1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THEO DÕI BỆNH TÍCH PHỔI HEO KHI ÁP DỤNG HAI QUI TRÌNH PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG

79 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 900,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thu được như sau: Mức độ tổn thương của phổi do nhục hóa cao nhất ở lô QT1 là 3,85 % và ở Hướng chẩn đoán bước đầu các bệnh nghi ngờ phụ nhiễm thông qua đánh giá bệnh tích vi thể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THEO DÕI BỆNH TÍCH PHỔI HEO KHI ÁP DỤNG HAI QUI

TRÌNH PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG

Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ THANH THỦY Lớp: DH05DY

Niên khóa: 2005 - 2010

Tháng 08/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

****************

TRẦN THỊ THANH THỦY

THEO DÕI BỆNH TÍCH PHỔI HEO KHI ÁP DỤNG HAI QUI

TRÌNH PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ Thú y chuyên ngành

Dược Thú y

Giáo viên hướng dẫn:

Tháng 08/2010

Trang 3

PHIẾU XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Em tên là Trần Thị Thanh Thủy

Từ ngày 15/01/2010 đến ngày 15/08/2010 dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Phước Ninh em đã tiến hành đề tài “Theo dõi bệnh tích phổi heo khi áp dụng hai qui trình phòng bệnh viêm phổi địa phương”

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Con xin thành kính ghi ơn sâu sắc đến ba mẹ đã hết lòng nuôi dưỡng, dạy dỗ con nên người và cho con có được ngày hôm nay, và xin cảm ơn tất cả anh chị em trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành nguyện vọng

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Phước Ninh và TS Nguyễn Tất Toàn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Khanh, ThS Hồ Thị Nga, ThS Nguyễn Thị Thu Năm, BSTY Lê Hữu Ngọc, BSTY Đặng Thị Xuân Thiệp, BSTY Nguyễn Văn Nhã đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Xin chân thành ghi ơn Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi - Thú

Y cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đại học

Xin cảm ơn Ban quản lý Bệnh viện Thú Y đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Dược Y 31 và tất cả bạn bè đã động viên

và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Theo dõi bệnh tích phổi heo khi áp dụng hai qui trình phòng bệnh viêm phổi địa phương” được tiến hành tại một số trại chăn nuôi heo tại thành

phố Hồ Chí Minh và Bình Dương, nhằm mục đích đánh giá bệnh tích phổi heo khi

áp dụng hai qui trình phòng bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae Tất cả các mẫu

phổi của 4 đợt thí nghiệm được chuyển về làm xét nghiệm tại phòng vi sinh Bệnh viện Thú Y và phòng thí nghiệm Chẩn Đoán (thuộc bộ môn Nội Dược) trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, thời gian từ 15/01/2010 đến ngày 15/08/2010 Kết quả thu được như sau:

Mức độ tổn thương của phổi do nhục hóa cao nhất ở lô QT1 là 3,85 % và ở

Hướng chẩn đoán bước đầu các bệnh nghi ngờ phụ nhiễm thông qua đánh

giá bệnh tích vi thể chủ yếu là MH phụ nhiễm với PRRSv và Pasteurella spp trong

đó phụ nhiễm với PRRSv cao nhất ở lô QT1 và lô QT2 đều là 28,57 % ; còn phụ

nhiễm với Pasteurella spp chỉ có lô QT1 với tỉ lệ 40 % còn lô QT2 không xảy ra

phụ nhiễm

- Số lượng tế bào trong dịch rửa khí phế quản qua 4 đợt khảo sát

Trang 6

Ở lô QT1 số lượng tế bào cao nhất là 2428 tế bào/mm3 và thấp nhất là 721 tế bào/mm3

Ở lô QT2 số lượng tế bào cao nhất là 1443 tế bào/mm3 và thấp nhất là 600 tế bào/mm3

Đại thực bào chiếm tỉ lệ cao nhất

- Kết quả phân lập một số vi sinh vật hiện diện ở mẫu phổi: chúng tôi chưa

phân lập được một số vi sinh vật như Actinobaccillus pleuropneumoniae,

Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis

Trang 7

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt iv

Mục lục vi

Danh sách các chữ viết tắt ix

Danh sách các bảng x

Danh sách các hình xi

Danh sách các biểu đồ xi

Danh sách các sơ đồ xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Cấu tạo cơ thể học của hệ hô hấp và các yếu tố liên quan bệnh đường hô hấp trên heo 3

2.1.1 Cấu tạo cơ thể của hệ hô hấp 3

2.1.2 Các yếu tố liên quan bệnh đường hô hấp 3

2.2 Bạch cầu và hệ thống phòng vệ đường hô hấp 4

2.3 Bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm 6

2.3.1 Lịch sử và phân bố địa lý 7

2.3.2 Căn bệnh 8

2.3.3 Truyền nhiễm học 10

2.3.3.1 Loài vật mắc bệnh 10

2.3.3.2 Chất chứa mầm bệnh 10

2.3.3.3 Đường truyền lây 11

2.3.3.4 Cách sinh bệnh 11

2.3.4 Triệu chứng 12

Trang 8

2.4.4.1 Thể cấp tính 12

2.3.4.2 Thể mãn tính 13

2.3.5 Bệnh tích 13

2.3.5.1 Bệnh tích đại thể 13

2.3.5.2 Bệnh tích vi thể 14

2.3.6 Chẩn đoán 14

2.3.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 14

2.3.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 15

2.3.7 Điều trị 17

2.3.8 Phòng bệnh 18

2.3.8.1 Vệ sinh phòng bệnh 18

2.3.8.2 Phòng bệnh bằng vaccine 19

2.4 Giới thiệu tổng quát về vaccine RespiSure Onevà Kháng sinh Draxxin 20

2.4.1 Vaccine RespiSure One 20

2.4.2 Kháng sinh Draxxin 20

2.5 Sơ lược một số nghiên cứu liên quan đến bệnh viêm phổi do MH 23

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Thời gian và địa điểm 25

3.2 Đối tượng nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 26

3.5 Xử lý số liệu và phân tích thống kê 33

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Kết quả đánh giá mức độ tổn thương của phổi thông qua đánh giá bệnh tích đại thể 34

4.1.1 Đánh giá tỉ lệ phổi xuất hiện bệnh tích 34

4.1.2 Đánh giá tỉ lệ tổn thương trên phổi có bệnh tích 35

4.1.3 Khảo sát tỉ lệ các loại bệnh tích xuất hiện trên phổi 39

4.1.4 Khảo sát tỉ lệ tổn thương do nhục hóa 41

Trang 9

4.2 Kết quả đánh giá mức độ tổn thương của phổi thông qua đánh giá bệnh tích vi

thể 42

4.2.1 Kết quả đánh giá bệnh tích vi thể 42

4.2.2 Hướng chẩn đoán bước đầu các bệnh nghi ngờ phụ nhiễm qua bệnh tích vi thể 46 4.3 Kết quả kiểm tra số lượng số lượng, tỉ lệ các loại tế bào trong dịch rửa khí – phế quản 49

4.4 Kết quả phân lập một số vi sinh vật hiện diện trên mẫu phổi và thử kháng sinh đồ 55

4.4.1 Kết quả phân lập một số vi khuẩn 55

4.4.2 Kết quả thử kháng sinh đồ 56

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 63

Trang 10

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APP: Actinobacillus pleuropneumoniae

CFU: Colony Forming Unit

ĐK: Đề kháng

ELISA: Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay

FITC: fluorescein isothiocyanate

kDa: kilo Dalton

MH: Mycoplasma hyopneumoniae

MIC: Minimum Inhibition Concentration

MPS: Mycoplasma pneumonia of swine

PCR: Polymerase Chain Reaction

PPLO : Pleuro Pneumoniae Like Organism

ppm: part per million

PPRSv: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome virus

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 2.1 Thành phần tế bào dịch phế quản - phế nang ở heo 6

Bảng 2.2 Dược động học của tulathromycin (Draxxin) ở huyết tương và phổi heo sau khi tiêm với liều 2,5mg/kg thể trọng 21

