu cầu cơ bản [32] Nói đến phát triển lực lượng lao động là đề cập tới vấn đề việc làm Các
tác giả Rie Vejo- Kjeldgaard và Carmela Torres,trong bài viết: “Phát triển lực
lượng lao động và học tập suốt đời” cũng có quan điểm tương tự Theo họ, duy trì
và nâng cao kỹ năng cho từng người là việc làm cần thiết hàng đầu, mà vấn đề lớn ở đây là đào tạo nghề: Vấn đề tuyển dụng lao động ngày nay luôn chú trọng đến nghề được đào tạo và tinh thần học tập suốt đời trong quá trình hành nghề [67]
Tác giả Sungho Kwon(2014), với bài viết: “Xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc”, đăng trên kỷ yếu Hội thảo “Xã hội học tập - từ tầm nhìn đến hành động” đã cho thấy: Nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam,… rất coi trọng thiết chế giáo dục cộng đồng Tại các quốc gia này, việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng hay giáo dục cho người dân tại các trung tâm học tập cộng đồng rất được coi trọng Nhiều chương trình hành động đã được tổ chức thực hiện nhằm thực hiện hiệu quả thiết chế này Cụ thể như: tổ chức các hoạt động giáo dục không chính quy cho người dân gắn với cộng đồng dân cư, với nhiều hình thức khác nhau, nội dung và mục tiêu khác nhau tùy thuộc mật thiết vào nhu cầu của người dân tại cộng đồng dân cư [36] Những tư liệu và những bài viết của Sasai,
Soon-ok Jo về“Xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc”đã cho thấy: đối với giáo dục
người lớn, trong bất cứ chương trình hành động nào, các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,… người ta đều coi trọng thiết chế giáo dục cộng đồng có tên gọi khác nhau tùy theo mỗi quốc gia, nhưng bản chất là tổ chức giáo dục không chính quy gắn với cộng đồng dân cư mà ta gọi chung là Trung tâm học tập cộng đồng [49]
Các hình thức tổ chức hoạt động học tập và bồi dưỡng cho người dân tại cộng đồng cũng được nghiên cứu rất cụ thể Ở nhiều quốc gia trên thế giới, để thực hiện mục tiêu giáo dục suốt đời cho người dân thì các quốc gia này đã tổ chức nhiều hoạt động đào tạo Các hình thức đào tạo này hết sức linh hoạt và sáng tạo, sử dụng
Trang 28những thành tựu của khoa học công nghệ một cách tốt nhất Một số hình thức học tập cụ thể như: dự án xây dựng các Trung tâm học tập điện tử dựa vào cộng đồng;
tổ chức học tập điện tử (e - learning); mạng lưới e - ASEM (tổ chức đào tạo chuyên gia về học tập điện tử),… Có thể nêu ra các công trình nghiên cứu về các hình thức học tập này ở một số quốc gia trên thế giới như sau
Trong thế giới hiện đại, với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc tổ chức học tập điện tử (e - learning) trong học tập suốt đời bắt đầu thịnh hành Học tập điện
tử đã mang lại cho người lớn một cơ hội tiếp cận tri thức và học vấn rất thuận lợi
Đi theo hướng nghiên cứu này có các tác giả như: Tae Rin Lee, Ichiro Mifazawa, Sungho Kwon,
Trong Báo cáo khoa học “Vai trò của học tập điện tử trong học tập suốt đời”, tác giả Tae Rin Lee đã đề cập tới mạng lưới e - ASEM (tổ chức đào tạo chuyên gia
về học tập điện tử) Tác giả đã khẳng định, đối với hoạt động học tập suốt đời của người dân thì học tập điện tử có vai trò hết sức quan trọng, nó giúp cho người dân
có thể tiếp thu được những kiến thức, kĩ năng của toàn nhân loại một cách nhanh chóng nhất [37]
Trong một báo cáo khoa học có nhan đề “Học tập điện tử - Trang mạng mở về giáo dục cho học tập suốt đời” của Ichiro Mifazawa,tác giả đã khẳng định về hiệu quả của việc học trên điện thoại di động Việc học thông qua điện thoại di động đã được áp dụng cho những người đang có học vấn thấp Người ta dùng điện thoại di động để chuyển tải tài liệu sau khóa học cho những thanh niên mới biết chữ Những học viên trẻ này phải đọc và trả lời những câu hỏi trên điện thoại di động [41]
Tiếp theo các nghiên cứu của các tác giả trên, tác giả Sungho Kwon với bài
viết: “Chiến lược học tập điện tử trong học tập suốt đời – Từ học tập 2,0 đến học
tập 3,0”, đã nghiên cứu sâu về chiến lược học tập điện tử để thực hiện học tập suốt
đời Việc học tập điện tử ngày nay có nhiều thuận lợi bởi sử dụng cả phương tiện có dây lẫn không dây, hơn nữa phương tiện rất đa dạng mà nền tảng là điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay, máy tính cá nhân[36]
Cũng bàn về lĩnh vực học tập điện tử, nhưng các tác giả Maria Melizza D Tan
và Yuko Lisette R Domingo,trong bài viết: “Chương trình eskwela: Phá vỡ những
