1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC UỐNG CÓ pH = 3,5 ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG

70 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 502,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪNHọ và tên sinh viên: Trần Bảo Tín Tên đề tài: “Khảo sát khả năng phòng bệnh của nước uống có độ pH thấp trên gà Lương Phượng” Đã hoàn thành luận văn theo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC UỐNG CÓ

pH = 3,5 ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA GÀ

LƯƠNG PHƯỢNG

Sinh viên thực hiện: TRẦN BẢO TÍN Lớp: DH05DY

Ngành: Dược Thú Y Niên khóa: 2005 - 2010

Tháng 8/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y

****************

TRẦN BẢO TÍN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC UỐNG CÓ

pH = 3,5 ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA GÀ

LƯƠNG PHƯỢNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng

Bác sỹ Thú Y chuyên ngành Dược

TS Nguyễn Thị Phước Ninh

TS Nguyễn Tất Toàn

Tháng 8/2010

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên: Trần Bảo Tín

Tên đề tài: “Khảo sát khả năng phòng bệnh của nước uống có độ pH thấp trên gà Lương Phượng”

Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hôi Đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày …/…/2010

TS Nguyễn Thị Phước Ninh TS Nguyễn Tất Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Mãi khắc ghi công ơn cha mẹ đã sinh thành dạy dỗ, nuôi nấng con đến ngày hôm nay Con vô cùng biết ơn những khó khăn, vất vả mà cha mẹ đã hy sinh để cho con những điều tốt đẹp nhất

Chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi-Thú Y và toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Ban quản lý và các cô chú, anh em trong trại gà Nguyễn Viết Ba đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tất Toàn và TS Nguyễn Thị Phước Ninh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cảm ơn tất cả các bạn lớp Dược Thú Y-31 đã chia sẻ, giúp đỡ và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài

Sinh viên Trần Bảo Tín

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc sử dụng nước uống có độ pH = 3,5 đến năng suất và sức khỏe của gà Lương Phượng” Đề tài được thực hiện từ tháng 03/010 đến 06/2010 tại trại chăn nuôi A thuộc thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai, tiến hành khảo sát trên đàn gà 1700 con từ 1-67 ngày tuổi, chia thành 2 lô, lô thí nghiệm sử dụng nước uống có độ pH khoảng 3,5 và lô đối chứng sử dụng nước thường, mỗi lô 850 con Kết quả như sau:

Nhiệt độ khảo sát qua các tuần tuổi (từ 1 – 9 tuần tuổi) lần lượt là: 33,16oC; 33,17oC; 32,9oC; 32,09oC; 31,8oC; 32,05oC; 31,76oC; 32,37oC; 32,28oC

Ẩm độ khảo sát từ 1 – 9 tuần tuổi lần lượt là 70,33 %; 80,24 %; 75,05 %; 74

%; 68,86 %; 72,81 %; 83,67 %; 77,14 %; 74,67 %

Tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh ở lô thí nghiệm thấp hơn lô đối chứng

Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở 14, 40 và 57 ngày tuổi lần lượt là 0 %; 50 %; 20 % ở

lô thí nghiệm và 0 %; 30 %; 70 % ở lô đối chứng

Tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm 3,51 % thấp hơn lô đối chứng 5,24 %

Hàm lượng kháng thể MG ở 19, 35 và 56 ngày tuổi lần lượt là 11,8; 32; 18,4

ở lô thí nghiệm và 9,8; 128; 27 ở lô đối chứng

Trọng lượng bình quân lúc 67 ngày tuổi lô thí nghiệm 1600 g cao hơn lô đối chứng đạt 1560 g

Tăng trong tuyệt đối lô thí nghiệm 23,28 g/con/ngày cao hơn lô thí nghiệm đạt 22,67 g/con/ngày

Tiêu thụ thức ăn hàng ngày lô thí nghiệm đạt 61,81 g/con/ngày thấp hơn lô đối chứng đạt 62,9 g/con/ngày

Hệ số chuyển biến thức ăn của lô thí nghiệm đạt 2,6 kg thức ăn/ kg tăng trọng thấp hơn lô đối chứng đạt 2,7 kg thức ăn/kg tăng trọng

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc bổ sung nước uống giảm pH giúp nâng cao khả năng phòng bệnh của đàn gà, giúp giảm thiểu tỷ lệ chết và đem lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt khóa luận iii

Mục lục iv

Danh sách các từ viết tắt vii

Danh sách bảng viii

Danh sách biểu đồ ix

Danh sách hình x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2Mục đích - yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan về giống gà Lương Phượng 3

2.1.1 Nguồn gốc 3

2.1.2 Ngoại hình 3

2.1.3 Năng xuất 3

2.2 Giới thiệu trại chăn nuôi A 4

2.2.1 Chuồng trại 4

2.2.2 Vệ sinh sát trùng 4

2.2.3 Nuôi dưỡng 4

2.3 Quy trình tiêm phòng vaccin 5

2.4Thuốc thú y sử dụng tại trại 6

2.5 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ở gia cầm 6

2.5.1 Mỏ và xoang miệng 6

2.5.2 Thực quản và diều 7

Trang 7

2.5.3 Dạ dày 7

2.5.4 Ruột 8

2.6 Tổng quan hệ vi sinh vật đường ruột 9

2.6.1 Hệ vi sinh vật tùy nghi 9

2.6.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc 9

2.7 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tiêu thụ thức ăn của gà 10

2.7.1 Dinh dưỡng 10

2.7.2 Nhiệt độ 10

2.7.3 Ẩm độ 11

2.7.4 Mật độ 11

2.8 Tổng quan về acid hữu cơ 11

2.8.1 Tác dụng sinh học của acid hữu cơ 11

2.8.2 Những ứng dụng của acid hữu cơ trong nuôi dưỡng động vật 12

2.8.2.1 Ứng dụng acid hữu cơ để kháng khuẩn 12

2.8.2.2 Cơ chế tác động của các acid hữu cơ lên vi khuẩn gây bệnh 12

2.8.2.3 Ảnh hưởng của độ pH lên sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột 14