Bảng 2.3 MIC của tulathromycin đối với một số vi sinh vật 22

Bảng 3.1 Qui trình thử nghiệm các trại 27

Bảng 3.2 Bố trí đánh giá các chỉ tiêu trên phổi heo thí nghiệm 27

Bảng 4.1 Tỉ lệ phổi có có bệnh tích qua 4 đợt thí nghiệm 34

Bảng 4.2 Tỉ lệ tổn thương phổi đợt 1 36

Bảng 4.3 Tỉ lệ tổn thương phổi đợt 2 36

Bảng 4.4 Tỉ lệ tổn thương phổi đợt 3 37

Bảng 4.5 Tỉ lệ tổn thương phổi đợt 4 37

Bảng 4.6 Tỉ lệ tổn thương phổi qua 4 đợt thí nghiệm 38

Bảng 4.7 Tỉ lệ từng loại bệnh tích xuất hiện trên phổi 39

Bảng 4.8 Tỉ lệ tổn thương phổi do nhục hóa 41

Bảng 4.9 Mức độ tổn thương mô phổi của 4 đợt thí nghiệm qua bệnh tích vi thể 43

Bảng 4.10 Chẩn đoán các bệnh nghi ngờ phụ nhiễm thông qua bệnh tích vi thể 46

Bảng 4.11 Số lượng và tỉ lệ các tế bào trong dịch rửa khí - phế quản đợt 1 50

Bảng 4.12 Số lượng và tỉ lệ các tế bào trong dịch rửa khí - phế quản đợt 2 50

Bảng 4.13 Số lượng và tỉ lệ các tế bào trong dịch rửa khí - phế quản đợt 3 51

Bảng 4.14 Số lượng và tỉ lệ các tế bào trong dịch rửa khí - phế quản đợt 4 51

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG

Hình 4.1 Phổi có bệnh tích nhục hóa đối xứng 42

Hình 4.2 Mô lympho tăng sinh quanh tiểu phế quản 44

Hình 4.3 Viêm phổi mô kẽ có vách liên tiểu thùy dày lên nhiều, nghi ngờ phụ nhiễm PRRSv 47

Hình 4.4 Phế nang dày lên rất nhiều, nghi ngờ phụ nhiễm PRRSv 48

Hình 4.5 Viêm tương dịch sợi huyết lan rộng trên phổi 48

Hình 4.6 Các tế bào trong dịch rửa khí - phế quản 55

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ TRANG Biểu đồ 4.1 Số lượng tế bào qua 4 đợt thí nghiệm 52

Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ đại thực bào trong dịch rửa khí phế quản qua 4 đợt thí nghiệm 52

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ TRANG Sơ đồ 3.1 Sơ đồ nuôi cấy phân lập APP, Heamophillus parasuis 31

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ nuôi cấy phân lập Pasteurella multocida 32

Trang 13

Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều khó khăn, đặc biệt là khi bệnh truyền nhiễm xuất hiện trong đàn sẽ gây lây lan nhanh và thiệt hại sẽ vô cùng lớn nếu không khống chế kịp thời

Trong các bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi thì các bệnh đường hô hấp chiếm vị trí khá quan trọng Theo Christensen và Mousing (1922), đến khi giết mổ thì hầu như không có heo nào không bị bệnh đường hô hấp

Bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm do Mycoplasma hyopneumoniae

(MH) là bệnh đường hô hấp phổ biến, lây lan nhanh và thường xảy ra ở thể mãn tính trên các đàn heo nuôi tập trung ở quy mô lớn và mật độ cao Mặc dù bệnh không gây tỉ lệ chết cao nhưng gây thiệt hại kinh tế một cách đáng kể vì heo sẽ chậm lớn, tăng tỉ lệ loại thải, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, kéo dài thời gian nuôi

và tăng chi phí thuốc điều trị (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006) Heo có tỉ lệ mắc bệnh khá cao từ 50 – 100 % nhưng có tỉ lệ chết thường thấp khoảng 16 % nếu không ghép với bệnh truyền nhiễm khác (Trần Thanh Phong, 1996) Tuy nhiên, trên thực thế khi heo bị mắc bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm thường là điều kiện thuận lợi cho các vi trùng cơ hội xâm nhập, gây tỉ lệ chết cao và thiệt hại kinh

tế lớn Các vi khuẩn thường hiện diện trong trường hợp kế phát là: Actinobaccillus

Trang 14

pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis, Streptococcus, Staphylococcus, Bordetella bronchiseptica… (Nguyễn Ngọc Nhiên, 1996)

Hiện nay, nhiều biện pháp phòng bệnh được đưa ra như vệ sinh chuồng trại, chăm sóc quản lý đàn, chủng ngừa bằng vaccin, dùng kháng sinh điều trị… trong đó việc chủng ngừa bằng vaccine kết hợp với kháng sinh đem lại hiệu quả thiết thực nhất

Xuất phát từ thực tế trên, được sự chấp thuận của Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn

Phước Ninh chúng tôi tiến hành đề tài: “Theo dõi bệnh tích phổi heo khi áp dụng hai qui trình phòng bệnh viêm phổi địa phương”

Bố trí thí nghiệm thành 2 lô: Qui trình 1 (QT1) và Qui trình 2 (QT2)

Theo dõi bệnh tích phổi qua các chỉ tiêu sau:

- Đánh giá mức độ tổn thương của phổi qua đánh giá bệnh tích đại thể

- Đánh giá mức độ tổn thương của phổi qua đánh giá bệnh tích vi thể

- Kiểm tra số lượng tế bào, tỉ lệ các loại tế bào trong dịch rửa khí - phế quản

- Nuôi cấy, phân lập một số vi khuẩn hiện diện ở mẫu phổi (APP,

Heamophilus parasuis và Pasteurella multocida) và thử kháng sinh đồ

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 CẤU TẠO CƠ THỂ HỌC CỦA HỆ HÔ HẤP VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN HEO

2.1.1 Cấu tạo cơ thể học của hệ hô hấp

Hệ hô hấp bao gồm hệ thống ống dẫn khí và hai lá phổi Hệ thống ống dẫn khí do đường dẫn khí phân nhánh tạo thành và dẫn không khí tới biểu mô phế nang

để trao đổi khí Đường dẫn khí ở heo bao gồm hốc mũi, xoang miệng, vùng hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và tiểu phế quản Khí quản khi đi vào lồng ngực thì chia thành hai phế quản gốc, mỗi phế quản gốc đi vào một lá phổi Phế quản gốc chia ống hẹp hơn gọi là tiểu phế quản Tiếp theo tiểu phế quản là tiểu phế quản tận cùng Phế nang là phần chấm dứt của tiểu phế quản tận cùng Ngoại trừ xoang miệng và vùng hầu, phía trong lòng ống dẫn khí là hệ thống tế bào có lông rung Tác dụng của tế bào có lông rung là bẫy bắt và loại bỏ các vi sinh vật và các vật lạ xâm nhập theo đường hô hấp (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006) Hai lá phổi nằm trong lồng ngực, mỗi lá phổi chia thành các thùy: thùy đỉnh, thùy giữa và thùy hoành cách mô Riêng lá phổi phải có thêm thùy phụ nằm ở mặt bụng của thùy hoành cách mô (Frandson và ctv, 2003)

2.1.2 Các yếu tố liên quan bệnh đường hô hấp

Bộ máy hô hấp là cơ quan thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài,

do đó nếu hàng rào bảo vệ (niêm mạc, hệ thống lông rung…) bị tổn thương thì bệnh

hô hấp rất dễ xảy ra

Dưới đây là một số nguyên nhân chính gây suy yếu bộ máy hô hấp của heo:

 Dinh dưỡng

Trang 16

Khẩu phần dinh dưỡng kém là nguyên nhân cho rất nhiều bệnh khác nhau trong đó có bệnh đường hô hấp Theo Nguyễn Như Pho (1995) khi cơ thể thiếu vitamin A thì tổ chức biểu mô đường hô hấp phát triển không bình thường, giảm sức bền, từ đó gia súc dễ mắc bệnh đường hô hấp

Sự mất cân đối tỉ lệ Ca/P trong khẩu phần gây hậu quả là giảm hấp thu các chất khoáng ở ruột và biến dạng xương lồng ngực ảnh hưởng chức năng hô hấp Sự xay nhuyễn làm tăng độ bụi của thức ăn tổng hợp làm heo dễ hắt hơi gây viêm phổi (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)