thói quen cũ”, lại đi sâu vào Chương trình eskwela - đó là dự án xây dựng các
Trung tâm học tập điện tử dựa vào cộng đồng Các khóa học điện tử gồm nhiều Modules với nội dung hết sức đa dạng Ví dụ, cơ quan phát triển kỹ năng và giáo dục kỹ thuật (TESDA) của Philippines đã đưa ra 283 modules về giáo dục kỹ thuật
Trang 29làm vườn, điện lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, dịch vụ ô tô, nghiệp vụ quán Bar v.v… người học được mở rộng quyền lựa chọn lĩnh vực đào tạo [57]
Nhờ công nghệ thông tin, người ta đã mở rộng phương thức dịch vụ giáo dục
Về lĩnh vực này, Mie Buhi với bài viết: “Giao tiếp đa phương thức”, đã nghiên cứu
về giao tiếp đa phương thức mà chủ yếu là sử dụng video để hỗ trợ công tác tư vấn phục vụ mục tiêu giáo dục người lớn tại các trung tâm học tập cộng đồng
+Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta trong thời gian qua, việc nghiên cứu về nội dung, hình thức hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng cũng đã được quan tâm nghiên
cứu Dưới đây chúng tôi sẽ nêu dẫn cụ thể các nghiên cứu về vấn đề này
Trong cuốn sách “Xây dựng con người - Xây dựng xã hội học tập”, các tác giả Phạm Tất Dong và Đào Hoàng Nam đã khẳng định: Để hoạt động bồi dưỡng cho người lớn đạt được hiệu quả mong muốn, góp phần xây dựng tốt nhất xã hội học tập, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những hình thức tổ chức rất đa dạng và phong phú các hoạt động bồi dưỡng cho người lớn Trong cuốn sách này, các tác giả cũng
đã nêu dẫn cụ thể về nội dung, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho người lớn tại trung tâm học tập cộng đồng tại các nước như: Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc,… Tại Trung Quốc, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho người lớn (người cao tuổi và những người lao động chưa có cơ hội học tập tại trường đại học)
là hình thức từ xa không trường lớp Trung Quốc có rất nhiều loại hình tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho người lớn như: Trường xóa mù chữ nghiệp dư; Trường dạy nghề sơ cấp cho nông dân; Trường trung học nghiệp dư cho nông dân; Trường trung học nghiệp dự cho cán bộ, công nhân, nhân viên; các nhóm học tập tại cộng đồng Tại Thái Lan, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng không chính quy cho người lớn được tiến hành theo 3 hình thức: Học tập theo các lớp tại cộng đồng; học qua đài phát thanh; tự học Tại Hàn Quốc, tổ chức hoạt động bồi dưỡng không chính quy cho người lớn được tiến hành theo các hình thức: xây dựng các lớp học đại học buổi tối hay theo mùa; mở các khóa học cấp bằng cử nhân trong các trường học từ xa; thiết lập các trường đại học mở; xây dựng các trường đại học ở địa phương[15, tr194]
Một số nhà khoa học như Đặng Quốc Bảo, với bài viết: “Đặc trưng mô hình
xã hội học tập ở Việt Nam” [2] và tác giả Nguyễn Như Ất với bài viết: “Một số vấn
đề xây dựng xã hội học tập ở nước ta"[1],… đã khai thác vấn đề học tập không chính quy ở trung tâm học tập cộng đồng Các ông đã giới thiệu thêm những hình
Trang 30thức học không chính quy trên thế giới và đã có những phân tích về chức năng của giáo dục không chính quy với những hình thức khác nhau như giáo dục bán chính quy, giáo dục cận chính quy, giáo dục phi chính quy Những khẳng định của các tác giả này đã góp phần xác định một cách có hệ thống và đa dạng các hình thức học tập của người dân trong xã hội học tập
Tác giả Tô Bá Trượng trong cuốn sách: Giáo dục thường xuyên (Thực trạng
và định hướng phát triển ở Việt Nam) đã làm phong phú thêm các hình thức học tập trong xã hội tương lai ở Việt Nam Tác giả đã chỉ ra rằng, hệ thống giáo dục thường xuyên gồm có giáo dục thường trực, giáo dục định kỳ, giáo dục cộng đồng, giáo dục
cơ hội thứ hai, giáo dục ngoài nhà trường Giáo dục thường xuyên nhằm mục đích: Tạo cơ hội cho tất cả mọi người ở tất cả mọi nơi; giáo dục thường xuyên có thể đảm nhận việc đào tạo trung học, đại học và học nghề; giáo dục thường xuyên bao gồm những chương trình rất đa dạng và mang tính chất mềm dẻo [64]
