1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ TÍNH AN TOÀN SAU TIÊM VACXIN DỊCH TẢ HEO TẾ BÀO TRÊN HEO SƠ SINH, TRÊN NÁI MANG THAI VÀ NÁI HẬU BỊ

65 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 544,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả, heo con được đẻ ra từ những heo nái bị nhiễm virus DTH có thể sống sót đến 332 ngày, những heo con này không biểu lộ triệu chứng lâm sàng của bệnh DTH nhưng virus DTH vẫn đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

*****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ TÍNH AN TOÀN SAU TIÊM VACXIN DỊCH TẢ HEO TẾ BÀO TRÊN HEO SƠ

SINH, TRÊN NÁI MANG THAI VÀ NÁI HẬU BỊ

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN TUÂN Lớp : DH05TY

Ngành: Thú Y Niên khóa: 2005 – 2010

Tháng 08/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

NGUYỄN VĂN TUÂN

KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ TÍNH AN TOÀN SAU TIÊM VACXIN DỊCH TẢ HEO TẾ BÀO TRÊN HEO

SƠ SINH, TRÊN NÁI MANG THAI VÀ NÁI HẬU BỊ

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng

Bác sỹ Thú Y

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUYỄN THỊ PHƯỚC NINH ThS NGUYỄN THỊ THU HỒNG

Tháng 08/2010

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực tập: Nguyễn Văn Tuân

Tên khóa luận: “Khảo sát đáp ứng miễn dịch và tính an toàn sau tiêm vacxin DTH

tế bào trên heo hậu bị, trên nái mang thai và trên heo sơ sinh”Đã hoàn thành khóa luận theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn

Giáo viên hướng dẫn

TS Nguyễn Thị Phước Ninh

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Con xin cảm ơn ba má đã có công sinh thành dưỡng dục và hy sinh rất nhiều

để cho con có được ngày hôm nay

Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Phước Ninh đã hết lòng hỗ trợ, dẫn dắt và hướng dẫn em hoàn tất tốt đề tài này

Con xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Thu Hồng trưởng bộ môn siêu

vi trùng, Ths Lê Thị Thu Phương, chú Đặng Hùng bộ môn siêu vi trùng, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên công ty NAVETCO đã quan tâm, hướng dẫn và tạo điều kiện học tập tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn chú Đỗ Văn Trong, chú Nguyễn Ngọc Dũng, chú Võ Đình Đạt, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn

đã tạo điều kiện thuận lợi cho con trong thời gian thực tập

Em xin được cảm ơn các thầy cô trong khoa Chăn nuôi – Thú y đã tận tình truyền dạy kiến thức cho em trong quá trình học tập tại trường

Xin được cảm ơn các bạn cùng lớp DH05TY đã gắn bó giúp đỡ mình trong suốt năm đại học

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát đáp ứng miễn dịch và tính an toàn sau tiêm vacxin DTH tế

bào trên heo hậu bị, trên nái mang thai và trên heo sơ sinh” được thực hiện tại trại

heo Phú Sơn và Bộ môn siêu vi trùng – Công ty NAVETCO từ 8/3/2010 đến 10/8/2010 Chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính của đề tài:

Hai lô vacxin dùng trong thí nghiệm trên heo nái có liều TCID50 là 104,33/liều

ở lô 1 và 104 /liều ở lô 2

Vacxin DTH heo tế bào chủng C do NAVETCO sản xuất an toàn trên heo hậu

bị, heo nái mang thai và heo con sơ sinh

Heo hậu bị và heo nái mang thai khi được chủng vacxin này sẽ có đáp ứng miễn dịch tương tự như khi chủng vacxin ngoại khác dùng làm đối chứng trong thí nghiệm này

Tiêm vacxin cho heo con sơ sinh 2 ngày tuổi có KTTĐ thì sự đáp ứng KT không rõ ràng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh mục các chữ viết tắt ix

Danh mục các bảng x

Danh mục các sơ đồ xi

Danh mục các hình xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 Lịch sử bệnh DTH 3

2.1.1 Khái niệm 3

2.1.2 Tình hình nhiễm bệnh DTH trên thế giới 3

2.2.1 Nguồn bệnh và phương pháp lây lan 4

2.2.2.3 Mùa vụ mắc bệnh 6

2.2.5 Đường xâm nhập 6

2.2.6 Cách sinh bệnh 6

2.3 Căn bệnh 7

2.3.2 Phân loại 7

2.3.3 Nuôi cấy 9

2.3.3.1 Động vật thí nghiệm 9

2.3.3.2 Môi trường nuôi cấy 9

2.3.4 Sức đề kháng của virus DTH 9

Trang 7

2.4 Triệu chứng và bệnh tích 9

2.4.1.1 Thể quá cấp 10

2.4.1.4 Thể không điển hình 10

2.4.2 Bệnh tích 11

2.4.2.1 Bệnh tích đại thể 11

2.4.2.2 Bệnh tích vi thể 11

2.5 Chẩn đoán 11

2.5.1 Chẩn đoán lâm sàng và mổ khám 12

2.5.2 Chẩn đoán phân biệt 12

2.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 14

2.5.3.1 Phương pháp trung hòa trên thỏ 14

2.5.3.2 Phương pháp tiêm truyền qua heo 14

2.5.3.3 Phương pháp phân lập virus DTH trên nuôi cấy tế bào PK-15 14

2.5.3.4 Thử nghiệm hấp phụ miễn dịch kết nối enzyme ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay) 14

2.5.3.5 Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC: Immunohistochemical Staining) 15

2.5.3.6 Phản ứng miễn dịch huỳnh quang 15

5.3.7 Phương pháp PCR (Polymerase Chains Reaction) 16

2.6 Miễn dịch trong bệnh DTH 17

2.6.1 Miễn dịch trong quá trình nhiễm virus DTH 17

2.6.2 Đáp ứng miễn dịch trong tiêm phòng vacxin DTH 17

2.6.2.1 Miễn dịch qua trung gian tế bào 18

2.6.2.2 Miễn dịch dịch thể 18

2.7 Điều trị 20

2.8 Phòng bệnh 20

2.8.1 Phòng và tấn công bệnh DTH 20

2.8.2 Phòng bệnh bằng vacxin 21

2.8.2.1 Vacxin chết 21

Trang 8

2.8.2.2 Vaccine nhược độc 22

2.8.2.3 Vacxin thế hệ mới 22

Chương 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Thời gian và địa điểm 24

3.2 Vật liệu thí nghiệm 24

3.2.1 Heo thí nghiệm 24

3.2.3 Vật liệu dung trong phản ứng trung hòa (NPLA) trên môi trường tế bào PK-15 và trong kỹ thuật nhuộm miễn dịch Peroxidase (IPx) do phòng thí nghiệm thú y Úc AAHL (Australia Animal Health Laboratory) cung cấp 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 25

