1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ BỔ SUNG AXÍT FORMIC TRONG KHẨU PHẦN HEO NÁI TỪ 12 NGÀY TRƯỚC KHI SINH ĐẾN CAI SỮA VÀ HEO CON THEO MẸ ĐẾN 60 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI HEO PHÚ SƠN

62 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 744,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi - Thú y, được sự hướng dẫn của TS Hồ Thị Kim Hoa và PGS TS Trần Thị Dân, với sự giúp đỡ của trại heo Phú Sơn, chúng tôi tiến hành đề tài “ Khảo sát hiệu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ BỔ SUNG A-XÍT FORMIC TRONG KHẨU PHẦN HEO NÁI TỪ 12 NGÀY TRƯỚC KHI SINH ĐẾN CAI SỮA VÀ HEO CON THEO MẸ ĐẾN 60 NGÀY

TUỔI TẠI TRẠI HEO PHÚ SƠN

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TRUNG THỊNH Lớp: DH06CN

Ngành: Chăn Nuôi Niên khóa: 2006 – 2010

Tháng 8/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

NGUYỄN TRUNG THỊNH

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ BỔ SUNG A-XÍT FORMIC TRONG KHẨU PHẦN HEO NÁI TỪ 12 NGÀY TRƯỚC KHI SINH ĐẾN CAI SỮA VÀ HEO CON THEO MẸ ĐẾN 60 NGÀY

TUỔI TẠI TRẠI HEO PHÚ SƠN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư chăn nuôi

Giáo viên hướng dẫn

TS HỒ THỊ KIM HOA

Tháng 8/2010

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Thịnh

Tên luận văn: “ Khảo sát hiệu quả bổ sung a-xít formic trong khẩu phần heo nái từ

12 ngày trước khi sinh đến cai sữa và heo con theo mẹ đến 60 ngày tuổi tại trại heo Phú Sơn”

Đã hoàn thành theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khóa ngày

Giáo viên hướng dẫn

TS Hồ Thị Kim Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến:

PGS TS Trần Thị Dân, TS Hồ Thị Kim Hoa đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành khóa luận này

Chân thành cám ơn đến:

Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú Y

Cùng toàn thể quý Thầy, Cô trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại nhà trường

Trân trọng cảm ơn đến:

Ban Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn

Chú Nguyễn Ngọc Dũng, trưởng trại heo Phú Sơn

Chân thành biết ơn đến các cô, chú trong tổ Nái Sanh – Cai Sữa Thương Phẩm, cùng toàn thể anh, chị em công nhân trong trại đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi suốt thời gian thực hiện đề tài

Toàn thể các bạn trong lớp chăn nuôi 32, đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010

Chân thành cảm ơn!

Nguyễn Trung Thịnh

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “ Khảo sát hiệu quả bổ sung a-xít formic trong khẩu phần heo nái từ 12 trước khi sinh đến cai sữa và heo con theo mẹ đến 60 ngày tuổi” được tiến hành tại Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Sơn từ 11/01/2010 đến 20/05/2010 A-xít formic được bổ sung dưới dạng sản phẩm FORMI (chứa 35,4 % a-xít formic, 34,6 % formate và 30 % potassium) Qua khảo sát 35 nái sinh sản gồm 2 giống YL,

LY với 5 lô thí nghiệm (mỗi lô 7 nái), lô đối chứng 1 không dùng kháng sinh trên nái và heo con, lô đối chứng 2 dùng kháng sinh trên nái và heo con, lô 3 bổ sung 8

kg FORMI/tấn thức ăn heo nái và không bổ sung FORMI trên heo con, lô 4 bổ sung

8 kg FORMI/tấn thức ăn heo nái và bổ sung 3 kg FORMI/tấn thức ăn cho heo con,

lô 5 bổ sung 8 kg FORMI/tấn thức ăn heo nái và bổ sung 6 kg FORMI/tấn thức ăn cho heo con

Kết quả thu được như sau: sử dụng a-xít formic trên nái đã cải thiện mức giảm trọng của nái và giảm dày mỡ lưng của nái trong suốt thời gian nuôi con so với lô đối chứng 1 Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê P > 0,05

Trên heo con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi, bổ sung a-xít formic ở lô 4 và lô 5

đã cải thiện được trọng lượng cai sữa bình quân với P < 0,005 Cải thiện trọng lượng heo con ở 60 ngày tuổi so với lô đối chứng 1 ở P < 0,001 Hệ số chuyển hóa thức ăn trên heo con từ cai sữa đến 60 ngày ở lô 4 (bổ sung 3 kg FORMI/tấn) giảm 0,31 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng so với lô đối chứng 1 Giảm tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên heo con theo mẹ đến cai sữa P < 0,05 và cả trên heo con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi với P < 0,001

Bổ sung a-xít formic với mức 8 kg FORMI/tấn thức ăn heo nái và 3 kg/tấn thức ăn heo con đã mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, chi phí/1 kg tăng trọng giảm 3.728 đồng/kg so với lô đối chứng 1

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh sách các bảng vii

Danh sách các hình viii

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2

Chương 2: TỔNG QUAN 3

2.1 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA Ở HEO CON SƠ SINH 3

2.2 SINH LÝ TIÊU HÓA Ở HEO CON SAU CAI SỮA 5

2.3 HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT 7

2.4 SINH LÝ HEO NÁI MANG THAI, NUÔI CON 9

2.4.1 Dinh dưỡng nái mang thai 9

2.4.2 Thể trạng nái nuôi con 10

2.5 SƠ LƯỢC VỀ VIỆC SỬ DỤNG A-XÍT HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI 11

2.5.1 Các loại a-xít hữu cơ dùng trong chăn nuôi hiện nay 11

2.5.2 Tác dụng chính của a-xít hữu cơ dùng trong thức ăn chăn nuôi 13

2.5.3 Cơ chế kháng khuẩn của a-xít hữu cơ 14

2.5.4 Sơ lược một số công trình nghiên cứu về việc dùng a-xít hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi ở Viêt Nam 17