Tại Hội thảo “Thúc đẩy giáo dục vì sự phát triển bền vững thông qua Trung tâm học tập cộng đồng” tại Hòa Bình (2016), tác giả Nguyễn Hồng Sơn, với bài viết:Trung tâm học tập cộng đồng - Thành quả và thách thức đã tổng kết thực trạng phát triển hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng Theo ông, những chương trình, khóa học tại các trung tâm chủ yếu là:Giới thiệu công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp; Giáo dục giới và giới tính; Xóa mù chữ; Giáo dục kỹ năng sống; Giáo dục sức khỏe; Giáo dục phòng chống ma túy; Giáo dục bảo vệ môi trường; Giáo dục về phát triển sản xuất, tăng thu nhập [52]
Trong cuốn sách “Phát triển giáo dục hướng tới một xã hội học tập”, các tác giả Phạm Tất Dong và Đào Hoàng Nam đã nhấn mạnh rằng: giáo dục thường xuyên chủ yếu dành cho người lớn, giáo dục thường xuyên trùng khớp với giáo dục người lớn và chỉ ra các nội dung và hình thức giáo dục thường xuyên [15]
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
1.2.1.Các nghiên cứu trên thế giới
Người dân trong cộng đồng là đối tượng chính của việc phát triển các hình thức học tập không chính quy và phi chính quy tại cộng đồng Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động học tập suốt đời của người dân tại trung tâm học tập cộng đồng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chính là quản lý hoạt động này tại các trung tâm học tập cộng đồng Do vậy, đã có nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu và đưa ra quan điểm của mình về quản lý hoạt động học tập tại trung tâm học tập cộng
Trang 31đồng Các nghiên cứu đã tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như: Tiếp cận lịch sử
- xã hội; tiếp cận hệ thống; tiếp cận quá trình; tiếp cận chức năng quản lý; tiếp cận theo nhu cầu để nghiên cứu về các nội dung quản lý như: Quản lý mục tiêu bồi dưỡng; Quản lý việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng; Quản lý chương trình bồi dưỡng; Quản lý nội dung bồi dưỡng; Quản lý hình thức và phương pháp bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả Bronislaw Geremek cũng đã bàn tới hiệu quả của việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, các lớp học cho người dân trong cộng đồng Tác giả cho rằng, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều bởi hoạt động tổ chức và quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng Chủ thể quản lý hoạt động này tại các trung tâm phải quản lý làm sao để cho mỗi người học có sự gắn bó với người khác và luôn có cơ hội để học tập, không bị loại trừ ra khỏi việc học[23]
Tác giả Hiromi Sasai, trong bài viết:“Chính sách học tập suốt đời ở Nhật
Bản” đã nhấn mạnh: các Trung tâm học tập cộng đồng có nhiều chương trình khác
nhau, từ xóa mù chữ đến bổ túc văn hóa, xóa mù chức năng hoặc chương trình thu nhập cao, chương trình chăm sóc sức khỏe Tại các trung tâm học tập, việc quản lý các khóa học, các chuyên đề đều khá chặt chẽ vì mục đích quan trọng là hoàn thiện
cá nhân và phát triển cộng đồng Tác giả cũng nhấn mạnh, tại trung tâm học tập cộng đồng có 3 hoạt động cần quản lý: (1) hội họp: bởi vì người dân có thể thoải mái họp mặt hằng ngày; (2) Học tập: Người dân có thể học được các kiến thức và các kỹ năng; (3) Kết nối: Người dân có thể xây dựng các mạng lưới với các cơ sở và các tổ chức ở địa phương [48]
Từ đầu năm 2011 đến 2016, một vấn đề nổi lên đối với việc học tập ở Trung tâm học tập cộng đồng là giáo dục vì sự phát triển bền vững Trong báo cáo của
Rika Yoruzu “Những nỗ lực của Unesco về giáo dục vì sự phát triển bền vững”, đã
bàn về nguyên tắc hành động và chính sách hỗ trợ cho phát triển bền vững tại Trung tâm học tập cộng đồng có sự nhấn mạnh tới Tuyên bố Aichi - Nayoga Tuyên bố này là một cam kết tăng cường và duy trì tồn tại sự phát triển của chương trình hành động toàn cầu (GAP): Hỗ trợ chính sách cho các tổ chức, các nhà giáo, thanh niên
và người dân thông qua giáo dục và học tập suốt đời Có 5 lĩnh vực ưu tiên thuộc kế hoạch hành động toàn cầu về giáo dục vì sự phát triển bền vững:thúc đẩy chính sách; chuyển đổi môi trường học tập và đạo tạo; phát triển năng lực cho cán bộ giáo dục và giáo viên; trao quyền và huy động sự tham gia của thanh niên;đẩy mạnh các giải pháp phát triển bền vững ở địa phương [70]