2.9 Sơ lược các tài liệu liên quan 14

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 16

3.2 Đối tượng nghiên cứu 16

3.3 Nội dung nghiên cứu 16

3.4 Phương pháp nghiên cứu 16

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 16

3.4.2 Theo dõi tiểu khí hậu chuồng nuôi 17

3.4.3 Ghi nhận các biểu hiện bệnh trên gà thí nghiệm 17

3.4.4 Quan sát bệnh tích đại thể và vi thể 18

3.4.5 Theo dõi hàm lượng kháng thể chống lại virus Newcastle 19

3.4.6 Theo dõi năng xuất 19

3.4.7 Hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm 20

Trang 8

3.5 Xử lý số liệu 20

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 21

4.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 21

4.2 Tình hình bệnh trên đàn gà 22

4.2.1 Tình hình bệnh chung 22

4.2.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng 25

4.2.3 Tỉ lệ chết 27

4.3 Quan sát bệnh tích đại thể và vi thể 28

4.4 Khảo sát hàm lượng kháng thể trên đàn gà 30

4.4.1 Hàm lượng kháng thể chống bệnh Newcastle (MG) 30

4.4.2 Tỷ lệ mẫu xét nghiệm có hiệu giá HI ≥ 16 31

4.5 Các chỉ tiêu về năng suất đàn gà 32

4.5.1 Trọng lượng bình quân của đàn gà qua các giai đoạn khảo sát 32

4.5.2 Tỷ lệ gà còi khi xuất chuồng 34

4.5.3 Lượng tiêu thụ thức ăn qua các giai đoạn 34

4.5.4 Tăng trọng tuyệt đối qua các giai đoạn 35

4.5.5 Hệ số chuyển biến thức ăn 37

4.6 Hiệu quả kinh tế 38

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Đề nghị 39

Tài liệu tham khảo 43

Phụ lục 43

Trang 9

TTTĐ : Tăng trọng tuyệt đối

HSCBTĂ : Hệ số chuyển biến thức ăn

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng vaccin 5

Bảng 2.2 Danh mục thuốc thú y sử dụng tại trại 6

Bảng 2.3 Dịch phân tiết và giá trị pH ở đường tiêu hóa gia cầm 9

Bảng 2.4 Mật độ gà nuôi trong các khoảng nhiệt độ 11

Bảng 2.5 Khoảng pH thích hơp cho sự phát triển của một số vi khuẩn 14

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 16

Bảng 4.1 Nhiệt độ và ẩm độ trung bình theo tuần tuổi 21

Bảng 4.2 Tỷ lệ triệu chứng, bệnh tích trên gà 1-21 ngày tuổi 22

Bảng 4.3 Tỷ lệ bệnh tích trên gà trong giai đoạn 21-67 ngày tuổi 23

Bàng 4.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng 26

Bảng 4.5 Tỷ lệ chết qua các tuần tuổi 27

Bảng 4.6 Bệnh tích vi thể 29

Bảng 4.7 Hàm lượng kháng thể chống bệnh Newcastle (MG) 30

Bảng 4.8 Tỷ lệ mẫu thí nghiệm có hiệu giá HI ≥ 16 31

Bảng 4.9 Trọng lượng bình quân gà 1-67 ngày tuổi (g/con) 32

Bảng 4.10 Tỷ lệ gà còi khi xuất chuồng 34

Bảng 4.11 Lượng tiêu thụ thức ăn qua các giai đoạn 34

Bảng 4.12 Tăng trọng tuyệt đối qua các giai đoạn 36

Bảng 4.13 Hệ số chuyển biến thức ăn (FCR) (kg) 37

Bảng 4.14 Bảng tính hiệu quả kinh tế 38

Trang 11

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.1 Sự phân ly của acid butyric, lactic và formic ở pH khác nhau trong ống tiêu hóa 13

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 4.1 Bệnh tích thường gặp trên gà từ 21-67 ngày tuổi 25

Trang 13

Để nâng cao hiệu quả điều trị của kháng sinh và đáp ứng nhu cầu chăn nuôi ngày càng phát triển, đảm bảo an toàn cho người sử dụng, các chế phẩm sinh học đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Trong đó acid hữu cơ được đánh giá có lợi ích cao với những công dụng nổi bật như tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn, tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có lợi đồng thời ức chế hoạt đông của các vi khuẩn có hại từ đó nâng cao khả năng phòng bệnh cho vật nuôi Theo kết quả khảo sát trên gà Lương Phượng của Nguyễn Hải Linh (2010) cho thấy khi bổ sung acid vào nước uống, sau 67 ngày tuổi đạt 2270g cao hơn

so với uống nước thường đạt 2020g

Với tình hình chăn nuôi gia cầm đang phát triển rất nhanh của nước ta hiện nay, việc thử nghiệm bổ sung acid hữu cơ vào nước uống nhằm đánh giá lợi ích và áp dụng vào sản xuất là rất cần thiết Nó góp phần giảm bớt việc sử dụng kháng sinh, từ

đó giảm chi phí điều trị, nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và tạo nguồn thực phẩm sạch và an tòan cho con người

Trang 14

Xuất phát từ thực tiễn đó, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Phước Ninh

và TS Nguyễn Tất Toàn, chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của việc sử dụng nước uống có pH = 3,5 đến năng suất và sức khỏe của gà Lương Phượng”

1.2 Mục đích - yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Khảo sát khả năng phòng bệnh trên đàn gà khi bổ sung nước uống giảm pH (pH= 3,5), từ đó đưa ra biện pháp phòng bệnh và áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao năng xuất và tăng lợi nhuận cho nhà chăn nuôi gà hiện nay

1.2.2 Yêu cầu

Theo dõi tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt độ và độ ẩm

Ghi nhận những biểu hiện triệu chứng, bệnh tích trên gà bệnh

Đánh giá hiệu giá kháng thể chống virus Newcastle

Quan sát bệnh tích đại thể và vi thể trên gà khỏe khi xuất chuồng

Ghi nhận lượng thức ăn tiêu thụ, mức độ tăng trưởng của gà

Hiệu quả kinh tế

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan về giống gà Lương Phượng

2.1.1 Nguồn gốc

Gà Lương Phượng là giống gà nuôi chăn thả lấy thịt có nguồn gốc từ khu Lương Phượng Giang, Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) Năm 1998, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập 1900 con và đưa vào nuôi tại trại thực nghiệm Liên Ninh (Đào Đức Long, 2002)

2.1.2 Ngoại hình

Đặc điểm ngoại hình của gà Lương Phượng rất giống với gà địa phương, chúng có mào, tích đỏ, da vàng Gà trống có vóc dáng lớn, màu vàng rơm hoặc đen đốm hoa, mào cờ lớn đứng Gà mái vóc dáng nhỏ, có màu lông tương tư như gà đực (Nguyễn Thị Thảo, 2008)

2.1.3 Năng xuất

Gà Lương Phượng có trọng lượng cơ thể tăng khá nhanh, 10 tuần tuổi đạt 1,8

- 1,9 kg/con Gà mái bắt đầu đẻ trứng ở tuần thứ 21 với sản lượng trứng: 175quả/mái/năm, tỷ lệ nở 80 – 85 %, trọng lượng 45g/quả, thời gian khai thác 52 tuần Lượng thức ăn tiêu tốn bình quân 2,6 - 2,7kg/kg tăng trọng Nếu nuôi thả vườn, ba tháng có thể đạt 1,9 - 2,4 kg/con, tỷ lệ nuôi sống 92 – 95 % (Nguyễn Quý