Trang 7

2.5.5 Giới thiệu về chế phẩm FORMI 17

2.6 SƠ LƯỢC VIỆC DÙNG KHÁNG SINH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI 18

2.7 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI PHÚ SƠN 19

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 22

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN 22

3.2 ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM 22

3.3 NỘI DUNG VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 24

3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi trên heo nái 25

3.3.2.Các chỉ tiêu theo dõi trên heo con 26

3.3.3 Tính hiệu quả kinh tế 27

3.3.4 Xử lý số liệu 27

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI TRÊN NÁI 28

4.1.1 Giảm trọng của nái suốt giai đoạn nuôi con 28

4.1.2 Mức giảm dày mỡ lưng suốt thời gian nuôi con 29

4.1.3 Lượng thức ăn tiêu thụ trên nái 30

4.1.4 Bệnh lý sau khi sinh, tỷ lệ loại thải nái, thời gian chờ phối 31

4.2 CÁC CHỈ TIÊU TRÊN HEO CON THEO MẸ ĐẾN 60 NGÀY TUỔI 31

4.2.1 Số heo con đẻ ra, số heo con sơ sinh còn sống, số heo con chọn nuôi 31

4.2.2 Các chỉ tiêu về trọng lượng của heo con 32

4.2.3 Các chỉ tiêu liên quan đến chuyển hóa thức ăn và tăng trọng heo con 35

4.3 CÁC CHỈ TIÊU LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE HEO CON 36

4.4 HIỆU QUẢ KINH TẾ 39

Chương 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 KẾT LUẬN 40

5.2 ĐỀ NGHỊ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

PHỤ LỤC 44

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sự phát triển cơ quan tiêu hóa từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi 6

Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong đường tiêu hóa heo con 7

Bảng 2.3 Mục tiêu cần đạt khi nuôi heo con theo mẹ 10

Bảng 2.4 Tình trạng mập ốm khi đo độ dày mỡ lưng trên nái 11

Bảng 2.5 Công thức của một số a-xít hữu cơ 13

Bảng 2.6 Cơ cấu đàn heo của Công ty tính đến ngày 22/05/2010 20

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

Bảng 4.1 Trọng lượng nái từ lúc bắt đầu thí nghiệm đến lúc cai sữa kg/con 29

Bảng 4.2 Mức giảm dày mỡ lưng suốt thời gian nuôi con 30

Bảng 4.3 Tỷ lệ nái viêm tử cung, tỷ lệ loại thải, thời gian chờ phối 31

Bảng 4.4 Các chỉ tiêu sinh sản và nuôi con 32

Bảng 4.5 Trọng lượng heo con ở các ngày tuổi 33

Bảng 4.6 Các chỉ tiêu liên quan tới chuyển hóa thức ăn và tăng trưởng heo con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 36

Bảng 4.7 Tỷ lệ tiêu chảy từ heo con sơ sinh đến cai sữa 37

Bảng 4.8 Các chỉ tiêu liên quan tới sức khỏe ở heo con từ cai sữa đến 60 ngày 38

Bảng 4.9 Tỷ lệ chết trên heo con từ cai sữa đến 60 ngày 38

Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế 39

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Ảnh hưởng của pH lên thành phần hệ vi sinh vật đường ruột 9 Hình 2.2 Cơ chế diệt khuẩn của a-xít hữu cơ 15 Hình 2.3 Sự phân ly của a-xít butyric, lactic, formic ở pH khác nhau trong ống tiêu

hóa 16

Hình 2.4 Công thức cấu tạo của FORMI 17

Trang 10

Việc sử dụng các a-xít hữu cơ trên heo nái và heo con ở Việt Nam cho kết quả tốt Việc bổ sung trên nái đã cải thiện trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa, trọng lượng 60 ngày tuổi (Dương Thanh Liêm, 2001) Nhiều nhà khoa học đã cho biết rằng việc trộn các a-xít hữu cơ trong thức ăn có thể cải thiện tăng trọng và có thể điều chỉnh quần thể vi sinh vật đường ruột ở heo Một xu hướng của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi hiện nay là: từ bỏ sử dụng kháng sinh kích thích tăng trưởng và chuyển sang sử dụng a-xít như là một trong những biện pháp thay thế để tăng cường năng suất

Như đã nêu trên, tác động tích cực của a-xít hữu cơ bổ sung trong khẩu phần heo nái đối với heo con đã được xác nhận Được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi - Thú y, được sự hướng dẫn của TS Hồ Thị Kim Hoa và PGS TS Trần Thị Dân, với

sự giúp đỡ của trại heo Phú Sơn, chúng tôi tiến hành đề tài “ Khảo sát hiệu quả bổ

sung a-xít formic trong khẩu phần heo nái từ 12 ngày trước khi sinh đến cai sữa và heo con theo mẹ đến 60 ngày tuổi” Trong nghiên cứu này, a-xít chỉ được

Trang 11

bổ sung vào thức ăn heo nái từ ngày 12 trước khi sinh đến cai sữa, và được bổ sung vào thức ăn tập ăn của heo con, để đánh giá tác động của sản phẩm này lên sự tăng trưởng của heo con

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

Mục đích

Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung a-xít formic trong khẩu phần thức ăn heo nái từ 12 ngày trước khi sinh đến cai sữa và trong thức ăn tập ăn của heo con đối với sự tăng trưởng và sức khỏe của heo con sơ sinh đến 60 ngày tuổi

Yêu cầu

A-xít formic được dùng ở thí nghiệm này nằm trong chế phẩm FORMI (chứa 35,4 % a-xít formic, 34,6 % formate và 30 % potassium), được bổ sung vào thức ăn heo nái lúc 12 ngày trước khi sinh cho đến khi cai sữa ở mức 0,8 %, và bổ sung vào thức ăn tập ăn của heo con cho đến 60 ngày tuổi ở các mức 0,3 và 0,6 % Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm được đánh giá đối với: (i) khả năng sản xuất của heo nái trong giai đoạn nuôi con; (ii) sự sinh trưởng và sức khỏe của heo con

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA Ở HEO CON SƠ SINH

Trong thời gian còn trong bụng mẹ, bào thai phát triển nhờ hấp thụ các chất dinh dưỡng từ mẹ thông qua nhau thai Đồng thời, bào thai cũng đã dần phát triển các tế bào phức tạp nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cuộc sống bên ngoài và cũng cho thời kỳ hậu cai sữa

Khi mới sinh ra, cơ thể heo con phát triển chưa hoàn chỉnh, các chức năng chưa hoàn thiện, khả năng thích nghi kém khi bị chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường ngoài Bộ máy tiêu hóa của heo con trong giai đoạn theo mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh Lúc này heo chỉ nhận nguồn dinh dưỡng để phát triển duy nhất là từ nguồn sữa mẹ Đầu tiên, chymosin của dịch vị chịu trách nhiệm giúp đông vón và phân giải sữa Khi heo con lớn lên thì pepsin dịch vị phân giải protein