Trang 32Trong một báo cáo khoa học về Trung tâm học tập cộng đồng ở Nhật Bản, Kiichi Oyasu, Trung tâm học tập cộng đồng ở Okayamia (Nhật Bản) đã giới thiệu những nguyên tắc chung Teraoaka (1945) gồm: Phát huy dân chủ và hòa bình cho công dân; Phát triển nguồn nhân lực có tri thức và hiểu biết về văn hóa; Phát triển cộng đồng trên cơ sở dân chủ và phát triển nguồn nhân lực Để bảo đảm những nguyên rắc Terasaka, việc quản lý học tập tại Trung tâm học tập cộng đồng tập trung vào 5 lĩnh vực: Xác định vấn đề; Áp dụng giải pháp khả thi; Kế hoạch hành động cụ thể; Thực hiện hoạt động; Đánh giá kết quả đầu ra Nhân sự điều hành, quản lý Trung tâm học tập cộng đồng gồm: Giám đốc (hợp đồng); Nhân viên (1 chuyên gia giáo dục, 1 nhân viên hành chính); Nhân viên ca đêm (hợp đồng); Điều phối viên phát triển cộng đồng [44]
Trong bài viết: “Trung tâm học tập cộng đồng ở Campuchia”, tác giả Peou Vanna cho biết, Chính phủ Hoàng gia nước này khẳng định rằng, giáo dục không chính quy nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, hướng tới mục tiêu giáo dục cho mọi người và hỗ trợ người dân tiếp cận với giáo dục suốt đời, công bằng và phát triển Mặt khác, giáo dục không chính quy cung cấp cơ hội cho mọi người được giáo dục về kỹ năng sống và xóa mù chữ Campuchia xây dựng dự án “Loại bỏ rào cản đối với nhóm thanh niên thiệt thòi ở nông thôn” thông qua Trung tâm học tập cộng đồng[66]
Ở Lào, vấn đề giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Trung tâm học tập cộng đồng được Bounhome Sorphabmixay, Dokkham Xomsihapanya, Bountham Chanthasone trình bầy tại bài viết: “Giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Trung tâm học tập cộng đồng” Bài viết này đã phân tích về vấn đề giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Trung tâm học tập cộng đồng[51]
Tóm lại, trung tâm học tập cộng đồng là xu thế tất yếu, phù hợp với xu thế thế giới và khu vực Tùy điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà việc quản lý trung tâm học tập cộng đồng có khác nhau, nhưng đều có chung một mục đích là làm sao có được những cơ sở giáo dục của cộng đồng để mọi người dân được học tập thường xuyên và học tập suốt đời Một số nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách ở một số quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Trung Quốc,… đã nghiên cứu về quản lý trung tâm học tập cộng đồng và phương thức quản lý phù hợp nhất đối với quốc gia mình Các nghiên cứu đã chỉ ra một điểm chung là phương thức quản lý trung tâm học tập cộng đồng là sự tổng hợp hai hình thức quản lý: quản lý công và tự quản Phương thức quản lý trung tâm học tập
Trang 33cộng đồng của Myanmar và Ấn Độ là quản lý công Riêng tại Nhật Bản tồn tại song song hai phương thức quản lý trung tâm học tập cộng đồng là quản lý dựa vào cộng đồng và cộng đồng tự quản [dẫn theo 65]
+Các nghiên cứu ở Việt Nam
Những nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng từ góc độ khoa học quản lý giáo dục còn khiêm tốn Các nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu được nghiên cứu lồng ghép khi các tác giả nghiên cứu về trung tâm học tập cộng đồng và quản lý trung tâm học tập cộng đồng Các nghiên cứu đã tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như: Tiếp cận lịch sử - xã hội; tiếp cận
hệ thống; tiếp cận quá trình; tiếp cận chức năng quản lý; tiếp cận mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM; tiếp cận theo nhu cầu để nghiên cứu về các nội dung quản lý Các kết quả nghiên cứu được công bố cụ thể được thể hiện trên các bài báo khoa học, bào viết trên kỉ yếu hội thảo, đề tài các cấp và luận án tiến sĩ Dưới đây chúng tôi sẽ nêu dẫn cụ thể các nghiên cứu này
Hội Khuyến học Việt Nam, (2014), Kỉ yếu Hội thảo khoa học: “Quản lí và điều hành trung tâm học tập cộng đồng” Trong kỉ yếu Hội thảo này, đã có nhiều bài viết đề cập tới những vấn đề về quản lý hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng Trong đó, nhấn mạnh tới thực trạng lập kế hoạch quản lí; tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng tại địa phương và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động này [30]
Tác giả Ngô Quang Sơn, trong một số đề tài nghiên cứu khoa học đã tổng hợp
và đánh giá tổng quan về xu thế xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, xác định trung tâm học tập cộng đồng là vấn đề thời sự và xu thế phát triển tất yếu của giáo dục thường xuyên ở các nước trong khu vực và ở Việt Nam Tác giả
đã trình bày quy trình xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức quản lý các nguồn lực của trung tâm học tập cộng đồng, các bước chỉ đạo và công tác kiểm tra, đánh giá ở trung tâm học tập cộng đồng, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong việc xây dựng
và phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng ở các nước trong khu vực
và ở Việt Nam, đề xuất một số giải pháp hiệu quả để phát triển bền vững các trung
tâm học tập cộng đồng [53, 54]
Nguyễn Xuân Đường (2009), đã thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: “Giải pháp quản lý trung tâm học tập cộng đồng ở Nghệ An” Tác giả đã dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM để xây dựng khung
lý thuyết và phân tích thực trạng quản lý trung tâm học tập cộng đồng ở Nghệ An
Trang 34Kết quả nghiên cứu cho thấy: lực lượng cán bộ quản lý ở các trung tâm học tập cộng đồng Nghệ An rất đông đảo Đa số đều nhiệt tình và có trách nhiệm cao với công việc được giao Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất ở họ là chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trung tâm học tập cộng đồng Chính điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng quản lý trung tâm học tập cộng đồng của họ Trên
cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề tài đã đề xuất năm giải pháp quản
lý trung tâm học tập cộng đồng Các giải pháp này là: Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của mọi người dân trong cộng đồng; Tổ chức linh hoạt, đa dạng, thiết thực và nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục của trung tâm học tập cộng đồng; Thường xuyên giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục của trung tâm học tập cộng đồng; Vận động nhân dân, các ban ngành, đoàn thể trong cộng đồng cùng tham gia quản lý trung tâm học tập cộng đồng; Bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản
lý trung tâm học tập cộng đồng Các giải pháp này được xây dựng và triển khai theo
mô hình quản lý chất lượng tổng thể Trong đó giải pháp bồi dưỡng năng lực cho cán
bộ quản lý trung tâm học tập cộng đồng được xem là giải pháp trung tâm [22]
Một nghiên cứu có thể xem là sự khởi đầu cho những nghiên cứu về xã hội học tập ở Việt Nam đó là nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cầm (2009) về “Mô hình
xã hội học tập Việt Nam” Với mục tiêu nghiên cứu là làm rõ phạm trù xã hội học tập và cấu trúc, nội dung, mô hình xã hội học tập có tính phổ biến và tính khả thi ở xã/phường, quận/huyện; tỉnh/thành cần được Nhà nước đầu tư trong giai đoạn thuộc nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng và đề xuất những giải pháp cơ bản cho việc xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam Với việc xây dựng khung lý thuyết, nghiên cứu thực trạng trên diện rộng ở một số địa phương trên địa bàn cả nước về thực trạng nhận thức, nguyện vọng, về tổ chức học hành theo hướng ai cũng được học, bàn luận và chỉ ra những bất cập trong cách điều hành, quản lý hoạt động này và đề xuất những quan điểm về chỉ đạo xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy: Để xây dựng xã hội học tập, đòi hỏi phải có một cuộc cải cách toàn diện từ hệ thống đến chương trình, nội dung, phương pháp và công tác quản lý trong mọi lĩnh vực giáo dục cho người dân tại cộng đồng [7]
Trong đề tài "Thực trạng hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Hòa Bình" do Trịnh Công Thái làm chủ nhiệm, nhóm tác giả đã khẳng định rằng, cần phải tổ chức và quản lý có hiệu quả phương thức kết nối trung tâm học tập cộng đồng với câu lạc bộ và nhóm phát triển cộng đồng Các câu lạc bộ, nhóm phát triển
Trang 35cộng đồng chính là địa điểm tổ chức lớp học cắm ở thôn, bản vệ tinh của trung tâm Trưởng thôn, bản phải quản lý lớp ở thôn, bản của mình và làm theo kế hoạch của trung tâm học tập cộng đồng [60]
Đề tài "Xây dựng mô hình xã hội học tập tỉnh Sơn La", tác giả Trần Hữu Luyến đã khảo sát quá trình xây dựng 2 trung tâm học tập cộng đồng ở 2 xã Lóng Sập và Hủa Păng (huyện Mộc Châu) Từ đó, tác giả cho rằng, để quản lý chất lượng học tập của người dân trong xã, giám đốc trung tâm học tập cộng đồng nhất thiết phải nắm vững nhu cầu học tập của dân (nhu cầu học nghề ngắn hạn, nhu cầu chuyển giao kỹ thuật sản xuất, nhu cầu theo học chuyên đề ) và quản lý lịch trình giảng dạy của cán bộ thỉnh giảng Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường phổ thông đảm trách phó giám đốc trung tâm phải quản lý chất lượng bài giảng Còn cán bộ Hội khuyến học phải quản lý được kế hoạch giảng dạy để vận động người dân đi học theo đúng nhu cầu [39]