3.4.1.1 Xác định liều gây nhiễm 50% tế bào nuôi cấy của 2 lô vacxin A và B 25

3.4.1.3 Bố trí thí nghiệm 2 27

3.4.2 Phương pháp xét nghiệm 29

3.4.2.1 Phương pháp trung hòa gắn kết enzym NPLA (Neutralization Peroxidase Linked Assay) 29

3.4.2.2 Phương pháp ELISA phát hiện kháng nguyên DTH 32

3.4.3 Các công thức tính và phương pháp xử lý số liệu 37

3.4.3.1 Các công thức tính 37

3.4.3.2 Xử lý số liệu 37

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Xác định liều gây nhiễm 50% tế bào nuôi cấy của 2 lô vacxin A và B 38

4.2 Kết quả thí nghiệm trên nái hậu bị 39

4.2.1 Kết quả theo dõi các phản ứng phụ 39

4.2.2 Kết quả đáp ứng kháng thể sau tiêm vacxin 40

4.3 Kết quả thí nghiệm trên nái mang thai 41

4.3.1 Kết quả theo dõi các phần ứng phụ 41

4.3.2 Kết quả đáp ứng kháng thể sau tiêm vacxin 41

4.3.3 Kết quả theo dõi chỉ tiêu năng suất sinh sản 42

Trang 9

4.3.4 Kết quả theo dõi sự hiện diện của kháng thể trên heo con trước khi bú sữa đầu 44

4.4 Kết quả thí nghiệm trên heo con 44

4.4.1 Kết quả theo dõi các phản ứng phụ 44

4.4.2 Kết quả đáp ứng kháng thể sau tiêm vacxin 44

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 52

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAHL Australian Animal Health Laboratory

BDV Border Disease Virus

BVDV Bovine Viral Diarrhea Virus

CPE Cyto Pathogenic Effect

ELISA Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay

HGKT Hiệu giá kháng thể

KTTĐ Kháng thể thụ động

MEM Minimum Essential Media

NAVETCO National Veterinary Company

NPLA Neutralization Peroxidase Linked Assay

OIE Office International Epizooties

PBSA Phosphate Buffered Saline

PBST Phosphate Buffered Saline + 0,5 % Tween

RT – PCR Reverse Transcription – Polymaerase chains reaction TCID Tissue Culture Infected Dose

TMB 3,3’,5,5’ - Tetremethylbenzidine

WHO World Health Organization

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 : Phân biệt DTH cổ điển và DTH Châu Phi 13

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 1 26

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm 2 27

Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm 3 28

Bảng 4.1 Kết quả chuẩn độ của virus vacxin của lô A 38

Bảng 4.2 Kết quả chuẩn độ của virus vacxin của lô B 39

Bảng 4.3 HGKT trên nái hậu bị 40

Bảng 4.4 Kết quả HGKT trung bình trên heo nái mang thai 41

Bảng 4.5 Kết quả chỉ tiêu sinh sản trên heo nái mang thai 42

Bảng 4.6 Tỷ lệ thai chết trong khi sinh 43

Bảng 4.7 Bảng HGKT trung bình của heo con 1 tuần và 2 tuần sau tiêm vacxin 45

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Các bước tiến hành phương pháp NPLA 30

Sơ đồ 3.2 Phương pháp nhuộm IPx 31

Sơ đồ 3.3 Cách thêm kháng thể đơn dòng kháng HCV (α-HCV) và kháng thể đơn

dòng đối chứng (Control Mab) vào đĩa chuyển 34

Sơ đồ 3.4 Cách chuyển hỗn hợp KN và KT của đĩa chuyển sang đĩa ELISA 35

Sơ đồ 3.5 Các bước thực hiện phản ứng ELISA 36

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Tế bào chất của tế bào PK-15 bắt màu đỏ gạch (nhuộm IPx) khi bị nhiễm

virus DTH 32

Trang 13

tả heo, lở mồm long móng, hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp …

Bệnh dịch tả heo (DTH) do virus thuộc nhóm Pestivirus gây ra, đặc điểm của

bệnh là lây lan rất nhanh và tử số rất cao ở trên đàn heo

Theo Hammond (2000), bệnh DTH gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế do tính lây lan nhanh và mạnh Ước tính thiệt hại do bệnh dịch tả heo gây ra chiếm 50 - 60% so với tất cả các bệnh của heo Một đặc điểm đáng lưu ý là bệnh cũng xảy ra một cách âm ỉ, lẻ tẻ, triệu chứng và bệnh tích không điển hình Diễn biến của bệnh ngày càng phức tạp Những biểu hiện lâm sàng và bệnh tích không rõ ràng tuy kết quả xét nghiệm là dương tính (Nguyễn Lương Hiền, Ngô Thanh Long, 1999)

Đối với bệnh DTH, biện pháp kiểm soát bệnh tốt nhất là phòng bệnh bằng vacxin.Trên thị trường hiện nay có rất nhiều công ty cung cấp vacxin DTH, trong

đó vacxin DTH thỏ hóa chủng C là rất an toàn và được sử dụng phổ biến Tại Việt Nam, công ty thuốc thú y Trung Ương II (NAVETCO) đã sản xuất được vacxin DTH chủng C trên tế bào thận heo PK-15 thay vì sản xuất trên thỏ, bê Vacxin này

đã được kiểm tra tính an toàn và hiệu lực trong phòng thí nghiệm và đã đạt kết quả tốt Để có thể tiến hành sản suất và phân phối đại trà, vacxin phải được khảo nghiệm hiệu lực trên đàn heo thực địa

Trang 14

Được sự chấp thuận của công ty NAVETCO và Khoa chăn nuôi thú y – Trường Đại Học Nông Lâm dưới sự hướng dẫn của:

TS Nguyễn Thị Phước Ninh ThS Nguyễn Thị Thu Hồng chúng tôi thực hiện đề tài:

KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VÀ TÍNH AN TOÀN SAU TIÊM VACXIN DỊCH TẢ HEO TẾ BÀO TRÊN HEO SƠ SINH, TRÊN NÁI

MANG THAI VÀ NÁI HẬU BỊ

Tiêm vacxin cho những heo nái mang thai ngày thứ 70 đến ngày thứ 75

Tiêm vacxin cho heo con sơ sinh 2 ngày tuổi

Theo dõi các phản ứng phụ sau tiêm

Theo dõi các chỉ tiêu về rối lọan sinh sản:số con sinh ra còn sống, số con chọn nuôi,

số thai chết khô, số thai chết tươi, thai sảy, đẻ non và heo còn sống đến 30 ngày tuổi

Trang 15

như Pasteurella, Salmonella…(Trần Thanh Phong, 1996)

2.1.2 Tình hình nhiễm bệnh DTH trên thế giới

Năm 1810, một bệnh giống như bệnh DTH ở Tennessel được mô tả đầu tiên bởi Dahle Sau đó ổ dịch đã được phát hiện ở Ohio (Hoa Kỳ) vào những năm đầu

1830 (Van Oirchot, 1977)