Khiêm, 2006)

2.1.4 Điều kiện nuôi dưỡng

Gà Lương Phượng có sức đề kháng cao, thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng ở nước ta và hiện đang được nuôi rộng rãi Gà có sức chống chịu bệnh cao,

có khả năng tận dụng thức ăn tốt, đặc biệt có thịt thơm, đầu tư chuồng trại thấp, phù

Trang 16

hợp với quy mô nuôi tại các nông hộ, kể cả các vùng sâu, vùng xa (Nguyễn Quý Khiêm, 2006)

2.2 Giới thiệu trại chăn nuôi A

2.2.1 Chuồng trại

Trại gà được xây dựng trên tổng diện tích 2,5 hecta gồm 17 dãy chuồng Mỗi chuồng có diện tích 200m2 với kích thước chiều dài x chiều rộng là 25m x 8m Chuồng được xây nền xi măng, xung quanh rao bằng lưới B40, mái lợp tôn Một chuồng nuôi khoảng 2.000 gà

2.2.2 Vệ sinh sát trùng

Chuồng được rửa sạch, phơi khô và sát trùng lần thứ nhất bằng nước vôi, sau

2 ngày tiếp tục phun thuốc sát trùng và để khô một ngày trước khi nhập gà Tất cả các dung cụ máng ăn, uống đều được sát trùng trước khi sử dụng Trại thực hiện phun thuốc sát trùng quanh khu vực chăn nuôi định kì khoảng 2 tuần/ lần

2.2.3 Nuôi dưỡng

Gà được nuôi thành 2 giai đoạn: giai đoạn nuôi úm và giai đoạn nuôi thịt

2.2.3.1 Giai đoạn nuôi úm

Điều kiện chuồng trại: gà con một ngày tuổi được nhập về trại thuộc trại

giống Phú Sơn Chuồng úm được bao kín bằng các tấm bạt chắn gió đồng thời để giữ nhiệt, gà được ủ ấm bằng hệ thống đèn tỏa nhiệt, nhiệt độ chuồng luôn giữ ở mức cao trong 3 ngày đầu, khoảng 33 - 36oC vào ban ngày, buổi tối và sáng sớm do trời lạnh, hệ thống đèn không đủ giữ nhiệt nên nhiệt độ vào khoảng 28 - 30oC Sau

10 ngày, các tấm bạt và bóng điện được tháo gỡ dần tạo không khí thoáng mát cho

gà và sau 14 ngày thì tháo hoàn toàn, chỉ giữ lại khoảng 10 bóng đèn để chiếu sáng

cho gà ăn vào ban đêm

Chăm sóc nuôi dưỡng: gà khi nhập về được cho uống nước trắng trong 3

giờ đầu, sau đó nước được pha electrolyte cho uống tiếp tục Gà nhập về sau 8 tiếng mới bắt đầu cho ăn, chúng tôi dùng các bao cám hết, sát trùng, phơi khô và cắt ra để cám tập ăn cho gà con, thức ăn được cho ít một, cứ sau 3 giờ thì thêm thức ăn, vào buổi tối thức ăn được cho nhiều hơn sao cho gà luôn có cám trên bao Sau 3 ngày gà

Trang 17

được chuyển qua cho ăn máng Trại sử dụng cám Master cho gà ăn, gà từ 1 đến 21 ngày tuổi ăn cám bao mã 2011 thuộc thương hiệu cám Master

2.2.3.2 Giai đoạn nuôi thịt

Giai đoạn sau 21 ngày tuổi, gà được cho ăn ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều, nước uống luôn đươc cung cấp đầy đủ, máng ăn và máng uống cũng được thay đổi cho phù hợp với đàn gà Trong giai đoạn này gà ăn cám loại 2021 thuộc thương hiệu cám Master

2.3 Quy trình tiêm phòng vaccin

Theo quy trình tiêm phòng của trại, lịch chủng ngừa vaccine đối với các bệnh Newcastle, IB (viêm phế quản truyền nhiễm) và Gumboro được trình bày qua Bảng 2.1

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng vaccin

Ngày tuổi Tên bệnh Tên vaccine Đường cấp

5 ngày Newcastle và IB lần 1 Cevac BIL Nhỏ mắt mũi

12 ngày Gumboro lần 1 Cevac IBND Uống

22 ngày Newcastle và IB lần 2 Cevac BIL Uống

28 ngày Gumboro lần 2 CevacIBND Uống

37 ngày Newcastle và IB lần 3 Cevac BIL Uống

Chú thích: IB (Infectious Bronchitis)

Đối với bệnh Newcastle và IB trại chủng ngừa 3 đợt vào các giai đoạn 5 ngày tuổi, 22 ngày tuổi và 37 ngày tuổi Đợt 1, vaccine được cấp qua đường nhỏ mắt, mũi; đợt 2 và 3 trại pha vaccine vào nước và cấp cho gà qua đường uống Đối với bệnh Gumboro, trại chủng ngừa 2 đợt vào các giai đoạn 12 ngày tuổi và 28 ngày tuổi, cả 2 lần chủng ngừa đều được cấp qua đường uống Vaccine được sử dụng là vaccine sống nhược độc thuộc công ty Cevac (Pháp)

Trang 18

2.4 Thuốc thú y sử dụng tại trại

Chúng tôi ghi nhận các loại thuốc thú y thường được sử dụng tại trại (Bảng 2.2) như sau:

Bảng 2.2 Danh mục thuốc thú y sử dụng tại trại

2 Octamic amoxylin và colistin 1-2g/ 1 lít nước

3 Florphenicol florfenicol 1g/ 6 lít nước

4 Anticoccin 250ml diclazuril 0.5-1ml/ 1lit nước

5 Esb3 sulfachlorpyrazine 1g/ 1 lít nước

14 Perfesol Các vitamin và khoáng 0.5g/ 1 lít nước

15 Vitamix Các vitamin và khoáng 1g/ 1 lít nước

16 Nopstress Các vitamin và khoáng 1g/ 1 lít nước

2.5 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ở gia cầm

Theo Dương Thanh Liêm (2008), cơ quan tiêu hóa của gia cầm có rất nhiều khác biệt so với động vật có vú Cấu tạo tổng quát bộ máy tiêu hóa ở gia cầm bao gổm các bộ phận chủ yếu sau đây:

2.5.1 Mỏ và xoang miệng

Trang 19

2.5.1.1 Mỏ

Gia cầm có mỏ nhọn được bao bọc một lớp sừng cứng, thích hợp cho việc

mổ, rỉa, lấy thức ăn trên cạn Mỏ có 3 tác dụng: vừa để lấy thức ăn, vừa để kìm giữ khi tiến hành giao phối, vừa làm vũ khí để chiến đấu tự vệ Cũng chính vì lẽ đó, khi nuôi gà theo hướng công nghiệp, mật độ cao, những sơ xuất trong kĩ thuật như khẩu phần ăn thiếu protein, thiếu muối, thiếu chất xơ…có thể dẫn đến sự cắn mổ lẫn nhau gây tổn thất cho nhà chăn nuôi

2.5.1.2 Xoang miệng

Trong xoang miệng có lưỡi và hệ thống tuyến nước bọt Hệ thống tuyến nước bọt phân tiết ra một lượng nước bọt ở gà trưởng thành trung bình khoảng 12ml trong một ngày đêm (biến động từ 7 - 25ml tùy theo tính chất và lượng thức ăn ít hay nhiều) Độ pH của tuyến nước bọt gia cầm khoảng 6,75 Khác với động vật có

vú, tuyến nước bọt của gia cầm không có enzyme tiêu hóa tinh bột

2.5.2 Thực quản và diều

Gia cầm có ống thực quản dài, trước khi đổ vào xoang ngực nó được phình

to ra tạo thành cái túi gọi là diều Trên niêm mạc suốt ống thực quản và diều có rất nhiều tuyến nước nhờn làm cho trơn giúp thức ăn vận chuyển được dễ dàng

Diều là cơ quan dự trữ và điều tiết thức ăn ở gia cầm Diều còn tiết ra dịch diều để thấm ướt thức ăn, pH ở diều khoảng 4,5 kết hợp với nhiệt độ thân nhiệt thích hợp cho các men tiêu hóa có sẵn trong thức ăn hoạt động

2.5.3 Dạ dày: Gồm dạ dày cơ và dạ dày tuyến

2.5.3.1 Dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến nằm trước dạ dày cơ, dung tích nhỏ Ở đây có các tuyến tiết ra

dịch vị, HCl và enzyme pepsin pH tại dạ dày tuyến ở khoảng 4,4 Thời gian lưu lại của thức ăn tại đây ngắn Thức ăn được thấm ướt bởi dịch vị và tiếp tục được chuyển xuống dạ dày cơ để tiêu hóa tiếp Vì vậy, khi dạ dày tuyến bị tổn thương như bệnh dịch tả, Gumboro,…thì khả năng tiêu hóa protein trong thức ăn cũng giảm

Trang 20

2.5.3.2 Dạ dày cơ

Dạ dày cơ nằm phía sau dạ dày tuyến, nhiệm vụ chính của dạ dày cơ là co bóp và nghiền nát thức ăn Ngoài ra, pH trong dạ dày cơ khoảng 2,6 tạo môi trường thuận lợi cho các enzyme hoạt động giúp khả năng hấp thu thức ăn tốt hơn khi được chuyển xuống ruột non

2.5.4 Ruột: gồm ruột non và ruột già

2.5.4.1 Ruột non: là một ống dài có đoạn rộng hẹp khác nhau, dựa vào hình thái

của nó, người ta chia ruột non làm 3 đoạn khác nhau:

Đoạn tá tràng (Duodenum), là một ống lớn rộng có dạng hình chữ U Sự tiêu

hóa hóa học bởi enzyme cơ thể và sự hấp thu diễn ra rất mãnh liệt ở đây

Đoạn không tràng (Jejunum) bắt đầu từ cuối tá tràng, nơi đổ ra của 4 ống

tuyến (2 ống từ gan và 2 ống từ tụy) đến chỗ cuối noãn hoàng (tương đương cuống rốn ở động vật có vú)

Đoạn hồi tràng (Ilenum) bắt đầu từ cuống noãn hoàng đến ngã tư manh tràng

Dưới tác dụng của các loại enzyme từ dịch vị, dịch ruột, dịch tụy, đại bộ phận các chất dinh dưỡng như chất bột đường, protein, lipid được tiêu hóa và hấp thu tại đây pH tại ruột non khoảng 6,2; pH này không thích hợp cho hoạt động enzyme ở ruột nhưng nhờ thân nhiệt cao nên đã tăng hoạt động của enzyme

Chất bột đường tiêu hóa nhanh và hấp thu nhanh ở đoạn trên của ruột non, protein phân giải thành acid amin chậm hơn nên nó được hấp thu nên được hấp thu

ở đoạn kế tiếp của ruột non

2.5.4.2 Ruột già: chủ yếu là hấp thu chất xơ và tái hấp thu các chất dinh dưỡng, tuy

nhiên sự hấp thu ở đây là không đáng kể Giá trị pH ở ruột già khoảng 6,3

Dịch phân tiết và giá trị pH ở đường tiêu hóa gia cầm được trình bày ở Bảng 2.3

Trang 21

Bảng 2.3 Dịch phân tiết và giá trị pH ở đường tiêu hóa gia cầm

Miệng Nước bọt 6,75 Diều Dịch diều 4,5

Dạ dày tuyến Dịch vị 4,4

Ruột Dịch ruột 6,2 Gan Dịch mật 5,6 (Theo Chang và Chen, 2000; Dương Thanh Liêm, 2008; Trần Thị Dân và Dương

Nguyên Khang, 2008)

2.6 Tổng quan hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Tô Minh Châu 2004, hệ sinh vật đường ruột được chia thành 2 nhóm

chính: hệ vi sinh vật tùy nghi và hệ vi sinh vật bắt buộc

2.6.1 Hệ vi sinh vật tùy nghi

Phần lớn là các loại vi sinh vật có hại như Salmonella, Klebsiella, E.coli,

Clostridium, Staphylococcus…Chúng thay đổi tùy vào điều kiện môi trường, thức

ăn, sức đề kháng của cơ thể và khi gặp các yếu tố thích hợp chúng phát triển nhanh

chóng, sản sinh độc tố xâm nhập phá vỡ tế bào đường ruột, gây hại cho gia súc, gia

cầm Hầu hết các vi sinh vật loại này thích nghi với độ pH từ trung tính đến kiềm

Khi gặp điều kiện thích hợp, nhóm vi khuẩn này phát triển gây dày thành

ruột từ đó giảm hấp thu các acid amin và đường đơn, ức chế hoạt động của các

enzyme, giảm tiết acid mật dẫn đến giảm tiêu hóa chất béo Ngoài ra, chúng còn sản

sinh ra các chất độc hại như NH3, CH4, H2S, độc tố…gây tác động rất xấu đến sức

khỏe cơ thể vật chủ

2.6.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc

Bao gồm các vi sinh vật thích nghi với môi trường acid dạ dày-ruột của động

vật gồm những loài như Streptococcus, S.faecium, Lactobacillus acidophilus, L.bulgaricus, Bacillus sublitis, Bifidobacterium… đa số những loài này thích nghi

với môi trường pH ≤ 4,5 (Vũ Xuân Bình, 2008 và Nguyễn Hận Thiên Thu, 2008)