Đề tài "Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Hà Tây" do Nguyễn Ngọc Phú thực hiện, đã cho rằng trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục người lớn có tầm quan trọng lớn lao Khảo sát thực trạng giáo dục người lớn ở 3 xã Văn Bình, Duyên Thái và Nhị Khê (huyện Thường Tín) của tác giả cho thấy: Việc học các chuyên đề tại cộng đồng đều dựa vào nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là thư viện
xã và huyện Từ đó tác giả đề xuất, mối quan hệ giao lưu, trao đổi thông tin và tài liệu học tập giữa hệ thống trung tâm học tập cộng đồng phải là một khâu quan trọng của quá trình quản lý chất lượng hoạt động của trung tâm [45]
Tác giả Bùi Trọng Trâm trong luận án tiến sĩ: “Quản lý phát triển trung tâm học tập cộng đồng theo định hướng xã hội học tập” Xuất phát từ phương thức quản
lý dựa vào cộng đồng và tiếp cận quản lý sự thay đổi, tác giả luận án đã xác định các nội dung quản lý phát triển trung tâm học tập cộng đồng dựa vào định hướng xây dựng xã hội học tập và tuân theo các chức năng cơ bản của quá trình quản lý, vừa tuân theo 3 giai đoạn nội dung quản lý phát triển: lập kế hoạch phát triển; thực hiện kế hoạch phát triển; đánh giá và củng cố từng bước phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý phát triển các trung tâm học tập cộng đồng được thực hiện và nhân rộng trên cơ sở đánh giá và rút kinh nghiệm từ quá trình thực hiện Tuy nhiên, việc quản lý phát triển các trung tâm học tập cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn như trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo viên chưa cao; năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý tại các trung tâm còn hạn chế,…Từ kết quả nghiên cứu lý luận
và thực tiễn luận án đã đề xuất các biện pháp quản lý phát triển trung tâm học tập
Trang 36cộng đồng theo định hướng xã hội học tập Các biện pháp đề xuất được đánh giá là
có tính cần thiết và khả thi ở mức độ cao [63]
Tiếp đến là luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Phương Hồng về đề tài “Phát
triển trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng Sông Hồng trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam” Luận án đã phân tích, hệ thống hóa, phát triển lý luận về giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam và đồng bằng Sông Hồng góp phần làm rõ tính hợp lý của thiết chế giáo dục thường xuyên ở cấp xã; từ đó rút ra những bài học bổ ích cho các vùng trong toàn quốc khi xây dựng trung tâm học tập cộng đồng và tìm kiếm các mô hình giáo dục thường xuyên, xây dựng xã hội học tập cho địa phương mình Nội dung phát triển trung tâm học tập cộng đồng được tiếp cận theo quan điểm quản lý, thực chất
là thực hiện các chức năng trong quá trình quản lý phát triển Trong đó gồm có bốn chức năng chính: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đại, kiểm tra, đánh giá Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những kinh nghiệm phát triển trung tâm học tập cộng đồng của một số quốc gia trên thế giới, một số tỉnh trong cả nước và các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng, đề tài đề xuất một số giải pháp có tính vĩ mô, hoặc vi mô để vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả, góp phần mở rộng lý luận và hoạt động thực tiễn xây dựng, quản lý, phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng Sông Hồng nói riêng, của Việt Nam nói chung trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập [31]
Luận án tiến sĩ của Kiều Văn Minh về đề tài “Quản lý trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới hiện nay” Luận án đã nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng quản lý trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động này Tác giả khẳng định, quản lý trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh đổi mới hiện nay phải gắn với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Hà Nội, gắn với phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng và mục tiêu xây dựng xã hội học tập hiện nay của Hà Nội và của nước ta Quản lý trung tâm học tập cộng đồng ở Hà nội hiện nay cần phải chú ý tới xây dựng cơ chế quản lý, chế độ chính sách cho trung tâm học tập cộng đồng, phát triển mạng lưới trung tâm học tập cộng đồng, quản lý hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trung tâm học tập cộng đồng, quan tâm tới hoạt động kiểm tra, đánh giá trung tâm học tập cộng đồng Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn luận án đã đề xuất được 7