Bệnh DTH đã xảy ra ở Pháp (1822), Đức (1833), và những báo cáo khác cho

là DTH đã xuất hiện ở Anh (1862), và sau đó lan rộng khắp châu Âu (Fuchs, 1968) Bệnh DTH phân bố rộng khắp trên thế giới, nhưng đã có nhiều quốc gia thanh toán được bệnh như Anh, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Phần Lan, Đan mạch, Bungary…Pháp và các quốc gia lân cận như Đức, Tây Ban Nha, Italia vẫn còn, bệnh thường biểu hiện ở thể không điển hình (Trần Thanh Phong, 1996)

Năm 1997 dịch nổ ra mạnh mẽ ở 5 nước: Đức,Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bỉ tổng số heo chết và giết loại hơn tám triệu con Tháng tám năm 2000 bệnh DTH lại

nổ ra tại nước Anh gây thiệt hại trầm trọng về kinh tế

2.1.3 Tình hình nhiễm bệnh DTH ở Việt Nam

Ở nước ta bệnh DTH được Houdemer xác định lần đầu tiên vào năm 1923 -

1924, đến nay vẫn tồn tại và luôn là mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi heo ở nước ta (Đào Trọng Đạt, 1989)

Trang 16

Năm 1968 là năm có số lượng ổ dịch xảy ra nhiều nhất ở miền Bắc, theo thống

kê có đến 481 ổ dịch nổ ra (Lê Độ, 1981)

Một ổ dịch nổ ra trên diện rộng gây thiệt hại trầm trọng được ghi nhận là vào năm 1974 dịch đã nổ ra ở 17 tỉnh phía Bắc giết chết trên 400.000 con heo Nhiều ổ dịch lớn xảy ra ở 15 tỉnh miền Tây Nam Bộ năm 1978 đã giết chết trên 150 000 con (Đào Trọng Đạt, 1989)

Năm 1998 xảy ra dịch lớn ở Nghi Lộc - Nghệ An do phát tán heo trong dịp tết

cổ truyền Năm 1990, bệnh xảy ra trên 1800 con heo tại lò mổ Huỳnh Thúc Kháng (Thừa Thiên Huế) do mua heo tập trung về ăn tết sau đó lan ra thành phố Huế (Cục Thú Y, 1990)

Theo Cục Thú Y trong báo cáo hội nghị thú y toàn quốc năm 1997, bệnh DTH

ở nước ta không nổ ra những ổ dịch lớn và gây thiệt hại nặng như những năm1960 -

1970 nhưng vẫn là mối đe dọa lớn đối với nghành chăn nuôi heo, gây khó khăn cho việc chăn nuôi và xuất khẩu

2.2 Dịch tễ học bệnh DTH

2.2.1 Nguồn bệnh và phương pháp lây lan

Bệnh DTH là bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh do virus gây ra chỉ ở loài heo (bao gồm heo rừng và heo nhà) (Trần Đình Từ, 1990)

Về nguồn gốc của virus DTH trên heo rừng và trên heo nhà thì có rất nhiều ý kiến khác nhau Có tác giả cho rằng virus DTH trên heo rừng cũng giống như trên heo nhà, những triệu chứng đều giống nhau giữa heo rừng và heo nhà Những triệu chứng giống nhau giữa hai loài: sốt cao, bỏ ăn, táo bón xen lẫn tiêu chảy Khi gây nhiễm cho heo nhà bằng chủng phân lập ở heo rừng thì những triệu chứng lâm sàng

và những bệnh tích mổ khám ở heo nhà cũng giống như ở heo rừng (Aubert và Picard, 1996)

Chúng ta có thể khẳng định là virus DTH có mặt trên toàn thế giới (Nguyễn Tiến Dũng, 1996) Virus DTH có thể tiếp tục tồn tại trong cơ thể kí chủ sau khi gây bệnh và tạo miễn dịch Nói cách khác, mặc dù đã có miễn dịch bằng tiêm phòng, heo vẫn có khả năng bị nhiễm và bài thải virus DTH ra môi trường xung quanh Sự

Trang 17

bài thải này có thể theo đường tự nhiên hoặc qua thịt và phủ tạng con vật sau khi giết mổ

Heo nái bị nhiễm bệnh có thể truyền virus DTH qua nhau thai ở tất cả các thời

kỳ có mang Virus lan tỏa theo đường máu và lây từ bào thai này sang bào thai khác Mức độ nhiễm trong bào thai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: thời điểm nhiễm, độc lực của virus,…( Van Oirschot và Terpstra, 1977) Theo tác giả, heo con được đẻ ra từ những heo nái bị nhiễm virus DTH có thể sống sót đến 332 ngày, những heo con này không biểu lộ triệu chứng lâm sàng của bệnh DTH nhưng virus DTH vẫn được phát hiện trong huyết thanh của chúng cho đến suốt đời

Bệnh có thể lây lan trực tiếp do nuôi nhốt chung, chuyên chở, chợ bán gia súc hoặc gián tiếp qua các chất bài tiết, qua thức ăn nhiễm, thức ăn thừa, qua thú sản, qua các động vật trung gian truyền bệnh, qua chất thải từ lò mổ…

2.2.2 Loài mắc bệnh, lứa tuổi, mùa vụ mắc bệnh

2.2.2.1.Loài mắc bệnh

Trong tự nhiên chỉ có loài heo mắc bệnh, cả heo nhà lẫn heo rừng Heo các lứa tuổi đều bị mắc bệnh nhất là heo con còn non Heo nái mắc bệnh thì heo con của nó cũng mắc bệnh Theo Stitz (1948) đã cho thấy rằng bệnh truyền từ heo rừng sang heo nhà Các loài khác và người không mắc bệnh (Nguyễn Lương, 1997)

Trong phòng thí nghiệm: nhiều tác giả đã thí nghiệm truyền bệnh cho chuột nhắt, chuột lang, gà, ngựa, trâu nhưng không thành công Năm 1950, Coronel và Albis thực hiện tiêm truyền lần lượt giữa heo và phôi trứng vịt đã được thích ứng với virus DTH với phôi trứng vịt, sau đời thứ tám qua phôi vịt, virus mất độc lực đối với heo (Nguyễn Lương, 1997)

2.2.2.2 Lứa tuổi mắc bệnh

Bệnh thường xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất là heo con theo mẹ và đôi khi heo dưới hai tuần tuổi, tỷ lệ chết con rất cao có khi đến 100% (Đào Trọng Đạt, 1989) Những heo 5-35 kg thường nhạy cảm nhất và mắc thể cấp tính (Trần Thanh Phong, 1996)

Trang 18

2.2.2.3 Mùa vụ mắc bệnh

Bệnh DTH xảy ra quanh năm và liên tục từ năm này sang năm khác Thời gian bệnh tập trung vào từ tháng 3 - 4 đến tháng 9 - 10, bệnh thường rộ lên sau các đợt tiêm phòng các loại vacxin Vì vậy người chăn nuôi thường gọi là phản ứng vacxin

và ngại tiêm phòng (Nguyễn Thị Phương Duyên, 1999)