Vitamin C cần thiết để làm tăng sức đề kháng của heo chống lại các tác nhân gây bệnh (Võ Văn Ninh, 2003)

Theo Christensen và Mousing (1992), dinh dưỡng không chứa đủ lượng calo tiêu thụ, không đầy đủ các nguyên tố đa lượng, vi lượng, không thêm dầu để hạn chế bụi trong thức ăn sẽ làm ảnh hưởng mức độ nhiễm bệnh hô hấp trên heo

 Môi trường

Các yếu tố như: nguồn cung cấp nước, nhiệt độ, ẩm độ, tiểu khí hậu chuồng nuôi… ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe vật nuôi Ngoài ra còn là điều kiện cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập và phát triển

 Việc chăm sóc, quản lí tốt làm tăng sức đề kháng của cơ thể và ngược lại

 Vi sinh vật

Đường hô hấp ấm, ẩm, giàu dinh dưỡng là nơi lí tưởng để vi sinh vật phát triển chính vì vậy có rất nhiều vi sinh vật trong đường hô hấp và trong môi trường Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ xâm nhập, gia tăng số lượng và gây nên các bệnh đường hô hấp Vi sinh vật có thể đóng vai trò nguyên phát hay thứ phát trong các bệnh đường hô hấp

 Một vài yếu tố khác như di truyền, kí sinh trùng…

2.2 BẠCH CẦU VÀ HỆ THỐNG PHÒNG VỆ ĐƯỜNG HÔ HẤP

Bạch cầu là những tế bào hoàn chỉnh, có bào tương, nhân và màng tế bào Là những tế bào có khả năng vận động, được tạo ra phần lớn trong tủy xương và một phần trong các mô bạch huyết Sau khi được tạo ra bạch cầu di chuyển vào máu và

Trang 17

đi đến khắp nơi trong cơ thể nhất là các vùng viêm nhiễm (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Phân loại bạch cầu

- Nhóm bạch cầu có hạt: bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan và bạch cầu ái kiềm

- Nhóm bạch cầu không hạt: bạch cầu lympho và bạch cầu đơn nhân

Chức năng chung của bạch cầu là bảo vệ cơ thể thông qua khả năng thực bào

và thực hiện các phản ứng miễn dịch Ngoài ra, bạch cầu còn có khả năng tiết ra các enzyme phân hủy protein, các chất diệt khuẩn… (Hoàng Văn Tiến, 1995; trích dẫn bởi Hồ Thị Nga, 2007) Sự thay đổi tỉ lệ các loại bạch cầu thường đi đôi với những xáo trộn chức năng của cơ quan tạo máu và biểu hiện tình trạng bệnh lí của cơ thể

Đối với heo sạch bệnh số lượng tế bào trong 1 ml dịch phế quản, phế nang là khoảng 107 tế bào, còn heo bình thường không biểu hiện bệnh cao hơn 1,2 - 4 lần và đối với heo viêm phổi thì cao hơn gấp 23 lần (Gehrke và Pabst, 1990)

Đại thực bào chiếm tỉ lệ cao trong dịch phế quản - phế nang, khoảng 80 % đối với heo sạch bệnh và heo không có biểu hiện bệnh Đối với heo bị viêm phổi thì

tỉ lệ khoảng 50 %, tuy tỉ lệ thấp hơn nhưng số lượng cao hơn khoảng 3 - 9 lần so với heo sạch bệnh và heo không có triệu chứng bệnh (Gehrke và Pabst, 1990) Đại thực bào mô phổi có vai trò chính trong cơ chế phòng vệ đường hô hấp với các chức năng: Thực bào vật lạ và xác tế bào, phá hủy tế bào ung thư, sản sinh protein có hoạt tính sinh học, sắp xếp và trình diện kháng nguyên với lympho T Vì thế đại thực bào là nguồn gốc khởi động cho miễn dịch chuyên biệt trên đường hô hấp heo (Euzeby, 1993; trích dẫn bởi Hồ Thị Nga, 2007)

Tế bào lympho trong dịch phế quản - phế nang heo viêm phổi chiếm tỉ lệ khoảng 20 % và cao hơn 11 - 12 lần so với heo sạch bệnh hay heo không có triệu chứng bệnh (Gehrke và Pabst, 1990)

Các tế bào có hạt thường vắng mặt trong dịch phế quản - phế nang heo sạch bệnh và heo không có triệu chứng nhưng đối với heo viêm phổi thì chiếm tỉ lệ khoảng 30 % (Gehrke và Pabst, 1990) Tổng số tế bào và số bạch cầu trung tính ở

Trang 18

nhóm heo có sức khỏe kém thì cao hơn so với nhóm heo có trạng thái sức khỏe tốt

BC lympho (%)

BC ưa acid (%) Nguồn Heo sạch bệnh

3 tuần tuổi 94,1 ± 2,7 2,5 ± 1,9 3,5 ± 2,1 -

Mayer và Lam, 1984 Heo sạch bệnh

Heillman và Muller, 1987

Kamp, 1989 Heo sạch bệnh

Leengoed và ctv, 1989 Heo sạch bệnh

19 - 30 kg 90,1 ± 6,4 5,9 ± 5,8 3,0 ± 3,3 0,3 ± 0,9

Ganter và ctv,

1990 Heo khỏe bình

Heo khỏe bình

Harmsen và ctv, 1979 Heo khỏe bình

thường 70 - 80 8 - 12 11 - 18 0 - 5

Neumann và ctv, 1985

2.3 BỆNH VIÊM PHỔI ĐỊA PHƯƠNG TRUYỀN NHIỄM

Bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm hay còn gọi là bênh viêm phổi

dịch vùng hay bệnh suyễn heo do Mycoplasma hyopneumoniae (MH) gây ra Bệnh

thường biểu hiện dưới dạng mãn tính với đặc điểm viêm phế quản phổi tiến triển

chậm Đặc điểm của bệnh là tỉ lệ mắc bệnh cao nhưng tỉ lệ chết thấp khi không ghép

với các bệnh khác Ở thể nhẹ, viêm phổi mãn tạo cơ hội cho các vi khuẩn tấn công

Trang 19

nhất là Pasteurella multocida làm cho bệnh phức tạp hơn (Ross, 1986; trích dẫn bởi

Nguyễn Tất Toàn, 2004)

Bệnh viêm phổi địa phương truyền nhiễm là bệnh đường hô hấp trên heo phổ biến nhất và gây thiệt hại kinh tế nhiều nhất ở tất cả các nước chăn nuôi heo trên thế giới Thiệt hại còn nghiêm trọng hơn khi đi cùng các tác nhân cảm nhiễm khác, quản lí kém và vệ sinh môi trường không tốt

Thiệt hại do MH gây ra trên heo là rất lớn, heo từ 50 - 85 kg nhiễm MH sẽ giảm sức tăng trưởng khoảng 12,7 % (Pointon và ctv, 1985; trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006) Heo con tiếp xúc với heo mẹ mang trùng thì giảm sức tăng trưởng khoảng 15,9 % (từ lúc 8 - 85 kg) và chuyển hóa thức ăn giảm 13,8 % (từ lúc

10 - 25 kg) (Ross, 1999; trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

2.3.1 Lịch sử và phân bố địa lý

Năm 1892 hai nhà bác học Nocard và Roux phát hiện loài sinh vật này trên

bò bị viêm phổi Năm 1898 hai ông đã phân lập được loài này trên phổi những bò bị viêm phổi và đặt tên là PPLO (Pleuro - Pneumoniae - Like - Organism) Mãi đến

năm 1929, hai ông mới đề nghị đặt tên là Mycoplasma (Trần Thị Bích Liên và Tô

Trang 20

Tác nhân gây bệnh này có thể qua được lọc nên thuật ngữ viêm phổi do virus trên heo được sử dụng rộng rãi nhưng sau đó Mare, Switer, Goodwin và ctv (1965)

đã phân lập một loại Mycoplasma trên phổi heo bị viêm và gây bệnh thực nghiệm,

từ đó đề nghị đặt tên là Mycoplasma hyopneumoniae (trích dẫn bởi Lâm Chí Hiếu,

2004)

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Như Pho (2003) bệnh được phát hiện vào năm