Trang 37biện pháp quản lý trung tâm học tập cộng đồng tại Hà Nội, các biện pháp này đều được đánh giá là cần thiết và khả thi khi tác giả khảo nghiệm [42]
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập đã được triển khai nghiên cứu, tuy nhiên còn chưa nhiều Các nghiên cứu cụ thể về vấn đề này được lồng ghép vào các nghiên cứu về quản lý trung tâm học tập cộng đồng
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy: vấn đề học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng và quản lý học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau về vấn đề này Điều này chứng tỏ tính cấp thiết, tính thời sự, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu tập trung vào hướng nghiên cứu về hoạt động học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng được triển khai một cách bài bản Trong đó, nghiên cứu sâu về nội dung, hình thức, phương pháp và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Các nghiên cứu tập trung vào hướng quản lý học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập chưa thật nhiều, chủ yếu được lồng ghép khi nghiên cứu về quản lý trung tâm học tập cộng đồng nói chung Kết quả nghiên cứu của các tác giả về các hướng nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận, những nghiên cứu nói trên đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý trung tâm học tập cộng đồng (các khái niệm, các nội dung quản lý, các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý trung tâm học tập cộng đồng), các cách tiếp cận nghiên cứu quản lý hoạt động học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của các tác giả trong nước khá phong phú, cho chúng ta thấy một bức tranh chung về thực trạng học tập và bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng hiện nay về (số lượng; mô hình; hình thức tổ chức; nội dung học tập tại trung tâm; phương pháp dạy tại trung tâm).Từ kết quả nghiên cứu lý luận
và thực tiễn này, các tác giả cũng đưa ra những biện pháp quản lý học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng Tuy nhiên những nghiên cứu chuyên sâu về học tập và bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng và quản lý bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh đổi mới hiện nay thì các nghiên cứu của các tác giải chưa đề cập
Trang 38nhiều Do vậy, luận án này chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Việc tiến hành nghiên cứu quản lý trung tâm học tập cộng đồng nói chung và quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân tại trung tâm học tập cộng đồng nói riêng được xây dựng dựa trên nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong đó, các cách tiếp cận như: Tiếp cận lịch sử - xã hội; tiếp cận hệ thống; tiếp cận quá trình; tiếp cận chức năng quản lý; tiếp cận mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM; tiếp cận theo nhu cầu để nghiên cứu về các nội dung quản lý Kết quả nghiên cứu của các đề tài theo các cách tiếp cận nêu trên đều cho thấy sự phù hợp và hiệu quả của các cách tiếp cận này khi nghiên cứu trên thực tiễn Tuy nhiên, tùy thuộc vào mục đích, đối tượng và khách thể nghiên cứu cụ thể mà có thể xác định và vận dụng các cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau Do vậy, trong luận án này, việc nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng cho người dân được chúng tôi tiếp cận lịch sử - xã hội; tiếp cận hệ thống; tiếp cận quá trình; tiếp cận chức năng quản lý; tiếp cận theo nhu cầu để nghiên cứu về các nội dung quản
lý Đề tài luận án cũng sẽ sử dụng cách tiếp cận phối hợp giữa quá trình theo giáo dục học và tiếp cận chức năng quản lý là tiếp cận chính để nghiên cứu và đưa ra các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng, và quản lý hoạt động bồi dưỡng tại trung tâm học tập cộng đồng cho người dân ở một tỉnh miền núi như Tuyên Quang vẫn là những vấn đề còn bỏ ngỏ.Do vậy việc nghiện cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng tại các trung tâm học tập cộng đồng tỉnh Tuyên Quang từ góc độ khoa học quản
lý giáo dục là cần thiết
Trang 39Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
2.1 Trung tâm học tập cộng đồng
2.1.1.Khái niệm trung tâm học tập cộng đồng
Đã có khá nhiều khái niệm về trung tâm học tập cộng đồng được đưa ra, dưới đây chúng tôi sẽ nêu dẫn cụ thể một số khái niệm được đánh giá cao và có sự đồng thuận của nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này:
Unesco cũng đã đưa ra khái niệm trung tâm học tập cộng đồng, khái niệm này được trình bầy như sau: “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục không chính quy của xã, phường, do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo
cơ hội học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng Trung tâm học tập cộng đồng là thiết chế giáo dục không chính quy của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng” [Dẫn theo 68]
Tác giả Phạm Tất Dong đưa ra khái niệm trung tâm học tập cộng đồng như sau: “Là một loại thiết chế giáo dục thường xuyên được tổ chức trên địa bàn xã, phường, thị trấn Trung tâm học tập cộng đồng là tổ chức giáo dục được đưa đến tận những người dân, đặc biệt là những người lao động không có điều kiện tới trường chính quy và những người nghèo, những người trong các nhóm xã hội yếu thế rất ít
có cơ hội học tập” [12, tr 228]
Tác giả Thái Xuân Đào khẳng định: “Trung tâm học tập cộng đồng là một thiết chế giáo dục chủ yếu dành cho người lớn, là đầu mối liên kết để tất cả các ban ngành, đoàn thể cùng ngành giáo dục cung ứng/tổ chức các cơ hội học tập, các hoạt động tuyên truyền giáo dục tới mọi người dân, dưới sự quản lý, điều phối chung của ủy ban nhân dân xã Mọi người dân trong cộng đồng có thể đến trung tâm học tập cộng đồng để tìm cho mình một chương trình, hình thức, phương thức học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi người” [18]
Trong cuốn Từ điển Bách khoa Tâm lý học - Giáo dục học Việt Nam đã đưa
ra khái niệm Trung tâm học tập cộng đồng như sau: “Cơ sở giáo dục không chính quy của một làng/xã hay phường, thường do cộng đồng thành lập và quản lý góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông
Trang 40qua tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân trong cộng đồng Về bản chất, đây là
cơ sở giáo dục không chính quy của cộng đồng Mục đích hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng là thông qua việc tạo cơ hội học tập cho mọi người dân trong cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển nguồn nhân lực cho cộng đồng Chức năng của trung tâm học tập cộng đồng gồm giáo dục
và huấn luyện, thông tin, tư vấn, phát triển cộng đồng và liên kết, phối hợp hoạt động của các ban ngành đoàn thể trong cộng đồng” [27, tr1016]
Như vây, đã có khá nhiều khái niệm trung tâm học tập cộng đồng được đưa
ra, các khái niệm này có khá nhiều điểm tương đồng với nhau Đặc biệt là sự tương đồng khi đều khẳng định rằng:
-Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân;
-Trung tâm học tập cộng đồng thường do cộng đồng thành lập và quản lý; -Mọi người dân đều được đến tham gia học tập theo nhu cầu của bản thân nhằm nâng cao nhận thức, kĩ năng,… cho bản thân để có thể thích ứng tốt nhất với đời sống xã hội
Tuy nhiên, trong luận án này sẽ sử dụng khái niệm trung tâm học tập cộng đồng của tác giả Phạm Tất Dong làm khái niệm công cụ nghiên cứu của luận án
Trung tâm học tập cộng đồng là một loại thiết chế giáo dục thường xuyên được
tổ chức trên địa bàn xã, phường, thị trấn, là tổ chức giáo dục được đưa đến tận những người dân, đặc biệt là những người lao động không có điều kiện tới trường chính quy và những người nghèo, những người trong các nhóm xã hội yếu thế rất ít
có cơ hội học tập
2.1.2.Mục đích, vị trí, chức năng của trung tâm học tập cộng đồng
a.Mục đích của trung tâm học tập cộng đồng
Trong rất nhiều các công trình nghiên cứu về trung tâm học tập cộng đồng ở một số nước trên thế giới và ở nước ta đều bàn tới mục đích của trung tâm học tập cộng đồng Cụ thể như các nghiên cứu về trung tâm học tập cộng đồng ở Nhật Bản, các nghiên cứu cụ thể của của Vũ Văn Tảo, Phạm Tất Dong,
Ở Nhật Bản, người ta xây dựng các cung văn hóa công dân (Kominkan) hay còn gọi là các trung tâm học tập cộng đồng Mục đích của trung tâm học tập cộng đồng Nhật Bản là: 1) Cung cấp các dịch vụ giáo dục cho người lớn và cho cả thanh thiếu niên theo phương thức giáo dục phi chính quy nhằm trang bị những hiểu biết
và kỹ năng cần thiết đối với việc làm cũng như công việc trong gia đình; 2) Nâng