Theo thống kê của Lê Độ (1981) về tình hình DTH ở miền Bắc cho thấy số ổ dịch xảy ra từ tháng 11, 12 năm trước cho tới tháng 2, 3 năm sau chiếm 80% số ổ dịch trong năm Các tháng còn lại chỉ chiếm 20%

2.2.4 Chất chứa virus

Heo nhiễm bệnh, trong thời kỳ ủ bệnh, nhiễm mãn tính hay heo khỏe (heo có miễn dịch mang trùng hay thể ẩn), tất cả các mô, chất tiết, dịch tiết đều có độc lực Virus có trong máu khá sớm và khả năng lây nhiễm cao, trong giai đoạn sốt 1

ml máu chứa 107 virus Sau khi nhiễm 3 đến 7 ngày, virus hiện diện ở máu, lách, hạch hạnh nhân Do đó, hạch bạch huyết và lách thường dùng làm bệnh phẩm xét nghiệm Thịt và những sản phẩm từ heo nhiễm bệnh đều là yếu tố phát tán bệnh đi rất xa Virus đề kháng với ướp muối và xông khói: tồn tại nhiều tháng trong thịt jambon và các thịt xông khói (Mesplede và ctv, 1998)

2.2.5 Đường xâm nhập

Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, ngoài ra còn có thể theo đường

hô hấp (niêm mạc mũi), đường sinh dục hay qua da bị tổn thương (Trần Thanh Phong, 1996) Việc lây truyền qua nhau thai cũng có thể xảy ra, nhất là đối với những chủng độc lực yếu tạo nên việc nhiễm bệnh bẩm sinh (Van Oirschot, 1980)

2.2.6 Cách sinh bệnh

Bảy giờ sau khi xâm nhập bằng đường tiêu hóa, virus vào hạch amygdale, hạch vùng hầu họng (đây là vị trí virus nhân lên đầu tiên) Mười sáu giờ sau virus vào hệ thống lâm ba rồi vào máu (trong các đại thực bào) gây viremia lần thứ nhất Theo tuần hoàn, virus đến định vị sinh sản và phá hủy những tế bào nội mạc mao mạch (máu và bạch huyết) những mảnh vỡ sẽ tụ lại thành vật tắc mạch, dẫn đến nhồi huyết ở lách, xuất huyết và hoại tử ruột…Viremia lần thứ hai xảy ra vào 5 - 6

Trang 19

ngày sau khi cảm nhiễm, xuất hiện những triệu chứng, số lượng virus trong máu sẽ đạt tối đa vào ngày thứ bảy sau khi cảm nhiễm, sự suy giảm miễn dịch do virus DTH tạo thuận lợi cho sự phụ nhiễm vi sinh vật khác (Trần Thanh Phong, 1996) Virus còn có thể tồn tại trong bạch cầu và đại thực bào “trốn tránh” kháng thể gây sự cảm nhiễm dai dẳng Một trường hợp rất đặc biệt đó là sự tồn tại của vírus DTH trong tử cung Sự cảm nhiễm này không dẫn đến chết phôi, nhưng dẫn đến sự dung nạp miễn dịch (heo có thể nhiễm nhiều tháng sau khi sinh, không tạo kháng thể nhưng có tình trạng huyết nhiễm siêu vi dai dẳng và thường xuyên bài virus) (Trần Thanh Phong, 1996)

2.3 Căn bệnh

2.3.1 Đặc điểm hình thái

Virus DTH trước đây được xếp vào họ Togaviridae, thuộc chi Pestivirus cùng

với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhae Virus – BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Diseae Virus – BDV) Theo Collett (1989) và

Hozinek (1990), những nghiên cứu gần đây về cấu trúc phân tử của Pestivirus cho thấy bộ gen của chúng tương ứng với các virus thuộc họ Flaviviridae hơn là họ Togaviridae nên đã phân loại Pestivirus vào họ Flaviviridae cùng với chi Flavivirus

(bệnh sốt vàng và bệnh viêm não Nhật Bản)

Virus DTH có dạng hình cầu với cấu trúc nucleocapsid đối xứng khối được bao bọc bởi môt màng ngoài (envelop) Đường kính khoảng 30-40nm Bộ gen của virus là môt chuỗi đơn ARN có độ dài 12kb (Moormann và Hulot, 1988) Ngày nay bằng kỹ nghệ sinh học, người ta phát hiện những protein virus quan trọng: đó là những glycoprotein ở vỏ bọc: 55 kDa (gọi là E1), 44-48kDa và 33 kDA, những protein ở phần cốt lõi trung tâm: 36 kDa, 23 kDa và 14 kDa… (Trần Thanh Phong, 1996) Cấu trúc kháng nguyên của virus DTH gần giống với các virus BVDV và BDV, do vậy cần lưu ý phân biệt trong chẩn đoán huyết thanh học

2.3.2 Phân loại

Năm 1939, Geiger đã kết luận rằng không có sự khác nhau cơ bản nào về tính kháng nguyên để sắp xếp các chủng virus DTH vào nhiều type virus khác nhau

Trang 20

Nhưng theo Trần Đình Từ (1990) thì hiện tượng biến chủng của virus DTH làm độc lực của virus biến chủng thường thấp độc lực của virus ban đầu

Theo Szent (1985), các chủng virus DTH được chia làm hai nhóm:

Nhóm I: gồm chủng cường độc, chủng Alfort, chủng Thiherval

Nhóm II: gồm các chủng 331 và nhiều chủng khác phân lập được từ những heo bị bệnh mãn tính

Sự phát bệnh DTH do những chủng có độc lực trung bình phần nào chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố thuộc vật chủ như: giống, tuổi, sự cạnh tranh miễn dịch và điều kiện dinh dưỡng, trái lại đối với những chủng có độc lực cao thì các yếu tố trên giữ vai trò rất nhỏ

Như vậy, nhũng chủng có độc lực cao thường gây bệnh cấp tính và tỷ lệ chết cao, trái lại các chủng có độc lực trung bình thường gây bệnh ở thể á cấp tính hoặc mãn tính Các chủng có độc lực thấp thường gây tỷ lệ chết cao cho bào thai và heo

sơ sinh

Ngày nay người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vacxin như virus DTH chủng

C, chủng IFFA…

Một số nghiên cứu về tính đa dạng kháng nguyên của virus DTH biến chủng:

• Năm 1995, Torerey và cộng tác viên cho rằng sự biến chủng của virus có khả năng dẫn đến sự thất bại của hiệu quả tiêm vacxin Nhưng năm 1988, Lee và cộng tác viên nhân thấy những heo được tiêm vacxin thỏ hóa thì được bảo hộ khi thử thách bằng những chủng virus DTH thực địa