1957 từ đàn heo nhập ngoại vào miền Bắc, sau đó lan nhanh Hiện nay, bệnh xảy ra phổ biến ở hầu hết các trại heo trong cả nước

2.3.2 Căn bệnh

Theo nhiều tác giả Goodwin (1965), Parageorgion (1968), Hodges (1969),

MH là nguyên nhân chính gây bệnh viêm phổi và dẫn đến sự nhiễm trùng thứ phát

làm bệnh diễn biến phức tạp và có thể gây nhiều thiệt hại hơn như: Enterovirus,

Adenovirus, virus cúm, virus Aujeszky, Rickettsia, Chlamydia, Haemophilus, Bordetella bronchiseptica, Salmonella, Escherichia coli… đặc biệt là Pasteurella multocida (Trần Thanh Phong, 1996)

Theo Razin và ctv (1998) Mycoplasma thuộc lớp Mollicutes vì Mycoplasma

không có thành tế bào, được bao bọc bởi màng nguyên sinh chất có 3 lớp Trong

phân loại, việc thiếu thành tế bào được dùng để phân biệt Mycoplasma với các vi khuẩn khác Hiện nay có 183 loài trong lớp Mollicutes và 105 loài trong giống

Mycoplasma đã được báo cáo (Waites và ctv; trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước

Trang 21

Theo Rosenbusch (1994), có 13 loài Mycoplasma trên heo đã được xác định, trong đó 3 loài gây bệnh phổ biến là Mycoplasma hyopneumoniae (gây viêm phổi địa phương), Mycoplasma hyorhinis (gây viêm khớp, viêm phổi và viêm thanh mạc), Mycoplasma hyosynoviae (gây viêm khớp) (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước

Ninh, 2006)

 Đặc điểm chung của Mycoplasma

Theo Quinn và cộng tác viên (1998), Mycoplasma thuộc lớp Mollicutes, là những prokaryotes nhỏ nhất, bộ gen của Mycoplasma khoảng 5.108 dalton nhỏ hơn nhiều so với vi khuẩn (2.109 dalton) Chúng thiếu gen tổng hợp thành tế bào, màng

tế bào giống như màng tế bào chất của vi khuẩn Màng này gồm protein, glycoprotein, glycoplipid và phospholipid Vì không có thành tế bào nên chúng mềm yếu và có nhiều hình dạng như hình cầu, que, dạng xoắn, dạng vòng

Mycoplasma sinh sản bằng cách phân đôi, một số sinh sản dạng kéo dài và cắt đứt

thành những thể nhỏ có đường kính khoảng 0,3 µm Mycoplasma có thể qua lọc với kích thước lỗ lọc 0,22 µm Mycoplasma có đặc điểm hình thành khuẩn lạc rất nhỏ

có dạng hình trứng chiên trên môi trường thạch, hầu hết là sống kị khí không bắt

buộc hoặc kị khí Mycoplasma bắt màu gram âm yếu nên không thể phát hiện bằng

phương pháp nhuộm gram, phương pháp nhuộm thường dùng là Giemsa và

Romanowsky, pH môi trường sống tốt nhất của Mycoplasma ở 7,5, khuẩn lạc nhỏ

đường kính 0,1 - 0,6 mm

Phân bố tự nhiên: trong tự nhiên, dạng tự do sống hoại sinh hay kí sinh, những loại gây bệnh hay không gây bệnh đều tìm thấy trên màng nhày đường hô

hấp, tiêu hóa, sinh dục và tuyến vú Mycoplasma rất nhạy cảm với tác nhân vật lý,

hóa học do không có thành peptidoglycan, bị vô hoạt 48 giờ trong điều kiện khô nhưng có thể tồn tại 17 ngày trong môi trường nước mưa ở nhiệt độ 2 - 70C Trong

phổi, Mycoplasma tồn tại 2 tháng ở -250C và 9 - 11 ngày ở nhiệt độ 1 - 60C và chỉ 3

- 7 ngày ở nhiệt độ 17 - 250C Khả năng phân tán trong không khí của Mycoplasma

trong không khí với bán kính 3 - 3,2 km (Trần Thanh Phong, 1996)

 Đặc điểm của Mycoplasma hyopneumoniae

Trang 22

Ngoài những đặc điểm chung của giống, MH còn có những đặc điểm riêng như sau:

Sản sinh cytotoxin (vô hoạt ở 1000C/5 phút), thời gian tăng trưởng dài hơn

các Mycoplasma khác 5 - 7 ngày Kích thước khuẩn lạc 200 - 400 µm (sau 5 - 10 ngày nuôi cấy), khuẩn lạc không lồi lên ở giữa như các Mycoplasma khác, không có

dạng trứng chiên Cấu trúc kháng nguyên gồm nhiều loại: lactate dehydrogenase protein 36 kDa và các protein có khối lượng phân tử 40, 43, 64, 74, 97 kDa giúp

phân biệt với Mycoplasma hyorhinis, Mycoplasma flocculare

Môi trường nuôi cấy: MH rất khó mọc trên môi trường thông thường, phân lập phức tạp bởi nhu cầu phát triển cực kỳ kén chọn và dễ bị lấn át bởi các

Mycoplasma khác, mọc tốt nếu có 5 – 10 % CO2, có bổ sung các kháng sinh cản trở những vi trùng và nấm như: penicillin, bacitracin… (Trần Thanh Phong, 1996)

2.3.3 Truyền nhiễm học

2.3.3.1 Loài vật mắc bệnh

Trong tự nhiên: MH chỉ gây bệnh trên heo ở tất cả các lứa tuổi, heo có sức đề kháng kém thường dễ mắc bệnh Heo sơ sinh thường cảm nhiễm từ mẹ hoặc từ môi trường, trong điều kiện môi trường nuôi dưỡng xấu có thể phát bệnh lúc một tháng tuổi hoặc sau cai sữa Nghiên cứu gần đây ở Pháp cho thấy giai đoạn truyền lây MH mạnh nhất là vào khoảng đầu của giai đoạn nuôi thịt khi heo có hàm lượng kháng thể thụ động thấp (Leon và ctv; trích dẫn bởi Vân Minh Tâm, 2005) Heo nuôi thịt giai đoạn 30 - 70 kg, giai đọan cuối nuôi thịt cũng dễ mắc bệnh nhưng tỉ lệ giảm dần, giống heo ngoại nhập nội có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn giống heo lai và heo thuần giống nội Trong phòng thí nghiệm, người ta sử dụng heo con từ 10 - 21 ngày tuổi làm động vật thí nghiệm

2.3.3.2 Chất chứa mầm bệnh

Mầm bệnh tập trung chủ yếu ở các tổ chức phổi, chất tiết đường hô hấp

Ngoài ra, trong các hạch bạch huyết dọc khí quản cũng chứa nhiều Mycoplasma, do

đó có thể phân lập Mycoplasma từ các hạch bạch huyết này (Nguyễn Như Pho,

2003)

Trang 23

Theo Goodwin (1982) đã chứng minh rằng Mycoplasma phân lập được từ

mẫu ngoáy mũi của thú bệnh Trên heo mắc bệnh, trong 1ml chất tiết đường hô hấp

có chứa 7 CFU (colony forming unit) (Gois và ctv, 1974; trích dẫn bởi Vân Minh Tâm, 2005)

2.3.3.3 Đường truyền lây

Bệnh chủ yếu lây lan qua đường hô hấp, heo mang trùng là nguồn lây nhiễm chính trong chăn nuôi Theo Ross (1999) MH tồn tại trong đàn bằng cách truyền lây

từ heo mẹ sang heo con, khi heo mẹ nhiễm bệnh (thú mang trùng) thì sự tiếp xúc trực tiếp giữa heo mẹ và heo con (mũi với mũi) Trên heo thịt sự tiếp xúc trực tiếp giữa heo khỏe và heo bệnh là đường truyền lây chính Mặt khác, khi một vài heo nhiễm bệnh sau các cơn ho sẽ bài xuất mầm bệnh theo các chất tiết lơ lửng trong không khí, heo khỏe hít phải sẽ mắc bệnh, từ đó hình thành nhiều heo nhiễm bệnh mới (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Yếu tố môi trường, dụng cụ chăn nuôi, điều kiện vệ sinh chăm sóc cũng đóng vai trò quan trọng để mở đường cho MH xâm nhập và gây bệnh (Carlton, 1995;

trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thanh Trúc, 2006)

2.3.3.4 Cách sinh bệnh

Mặt trong của hệ thống phế quản có rất nhiều lông rung, các lông rung này

giữ nhiệm vụ đẩy các chất cặn bẩn trong đường hô hấp ra ngoài Do Mycoplasma có

đặc tính kết dính và sản sinh độc tố trên tế bào vật chủ nên sau khi theo đường hô hấp vào trong cơ thể, MH kết dính với lông rung của tế bào biểu mô đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp với vi nhung mao, sản sinh độc tố, tấn công làm tê liệt hệ thống lông rung, tạo khuẩn lạc, sau đó gây thoái hóa, hoại tử các lông rung, phá hỏng hệ thống tiết dịch nhày, thậm chí làm hư hại tế bào biểu mô Từ đó để lại các tổn thương trên niêm mạc phế quản tạo nên hiện tượng viêm phế quản và vùng rìa của các thùy phổi, làm suy giảm chức năng hô hấp và làm chảy nước mũi

(Baskrville, 1972; trích dẫn bởi Đỗ Tiến Duy, 2004)

Chính sự tổn thương ở hệ thống lông rung và tế bào biểu mô tạo điều kiện

thuận lợi cho sự kế phát của các vi sinh vật khác như: Pasteurella, Streptococcus,

Trang 24

Salmonella, Actinobacillus, Haemophilus hoặc các virus gây bệnh trên đường hô

hấp như Aujeszky, virus gây hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp phát triển mạnh, làm

cho diễn biến bệnh nặng hơn, gây các bệnh điển hình như viêm phổi thùy lớn, viêm màng phổi, viêm phổi hóa mủ… con vật có thể chết nhanh và nhiều hơn

Theo Trần Thanh Phong (1996), MH theo đường hô hấp vào cơ thể có hai trường hợp xảy ra: nếu sức đề kháng của cơ thể thú tốt thì MH sẽ bị cô lập và ngược lại nếu sức đề kháng của cơ thể thú kém (do vệ sinh nuôi dưỡng kém, chuồng trại

dơ bẩn, thời tiết thay đổi đột ngột…) trạng thái cân bằng bị phá vỡ, MH sẽ sản sinh nhanh tăng độc lực và tấn công thùy tim rồi lan rộng sang thùy đỉnh, thùy hoành cách mô, tạo bệnh tích hóa gan đỏ, hóa gan xám, nhục hóa, tụy tạng hóa, xuất hiện những vùng khí thủng Cơ thể phản ứng bằng cách tăng sinh và huy động bạch cầu đơn nhân đến để thực bào và tạo kháng thể

Một số biểu hiện lâm sàng thể cấp tính như sau: thân nhiệt tăng cao 400C có khi kéo dài trong nhiều ngày Vật kém ăn hay bỏ ăn, bỏ bú, da có phần nhợt nhạt, xuất hiện những xáo trộn hô hấp như hắt hơi, khịt mũi, chảy nhiều nước mũi, ho nhiều nhất là lúc vận động hoặc sáng sớm, thở nhanh, nhiều và thường thở thể bụng, ngồi thở dốc (kiểu chó ngồi) Con vật có thể xáo trộn tiêu hóa nhẹ, kiểm tra máu có thể thấy tăng lymphocyte (Trần Thanh Phong, 1996)

Trang 25

2.3.4.2 Thể mãn tính

Thường thấy nhất, diễn biến trong vòng vài tháng, vật có thể chết đột ngột Vật biểu hiện ho khan, ho dai dẳng, không thấy sốt và chảy nước mũi Thú thở khó, thở khò khè về đêm, gầy còm, da nhợt nhạt, lông xù Thú tăng trọng chậm, tăng chỉ

số chuyển biến thức ăn, tuy nhiên thể mãn tính ít gây ra các triệu chứng điển hình (Trần Thanh Phong, 1996)

2.3.5 Bệnh tích

2.3.5.1 Bệnh tích đại thể

Bệnh tích đặc trưng do MH là viêm phổi có tính chất đối xứng hai bên, tập trung ở thùy đỉnh, thùy giữa, thùy phụ và đỉnh của thùy hoành cách mô (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006) Bệnh tích xuất hiện sớm nhất khoảng 3 ngày sau khi gây nhiễm thực nghiệm Phổi xuất hiện những vùng hóa gan đỏ hoặc xám và trở nên cứng nhạt màu sau 13 ngày nhiễm (nhục hóa phổi), khoảng 10 - 20 ngày sau vùng nhục hóa có màu đỏ nhạt, vàng nhạt hoặc xám, rất cứng như tụy tạng (tụy tạng hóa phổi)

Hạch lâm ba phổi sưng gấp 2 - 5 lần bình thường (thủy thủng nhưng không xuất huyết) Trong giai đoạn đầu và giữa của bệnh, khí quản tiết dịch viêm cata, nếu

có tạp nhiễm trên phổi thấy xuất hiện những ổ mủ, viêm màng phổi hay viêm phổi dính sườn Khi không có phụ nhiễm, bệnh tích thường chỉ khoảng 1/10 phổi nhưng khi có phụ nhiễm, bệnh tích mở rộng có thể lên đến 1/2 - 2/3 phổi Khi ghép với các

vi khuẩn khác khi đó bệnh sẽ phức tạp hơn như: ghép với Pasteurella multocida gây

viêm nhiều thùy phổi, kể cả những vùng sâu bên trong, phổi viêm và tụ máu; ghép

với các vi khuẩn sinh mủ như Streptococcus suis, Corynebacterium pyogenes gây viêm phổi hóa mủ; ghép với Actinobacillus pleuropneumoniae gây bệnh tích viêm màng phổi, viêm phổi dính sườn; ghép với Haemophilus parasuis gây viêm màng

phổi xuất huyết, toàn bộ phổi viêm xuất huyết rất nặng ở vùng trên và nhất là ở thùy hoành cách mô (Trần Thanh Phong, 1996)

Trang 26

2.3.5.2 Bệnh tích vi thể

Mô phổi có sự tập trung các bạch cầu trung tính trong lòng ống và chung quanh đường thở cũng như trong phế nang, có sự xâm nhiễm tế bào lympho vào trong các tiểu động mạch, tiểu tĩnh mạch và quanh đường thở, có sự gia tăng tế bào lympho quanh các mao quản và tiểu phế quản Khoảng 10 - 15 ngày, ta có thể thấy các bệnh tích rõ ràng, ngày càng tích tụ nhiều dịch chất, tế bào đơn nhân lớn, vách liên phế nang dày hơn Bệnh tích nặng hơn vào 17 - 40 ngày sau khi cảm nhiễm, vùng bệnh tích đang lành có nhiều phế nang bị xẹp, khí thủng và những nốt lympho tăng sinh mạnh mẽ đặc biệt trong đường thở

Quan sát bệnh tích vi thể thấy hệ thống lông rung bị bào mòn, lòng phế quản

có nhiều chỗ tổn thương làm phế quản dày lên, bên trong chứa nhiều dịch chất và tế bào bạch cầu, đây là nguyên nhân chính gây hẹp phế quản từ đó gây hiện tượng khó thở trên heo (Whitleston, 1972; trích dẫn bởi Quách Tuyết Anh, 2003)

2.3.6 Chẩn đoán

2.3.6.1 Chẩn đoán lâm sàng

Cần dựa vào các đặc điểm:

Dịch tễ học: Bệnh xảy ra trong điều kiện môi trường vệ sinh nuôi dưỡng chăm sóc kém, chuồng nuôi có độ thông thoáng không tốt, mật độ nuôi dày, bệnh tiến triển chậm có vẻ kín đáo

Triệu chứng lâm sàng: Ho kinh niên, khó thở, tần số hô hấp cao, chậm tăng trưởng, tử số thấp

Bệnh tích: Phổi có nhiều vùng bị gan hóa, nhục hóa, tụy tạng hóa mang tính chất đối xứng Bệnh tích đại thể thì khá đặc trưng nhưng không chuyên biệt vì có trường hợp bệnh tích tương tự nhưng lại do các tác nhân khác gây ra như

Pasteurella, Salmonella, Haemophilus, Streptococcus…

Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh do:

+ Bordetella bronchiseptica

+ Haemophilus parasuis

+ Pasteurella multocida

Trang 27

+ Mycobacterium tuberculosis

+ Virus: Cúm, giả dại

2.3.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Theo Futo (1992) MH là một trong những Mycoplasma khó phân lập nhất

trong phòng thí nghiệm do có tính kén chọn và mọc chậm trên môi trường, mất rất nhiều thời gian cộng thêm sự tạp nhiễm các vi khuẩn khác Nhưng việc phân lập

MH vẫn được xem là “tiêu chuẩn vàng” (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thanh Trúc, 2006)

Mặc khác có thể sử dụng các phương pháp sau đây:

* Phản ứng miễn dịch huỳnh quang

Là kỹ thuật chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, dễ thực hiện và nhanh chóng chỉ cần vài giờ để xác định MH Phản ứng này phát hiện MH bằng cách nhuộm huỳnh quang khuẩn lạc, chất huỳnh quang thường được dùng để gắn vào kháng thể là fluorescein isothiocyanate (FITC) và tetramethylrhodamine isothiocyanate (TMRI) (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

* Thử nghiệm ức chế tăng trưởng và biến dưỡng

Dựa vào nguyên tắc tăng trưởng và biến dưỡng của MH bị ức chế bởi kháng huyết thanh đặc hiệu, người ta dùng các thử nghiệm này để xác định loài của

Mycoplasma (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

* Phản ứng kết hợp bổ thể

Được dùng để xác định kháng thể đáp ứng trong giai đoạn sớm Phản ứng này có hạn chế, không phải là phương pháp tối ưu cho việc kiểm tra bệnh do đôi khi xảy ra dương tính không đặc hiệu hay âm tính giả (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

* Phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp

Phản ứng xảy ra khi kháng thể tương ứng với kháng nguyên, kháng thể sẽ nối kháng nguyên lại mà lúc này kháng nguyên đã gắn với hồng cầu tạo nên sự ngưng kết có thể nhìn thấy rõ bằng mắt thường Tuy nhiên, theo Freeman và ctv (1984) đã cho rằng phản ứng này thích hợp cho việc xác định kháng thể chống MH

ở những heo gây bệnh thí nghiệm với liều kháng nguyên lớn nhưng không hiệu quả

Trang 28

khi phát hiện kháng thể ở những heo nhiễm bệnh tự nhiên (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

* Kỹ thuật mô hóa miễn dịch

Thử nghiệm này rất hữu dụng trong công tác chẩn đoán bệnh viêm phổi do

Mycoplasma nhưng nó có thể không đặc hiệu cho MH vì có thể có phản ứng chéo

với các Mycoplasma khác Mặc khác, phương pháp này phải được thực hiện trong

phòng thí nghiệm không thể thực hiện chẩn đoán tại hiện trường được, mẫu bệnh phẩm được lấy từ các tế bào biểu mô của đường ống dẫn khí Kỹ thuật này dựa trên

sự xác định các kháng nguyên trong các lát cắt mô bằng kháng thể đặc hiệu qua phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

* Phản ứng ELISA

Theo Cassell và Brown (1983), phản ứng ELISA để xác định kháng thể chống lại MH, phản ứng này có ưu điểm vượt trội hơn các kỹ thuật xác định kháng thể khác về tính khách quan, tính đặc hiệu và tính nhạy Phản ứng này thực hiện đơn giản, kinh tế, rất phù hợp với việc điều tra đại trà, được xem là một kỹ thuật quan

trọng trong việc kiểm soát các bệnh do Mycoplasma ở động vật

ELISA được thực hiện dựa trên hai nguyên lý: thứ nhất là phản ứng của kháng nguyên và kháng thể đặc hiệu hình thành phức hợp miễn dịch bền vững và thứ hai là sự kết hợp của enzyme với kháng - kháng thể (anti - immunoglobulin) không làm biến đổi hoạt động enzyme và miễn dịch của thành phần này (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2006)

PCR là phương tiện chẩn đoán MH thích hợp nhất Bởi vì PCR phát hiện

MH nhanh chóng, độ nhạy cao, độ đặc hiệu và độ chính xác cao, không phụ thuộc

Trang 29

vào sống hay chết của MH (Calsamiglia, 1998; trích dẫn bởi Nguyễn Tất Toàn, 2004)

2.3.7 Điều trị

Bệnh do MH là tiền đề cho những bệnh khác kế phát, do đó cần chẩn đoán phát hiện nhanh để cách ly ngay những heo có triệu chứng bệnh và thực hiện cùng lúc việc dùng kháng sinh kết hợp với tăng cường trợ sức, trợ lực và cải thiện điều kiện môi trường

Vì MH không có thành tế bào nên những kháng sinh tác động lên thành tế bào không có tác dụng với MH, đồng thời vì MH tập trung chủ yếu ở phổi và tổ chức đường hô hấp nên cần lựa chọn những kháng sinh phân bố nhanh và mạnh ở các vị trí đó

Theo Nguyễn Như Pho (1998) và Ross (1999) ba nhóm kháng sinh dùng để trị MH có hiệu quả là:

+ Nhóm tetracycline gồm oxytetracyclin, chlotetracyclin…

+ Nhóm macrolide gồm tylosin, lincomycin, tiamulin…

+ Nhóm quinolone (thế hệ II) gồm enrofloxacin, norfloxacin, ofloxacin,

danofloxacin… (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Sử dụng tylosin 10 mg/kg thể trọng từ 3 - 5 ngày Có thể phối hợp tylosin 1

kg và chlotetracyclin 0,57 kg trong 200 kg thức ăn dùng trong 3 - 7 ngày (Trần Thanh Phong, 1996)

Tuy nhiên, khi bệnh đã phát thì hệ thống lông rung đã bị hư hại, việc điều trị

kháng sinh chỉ giúp tiêu diệt Mycoplasma chứ không giúp tái tạo lại hệ thống lông

rung đã bị hư hại, yếu tố tự bảo vệ mất đi, thú dễ dàng tái nhiễm lại các mầm bệnh gây viêm phổi chỉ trong một thời gian ngắn sau khi ngưng sử dụng thuốc Nhằm hạn chế sự phát triển của bệnh nhất là sự phụ nhiễm của các mầm bệnh khác trên đường

hô hấp, khi thấy đàn heo có triệu chứng ho nhiều, ta cần trộn kháng sinh vào thức

ăn Trộn lincomycin vào thức ăn liều 200 g/tấn thức ăn trong ba tuần sẽ làm giảm tỉ

lệ bệnh phát ra và làm giảm tính trầm trọng của MH và kết quả cải thiện được sức sản xuất của đàn heo (Van Buren, 1983; trích dẫn bởi Vân Minh Tâm, 2005)

Trang 30

Kết hợp kháng sinh với thuốc tăng cường sức đề kháng như vitamin C, B - complex, vitamin ADE…

2.3.8 Phòng bệnh

2.3.8.1 Vệ sinh phòng bệnh

Hiệu quả kiểm soát bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn heo Vì vậy cần tạo môi trường tối hảo cho sự phát triển của heo: vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, thông thoáng, nhiệt độ thích hợp, tránh mưa tạt gió lùa, định kỳ tiêu độc

và sát trùng, hạn chế bụi trong thức ăn và chuồng nuôi, quản lý mật độ nuôi hợp lý (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Cung cấp khẩu phần thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển của heo Kiểm tra kỹ trước khi mua heo, mua về phải cách ly theo dõi khoảng 2 tháng nếu không phát hiện triệu chứng gì mới cho phép nhập đàn Nên giảm tối đa stress có thể tác động lên đàn heo như di chuyển thú, tách - nhập đàn, thay đổi nhiệt độ, đánh đập thú… do yếu tố stress có thể làm giảm sức đề kháng của

cơ thể mà điều này dễ dẫn đến thú bị nhiễm MH từ môi trường (Trần Thanh Phong, 1996)

Theo Clark và ctv (1990) sắp xếp hệ thống sản xuất cùng vào cùng ra một cách nghiêm khắc là biện pháp hiệu quả nhất trong việc kiểm soát MPS Biện pháp này có mục đích phòng hay giảm tối thiểu sự lan truyền từ heo sang heo Áp dụng phương pháp cai sữa sớm vì theo các nhà nghiên cứu của trường đại học Mississippi, heo nái có miễn dịch đối với bệnh nhưng lại là nguồn bệnh với cho heo con Việc cai sữa sớm phát triển dựa trên giả thuyết là sự lan truyền từ heo nái sang con ít nhất trong 3 tuần tuổi đầu tiên khi sữa heo nái cung cấp kháng thể bảo vệ cao nhất cho heo con Sự bảo vệ thụ động từ sữa đầu và sữa mẹ giúp heo con không bị nhiễm trùng cho đến khi sự tiết sữa giảm bớt hay sau khi cai sữa Do đó, người ta tách heo con ra khỏi nguồn bệnh trong thời gian chúng vẫn còn được bảo vệ bởi miễn dịch thụ động qua sữa đầu sẽ làm giảm tối đa hay loại trừ sự lan truyền từ heo nái (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Trang 31

3.8.2 Phòng bệnh bằng vaccine

Ngày nay, người ta dùng vaccine để làm tăng cường miễn dịch chống lại bệnh viêm phổi địa phương do MH gây ra một cách rộng rãi Vaccine được sử dụng phổ biến là vaccine vô hoạt gồm các tế bào MH nguyên vẹn có chất bổ trợ Phòng bệnh bằng vaccine cho kết quả khả quan hơn, mặc dù vaccine không hoàn toàn ngăn ngừa được bệnh nhưng làm giảm đáng kể bệnh tích trên phổi Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của vaccine phòng bệnh do MH trên heo, Goodwin và Whittlestone (1973); Ross và ctv (1984) đã cho thấy việc sử dụng vaccine chết có chất bổ trợ làm giảm viêm phổi và bệnh tích đại thể trên phổi heo thí nghiệm, Morrow và ctv (1994) cũng cho thấy trên đàn heo dùng vaccine phòng bệnh có tỉ lệ nhiễm bệnh thấp (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2007)

Một số vaccine phòng bệnh do MH có mặt trên thị trường Việt Nam hiện nay được nhập khẩu từ nhiều công ty của một số nước trên thế giới sẽ được giới thiệu sau đây như:

* Vaccine RespiSure do công ty Pfizer (Mỹ) sản xuất: Vaccine này có tính kháng nguyên mạnh cùng với chất bổ trợ amphigen giúp vaccine tạo ra đáp ứng miễn dịch nhanh mạnh và kéo dài đến lúc xuất thịt (đối với heo thịt)

* Vacccine Hyoresp do công ty Merial (Pháp): Vaccine tạo đáp ứng miễn dịch chống lại MH bằng cách chống lại các viêm nhiễm do MH và tạo kháng thể đặc hiệu chống lại vi sinh vật này Chất bổ trợ được sử dụng là hydroxyde aluminum

* Vaccine Porcilis BPM do công ty Intervet (Hà Lan) sản xuất, đây là

vaccine giải độc tố - vô hoạt đa giá, phòng bệnh hô hấp trên heo do Bordetella

bronchiseptica, Pasteurella multocida không gây độc type A và gây độc type D, Mycoplasma hyopneumoniae Chất bổ trợ được sử dụng là hydroxyde aluminum

* M+PAC do công ty Schering Plough Animal Health Corporation (Mỹ) sản xuất Vaccine có chất bổ trợ emunade, kích thích tạo miễn dịch dịch thể lẫn miễn dịch qua trung gian tế bào, thời gian miễn dịch kéo dài 4 - 6 tháng

Trang 32

2.4 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ VACCINE RESPISURE ONE VÀ KHÁNG SINH DRAXXIN

2.4.1 Vaccine RespiSure One

RespiSure One là vaccine vô hoạt chứa toàn bộ tế bào MH kết hợp với chất

bổ trợ công nghệ cao amphigen giúp gia tăng và kéo dài đáp ứng miễn dịch, đồng

thời không gây hư hại mô tại vị trí tiêm dùng phòng bệnh viêm phổi do MH

Thành phần RespiSure One gồm có: Mycoplasma hyopneumoniae,

amphigen, EDTA, merthiolate, polysorbate 80, sorbitan oleate, dầu khoáng trắng (Pfizer, 2009)

Vaccine chỉ tiêm một liều duy nhất lúc heo khoảng 1 tuần tuổi hoặc lớn hơn tạo đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh và miễn dịch có thể kéo dài đến 25 tuần Cách

sử dụng: tiêm bắp, 2 ml/liều

2.4.2 Kháng sinh Draxxin

Draxxin có thành phần chính là tulathromycin, một loại kháng sinh bán tổng hợp thuộc nhóm macrolide và Draxxin là hỗn hợp cân bằng và ổn định của hai đồng phân

Công thức phân tử của tulathromycin: C41H79N3O12

 Tính chất hóa học: Ở dạng tinh chất, tulathromycin có màu trắng hay trắng nhạt và dễ tan trong nước ở pH ≤ 8 Ở dạng dung dịch, tulathromycin là hỗn hợp của hai đồng phân (Evans, 2005)

Trang 33

gây viêm như interleukin (IL) - 1, IL - 6, IL - 8 và yếu tố gây hoại tử alpha (Giguere

và ctv, 2007)

 Dược động học

Tulathromycin được cấp bằng đường tiêm chích thì sự hấp thu nhanh, mạnh, phân bố rộng và đào thải chậm Nồng độ cao nhất trong huyết tương xấp xỉ 0,5 µg/ml đối với bò, đối với heo là 0,6 µg/ml, thời gian bán thải trong huyết thanh là

90 giờ đối với bò và 91 giờ đối với heo Sinh khả dụng của tulathromycin khi cấp đường ngoài ruột (tiêm dưới da, tiêm bắp) trên gia súc khoảng 90 %, trên heo là 88

% Tulathromycin có hoạt tính bị ảnh hưởng bởi pH, hoạt tính bị giảm đáng kể ở pH

≤ 7, pH của phân và thành kết tràng có thể nằm trong khoảng 6,3 - 6,9 Tại các giá trị này, hoạt tính tulathromycin chống lại vi sinh vật đường ruột bị giảm rõ rệt, giảm

đi khả năng tạo áp lực chọn lọc cho vi sinh vật in vivo của nó (trích dẫn bởi Quách Vĩnh Bình, 2009)

Bảng 2.2 Dược động học của tulathromycin (Draxxin) ở huyết tương và phổi heo

sau khi tiêm với liều 2,5 mg/kg thể trọng (Alan Scheidt và ctv, 2007)

Dược động học Huyết tương Phổi

T max : Thời gian đạt nồng độ tối đa

C max : Nồng độ tối đa

t 1/2 : Thời gian bán thải (half – life)

Nồng độ tulathromycin tại phổi cao hơn huyết tương Tulathromycin tích lũy nhiều trong bạch cầu trung tính và đại thực bào tại phổi, các tế bào này bài thải tulathromycin từ từ vào mô phổi làm cho thời gian bán thải của thuốc ở mô phổi dài hơn rất nhiều so với huyết tương (142 giờ), tulathromycin không được chuyển hóa nhiều và được bài thải qua phân và nước tiểu với hơn 90 % là thuốc không bị biến đổi

Trang 34

 Dược lực học

Tulathromycin có khuynh hướng chủ yếu là chất kìm khuẩn Tuy nhiên, tulathromycin cũng là chất sát khuẩn đối với vài mầm bệnh trên đường hô hấp và

chống lại Campylobacter, sự sát khuẩn không phụ thuộc nồng độ, tỉ lệ tiêu diệt vi

khuẩn không thay đổi khi nồng độ thuốc tại huyết thanh tăng lên hai hoặc ba lần so với MIC (Minimum Inhibition Concentration = nồng độ ức chế tối thiểu) trên mầm bệnh Đặc tính này rất thích hợp khi xem rằng tulathromycin là nhân tố kháng khuẩn phụ thuộc thời gian và tốt nhất khi nồng độ thuốc có thể duy trì trên mức nồng độ ức chế tối thiểu trong quá trình trị liệu