Trang 22

Những vi sinh vật này có vai trò rất quan trọng trong hệ thống tiêu hóa của động vật, một khi đã sinh sản và phát triển trong đường tiêu hóa sẽ cạnh tranh đối kháng với các vi sinh vật gây bệnh làm ức chế sự phát triển của chúng Đồng thời, các vi sinh vật có lợi cũng tác động đến tiến trình trao đổi chất, tổng hợp acid amin, protein và các vitamin…theo hướng tích cực cho cơ thể

2.7 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tiêu thụ thức ăn của gà 2.7.1 Dinh dưỡng

Dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển sinh lý trong cơ thể của gia cầm Khẩu phần ăn phải đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh dưỡng như protein, các acid amin, chất béo, chất xơ, khoáng chất,… theo tỉ lệ phù hợp để đáp ứng cho nhu cầu của gia cầm Nếu khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng sẽ dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các hoạt động chức năng của cơ thể, từ đó xuất hiện tình trạng còi cọc, chậm lớn, sức đề kháng bệnh kém, giảm năng suất Nếu khẩu phần ăn dư thừa sẽ làm giảm tính thèm ăn, tiêu chảy và làm giảm hiệu quả kinh tế Vì vậy dinh dưỡng cho gia cầm cần hợp lý và phù hợp với tình trạng sinh lý của từng giai đoạn phát triển của gia cầm thì mới đạt kết quả cao

2.7.2 Nhiệt độ

Thân nhiệt của gia cầm dao động trong khoảng 40,6 - 41,7oC (Lâm Minh Thuận, 2004) Ngay từ nhỏ gà đã có quá trình điều tiết nhiệt, khả năng này có liên quan đến yếu tố tiểu khí hậu nhằm giúp cho chúng tạo ra nhiệt và thoát nhiệt để ổn định nhiệt độ cơ thể Da của gà không có tuyến mồ hôi vì vậy gà thoát nhiệt thực hiện khi gà hô hấp

Nhiệt độ trong khoảng 15 - 20oC thì gà có sức sản xuất cao và tiêu tốn ít thức

ăn Khi nhiệt độ từ 30oC trở lên , gà ăn ít và uống nước nhiều, sức sản xuất của đàn

gà giảm nhiều Trong trường hợp nhiệt độ cao gà há miệng để thở liên tục, vì vậy trong trường hợp này cần cấp đủ nước cho gà uống

Khả năng chống nóng của gà trưởng thành tốt hơn gà con, gà đực tốt hơn gà mái, gà giống nội tốt hơn gà giống ngoại (Đào Đức Long, 2002)

Trang 23

2.7.3 Ẩm độ

Độ ẩm không khí tốt nhất trong chuồng nuôi là 65 - 70% Độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn phát triển, lớp độn chuồng dễ bị nấm mốc gây mủn nát, dụng cụ thiết bị chuồng nuôi dễ hỏng, mầm bệnh dễ dàng lây lan Độ ẩm giảm thấp cũng gây hại cho gà Chuồng nuôi dễ gây bụi làm bẩn không khí, gà dễ bị bệnh qua đường hô hấp (Đào Đức Long, 2002)

2.7.4 Mật độ

Mật độ phù hợp giúp gà giảm được lây lan bệnh tật, tăng khả năng tiêu thụ thức ăn, mật độ phải phù hợp với nhiệt độ chuồng nuôi

Bảng 2.4 Mật độ gà nuôi trong các khoảng nhiệt độ

Nhiệt độ chuồng nuôi Mật độ gà nuôi thịt loại 2kg (con/m2)

2.8 Tổng quan về acid hữu cơ

Từ khi kháng sinh bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi thì acid hữu cơ cũng được nghiên cứu bổ sung vào thức ăn với nhiều mục đích khác nhau để thúc đẩy tăng trưởng và phòng bệnh đường ruột cho gia súc, gia cầm

2.8.1 Tác dụng sinh học của acid hữu cơ

Theo Dương Thanh Liêm (2008) và Hà Tiến Phan (2008) các acid hữu cơ làm giảm pH đường ruột nên tạo môi trường thuận lợi cho hệ vi sinh vật có lợi phát triển, ảnh hưởng tốt đến hệ tiêu hóa và trao đổi chất cơ thể, được coi như là yếu tố cải thiện sự hấp thu các chất dinh dưỡng

Acid lactic: acid lactic được sử dụng được sử dụng nhằm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi Từ đó nó cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh tiêu chảy và tăng sự tiêu hóa hấp thu dưỡng chất trong thức ăn

Trang 24

Acid kết tinh: fumaric, citric, sucxinic, malic: Đây là những acid có thể chế tạo bằng con đường lên men và có thể kết tinh để tạo ra dạng khô, bổ xung vào thức

ăn rất tiện lợi Các acid này tạo độ pH dạ dày và ruột thấp, vừa có tác dụng tốt trong tiêu hóa, vừa ức chế vi khuẩn lên men thối ở ruột

Acid béo bay hơi: acid formic, acid propionic và acid butyric Đây là những acid hữu cơ được đưa vào thức ăn không chỉ với mục tiêu kích thích tiêu hóa mà còn có tác dụng bảo vệ thức ăn chống khuẩn và chống nấm

2.8.2 Những ứng dụng của acid hữu cơ trong nuôi dưỡng động vật

2.8.2.1 Ứng dụng acid hữu cơ để kháng khuẩn

Acid hữu cơ được coi như là những chất không phụ thuộc các loại kháng sinh, cũng không phải là những chất tổng hợp có tính kháng khuẩn Nó là những chất tổng hợp có nguồn gốc tự nhiên hay acid vô cơ như acid phosphoric không có hại cho cơ thể, có tính ức chế sự phát triển của các loại vi khuẩn gây hại bằng phương pháp hạ pH trong môi trường đường ruột, chống lại sự lên men thối, từ đó kìm hãm phần lớn các loại vi khuẩn gây bệnh sống trong đường ruột