• Tuy nhiên, sự đa dạng kháng nguyên là vấn đề quan tâm hiện nay Ở Trung Quốc, có những nghiên cứu cho thấy rằng những chủng virus DTH thực địa đang lưu hành trong những năm gần đây có sự phân ly di truyền từ những chủng Shinen

và chủng C, điều này chỉ ra rằng có nguồn gốc khác nhau đối với những virus DTH

ở Trung Quốc (Zongji Lu, 1999)

Trang 21

• Ở Thái Lan, theo Parchariyanon (1999), thì virus DTH không có những type huyết thanh xác định mặc dù những chủng này biến đổi vế độc lực và tính đa dạng kháng nguyên có thể được chứng minh bằng phản ứng trung hòa virus huyết thanh

2.3.3 Nuôi cấy

2.3.3.1 Động vật thí nghiệm

Khi cấy truyền qua cơ thể heo, các chủng virus DTH vẫn giữ nguyên đặc tính gây bệnh và miễn dịch của chúng Ngược lại, sự thích nghi của virus đối với các loại động vật khác thường làm thay đổi tính gây bệnh của virus đối với heo Thỏ là loài động vật được chú ý nhất, đặc biệt là nhằm tạo ra những chủng virus vacxin giảm độc

2.3.3.2 Môi trường nuôi cấy

Virus có thể nhân lên trên nhiều loại tế bào của nhiều loài động vật, nhưng đặc biệt là tế bào nguyên thủy từ thận heo hay dòng tế bào PK-15 Virus không gây bệnh tích tế bào (CPE) trên tế bào nuôi cấy Những tế bào bị nhiễm vẫn tiếp tục nhân lên và sản sinh những phân tử virus gây nhiễm Việc nuôi cấy tế bào cho phép phân lập virus, định chủng virus vacxin, sản xuất vacxin, định hiệu giá kháng thể (Trần Thanh Phong, 1996)

2.3.4 Sức đề kháng của virus DTH

Virus DTH nhạy cảm với nhiệt độ cao, trong môi trường tế bào virus sẽ vô hoạt trong vòng mười phút ở nhiệt độ 60oC Virus tồn tại rất tốt trong điều kiện đông khô, nhưng rất kém trong điều kiện thối rữa Trong phân rác của gia súc virus mất hoạt lực trong vài ba ngày Theo tổ chức dịch tễ thế giới (OIE), virus DTH ổn định ở pH 5-10 nhưng bị bất hoạt ở pH <3,0 hoặc pH>11,0, bị diệt nhanh chóng bởi NaOH

2.4 Triệu chứng và bệnh tích

2.4.1 Triệu chứng

Tùy theo độc lực của virus và phản ứng của cơ thể heo thì bệnh DTH có các thể lâm sàng quá cấp tính, cấp tính, mãn tính và thể không điển hình

Trang 22

Tùy theo độc lực, số lượng virus, sức đề kháng mà thời gian nung bệnh có thể

5 - 10 ngày (tối đa 20 - 30 ngày)

2.4.1.1 Thể quá cấp

Có thể thấy chết một vài heo con và những con khác có triệu chứng cấp tính Những heo này sốt cao 41 - 42oC, phần da mỏng đỏ ửng: chết nhanh trong 1 - 2 ngày

Tiêu hóa: táo bón thoáng qua, tiêu chảy, viêm dạ dày ruột

Hô hấp: khó thở, ho, chảy máu cam

Thấn kinh: run, co giật, động kinh hoặc mất thăng bằng, húc vào tường hoặc liệt

Sinh sản: sảy thai

Heo chết nhanh từ 6 - 20 ngày, tỷ lệ chết gần 100% trên heo con

2.4.1.3 Thể mãn tính

Heo bệnh có triệu chứng cục bộ và toàn thân giống như thể cấp tính nhưng nhẹ Hiện tượng tiêu chảy kéo dài lên tới một tháng Sau 10 - 15 ngày bệnh thuyên giảm, một số heo có thể khỏi nhưng trở thành vật mang trùng mãn tính

2.4.1.4 Thể không điển hình

Quin (1950) có nhận định hết sức sâu sắc như sau “ trong bệnh DTH điều điển hình hơn cả là bệnh thường tiến triển một cách không điển hình” (trích dẫn bởi Trần Thanh Phong, 1996)

Trong thể không điển hình có các biểu hiện khác nhau trong những ca bệnh cụ thể Thường là biểu hiện lâm sàng nhẹ khó phát hiện Rối loạn sinh sản như xảy thai, heo sơ sinh yếu, run rẩy, đẻ ra chết ngay hoặc bị thai gỗ

Trang 23

Trong thể không điển hình, virus lưu hành ẩn nhất là trên thú sinh sản với những triệu chúng lâm sàng thất thường chỉ bộc phát khi có tác nhân thuận lợi (stress, vận chuyển)

2.4.2 Bệnh tích

2.4.2.1 Bệnh tích đại thể

Tùy độc lực virus, sức đề kháng của con vật, thời gian cảm nhiễm bệnh, thể bệnh mà biểu hiện bệnh tích của từng con, từng ổ dịch có sự khác nhau

Trong thể quá cấp và thể cấp tính bệnh tích thường xuất hiện là xuất huyết ở

da, kích thước khác do hoại tử thoái hóa tế bào nội bì và máu khó đông Hạch lâm ba sưng to và xuất huyết ở các xoang ngoại biên Lách có kích thước bình thường và có nhiều điểm nhồi huyết ở vùng rìa lách Xuất huyết nhiều nhất là ở hạch lâm ba, thận, ít hơn ở tim, bàng quang, phổi, niêm mạc ruột, thực quản và

dạ dày Thận xuất huyết điểm chủ yếu ở vùng vỏ Số lượng bạch cầu giảm (<10.000), số lượng tế bào lympho B ở máu cũng giảm (Trần Thanh Phong, 1996) Vào giai đoạn cuối của bệnh thì ruột non, mảng peyer, van hồi manh tràng xuất hiện vài nốt loét hình cúc áo

Trong thể mãn tính có thể gặp viêm phổi, viêm phổi dính vào lồng ngực Ruột viêm có nhiều mụn loét tròn, bờ đứng phủ casein, đường kính 1 - 2 cm, nhất là ở vùng van hồi manh tràng (do nang lâm ba sưng, hoại tử và phủ fibrin thành vòng do sợi huyết đông lại thành từng đợt Hung tuyến (tuyến thymus) bất thường và sưng các khớp của xương sườn; heo con thường thấy ở thể bệnh này (Van Orischot và Terpstra, 1997)

2.4.2.2 Bệnh tích vi thể

Sự thoái hóa và hoại tử những tế bào nội mô mao mạch là nguyên nhân hình thành những cục huyết khối trong mạch máu, gây nên những bệnh tích của bệnh DTH như xuất huyết, nhồi huyết, sung huyết

2.5 Chẩn đoán

Các phương pháp chủ yếu để chẩn đoán DTH:

• Khám lâm sàng

Trang 24

• Quan sát về dịch tễ: tiền sử của bệnh trong vùng, ổ dịch có gần với trại, sự vận chuyển thú và thức ăn gần đây, khách tham quan có đến trại trong vòng

ít nhất 48 giờ vừa qua, động vật khác: chim, gậm nhấm mang mầm bệnh đến

Những dấu hiệu để chẩn đoán DTH

− Xuất hiện một bệnh truyền nhiễm xảy ra trên heo mọi lứa tuổi, heo con từ

5-35 kg thường chết ở thể cấp tính

− Sốt cao cùng với tiêu chảy đôi khi táo bón

− Tỷ lệ chết cao

− Nhồi huyết ở lách, loét cúc áo ở ruột

− Xuất huyết ở khắp các cơ quan như hạch lympho, tiểu thiệt, thận, bàng

quang, da

− Sảy thai, chết thai

2.5.2 Chẩn đoán phân biệt

Triệu chứng và bệnh tích của DTH có nhiều điểm giống với bệnh DTH heo Châu Phi Nhưng bệnh DTH Châu Phi có những bệnh tích riêng:

-Xuất huyết trong xoang

- Lách sưng to

- Thủy thủng thành túi mật

- Các hạch thường xuất huyết rất mạnh mẽ

Theo Trần Thanh Phong (1996), nếu nghi ngờ cần tiến hành thử miễn dịch chéo bằng cách tiêm cùng lúc bệnh phẩm nghi ngờ cho 2 nhóm heo:

-Nhóm 1: Đã được tiêm phòng vacxin DTH cổ điển

-Nhóm 2 : Không tiêm vacxin DTH cổ điển

Trang 25

Bảng 2.1 : Phân biệt DTH cổ điển và DTH Châu Phi

Triệu chứng Lộ bệnh

Không bệnh Không bệnh

Lộ bệnh

Lộ bệnh Không bệnh

DTH Châu Phi DTH cổ điển Phải kiểm tra, tìm kháng thể DTH cổ điển và DTH

Châu Phi Không phải DTH

Phân biệt DTH với các bệnh đỏ khác: dấu son, tụ huyết trùng, phó thương hàn Phụ nhiễm DTH với phó thương hàn, tụ huyết trùng

Biểu hiện DTH THT PTH Dấu son Tuổi Mọi lứa tuổi 3-6 tháng Cai sữa-4

tháng

3 tháng – 1 năm tuổi Lây lan Nhanh, rộng Lẻ tẻ, hẹp Phạm vi đàn Chậm

Tím mõm, tai, bẹn, chân

Các dấu đỏ hình đa giác Mắt Viêm, có ghèn

Hạch Xuất huyết Tụ huyết Tụ huyết Tụ huyết

Ruột Nốt loét cúc

áo

Loét tràn lan

Trang 26

2.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

2.5.3.1 Phương pháp trung hòa trên thỏ

Tiến hành phản ứng trung hòa trên thỏ như sau: lấy lách heo bệnh pha thành huyễn dịch 10% tiêm dưới da thỏ nặng 1,2 – 1,5 kg (có thể thay bằng 5ml máu heo) Sau 5-10 ngày, tiêm tĩnh mạch thỏ này 1 ml virus DTH heo nhược độc (virus vacxin qua thỏ) đồng thời cũng tiêm vacxin vào tĩnh mạch của một thỏ nặng 1,2 – 1,5 kg khác để làm đối chứng Khoảng 3 ngày sau, nếu thỏ tiêm bệnh phẩm không sốt,

trong khi thỏ đối chứng sốt rõ rệt, chúng tỏ bệnh phẩm có virus DTH

2.5.3.2 Phương pháp tiêm truyền qua heo

Phương pháp chẩn đoán qua heo được thực hiện: Lấy bệnh phẩm máu, lách của heo trong ổ dịch có triệu chứng, bệnh tích không rõ ràng để tiêm cho heo con Dùng heo 3 – 4 tháng tuổi khỏe mạnh, không ở nơi có dịch và chưa tiêm vacxin DTH lần nào Tiêm dưới da 1 ml máu hay huyễn dịch chứa 0,5 gam mẫu lách của heo nghi bệnh DTH Quan sát triệu chứng bệnh tích của heo được tiêm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980)

2.5.3.3 Phương pháp phân lập virus DTH trên nuôi cấy tế bào PK-15

Đây là phương pháp nhạy nhất nhưng tốn nhiều thời gian so với phương pháp miễn dịch huỳnh quang Phương pháp này còn được dùng để chẩn đoán lại những trường hợp mà xét nghiệm ELISA cho kết quả nghi ngờ (theo khuyến cáo của công

ty Synbiotics – Bộ thuốc thử phát hiện kháng nguyên P125 của virus DTH)

Kết quả có được sau 3 - 5 ngày gây nhiễm virus trên tế bào PK-15 thông qua phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) hay còn gọi là phương pháp nhuộm miễn dịch kết nối enzyme (IPx: Immuno Peroxidase)

2.5.3.4 Thử nghiệm hấp phụ miễn dịch kết nối enzyme ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay)

Hiện nay, phương pháp ELISA bắt kháng nguyên (Antigen capture) được phát triển để khảo sát số lượng lớn mẫu Ưu điểm của phương pháp này là có độ đặc hiệu cao và thực hiện nhanh hơn so với phương pháp phân lập Tuy nhiên, độ nhạy của phương pháp này thì thấp hơn so với phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phân

Trang 27

lập Phương pháp cho kết quả tin cậy đối với những mẫu bệnh phẩm từ những heo

có dấu hiệu lâm sàng như sốt, tiêu chảy…Do đó sử dụng phương pháp ELISA này phải kết hợp với chẩn đoán lâm sàng trên thú bệnh

Hiện nay bộ kit ELISA phát hiện kháng nguyên P125 của Synbiotics đang

được sử dụng để phát hiện kháng nguyên thuộc nhóm Pestivirus trong điều tra tình

hình heo nái mang trùng ở Việt Nam (Nguyễn Lương Hiền, 1999)

2.5.3.5 Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC: Immunohistochemical Staining)

Để phát hiện kháng nguyên virus DTH trong mẫu mô bệnh phẩm Nếu như trong phương pháp miễn dịch huỳnh quang đòi hỏi mẫu mô phải được đông lạnh và cắt lạnh thì trong phương pháp IHC có thể sử dụng mẫu mô cố định bằng dung dịch formol 10% và đóng khối bằng paraffin Sau đó phát hiện kháng nguyên bằng phương pháp miễn dịch nối kết với biotin và avidin peroxidase (The Avidin – Biotin Complex Immunoperoxidase Menthol) Phương pháp này tiện lợi hơn phương pháp miễn dịch huỳnh quang là mẫu bệnh phẩm được cố định ngay tại thực địa (thuận lợi cho vận chuyển mẫu) và phẫu thức nhuộm được quan sát bằng kính hiển vi bình thường

Ngoài ra phương pháp này còn thích hợp cho những nghiên cứu hồi cứu (Retrospective studies) Narita và cộng tác viên (1999), đã phát hiện kháng nguyên virus DTH từ các mẫu mô của heo nghi bệnh DTH, được cố định bằng formol và đông paraffin lưu trữ từ năm 1980 tới 1998