Bảng 2.3 MIC của tulathromycin đối với một số vi sinh vật (Benchaoui và ctv,

(*) Nồng độ ức chế tối thiểu 90 % vi khuẩn

(**) Nồng độ mà tại đó có sự thay đổi (S: nhạy cảm, R: đề kháng)

 Phổ kháng khuẩn và chỉ định

Do tulathromycin phân bố chủ yếu ở phổi và thời gian bán thải dài nên ưu tiên

để điều trị các bệnh trên hô hấp Tulathromycin tác động đối với vi khuẩn như APP,

Mycoplasma hyopneumoniae, P multocida, Bordetella bronchiseptica và Haemophilus parasuis… Tulathromycin có hiệu quả thấp đối với vi khuẩn Gram

dương Tulathromycin rất an toàn, không có tác dụng phụ nào được ghi nhận trong suốt quá trình sử dụng Ở liều gấp 10 lần khuyến cáo, người ta ghi nhận các biểu hiện đau nhức, sưng tấy tại vị trí tiêm (Giguere và ctv, 2007)

Trang 35

 Tương tác thuốc

Không dùng chung với các kháng sinh có cùng cơ chế tác động như các kháng sinh khác thuộc nhóm macrolid, kháng sinh nhóm lincosamid và kháng sinh

nhóm cloramphenicol

Draxxin là sản phẩm của công ty Pfizer (Mỹ), dạng trình bày lọ 100 ml, 250

ml, 500 ml Thuốc chỉ sử dụng một liều duy nhất khi điều trị nhưng tác dụng kéo dài 5 - 7 ngày tương đương với các loại kháng sinh khác Cách sử dụng: tiêm bắp, liều tiêm 2,5 mg/kg

2.5 SƠ LƯỢC MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH VIÊM PHỔI DO MH

Năm 1965, Mare, Switer và Goodwin là những người đầu tiên phân lập

được loài Mycoplasma trên phổi heo bị viêm và gây bệnh thực nghiệm, từ đó đề nghị đặt tên là Mycoplasma hyopneumoniae (Ross, 1986; trích dẫn bởi Vân Minh

nồng độ thấp hơn (trích dẫn bởi Võ Thị Hoàng Sang, 2006)

Quách Tuyết Anh, 2003 “Một số kinh nghiệm ứng dụng kỹ thuật PCR để

phát hiện Mycoplasma hyopneumoniae trong mẫu bệnh tích phổi heo nhục hóa”

Kết quả đánh giá bệnh tích hư hại chung trên mẫu phổi heo được chọn là 38,7 % và

tỉ lệ phát hiện MH bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi MH là 65,2 %

Lâm Chí Hiếu, 2004 “Chẩn đoán Mycoplasma hyopneumoniae dựa vào bệnh

tích đại thể, vi thể và kỹ thuật ELISA trên heo thịt được giết mổ tại cơ sở chế biến thực phẩm Nam Phong thành phố Hồ Chí Minh” có kết quả bệnh tích hư hại chung trên mẫu phổi là 27,31 %, điểm trung bình bệnh tích vi thể 3,42, kỹ thuật ELISA cho tỉ lệ kết quả dương tính là 80,77 %, nghi ngờ là 11,54 % và âm tính là 7,69 %

Trang 36

Vân Minh Tâm, 2005 “Chẩn đoán Mycoplasma hyopneumoniae trên heo thịt

được thu thập tại xí nghiệp chế biến thực phẩm Nam Phong” tỉ lệ phổi có bệnh tích

là 91,94 %, điểm trung bình bệnh tích vi thể là 3; kỹ thuật ELISA cho kết quả dương tính là 82,75 %

Đặng Thị Thu Hường, 2005 “Phát hiện nhiễm Mycoplasma hyopneumoniae

và Actinobacillus pleuropneumoniae ở heo bằng phương pháp PCR và ELISA” tỉ lệ

hư hại phổi trung bình 39,96 %; phương pháp ELISA có tỉ lệ dương tính là 78,05 %,

âm tính 14,63 % và nghi ngờ là 7,32 %

Võ Thị Hoàng Sang, 2006 “Phân lập Mycoplasma hyopneumoniae trên phổi

heo được thu thập tại xí nghiệp chế biến thực phẩm Nam Phong” tỉ lệ phổi có bệnh tích đặc trưng nghi nhiễm MH trên heo thịt giết mổ là 76 %, tỉ lệ nuôi cấy trên thạch cho kết quả dương tính là 25 %, âm tính là 75 %, kỹ thuật PCR cho kết quả dương tính là 50 % và âm tính là 50 %

Quách Vĩnh Bình, 2009 “Đánh giá hiệu quả phòng bệnh viêm phổi do

Mycoplasma hyopneumoniae của vaccine Respisure One và kháng sinh Draxxin

trên heo” tỉ lệ phổi có bệnh tích là 100 %, điểm trung bình bệnh tích vi thể ở lô TN

là 1,83 và lô ĐC là 2,17

Trang 37

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM

Y, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Heo thí nghiệm được chọn từ lúc sơ sinh đồng đều về yếu tố cha mẹ, lứa, giới tính, trọng lượng, điều kiện chăn nuôi

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

 Đánh giá mức độ tổn thương của phổi thông qua đánh giá bệnh tích đại thể

 Đánh giá mức độ tổn thương của phổi thông qua đánh giá bệnh tích vi thể

 Kiểm tra số lượng, tỷ lệ các loại tế bào (bạch cầu lympho, bạch cầu trung tính, đại thực bào, bạch cầu ưa acid, tế bào biểu mô và tế bào mast) trong dịch rửa khí - phế quản

 Phân lập một số vi khuẩn hiện diện ở mẫu phổi và thử kháng sinh đồ (APP,

Heamophilus parasuis và Pasteurella multocida)

Trang 38

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Dụng cụ và hóa chất

3.4.1.1 Thu thập mẫu phổi

 Phiếu đánh số, viết ghi số mẫu, túi nilon đựng mẫu phổi

 Bảng đánh giá bệnh tích

 Thùng đá bảo quản mẫu

3.4.1.2 Tiến hành xử lí mẫu tại phòng thí nghiệm

 Môi trường BHI, thạch máu, thạch socola, thạch Mac Conkey

Heo con cai sữa được phân bố vào lô QT1 và lô QT2 theo nguyên tắc bắt cặp theo cha mẹ đồng thời đảm bảo sự đồng đều về trọng lượng sơ sinh trung bình, giới tính Ở mỗi đợt số heo nuôi trong một chuồng là 10 - 12 con với diện tích 0,7 - 0,8

m2/con

Trang 39

Heo thí nghiệm được theo dõi qua 3 giai đoạn: giai đoạn cai sữa đến chuyển thịt (60 ngày tuổi), giai đoạn chuyển thịt đến 90 ngày tuổi, giai đoạn 90 ngày tuổi đến xuất chuồng

Bảng 3.1 Qui trình thử nghiệm tại các trại

Qui trình 1 (n = 30) Qui trình 2 (n = 30)

Tiêm M + Pac theo qui trình trại

 Lần 1 lúc 14 ngày tuổi

 Lần 2 lúc cai sữa 28 ngày tuổi

Tiêm RespiSure One một liều duy nhất (2 ml/con) lúc 10 - 12 ngày tuổi

Không tiêm kháng sinh dự phòng Tiêm dự phòng Draxxin một liều duy

nhất lúc heo cai sữa 28 ngày tuổi

Điều trị kháng sinh theo qui trình của

trại khi heo bệnh

Điều trị bằng Draxxin giai đoạn 60 - 90 ngày tuổi khi heo có biểu hiện hô hấp Bệnh ở các giai đoạn khác điều trị theo qui trình ở trại

Draxxin chứa tulathromycin 100 mg/ml Liều tiêm 2,5 mg/kg thể trọng

Heo đến giai đoạn xuất chuồng được tập trung tại các lò giết mổ sau đó chúng tôi tiến hành lấy mẫu phổi để thực hiện các chỉ tiêu với số lượng phổi được thể hiện trong bảng 3.2

Bảng 3.2 Bố trí đánh giá các chỉ tiêu trên phổi heo thí nghiệm

Trại Đợt Số lượng phổi

khảo sát

Đánh giá đại thể

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w