2.8.2.2 Cơ chế tác động của các acid hữu cơ lên vi khuẩn gây bệnh

Acid hữu cơ đi vào tế bào vi khuẩn (pH = 7), các acid hữu cơ phân ly thành anion(R-COO-) và cation (H+) Nguyên sinh chất tế bào vi khuẩn phải huy động một lượng lớn chất đệm và protein để trung hòa H+ và do đó làm mất nhiều năng lượng tế bào Gốc anion có chứa carbon R-COO- sẽ liên kết với nhân tế bào, ức chế sản xuất RNA, DNA và lipid cấu trúc màng, từ đó ức chế sinh trưởng phân chia tế bào vi khuẩn và do đó mà vi khuẩn bị tiêu diệt hoặc bị ức chế, không còn khả năng

đề kháng lại được như là đối với kháng sinh (Dương Thanh Liêm, 2008)

Theo Vũ Duy Giảng (2008), các acid hữu cơ có thể đi vào hoặc đi ra khỏi tế bào vi khuẩn khi ở trạng thái không phân ly Đặc tính này gắn liền với khả năng phân ly của các acid hữu cơ, được biểu thị bằng hằng số phân ly pK pK càng cao thì độ phân ly càng lớn Vi dụ trong môi trường có pH như nhau thì acid acetic có

độ phân ly cao hơn acid formic (pK của acid acetic là 4,76 và của acid formic là 3,75) nên khả năng kháng khuẩn của acid acetic thấp hơn acid formic

Trang 25

Ngoài ra khả năng phân ly của acid hữu cơ còn phụ thuộc vào pH của môi trường Acid hữu cơ phân ly ít trong môi trường có pH thấp và phân ly nhiều trong môi trường có pH cao Ống tiêu hóa của heo hay gà có pH khác nhau ở các vị trí khác nhau Ở dạ dày, pH thường thấp (2,5 - 3,5), acid hữu cơ ở đây không phân ly hoặc phân ly rất ít, nhưng ở ruột non pH thường cao (6 - 7,5), acid hữu cơ phân ly nhiều, thậm chí phân ly hoàn toàn Khi đã phân ly thì acid không đi vào được tế bào

vi khuẩn và không còn tác dụng kháng khuẩn (Biểu đồ 2.1)

(Vũ Duy Giảng, 2008)

Biểu đồ 2.1 Sự phân ly của acid butyric, lactic và formic ở pH khác nhau

trong ống tiêu hóa

Biểu đồ 2.1 cho thấy ở pH=3,5 acid butyric hầu nhu không phân ly, acid lactic và formic phân ly khoảng 40 % (60 % không phân ly), nhưng pH tăng dần lên thì sự phân ly của các acid này cũng tăng, đến pH = 6 - 7 tất cả các acid hầu như phân ly hoàn toàn Riêng acid butyric có độ phân ly thấp khi pH tăng, ở pH = 5,5 - 6 thì vẫn còn khoảng 20 % không phân ly

2.8.2.3 Ảnh hưởng của độ pH lên sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột

Trị số pH ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vi sinh vật Hầu hết những

vi sinh vật có hại đều phát triển tốt trong môi trường có trị số pH từ trung tính đến kiềm (6,5 – 7,5) Nhưng ngược lại những vi sinh vật có lợi phát triển trong môi

Trang 26

trường acdid, pH thích hợp cho nhóm vi khuẩn sinh men lactic như Lactobacillus spp, Bifidobacterium spp, Streptococcus spp là 2 – 3 (Vũ Duy Giảng, 2008) Lợi

dụng điểm này, người ta bổ sung acid hữu cơ vào thức ăn hoặc nước uống để hạ pH trong môi trường đường ruột của gia súc, gia cầm xuống 3,5 nhằm nâng cao khả năng phòng bệnh cho chúng (Báo Nông Nghiệp, 2009) Sau đây là bảng minh họa khoảng pH thích hợp cho sự phát triển của một vài vi sinh vật gây bệnh:

Bảng 2.5 Khoảng pH thích hơp cho sự phát triển của một số vi khuẩn gây bệnh

Loài vi khuẩn Mức tối thiểu Mức tối ưu Mức tối đa

(Nguyễn Hưng Quang, 2008)

2.9 Sơ lược các tài liệu liên quan

Nguyễn Hải Linh (2010) đã thử nghiệm hiệu quả phòng bệnh CRD trên gà Lương Phượng bằng kháng sinh Gentatylo và giảm pH nước uống (pH = 3,5) tại chăn nuôi A ở tỉnh Đồng Nai Kết quả cho thấy trọng lượng bình quân lô thí nghiệm (2020 g/con) cao hơn lô đối chứng (1710 g/con) Lô thí nghiệm cho hiệu quả phòng bệnh CRD (không nhiễm bệnh) tốt hơn lô đối chứng

Theo Hai Mieng Tan (2007), khi thí nghiệm hiệu quả bổ sung acid lactic trên

gà thịt, kết quả so sánh (%) khác biệt giữa lô sử dụng acid và lô không sử dụng ở một số quốc gia như sau:

Ở Malaysia, trọng lượng bình quân cao hơn 3,8 %; hệ số chuyển biến thức ăn thấp hơn 4,8 % Tỷ lệ chết lô thí nghiệm (7,8 %) thấp hơn lô đối chứng (1,8 %)

Ở Ấn Độ, trọng lượng bình quân cao hơn 10,3 %, hệ số chuyển biến thức ăn thấp hơn 9,5 %

Trang 27

Ở Trung Quốc, trọng lượng bình quân cao hơn 9,9 %; hệ số chuyển biến thức

ăn thấp hơn 7,1 % Tỷ lệ chết lô thí nghiệm (2,4 %) thấp hơn lô đối chứng (5,6 %)

Ở Thái Lan, trọng lượng bình quân cao hơn 0,5 %, hệ số chuyển biến thức ăn thấp hơn 9,2 % Tỷ lệ chết lô thí nghiệm (7,8 %) thấp hơn lô đối chứng (11,5 %) Như vậy, qua các nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy việc bổ sung acid hữu

cơ đã giúp cải thiện tăng trọng và nâng cao khả năng sử dụng thức ăn của đàn gà, đồng thời nâng cao khả năng phòng bệnh, đem lại lợi ích đáng kể cho nhà chăn nuôi

Trang 28

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Đề tài được tiến hành thí nghiệm từ tháng 1/03/2010 đến 30/06/ 2010 tại trại A thuộc thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Gà Lương Phượng từ 1 ngày tuổi đến 67 ngày tuổi

3.3 Nội dung nghiên cứu

Theo dõi sức đề kháng bệnh trên đàn gà

Đánh giá sức sản xuất

So sánh hiệu quả kinh tế

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

3.4.1.1 Dụng cụ, vật liệu

Máy đo pH, lưới dùng để phân lô, acid citric: bao loại 25kg, sản xuất bởi nhà máy BBCA Biochemical, Trung Quốc