2.5.3.6 Phản ứng miễn dịch huỳnh quang

Virus ở các phủ tạng được tìm thấy sau khi nghiền nát, chất nghiền được trực tiếp nuôi cấy vào môi trường tế bào PK-15 và virus được phát hiện trong các tế bào bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang: tế bào nhiễm virus được phát hiện khi kiểm tra trên kính hiển vi huỳnh quang, một màu xanh của bào tương (sự nhân lên của virus ARN được thực hiện trong bào tương của tế bào) so với tế bào không nhiễm

sẽ không bắt màu

Trang 28

Dùng kháng thể DTH heo gặp kháng nguyên tương ứng tức là virus DTH có trong bệnh phẩm thì xuất hiện sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, phức hợp này bám chặt vào nhau và rửa không trôi đi Khi soi dưới kính hiển vi huỳnh quang thì sẽ thấy có sự phát sáng của phức hợp KN - KT DTH được nhuộm màu huỳnh quang

Nếu kháng thể DTH không gặp kháng nguyên tương ứng thì sẽ không có sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, vì thế khi rửa nước kháng thể nhuộm màu huỳnh quang sẽ bị trôi đi, do đó khi soi dưới kính hiển vi huỳnh quang

sẽ không có sự phát sáng của chất màu huỳnh quang

5.3.7 Phương pháp PCR (Polymerase Chains Reaction)

PCR hay gọi là phản ứng nhân gen là quá trình làm tăng một lượng cực nhỏ của một axit nucleic đặc hiệu trong một mẫu cần xét nghiệm để có thể phát hiện được axit nucleic đó Nếu không có phương pháp PCR, thì tất cả các virus này đều dưới ngưỡng phát hiện của các phương pháp khác, thêm vào đó phương pháp PCR đem lại những kết quả rất đặc hiệu

Reverse Transciption Polymerase Chains Reaction (RT-PCR) là một phương pháp chẩn đoán DTH có độ nhạy và độ đặc hiệu có thể so sánh bằng phương pháp pháp lập hay thậm chí cao hơn Tuy nhiên RT - PCR hiện nay chưa thích hợp với việc khảo sát số lượng lớn mẫu Phương pháp này được sử dụng để điều tra tình hình bệnh ở Lào (Zang, 1999) và nghiên cứu đặc tính di truyền của virus DTH từ năm 1997 đến 1998 (Blackseell,1999) Koenen (1999) đã dùng phương pháp RT-PCR để chẩn đoán bệnh DTH ở đàn heo được tiêm vacxin DTH đánh dấu (Marker vaccine)

2.5.3.8 Phản ứng trung hòa nối kết enzyme NPLA (Neutralization Peroxidase Linked Assay)

Trong phản ứng trung hòa người ta sử dụng huyết thanh thay đổi nồng độ để trung hòa một lượng virus cố định trên môi trường tế bào Do đặc tính không gây bệnh tích tế bào (CPE) của virus DTH nên chỉ phát hiện virus bị trung hòa thong qua phương pháp IPx (Immuno peroxidase) Phương pháp trung hòa kết hợp với

Trang 29

IPx gọi là phương pháp NPLA (Neutralization Peroxidase Linked Assay) Hiện nay, NPLA là một trong những kỹ thuật có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhưng mất nhiều thời gian nên không thích hợp cho chẩn đoán nhanh và số lượng lớn mẫu Để khắc phục, nhiều kỹ thuật ELISA dùng kháng thể đơn dòng đặc hiệu đang được phát triển và sẵn có Tuy độ nhạy của ELISA thấp hơn NPLA nhưng do chỉ cần những trang thiết bị ít đặc hiệu và có thể thực hiện nhanh hơn so với phản ứng trung hòa nhờ hệ thống làm việc tự động nên số lượng lớn mẫu huyêt thanh có thể được thực hiện trong thời gian ngắn hơn Tuy nhiên đối với mẫu huyết thanh ELISA mà

có kết quả nghi ngờ thì nên dùng NPLA để xác nhận lại

Năm 1984, Terpstra và ctv đã thử nghiệm NPLA để phát hiện kháng thể chống lại virus DTH trong mẫu huyết thanh Hiệu giá kháng thể trung hòa được xác định bởi tỷ lệ nghịch của độ pha loãng huyết thanh mà ở đó trung hòa 200 TCID50 của virus cường độc chủng Weybridge

2.6 Miễn dịch trong bệnh DTH

2.6.1 Miễn dịch trong quá trình nhiễm virus DTH

Sau khi nhiễm tự nhiên, káng thể kháng virus DTH được hình thành chống lại

2 protein cấu trúc là E2 và Erns, và môt protein không cấu trúc p80 (Konig và ctv, 1995)

Heo hồi phục sau bệnh DTH sẽ có kháng thể chống lại virus DTH và kéo dài suốt đời Nói chung, trên những heo khỏi bệnh, kháng thể trung hòa virus xuất hiện trong huyết thanh khoảng 14 đến 28 ngày sau khi nhiễm Chỉ trong trường hợp mãn tính có thể phát hiện virus và kháng thể trong máu suốt thời kỳ kéo dài (Depner, 1996)

Nái nhiễm virus DTH truyền kháng thể qua sữa đầu tới heo con Kháng thể này có thời gian bán hủy xấp xỉ 14 ngày và có thể bảo vệ cho heo con chống lại sự nhiễm bệnh suốt 5 tuần đầu sau khi sanh (Terpstra, 1977)

2.6.2 Đáp ứng miễn dịch trong tiêm phòng vacxin DTH

Gây miễn dịch bằng vacxin DTH là một biện pháp chủ yếu để kiểm soát bệnh Khả năng tạo miễn dịch được mô tả như sau: đáp ứng miễn dịch được hình thành

Trang 30

sau khi tiêm một liều vacxin được đánh giá bởi khả năng chống lại công cường độc hay khả năng tạo kháng thể, cụ thể là nhanh mạnh và kéo dài Đáp ứng này được thực hiện thông qua đáp ứng miễn dịch qua trung gian trung gian tế bào và miễn

dịch dịch thể do virus vacxin DTH

2.6.2.1 Miễn dịch qua trung gian tế bào

Virus sống nhờ tế bào, nên việc tiêu diệt virus phải phụ thuộc vào miễn dịch tế bào Khi virus chưa xâm nhập vào tế bào thì chúng có thể bị tiêu diệt bằng kháng thể dịch thể IFN (Interferon) được lympho T tiết ra khi gặp kháng nguyên đó, ở lần sau có tác dụng ngăn virus xâm nhập vào tế bào Miễn dịch tế bào còn giúp tế bào lympho T độc (C-cytotoxic) tiêu diệt, dung giải các tế bào nhiễm virus có cùng MHC (Major Histocompatibility Complex) với tế bào lympho T (Phan Thị Thu Anh, 2003)