Nhóm vi khuẩn Lactobacillus trong dạ dày và ruột sử dụng đường lactose trong sữa

để sản sinh ra a-xít lactic làm giảm pH trong dạ dày, làm cho quá trình tiêu hóa tốt hơn và ngăn cản sự phát triển của những vi khuẩn có hại khác

Sau khi sinh được 1 tuần, khối lượng dạ dày lớn hơn 2 lần lúc mới sinh Sau khi sinh 24 tiếng, khả năng tiết các chất trong dạ dày tăng gấp 2 lần, và khoảng 1 tới

3 ngày sau tăng thêm 2 lần Mật độ của các tế bào tổ chức dạ dày phát triển, khả năng tiết các enzyme tiêu hóa cũng gia tăng Khi heo con 7 ngày tuổi, khả năng tiết các chất phân giải protein tăng gấp 9 lần và gia tăng nhanh đạt đến mức cần thiết để phân giải protein Niêm mạc ruột phát triển cùng với sự phân hóa tế bào tạo ra các dạng khác nhau về hình thái và theo thời gian Các nhung mao ruột được hình thành

từ màng nhày ruột non (Phạm Quang Chi, 2010)

Trang 13

Đặc điểm hấp thu dưỡng chất qua thành ruột heo sơ sinh

Theo Trần Thị Dân (2003), trong sữa đầu kháng thể chủ yếu là IgG Sau một vài ngày, hàm lượng IgG trong sữa giảm nhanh chóng và IgA trở thành kháng thể chính của sữa Khi loại kháng thể trong sữa là IgA thì có nghĩa là bầu vú đã tự sản xuất kháng thể Vì IgA ít bị thủy phân ở đường ruột, hàm lượng IgA cao trong sữa

sẽ bảo vệ niêm mạc ruột khỏi sự tấn công của vi sinh vật có hại Tuy nhiên khi heo con chưa có miễn dịch chủ động thì khả năng bảo vệ thú non của IgA cũng tùy thuộc vào loại kháng nguyên mà heo mẹ đã tiếp xúc

Ở những ngày đầu sau sinh trong ruột heo con xảy ra quá trình hấp thu kháng thể từ sữa mẹ và những tiểu phần protein khác bằng con đường vận chuyển chọn lọc chủ động bằng phương thức ẩm bào Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu mà không gây hại cho heo con vì trong thời gian này heo con chưa có khả năng sản xuất ra kháng thể (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985)

Dẫn liệu Trần Thị Dân, 2003 sự hấp thu kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4

- 12 giờ sau khi bú sữa đầu Kháng thể có thể tăng trong máu heo con vào 3 giờ sau khi sanh Nếu heo con bú sữa đầu và hấp thu kháng thể tốt, hiệu giá kháng thể trong máu heo con ở 24 giờ sau khi sanh gần bằng hiệu giá trong máu heo mẹ Khoảng 48 giờ sau khi sanh ruột không còn hấp thu kháng thể Cơ chế này có thể giúp cho đường ruột heo con không hấp thu những chất gây bệnh

Khi còn là bào thai, đường ruột heo con hầu như vô khuẩn Ngay sau khi mới được sinh ra, heo con đã bị lây nhiễm các vi sinh vật trong môi trường và từ cơ thể

mẹ, trong đó có nhiều vi khuẩn gây bệnh cơ hội và vi khuẩn gây bệnh Nếu các vi sinh vật bất lợi này xâm nhập vào cơ thể trước khi heo con hấp thu kháng thể sữa đầu, trong lúc hệ miễn dịch của heo con chưa phát triển, thì heo con dễ mắc bệnh, biểu hiện nhiều nhất là tiêu chảy Do đó, nếu được bú sữa đầu ngay sau khi sinh, kháng thể mẹ truyền trong sữa sẽ giúp heo con chống lại vi sinh vật gây hại, giúp heo con khỏe mạnh và tăng trưởng tốt trong giai đoạn theo mẹ

Trang 14

Hoạt động của enzyme tiêu hóa ở heo con sơ sinh

Theo Nguyễn Như Pho (2001), ở heo con sơ sinh sự tiết các enzyme tiêu hóa

ở dạ dày và ruột non rất kém Heo con chỉ tiêu hóa được những thức ăn đơn giản, dễ tiêu như sữa mẹ Trong 2 tuần đầu tiên, heo con không sử dụng được tinh bột do thiếu enzyme amylase của tuyến tụy và maltase của ruột Amylase của nước bọt tiết nhiều nhất vào giai đoạn 2 - 3 tuần tuổi, sau đó giảm 50 %, lúc này thì amylase của tuyến tụy tiết mạnh ở 3 - 5 tuần tuổi Khả năng tiết a-xít chlohyric (HCl) của dạ dày rất ít, chỉ đủ để hoạt hóa pepsinogen thành pepsin Do pepsin hoạt động yếu, sự tiêu hóa protein của sữa phải nhờ vào enzyme trypsin của tuyến tụy Nhiều nghiên cứu cho rằng, heo con sơ sinh đến 20 - 25 ngày tuổi trong dịch vị còn thiếu HCl Nghĩa

là dịch vị của heo con không đủ HCl tự do để làm tăng độ toan của dạ dày, do đó không ức chế được vi sinh vật có hại, chúng vẫn phát triển và gây tiêu chảy ở heo con (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)

2.2 SINH LÝ TIÊU HÓA Ở HEO CON SAU CAI SỮA

Giai đoạn sau cai sữa, heo con liên tiếp bị tác động của các yếu tố gây stress Trước nhất heo con tách khỏi mẹ, xa hơi ấm của mẹ Kế tiếp, heo con bị chuyển thức ăn từ sữa sang cám hay thức ăn dạng rắn Sự thay đổi đột ngột về thức ăn và chất lượng thức ăn sẽ ảnh hưởng lượng thức ăn ăn vào và phải mất một thời gian để phục hồi sự tăng trưởng (5 ngày) Ngoài ra, sự thay đổi chuồng trại cũng làm cho heo con dễ nhạy cảm với các mầm bệnh, nhất là rối loạn ở đường tiêu hóa