3.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố trên 1700 gà chia làm 2 lô, mỗi lô gồm 8,5 thùng gà được chọn ngẫu nhiên từ 17 thùng (100 ± 2 con/thùng)

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm

Lô (850con) pH nước uống Thời gian cấp nước

1 3,5 Từ 1 ngày tuổi đến khi xuất chuồng

2 (đối chứng) 7 Từ 1 ngày tuổi đến khi xuất chuồng

Trang 29

Việc cung cấp nước uống có độ pH thấp sẽ không thực hiện khi sử dụng thuốc

và vaccine theo đường uống để phòng trị bệnh Thời gian còn lại sẽ cung cấp liên tục cho đến khi xuất chuồng Ngoài việc điều chỉnh pH, quy trình phòng bệnh được thực hiện cho cả các lô Khi có bệnh xảy ra sử dụng thuốc điều trị cho cả các lô theo liệu pháp của trại

Cách pha nước uống có pH = 3,5: tiến hành đo pH của nước uống sử dụng tại trại, lấy 10 lít nước sau đó cho acid citric vào cho đến khi nước uống đạt pH = 3,5, từ

đó ta tính được số gam acid citric đã sử dụng Sau đó tính tỉ lệ số gam acid citric trên

số lít nước và sử dụng tỉ lệ này để pha nước có pH = 3,5 cho những lần sau Kết quả chúng tôi ghi nhận được ở tỷ lệ 1g acid/1 lít nước

3.4.2 Theo dõi tiểu khí hậu chuồng nuôi

3.4.2.1 Dụng cụ

Ẩm kế, nhiệt kế

3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Dùng nhiệt kế và ẩm kế tiến hành đo nhiệt độ, ẩm độ ba lần trong ngày vào khoảng lúc 7h, 14h và 17h30 Máy được đặt cách mặt đất 25cm Sau khi ghi nhận các kết quả thu đươc trong ngày ta tính giá trị trung bình ngày, từ đó tính được giá trị trung bình của 1 tuần

3.4.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Theo dõi tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt độ trung bình hàng tuần (oC), ẩm độ trung bình hàng tuần (%)

Công thức tính

Nhiệt độ trung bình ngày = tổng nhiệt độ 3 lần đo trong ngày / 3

Nhiệt độ trung bình tuần = tổng nhiệt độ 7 ngày trong tuần / 7

Công thức tính độ ẩm tương tự như nhiệt độ

3.4.3 Ghi nhận các biểu hiện bệnh trên gà thí nghiệm

3.4.3.1 Dụng cụ

Máy chụp hình, kéo, nhíp, găng tay

3.4.3.2 Phương pháp thí nghiệm

Trang 30

Qua lâm sàng chúng tôi tiến hành mổ khám để ghi lại những triệu chứng, bệnh tích của 2 lô thí nghiệm và lô đối chứng theo hướng hô hấp và tiêu hóa Trên hệ tiêu hóa, quan sát ghi lại biểu hiện màu phân, tính chất phân, các tổn thương ở ruột Trên hướng hô hấp, ghi nhận các biểu hiện khó thở âm rale, phù đầu, sưng xoang mắt, xoang mũi, chất tiết ở các xoang, tổn thương ở thanh quản, khí quản, phổi,…

Xét nghiệm cầu trùng: lấy mẫu phân nghi ngờ nhiễm cầu trùng, lấy vào 3 thời

điểm: 14, 40 và 54 ngày tuổi Chúng tôi lấy 10 mẫu /lô /lần lấy Sau đó cho vào túi ni lông cột chặt sau đó đưa về phòng xét nghiệm Bệnh Viện Thú Y trường Đại học Nông Lâm để tiến hành xét nghiệm

Ghi nhận số gà chết trong suốt quá trình nuôi

3.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chúng tôi tiến hành theo dõi tỷ lệ triệu chứng, tỷ lệ bệnh tích trên những gà bệnh mổ khám, tỷ lệ chết, tỷ lệ nhiễm cầu trùng

Kính hiển vi, máy chụp hình, kéo, nhíp, găng tay, lọ đựng mẫu, formol 10%

3.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện mổ khám 2 gà khỏe mạnh vào thời điểm gần xuất chuồng ở mỗi lô, quan sát bệnh tích đại thể trên các cơ quan Sau đó, lấy mẫu trên các cơ quan như gan, lách, thận, tụy tạng, ruột, dạ dày tuyến, diều, khí quản, phổi, xoang mũi và cho vào lọ đựng dung dịch fomol 10 % để bảo quản trong thùng đá Mẫu được xét nghiệm tại bệnh viện Thú Y trường Đại học Nông Lâm

Trang 31

3.4.4.3 Chỉ tiêu theo dõi

Ghi nhận biểu hiện bệnh đại thể và vi thể trên gà mổ khám

3.4.5 Theo dõi hàm lượng kháng thể chống lại virus Newcastle

3.4.5.1 Dụng cụ

Vỉ làm HA – HI, ependoff, syringe 3ml, kim tiêm loại 23 và 25, thùng đá,

micropipette

3.4.5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành lấy mẫu máu kiểm tra kháng thể chống lại virus Newcastle sau chủng ngừa 2 tuần, lấy 3 lần (19, 35 và 54 ngày tuổi) , mỗi lô lấy 20 mẫu Mẫu được đưa về phòng xét nghiệm bệnh viện thú y trường Đai học Nông Lâm để tiến hành xét

nghiệm

Dùng phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (Haemagglutination test) và phản ứng gây cản trở ngưng kết hồng cầu HI (Haemagglutination Inhibition test) để kiểm tra hiệu giá kháng thể (Đỗ Tiến Duy và Nguyễn Thị Phước Ninh, 2008)

3.4.5.3 Chỉ tiêu theo dõi

Ghi nhận hàm lượng kháng thể chống bệnh Newcastle trên đàn gà

3.4.6 Theo dõi năng xuất

3.4.6.1 Dụng cụ

Cân loại 5kg và 60kg, lồng cân gà

3.4.6.2 Phương pháp nghiên cứu

Để theo dõi năng xuất chúng tôi tiến hành cân trọng lượng gà lúc một ngày tuổi, định kỳ hàng tuần và khi xuất chuồng (67 ngày tuổi), gà được cân vào buổi sáng trước khi cho ăn hoặc lúc chiều tối Lượng thức ăn tiêu thụ được theo dõi từ khi nuôi đến khi xuất chuồng theo hàng tuần