Trong miễn dịch chống virus, đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào có vai trò quan trọng hàng đầu vì miễn dịch dịch thể bị hạn chế do kháng thể không có tác dụng với kháng nguyên nằm trong tế bào (Phạm Văn Ty, 2001)

Theo Terpstra (1990) thì vài ngày sau khi tiêm vacxin DTH chủng thỏ hóa và trước khi kháng thể trung hòa được phát hiện thì heo đã đề kháng lại virus DTH chủng thử thách Điều này cũng được Kimman và ctv (1993) nhận định là có sự đáp ứng của tế bào lympho T trên heo có miễn dịch để chống lại virus DTH Nghiên cứu của Suradhat và ctv (2001) khi tiêm vacxin DTH cho heo và công độc, tác giả nhận thấy nhóm heo được tiêm vacxin đều được bảo hộ và có sự tăng có ý nghĩa của tế bào tiết IFN-γ đặc hiệu từ tế bào đơn nhân ở máu ngoại vi heo so với nhóm đối chứng (P<0,05) vào ngày thứ sáu sau khi tiêm vacxin

2.6.2.2 Miễn dịch dịch thể

2.6.2.2.1 Miễn dịch thụ động qua sữa đầu

Heo nái được chủng ngừa vacxin DTH sẽ truyền kháng thể cho heo con của chúng qua sữa đầu bởi vì IgG (Imunoglobulin) thấm qua thành ruột của heo sơ sinh trong khoảng 36 - 48 giờ đầu của cuộc đời và đi trực tiếp vào máu Kháng thể này

Trang 31

có thể bảo vệ cho heo con trong 5 tuần đầu của đời sống nhưng không ngăn được sự nhân lên và thải virus cường độc (Terpstra, 1977)

Corthier và Charley (1978) nhận định thời gian bảo hộ thụ động và mức độ miễn dịch thụ động ở heo con tùy thuộc vào điều kiện tiêm phòng heo mẹ, đặc biệt

là thời gian từ khi tiêm phòng đến khi đẻ Theo Joris (2001), HGKT thụ động tăng đều đặn và đạt định cao khoảng 5 - 7 giờ sau khi bú sữa đầu và hiệu giá kháng thể

của heo con ngang bằng hoặc cao hơn HGKT của nái mẹ Tuy nhiên KTTĐ này ức

chế sự phát triển của miễn dịch chủ động sau khi tiêm vacxin

2.6.2.2.2 Miễn dịch chủ động ở heo con có kháng thể thụ động

Chủng ngừa cho heo con có kháng thể thụ động tạo kết quả miễn dịch khác nhau tùy thuộc vào hàm lượng KTTĐ tại thời điểm tiêm phòng Các thí nghiệm chứng minh rằng không cần thiết phải chờ KT mẹ truyền biến mất hoàn toàn rồi mới tiêm vacxin cho heo con Theo Terpstra và Wensvoort (1988), KTTĐ của heo con từ mẹ truyền có thể làm giảm hiệu lực vacxin nhược độc DTH đưa đến việc không tạo ra miễn dịch chủ động mong muốn sau khi tiêm vacxin

Joris và ctv (2001) đã thí nghiệm tiêm vacxin cho heo như sau: Tiêm vacxin cho mười heo vào thời điểm trước khi bú sữa đầu, tiêm vacxin cho 23 heo sau khi

bú sữa đầu được 1 - 4 giờ và 14 heo tiêm lúc 7 tuần tuổi Tất cả heo được công độc lúc 10 tuần tuổi thì heo được tiêm vacxin trước khi bú sữa đầu và heo khỏang 7 tuần tuổi đều sống 100% trong khi heo tiêm vacxin sau khi bú sữa đầu chết 19/23 (tỉ lệ bảo hộ 18%), cho thấy sữa đầu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả miễn dịch do vacxin Nếu tiêm vacxin quá trễ, thì đáp ứng miễn dịch không bị ảnh hưởng, nhưng mức độ kháng thể thụ động có thể giảm hoặc biến mất; do đó heo con có thể bị nhiễm virus DTH trước khi hoạt động miễn dịch chủ động do vacxin hình thành

Như vậy đối với đàn heo có lượng kháng thể thấp cần phải tiêm phòng sớm, ngược lại ở đàn con có lượng kháng thể me truyền cao thì lại cần thời gian lâu hơn

để nồng độ này giảm xuống tới mức không còn gây ảnh hưởng tới việc tiêm phòng nữa Nhưng lượng kháng thể giữa các đàn heo không đồng đều và nồng độ kháng thể cũng biến thiên giữa các cá thể trong cùng một lứa (Nguyễn Tiến Dũng và ctv,

Trang 32

2002), do đó việc tạo ra miễn dịch chủ động đồng đều giữa các heo là một điều khó khăn

2.7 Điều trị

Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị bệnh DTH

Theo Trần Thanh Phong 1996, dùng kháng huyết thanh đặc hiệu cho kết quả tốt khi con vật mới sốt, hiệu quả không chắc chắn khi bệnh sang thời kỳ khởi phát,

và hoàn toàn vô hiệu khi bệnh toàn phát Có thể dùng kháng sinh để chống phụ nhiễm vi trùng

2.8 Phòng bệnh

2.8.1 Phòng và tấn công bệnh DTH

Ở Hà Lan, chiến dịch tiêm phòng khẩn cấp phải được thực hiện trên heo con sinh ra từ những heo mẹ được chủng ngừa vacxin ở 7 - 9 tuần tuổi, heo nái dùng làm giống mà sinh ra từ heo mẹ được chủng vacxin DTH được tái chủng lúc 6 - 7 tháng tuổi để tăng miễn dịch cho đàn (Terpstra và cộng sự, 1977)

Ở nước ta trong nhiều năm qua việc phòng chống bệnh DTH chủ yếu chỉ mới đưa vào việc tiêm phòng bệnh theo khái niệm khống chế dịch đơn thuần Chúng ta chưa có được một chương trình quốc gia phòng chống bệnh đầy đủ để từng bước khống chế dịch đúng nghĩa của nó và rồi thực hiện kế hoạch tìm và diệt bệnh để thanh toán bệnh thật sự (Đào Trọng Đạt, 1989) Một nước, một vùng được coi là bệnh dịch tả heo được khống chế là ở đó một chương trình quốc gia phòng chống bệnh dịch tả heo được xác lập và thực hiện đầy đủ các biện pháp kinh tế kỹ thuật, quy định của chương trình Việc thực hiện đó được giám sát và kiểm tra đúng đắn

về mặt quản lý nhà nước

Phòng vệ

Khi chưa có dịch xảy ra, điều quan trọng là phải vệ sinh, chăm sóc đàn heo, giải quyết tốt thức ăn và nước uống đầy đủ Vệ sinh chuồng trại, phải có chuồng cách ly riêng biệt giữa heo ốm hoặc heo nghi ốm Tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kiểm tra vệ sinh và kiểm soát giết mổ

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w