Khi chuyển qua giai đoạn sau cai sữa, nguồn thức ăn thay đổi khác hẳn về chất lượng và thành phần dinh dưỡng Để thích nghi với những thay đổi đó, bộ máy tiêu hóa của heo con phải trải qua quá trình phát triển nhanh về kích thước, dung tích và hoạt động sinh lý để có thể tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng từ thức ăn tốt hơn (Bảng 2.1)

Trang 15

Bảng 2.1 Sự phát triển cơ quan tiêu hóa heo con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi

Trọng lượng (gam)

Dung tích (ml )

Chiều dài (mét )

Trọng lượng (gam)

Dung tích (ml )

Chiều dài (mét )

(Kvansnitski, 1951: dẫn liệu bởi Nguyễn Gia Minh, 2004)

Trong giai đoạn cai sữa, khả năng tiêu hóa và sức đề kháng của heo con giảm

đi rất nhiều Khả năng tiêu hóa thức ăn bị hạn chế do tác động của nhiều yếu tố bên ngoài lẫn bên trong Sự rối loạn bộ máy tiêu hóa ở giai đoạn cai sữa làm cho một số

vi sinh vật bất lợi tăng nhanh về số lượng, do có sự thay đổi về pH trong đường tiêu

hóa Các vi sinh vật này có thể kể đến Salmonella spp., Escherichia coli, Clostridium spp…(dẫn liệu bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Các nhung mao ở đường ruột cũng ngắn đi, làm giảm diện tích hấp thu và tiêu hóa Màng nhày ruột non có những thay đổi khi heo được cai sữa ở 3 - 4 tuần tuổi So với trước khi cai sữa, nhung mao (để hấp thu chất dinh dưỡng) ngắn đi 75

% trong vòng 24 giờ sau cai sữa và tình trạng này vẫn tiếp tục nhưng giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa (Hampson và Kidder, 1986, trích dẫn bởi Trần Thị Dân) Mào ruột (crypt) lại sâu hơn bình thường Mào ruột là nơi mà tế bào của chúng sẽ di chuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng thành với vi nhung mao hấp thu chất dinh dưỡng Vài enzyme tiêu hóa (lactase, glucosidase, protease)

bị giảm nhưng maltase lại tăng, do đó khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của ruột cũng giảm

Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa còn gắn liền với sự thay đổi pH (Bảng 2.2) pH trong ống tiêu hóa heo con trong những ngày đầu sau cai sữa thấp nhưng

Trang 16

tăng dần trong các ngày tiếp theo Sự mất cân bằng pH trong đường ruột tiêu hóa của heo dẫn đến việc giảm khả năng hoạt động của một số enzyme, ảnh hưởng đến

sự cân bằng quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hóa (dẫn liệu bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Bảng 2.2 Sự thay đổi pH trong đường tiêu hóa ở heo con Tuần tuổi 3 5 6 7 8 9

2.3 HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT

Khi còn trong bụng mẹ, đường tiêu hóa của heo con hầu như vô trùng Do

đó, đây là môi trường lý tưởng cho sự phát triển nhanh chóng của vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài ngay sau khi heo con được sinh ra Ba giờ sau khi sinh, đã có thể phát hiện quần thể vi sinh vật nhỏ trong đường ruột heo con Quá trình xâm nhập và phát triển của chúng khác nhau ở các loài gia súc khác nhau (dẫn liệu bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Theo Niconxkij (1983) và Nguyễn Vĩnh Phước (1977), hệ vi sinh vật đường ruột của heo rất phong phú và đa dạng Chúng được phân bố trải dài từ niêm mạc miệng, nước bọt, hầu họng, dạ dày, ruột non ruột già, tùy theo đặc tính của từng loài

vi khuẩn Trong hệ vi sinh vật đường ruột, tồn tại hai nhóm vi sinh vật có chức năng khác nhau Thứ nhất, hệ vi sinh vật tùy nghi với đa số thành phần là những vi sinh vật lên men thối, không có lợi cho vật chủ Số lượng của chúng thay đổi theo điều

Trang 17

kiện thức ăn, môi trường tiêu hóa, sức đề kháng của cơ thể Có thể kể đến E coli và các vi khuẩn thuộc các giống Staphylococcus, Shigella, Proteus, Salmonella, Klebsiella, và Clostridium Đa số các vi khuẩn này thích nghi với môi trường pH từ

trung tính đến kiềm (dẫn liệu bởi Đặng Minh Phước, 2005)

Nhóm vi sinh vật còn lại là nhóm bắt buộc Đây là những vi sinh vật thích nghi ở môi trường có pH thấp Do đó, chúng thích nghi tốt trong dạ dày và ruột và định cư vĩnh viễn tại đây Đa số những vi sinh vật này giúp vật chủ tiêu hóa thức ăn, phòng chống, ức chế một số vi sinh vật cơ hội xâm nhập và phát triển, nhờ cạnh tranh nơi cứ trú với các vi sinh vật này Các vi sinh vật nhóm này bao gồm (i) các vi

khuẩn như Streptococcus lactic, S faecium, L acitophilus, L bulgaricus, Bacillus subtilis, Bifidobacterium; (ii) các nấm men gồm Aspergillus niger, A oryzae; và (iii) các protozoa như Entodinium, Diplonium

Đa số vi sinh vật trong đường ruột sẽ tham gia phân giải chất dinh dưỡng Nhóm vi khuẩn lactic sẽ giữ nhiệm vụ phân giải hy-drat-cac-bon, glu-xít, tinh bột,

làm hạ pH đường ruột, ức chế vi khuẩn lên men thối Một số vi khuẩn như B subtilis, E coli còn tham gia tổng hợp vitamin nhóm B cho cơ thể (dẫn liệu bởi

Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột

pH của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột (Hình 2.1) Trong môi trường có pH thấp, chủ yếu là những vi sinh vật

có lợi cho vật chủ mới phát triển được, và ở môi trường có pH thấp này sẽ kiềm hãm sự phát triển của vi sinh vật ưa kiềm hay trung tính, bao gồm các vi khuẩn lên men thối và vi khuẩn gây bệnh cơ hội Ngoài yếu tố pH thì các yếu tố như dịch mật, dịch tụy, sự cạnh tranh đối kháng của các vi sinh vật khác cũng ảnh hưởng đến thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột

Trang 18

Hình 2.1 Sự ảnh hưởng của pH lên thành phần hệ vi sinh đường ruột (Vũ Duy Giảng, 2008)

2.4 SINH LÝ HEO NÁI MANG THAI, NUÔI CON

2.4.1 Dinh dưỡng nái mang thai

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1999), thời điểm phối giống quyết định tỷ lệ đậu thai và số heo con đẻ ra trên ổ Tuy nhiên để đạt mục đích cuối cùng là tăng số heo con đẻ ra trên ổ, số heo con sơ sinh còn sống trên ổ, giảm thiểu

số heo thai chết khô, chết lưu, di tật, thì vấn đề dinh dưỡng nái trong giai đoạn nái mang thai rất quan trọng Đó là một chuỗi quá trình chăm sóc từ khi phối đến khi nái đẻ Một yếu tố nào đó có tác động không tốt đến nái mang thai trong giai đoạn này có thể ảnh hưởng xấu đến thai Đặc biệt, một vấn đề ảnh hưởng hàng ngày đến nái mang thai là thức ăn Thức ăn phải phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và từng giai đoạn phát triển của thai Bởi lẽ, cung cấp ít hay dư thừa thức ăn đều ảnh hưởng xấu đến thai

Trang 19

2.4.2 Thể trạng nái nuôi con

2.4.2.1 Sự hao mòn trọng lượng nái nuôi con

Trong thời kỳ nái nuôi con, nái có thể ăn không đủ mức để đáp ứng nhu cầu (ví dụ, do nhiệt độ quá nóng nái ăn ít, số heo con để nuôi quá nhiều) Lúc này, nái phải huy động nguồn năng lượng dự trữ bằng cách sử dụng mỡ dự trữ dưới da thông qua quá trình beta ô-xy hóa a-xít béo để tạo năng lượng Điều này có thể gây ra hậu quả là nái giảm trọng lượng và mỡ lưng, có thể làm thời gian lên giống lại của nái sau cai sữa kéo dài Đó là một thiệt hại lớn nếu xét về mặt kinh tế Như vậy để tránh các hậu quả trên, nhà chăn nuôi phải đặc biệt chú ý là phải cung cấp đủ thức ăn, nước uống cho nái trong suốt giai đoạn nuôi con để tăng năng suất của nái

Dựa vào việc đánh giá thể trạng heo con, trọng lượng heo con qua các tuần tuổi, tình trạng sức khỏe của heo con, người ta có thể đánh giá khả năng nuôi con và khả năng tiết sữa của nái (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Mục tiêu cần đạt khi nuôi heo con theo mẹ

(Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)

2.4.2.2 Giảm dày mỡ lưng của nái trong thời gian nuôi con

Song song với việc giảm trọng của nái là giảm độ dày mỡ lưng Giảm trọng

và giảm độ dày mỡ lưng là 2 chỉ tiêu phản ánh tương đối rõ nét khả năng tiết sữa nuôi con của nái Trong quá trình tiết sữa nuôi con, nguồn dinh dưỡng từ thức ăn không đủ so với nhu cầu tiết sữa nuôi con nên nái phải lấy nguồn năng lượng từ lớp

mỡ lưng dưới da và các mô Nguồn dinh dưỡng từ thức ăn càng thiếu, năng lượng

dự trữ bị tiêu hao càng nhiều

Trang 20

Theo Trần Thị Dân (2000) và Eimssen và ctv (2000), nếu không cân bằng lượng thức ăn ăn vào sẽ là yếu tố hàng đầu cho sự mất bề dày mỡ lưng và sự giảm trọng Kết quả là nái có thể bị loại thải sớm do giảm thời gian khai thác và giảm khả năng sinh sản Theo công ty Cargill (trích dẫn bởi Trần Thị Dân, 2003), tình trạng mập ốm của nái được đánh giá khi đo độ dày mỡ lưng (Bảng 2.4)

Bảng 2.4 Tình trạng mập ốm của nái khi đo độ dày mỡ lưng

Dày mỡ lưng (mm) Tình trạng của nái

2.5 SƠ LƯỢC VỀ VIỆC SỬ DỤNG A-XÍT HỮU CƠ TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Ngày nay, a-xít hữu cơ được sử dụng rất phổ biến trong thức ăn chăn nuôicông nghiệp So với các thức ăn bổ sung khác, các a-xít hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối với thành tích chăn nuôi (Vũ Duy Giảng, 2008) Tuy nhiên với mỗi loại a-xít khác nhau hay tổ hợp các a-xít sẽ cho hiệu quả khác nhau trên thành tích vật nuôi Vấn đề ở đây là chọn lựa một loại a-xít nào đó tốt nhất vừa đáp ứng là cải thiện thành tích vật nuôi, vừa mang lại hiệu quả chăn nuôi về mặt kinh tế

2.5.1 Các loại a-xít hữu cơ dùng trong chăn nuôi hiện nay

Trang 21

sữa sớm cho kết quả sinh trưởng rất tốt A-xít lactic sinh ra do lên men đường lactose, có tác dụng hạ pH dạ dày và đường ruột, ức chế sự phát triển của vi sinh vật

có hại (dẫn liệu bởi Đặng Minh Phước, 2005)

A-xít kết tinh (a-xít fumaric, citric, succinic, malic)

Đây là những a-xít được chế tạo bằng công nghệ lên men và có thể kết tinh tạo ra dạng thô, bổ sung vào thức ăn rất tiện lợi Các a-xít này tạo ra độ pH dạ dày

dạ ruột thấp, vừa có tác dụng tốt trong tiêu hóa vừa ức chế vi khuẩn lên men thối ở ruột non Khi lượng HCl dịch vị tiết ra chưa nhiều, các a-xít này có vị chua nhẹ nên heo con rất thích ăn, đặc biệt nếu kết hợp một ít vị ngọt của đường thì sẽ tạo ra vị chua ngọt nên càng hấp dẫn đối với heo con ở giai đoạn tập ăn

A-xít formic

Đây là acid có số cacbon trong công thức hóa học ít nhất so với các a-xít hữu

cơ khác (duy nhất 1 cacbon trong công thức hóa học), nó được xem là a-xít mạch ngắn nhất với trọng lượng phân tử là: 46,02gam/mol, pKa = 3,77 Chính vì lý do trọng lượng phân tử nhỏ, mạch ngắn nên a-xít formic dễ xuyên qua màng tế bào của những vi khuẩn Gram âm, giảm pH dạ dày, tăng tiêu hóa protein (Christian Luckstadt, 2010) Vì thế, a-xít formic được xem là a-xít có tác dụng sát khuẩn mạnh nhất trong tất cả các a-xít hữu cơ

A-xít propionic

Đây là a-xít được bổ sung vào thức ăn không chỉ với mục tiêu kích thích tiêu hóa, tăng trọng mà còn nhằm bảo vệ thức ăn chống vi khuẩn, ức chế nấm mốc phát triển trong thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2008)

A-xít butyric

A-xít butyric có tính sát khuẩn đối với vi khuẩn Gram dương và Gram âm Ngoài ra, a-xít này còn kích thích heo ăn nhiều, bảo vệ thượng bì ruột, kích thích lớp tế bào lông nhung phát triển tốt, kích thích hệ miễn dịch của ruột (tăng hàm lượng α, β và γ globulin máu, Vũ Duy Giảng, 2008)

Trang 22

2.5.2 Tác dụng chính của a-xít hữu cơ dùng trong thức ăn chăn nuôi

Tác dụng của a-xít hữu cơ trong chăn nuôi đã được nhiều tài liệu đề cập đến như (i) kháng khuẩn, bao gồm việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột; và tiêu diệt vi khuẩn bệnh; (ii) hỗ trợ sự tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng bằng cách hoạt hóa pepsinogen, hỗ trợ tiêu hóa protein, tăng độ hòa tan chất khoáng, hỗ trợ hấp thu chất khoáng, đặc biệt vi khoáng; kích thích ruột tiết secretin, giúp tụy tiết nhiều bicarbonate và gan tiết a-xít mật, giúp lipid thức ăn được tiêu hóa, hấp thu tốt hơn (Mroz, 2005); (iii) tăng sự tái tạo lớp tế bào vi lông nhung, ví dụ người ta thấy rằng Na butyrate làm tăng chiều dài lông nhung lên khoảng 30 % (Vũ Duy Giảng, 2008)

Bảng 2.5 Công thức của một số a-xít hữu cơ

Công thức phân tử

Trọng lượng phân

tử

Hằng số điện ly

pK

A-xít citric COOHCH 2 C(OH)(COOH)CH 2 COOH 192,12 3,13

Trang 23

2.5.3 Cơ chế kháng khuẩn của a-xít hữu cơ

Tác dụng kháng khuẩn của a-xít hữu cơ bao gồm 2 tác dụng cơ bản là ức chế

sự phát triển của vi khuẩn có hại và tiêu diệt vi khuẩn

Tác dụng ức chế sự phát triển vi khuẩn có hại

Trong đường ruột tồn tại các nhóm vi khuẩn có ích và vi khuẩn gây bệnh, số lượng các nhóm này được duy trì ở trạng thái cân bằng Do những nguyên nhân nào

đó, số lượng vi khuẩn gây bệnh tăng lên, trạng thái cân bằng bị phá vỡ, con vật bị rối loạn tiêu hóa và mắc bệnh Nhóm vi khuẩn có ích thường là những vi khuẩn lên

men sinh a-xít lactic như Lactobacillus, Bifidobacterium, Streptococcus Nhóm vi khuẩn gây bệnh có thể kể đến là C perfringens, E coli, Samonella và những trực

khuẩn Gram âm khác (Vũ Duy Giảng, 2008)

Vi khuẩn có ích sống trong môi trường pH thấp hơn vi khuẩn gây bệnh Ví

dụ, pH thích hợp cho nhóm vi khuẩn lên men sinh a-xít lactic là 2 - 3, đối với một

số vi khuẩn gây bệnh như E coli pH thích hợp là ≥ 4; Samonella, pH ≥ 3,5; Cl perfringens , pH ≥ 6 (Hình 2.1) Như vậy bổ sung a-xít hữu cơ để đưa pH dịch tiêu

hóa xuống thấp hơn 3,5 có thể ức chế sự phát triển của những vi khuẩn gây bệnh và tạo điều kiện cho vi khuẩn có ích hoạt động

Tác dụng tiêu diệt vi khuẩn

Tính diệt khuẩn của các a-xít hữu cơ chủ yếu dựa vào khả năng vượt qua màng tế bào và thâm nhập vào trong tế bào vi khuẩn Gram âm khi các a-xít ở trạng thái không phân ly Lúc đó sẽ hình thành cơ chế tiêu diệt vi khuẩn

Khi a-xít đi vào tế bào vi khuẩn, ở đây (pH = 7), a-xít phân ly cho ra H+ (RCOOH → RCOO- + H+) pH bên trong tế bào giảm làm tăng tính a-xít trong tế bào chất, ngăn cản sự tổng hợp của các phân tử, cũng như làm thay đổi thành phần của màng tế bào, ARN, ADN, protein, và lipid Kế tiếp, khi pH trong tế bào chất giảm, vi khuẩn phải sử dụng cơ chế bơm ATPase để đẩy H+ ra khỏi tế bào, vi khuẩn

bị mất năng lượng Mặt khác, pH giảm cũng ức chế quá trình đường phân, tế bào vi

Trang 24

khuẩn bị mất nguồn cung cấp năng lượng Khi phân ly trong tế bào, anion của a-xít không ra khỏi được tế bào, gây rối loạn thẩm thấu bên trong tế bào (Mroz, 2005)

Như vậy a-xít hữu cơ phải ở trạng thái không phân ly mới có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, vì ở trạng thái này a-xít mới đi vào tế bào vi khuẩn Sự phân ly của a-xít hữu cơ lại phụ thuộc vào giá trị pK của a-xít pK càng cao thì sự phân ly càng lớn, ví dụ trong môi trường có pH như nhau thì a-xít acetic có độ phân ly lớn hơn a-xít formic (bởi vì pK của a-xít acetic là 4,76 còn pK của formic là 3,75) A-xít hữu

cơ phân ly ít trong môi trường có pH thấp, phân ly nhiều trong môi trường có pH cao Trong ống tiêu hóa của heo hay gà, pH khác nhau ở mỗi vị trí khác nhau, như vậy việc bổ sung a-xít hữu cơ phải quan tâm là làm sao để a-xít không bị phân ly, lúc đó thì việc bổ sung a-xít mới có tác dụng diệt vi khuẩn hiệu quả (Trần Cừ, 1972)

Hình 2.2 Cơ chế diệt vi khuẩn của a-xít hữu cơ (Vũ Duy Giảng, 2008)

Trang 25

Hình 2.3 Sự phân ly của a-xít butyric, lactic, formic ở pH khác nhau trong ống tiêu

hóa (Vũ Duy Giảng, 2008)

Khi pH của môi trường nhỏ hơn pK của a-xít, nồng độ H+ trong môi trường cao, a-xít có khuynh hướng tái thiết lập sự cân bằng của nó để duy trì hằng số, vì thế dạng a-xít không phân ly sẽ gia tăng Ngược lại, khi pH của môi trường lớn hơn pK, nồng độ H+ thấp và a-xít sẽ tái thiết lập sự cân bằng bằng cách gia tăng dạng phân

ly

Các a-xít hữu cơ mạch ngắn như a-xít formic, propionic và butyric là những chất sát khuẩn mạnh nhất Chúng có khả năng xuyên thấm qua màng tế bào khi ở dạng không phân ly và sau đó khi phân ly bên trong tế bào, gây ra sự thay đổi tính thấm, xáo trộn biến dưỡng của tế bào vi khuẩn, cuối cùng gây ra những hư hại bên trong tế bào vi khuẩn mà không thể phục hồi lại được

Các a-xít vô cơ mạnh như a-xít phosphoric lại không có khả năng đi qua màng Tuy nhiên, chúng hoạt động dựa trên sự giảm pH ngoài tế bào, tạo ra môi trường bất lợi cho sự phát triển và sinh sản của vi khuẩn gây bệnh, vì thế cũng có hiệu quả định khuẩn Mặc dù, các a-xít vô cơ cũng có tác dụng tĩnh khuẩn nhưng khó bổ sung vào thức ăn chăn nuôi được bởi lẽ nó có tính ăn mòn mạnh và làm tấy

đỏ da của người tiếp xúc với nó

Trang 26

2.5.4 Sơ lược một số công trình nghiên cứu về việc dùng a-xít hữu cơ trong thức ăn chăn nuôi ở Viêt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (2001), việc bổ sung a-xít formic vào trong khẩu phần thức ăn heo con cai sữa

đã cải thiện năng suất và hiệu quả sử dụng thức ăn so với lô không có bổ sung Mức

bổ sung thích hợp nhất là 0,65 % trong khẩu phần Ở mức này đã làm tăng 13,1 % khả năng tăng trưởng heo con, giảm 6,69 % hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm đáng kể

tỷ lệ tiêu chảy số với lô không bổ sung a-xít formic

Theo Dương Thanh Liêm (2001), sử dụng a-xít hữu cơ trên heo nái và heo con ở Việt Nam cho kết quả tốt A-xít hữu cơ sử dụng cho heo nái ở cuối giai đoạn mang thai và trong thời gian nuôi con đã cải thiện trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa và trọng lượng lúc 60 ngày tuổi trên heo con

Đặng Thị Xuân Thiệp (2004) đã tiến hành thí nghiệm trên 130 heo con cai sữa 28 ngày tuổi, potassium diformate được bổ sung trong thời gian 28 ngày với mức 0,2; 0,3; 0,4; 0,5 %/tấn thức ăn Ở mức 0,4; 0,5 % có tác dụng tốt trong việc giảm tỷ lệ tiêu chảy, giảm 0,3 kg thức ăn cho 1kg tăng trọng so với lô không bổ sung

2.5.5 Giới thiệu về chế phẩm FORMI

Chế phẩm dùng trong thí nghiệm có tên thương mại là FORMI do công ty ADDCON sản xuất Thành phần bao gồm: 35,4 % a-xít formic, 34,6 % formate và 30,0 % potassium (Hình 2.4) Như vậy thành phần chính là a-xít formic chiếm 35,4

% Chế phẩm có dạng bột màu trắng đến màu vàng nhạt

Hình 2.4 Công thức cấu tạo của FORMI

Trang 27

2.6 SƠ LƯỢC VIỆC DÙNG KHÁNG SINH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Kháng sinh là chất có nguồn gốc sinh học hay tổng hợp, bán tổng hợp, tác động một cách chuyên biệt trên giai đoạn chính yếu của sư biến dưỡng vi khuẩn hay nấm nhằm ngăn chặn hay tiêu diệt sự phát triển của chúng góp phần phục hồi chức năng của cơ thể

Kháng sinh được phát hiện đầu tiên là penicillin, được Fleming phát hiện vào năm 1928 Nhưng cho đến năm 1940 mới được các nhà khoa học Flory, Chain và Heatley chiết tách và thuần khiết thành chế phẩm chữa bệnh Tính cho đến nay đã

có hơn 2000 chất kháng sinh được phát hiện, trong đó khoảng 200 chất đã được sử dụng trong y học và các lĩnh vực khác

Tác dụng của kháng sinh trong dinh dưỡng

Tác dụng tốt của kháng sinh được sử dụng với mục đích dinh dưỡng ở chỗ

nó làm tăng năng suất vật nuôi trung bình 8 - 15 % về tăng trọng, 6 - 10 % về chỉ số chuyển hóa thức ăn Cơ chế tác động của kháng sinh chủ yếu là ở liều thấp nó ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây hại trong đường ruột vì thế giảm sự cạnh tranh dinh dưỡng Đồng thời, các vi khuẩn gây hại bị ức chế nên độc tố sản sinh trong đường ruột cũng giảm (dẫn liệu bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Cách sử dụng kháng sinh

Người ta sử dụng kháng sinh với mục đích khác nhau thì sẽ quy định liều lượng kháng sinh khác nhau Với mục đích tăng trưởng, kháng sinh thường dùng ở liều thấp, dùng liên tục trong thức ăn, tùy theo loại kháng sinh mà liều dùng khác nhau Với mục đích phòng bệnh, kháng sinh được dùng liều cao hơn liều kích thích tăng trưởng khoảng gấp 10 lần, và thời gian dùng không quá 5 ngày Có thể dùng cách quãng theo tình trạng bệnh tật của gia súc Tuy nhiên, ngưng sử dụng thuốc trước khi giết thịt 1 - 2 tuần tùy theo khuyến cáo của nhà sản xuất kháng sinh Để điều trị, kháng sinh được dùng liều cao hơn liều phòng bệnh gấp 3 - 4 lần, thời gian dùng không quá 5 ngày, tùy loại kháng sinh Sau khi chữa trị bằng kháng sinh khoảng 2 tuần mới được hạ thịt theo khuyến cáo của nhà sản xuất

Trang 28

Những giới hạn của việc sử dụng kháng sinh

Việc sử dụng kháng sinh trong dinh dưỡng cũng có những tồn tại và hạn chế khó tránh khỏi Trước tiên, khi có kháng sinh thường xuyên trong thức ăn thì cơ thể không tự sản sinh ra sức đề kháng của bản thân để chống lại vi trùng, từ đó làm cho đàn thú chống chọi với bệnh tật ngày càng yếu đi Kế tiếp, việc vi khuẩn gây bệnh tiếp xúc với kháng sinh liều thấp thường xuyên sẽ dẫn đến việc hình thành một số biến chủng, có cấu trúc ADN thay đổi, hình thành và phát triển các cơ chế chống lại kháng sinh Dần dần nó biến kháng sinh thành yếu tố cần thiết để bảo vệ chúng tránh khỏi sự tấn công của vi khuẩn khác (dẫn liệu bởi Nguyễn Quế Hoàng, 2006)

Từ đó gây ra hiện tượng “lờn thuốc”

Ngoài ra, kháng sinh tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi gây hại cho sức khỏe con người Kháng sinh cũng tạo ra sự đề kháng kháng sinh với vi khuẩn gây bệnh cho người Từ đó việc chữa trị bệnh bằng kháng sinh trên người rất khó khăn Đặc biệt, một số kháng sinh là chất gây bệnh ung thư cho con người như carbadox, olaquindox thuộc nhóm quinolon (Commission Regulation EC No 2788/980, trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm và ctv, 2004)

2.7 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI PHÚ SƠN

Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn tọa lạc thuộc địa bàn ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cách đường quốc lộ 1A khoảng 2 km về phía Bắc Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Heo Phú Sơn trước đây gọi là Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn được thành lập vào tháng 3/1976 theo quyết định số 41/UBT của UBND tỉnh Đồng Nai trên cơ sở tiếp quản từ trại chăn nuôi heo tư nhân Kycanomo Khi mới thành thành lập, xí nghiệp có tên là Quốc Doanh Chăn Nuôi Heo Phú Sơn, đơn vị hạch toán độc lập thuộc Công Ty Nông Nghiệp Đồng Nai Năm 1984, Quốc Doanh Chăn Nuôi Heo Phú Sơn sát nhập vào Công Ty Chăn Nuôi Đồng Nai theo quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai

Tháng 7/1994, Quốc Doanh Chăn Nuôi Heo Phú Sơn được tách khỏi Công

Ty Chăn Nuôi Đồng Nai, trở thành đơn vị hạch toán độc lập và đổi tên thành Xí

Trang 29

Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn Tháng 12/1994, Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú

Sơn tiếp quản thêm Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Long Thành và sau đó, tháng

2/1997, Xí Nghiệp tiếp nhận thêm Trại Chăn Nuôi Heo Đông Phương Tháng

8/2000, Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn được chủ tịch nước phong tặng danh

hiệu “Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới” Đây là phần thưởng vinh dự và

xứng đáng với sự nổ lực và cố gắng của toàn thể các bộ công nhân viên của Xí

Nghiệp Luôn cố gắng để trở thành doanh nghiệp quốc doanh có qui mô đàn heo lớn

nhất cả nước Ngày 17/6/2005 Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn đổi tên thành

Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn

Bảng 2.6 Cơ cấu đàn heo của Công ty tính đến ngày 22/5/2010

Nhiệm vụ được đặt ra cho Xí nghiệp là xây dựng đàn giống thuần hạt nhân

(ông, bà) và đàn giống cơ bản (cha mẹ) của 3 giống heo Yorkshire, Landrace và

Duroc để phục vụ công tác sản xuất giống heo thương phẩm lai 3 máu chất lượng

cao như: D x (Y x L) hoặc D x (L x Y) bán ra thị trường cả về heo giống và heo thịt

Xí nghiệp đã không ngừng nâng cao chất lượng đàn giống bằng cách chọn lọc và lai

với các giống Yorshire, Landrace và Duroc nhập từ các nước như: Pháp, Thái Lan

Trang 30

(1992), Mỹ (1995), Thái Lan (1997) và Úc (2003) Gần đây, Xí nghiệp cũng đã nhập giống heo DanRed (Đan Mạch) nhằm nâng cao hơn nữa phẩm chất heo giống tại trại Ngoài ra, Phú sơn còn cung cấp heo đực và cái hậu bị, heo giống nuôi thịt

và heo thịt thương phẩm cho thị trường chăn nuôi trong tỉnh và các tỉnh lân cận; cũng như cung cấp tinh heo thuần đáp ứng nhu cầu gieo tinh nhân tạo cho người chăn nuôi trong khu vực Tính đến ngày 22/5/2010 thì tổng đàn heo của trại là 23.488 con với mỗi loại heo (Bảng 2.6)

Trang 31

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN

Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 01/01/2010 đến ngày 20/05/2010 tại trại heo Phú Sơn thuộc Công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn

3.2 ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM

Heo nái thí nghiệm được chọn là những nái trong giai đoạn cuối kỳ mang thai, thuộc giống lai LY hay YL, có cùng giống đực phối và có lứa đẻ từ lứa 2 đến lứa 5 Nái được phân bố vào các lô theo kiểu bốc thăm, hoàn toàn ngẩu nhiên Heo con của các nái thí nghiệm cũng được theo dõi từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa, và đến

60 ngày tuổi

Chăm sóc nái mang thai

Khu nái mang thai được cho ăn tự động Thức ăn được nạp hàng ngày vào các si-lô chứa, và được chuyển đến máng ăn bằng hệ thống tự động Trước khi sinh

12 ngày, heo nái sẽ chuyển sang thức ăn dành cho nái nuôi con và được công nhân trực tiếp cho ăn

Chăm sóc nái đẻ, nuôi con

Nái được chuyển qua chuồng nái đẻ trước khi sinh 4 ngày, dựa vào ngày đẻ

dự kiến Hằng ngày heo nái thường xuyên được tắm mát Nái được để sinh con tự

do không can thiệp, trừ các lúc cần thiết như đẻ khó, hay thai to Sau khi đẻ xong, nái được chích oxytocin 2 lần/ngày (2mll/1 lần) và liên tục trong 2 ngày Nếu nái có hiện tượng viêm, dịch nhờn hậu sản tiết ra thì điều trị bằng kháng sinh Sau khi đẻ

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w