3.4.6.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Theo dõi tăng trọng bình quân, lượng thức ăn tiêu thụ, tăng trọng tuyệt đối và

hệ số chuyển biến thức ăn, tỷ lệ gà còi khi xuất chuồng

Công thức tính

Trang 32

Trọng lượng bình quân (g/con) = Tổng trọng lượng gàtổng số gà

Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) = P cuối- P đầu số ngày nuôi

HSCBTĂ (kg thức ăn/kg tăng trọng) = Tổng trọng lượng tăng Tổng thức ăn sử dụng

3.4.7 Hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm

Hiệu quả kinh tế được tính toán dựa trên các yếu tố cấu thành sản phẩm sau: lượng thức ăn, giá thức ăn, chi phí thức ăn, tiền công, tiền giống, tiền thuốc thú y, tiền vaccine, tiền điện

3.4.7.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Ghi nhận tổng chi phí của đàn gà từ đó tính lợi nhuận đạt được

Lợi nhuận (vnđ) = Tổng thu – tổng chi

3.5 Xử lý số liệu

So sánh các tỉ lệ bằng trắc nghiệm χ2

So sánh các số trung bình bằng trắc nghiệm F trên phần Minitab version 12.21

Trang 33

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Bảng 4.1 Nhiệt độ và ẩm độ trung bình theo tuần tuổi

Tuần 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Nhiệt độ

Qua Bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy nhiệt độ trung bình theo tuần tuổi của gà

dao động trong khoảng 31,76 -33,17oC Theo Lâm Minh Thuận (2004), nhiệt độ

môi trường nằm trong khoảng 20 - 25oC là khoảng nhiệt độ thích hợp cho quá trình

trao đổi chất của gia cầm Như vậy khoảng nhiệt độ chúng tôi khảo sát được là rất

cao Nhiệt độ cao nhất vào tuần thứ 2 (33,17oC) kế đến là tuần thứ nhất (33,16oC)

và thấp nhất ở tuần thứ 7 (31,8oC)

Về độ ẩm, độ ẩm trung bình qua các tuần khảo sát dao động trong khoảng

68,86-83,67 % Nhìn chung ẩm độ cao hơn khoảng ẩm độ cho phép (ẩm độ tốt nhất

khoảng 65 - 70 %) Ẩm độ trong chuồng nuôi do nước trong phân bốc hơi và hơi

nước theo đường hô hấp của gà tạo thành

Trong thời gian thực hiện đề tài thí nghiệm tại trại, chúng tôi nhận thấy đàn

gà được nuôi ở thời điểm này có hiện tượng há mỏ thở, uống nước nhiều và giảm

ăn, đặc biệt vào khoảng trưa nắng nóng trong ngày Mặt khác, chuồng nuôi được

thiết kế không có hệ thống thông gió chủ động nên làm nhiệt độ và ẩm độ tăng cao

gây cho thí nghiệm được khảo sát trong điều kiện tiểu khí hậu không được tối ưu, từ

Trang 34

đó gây ra những bất lợi cho quá trình trao đổi chất, sự sinh trưởng của đàn gà Đồng thời, khi gà thở gấp bằng cách há miệng thở thì bụi và các vi khuẩn trong không khí

dễ dàng xâm nhập gây nên các tổn thương trên hệ hô hấp và tiêu hóa của gà (Dương Duy Đồng, 1998, trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phước Ninh, 2000)

4.2 Tình hình bệnh trên đàn gà

4.2.1 Tình hình bệnh chung

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên đàn gà thành 2 giai đoạn: giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi và giai đoạn 21 - 67 ngày tuổi Quan sát trên lâm sàng khi mổ khám, chúng tôi nhận thấy tình hình nhiễm bệnh trên gà lô thí nghiệm và lô đối chứng như sau:

Trong giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi, qua mổ khám 20 gà tại trại và tại bệnh viện Thú y trường Đại học Nông Lâm, chúng tôi thu được kết quả ở một số cơ quan (Bảng 4.2)

Bảng 4.2 Tỷ lệ triệu chứng, bệnh tích trên gà 1-21 ngày tuổi

Triệu chứng, bệnh tích

Thí nghiệm (n=10) Đối chứng (n=10) P

Số con Tỷ lệ (%) Số con Tỷ lệ (%)

3 30 6 60 Phân trắng bết hậu môn

Do điều kiện hạn chế nên chúng tôi không tiến hành xét nghiệm để xác định chủng vi khuẩn gây bệnh , tuy nhiên về mặt lâm sàng, căn cứ vào triệu chứng và bệnh tích (Bảng 4.2) thu thập được ở 2 lô chúng tôi chẩn đoán có sự hiện diện của

các vi khuẩn gây bệnh ở đường tiêu hóa như E.coli, Salmonella spp trên đàn gà Khi

Trang 35

so sánh số liệu kết quả giữa 2 lô cũng cho thấy hiệu quả của việc bổ sung nước uống

giảm pH đã giúp tăng cường khả năng phòng bệnh trên gà lô thí nghiệm

Trong giai đoạn 21 - 67 ngày tuổi, qua mổ khám chúng tôi ghi nhận các bệnh

tích điển hình của 28 gà bệnh chết ở 2 lô, kết quả được trình bày qua Bảng 4.3

Bảng 4.3 Tỷ lệ bệnh tích trên gà trong giai đoạn 21-67 ngày tuổi

Triệu chứng, bệnh tích Thí nghiệm (n=13) Đối chứng (n=15) P

Số mẫu Tỷ lệ (%) Số mẫu Tỷ lệ (%)

Xuất huyết thanh quản 7 53,84 11 73,33

Xuất huyết khí quản 8 61,53 8 53,33

Tích nước bao tim 3 23,07 13 86,67 P < 0,01

Ruột xuất huyết 4 30,77 12 80 P < 0,01

Qua Bảng 4.3, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh tích trên gà trong giai đoạn

21-67 ngày tuổi giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm như sau: tỷ lệ sưng xoang mắt, mũi

ở lô đối chứng (20 %) cao hơn lô thí nghiệm (7,7 %); tỷ lệ xuất huyết thanh quản ở

lô đối chứng (73,33 %) cao hơn lô thí nghiệm (53,84 %); tỷ lệ xuất huyết khí quản ở

lô đối chứng (53,33 %) thấp hơn lô thí nghiệm (61,53 %); tỷ lệ túi khí viêm dày và

đục của lô đối chứng (46,67 %) thấp hơn lô thí nghiệm (53,84 %); tỷ lệ xuất huyết

phổi ở lô đối chửng (53,33 %) thấp hơn lô thí nghiệm (53,84 %); tỷ lệ xuất huyết

mỡ vành tim ở lô đối chứng (60 %) cao hơn lô thí nghiệm (23,07 %) Qua phân tích

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm