1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNGBỆNH TRÊN HEO NÁI MANG THAI, HEO NÁI ĐẺ VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ

79 176 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 760,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số heo con đẻ ra trên ổ và trọng lượng bình quân heo sơ sinh không có sự khác biệt theo mức độ viêm tử cung của nái nhưng trọng lượng heo cai sữa, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ ngày con tiêu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

  

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN HEO NÁI MANG THAI, HEO NÁI ĐẺ VÀ TIÊU CHẢY

TRÊN HEO CON THEO MẸ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

TRÊN HEO CON THEO MẸ

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ Thú y

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG

Tên luận văn: “Khảo sát một số chứng/bệnh trên heo nái mang thai, heo nái

đẻ và tiêu chảy trên heo con theo mẹ”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y

Ngày…….tháng…….năm 2010 Giáo viên hướng dẫn

Trang 4

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý Thầy Cô trong khoa

đã tận tình truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt khóa học

 Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

TS Nguyễn Tất Toàn và PGS.TS Trần Thị Dân đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn này

 Chân thành cảm ơn

Ban Giám Đốc trại chăn nuôi heo công nghiệp ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương và cùng toàn thể cô chú, anh chị trong trại đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Xin cám ơn các bạn trong và ngoài lớp đã gắn bó chia sẽ vui buồn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 08 năm 2010

Xin chân thành cảm ơn!

NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số chứng/bệnh trên heo nái mang thai, heo nái đẻ và tiêu chảy trên heo con theo mẹ” được tiến hành tại trại chăn nuôi heo huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương, thời gian từ ngày 22/02/2010 đến ngày 22/06/2010

Qua thời gian khảo sát, chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:

Nhiệt độ và ẩm độ có sự khác biệt giữa các tháng khảo sát Nhiệt độ trung bình của trại dao động từ 29,84 – 31,010C, ẩm độ từ 78,69 – 81,25%, phù hợp cho heo con theo mẹ nhưng cao hơn mức yêu cầu của nái

Tỷ lệ một số chứng/bệnh trên nái giai đoạn mang thai tương đối cao 29,63%, trong đó không đậu thai chiếm tỷ lệ cao nhất 20,83%, nái viêm tử cung 6,48%, sẩy thai và viêm khớp xảy ra với tỷ lệ thấp (lần lượt là 1,85% và 0,93%) Tỷ lệ nái mắc bệnh đường sinh dục xảy ra nhiều ở lứa 3 trở lên, tỷ lệ nái không đậu thai cao nhất ở lứa 1 (35,71%) sau đó giảm dần đến lứa 3 và tăng lại từ nái lứa 4 trở đi

Tỷ lệ viêm tử cung trên nái sau khi sinh cao 35% (21/60 nái) Tỷ lệ mắc bệnh tập trung ở những nái đẻ lứa đầu (44,44%) và nái đẻ sau lứa > 5 (41,67%) Trong đó nái viêm dạng mủ chiếm tỷ lệ cao (61,90%), kế đến là nái viêm nhờn (33,33%), thấp nhất là nái viêm mủ máu (4,76%) và không ghi nhận được tình trạng nái viêm

vú trên nái sau khi sinh

Số heo con đẻ ra trên ổ và trọng lượng bình quân heo sơ sinh không có sự khác biệt theo mức độ viêm tử cung của nái nhưng trọng lượng heo cai sữa, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo thể trạng nái thì có sự khác biệt rõ rệt

Vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập được từ mẫu dịch viêm trên nái, E.coli và Salmonella từ mẫu phân heo con tiêu chảy Qua thử

kháng sinh đồ thì các vi khuẩn này đề kháng mạnh với một số loại kháng sinh như streptomycin, cefuroxime acetil, chỉ còn nhạy cảm với một số ít kháng sinh như cephalexin, norfloxacin nhưng với tần suất không cao (40 – 80%)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách các bảng xi

Danh sách các biểu đồ xi

Danh sách các hình xii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI 3

2.1.1 Lịch sử hình thành 3

2.1.2 Vị trí địa lý 3

2.1.3 Cơ cấu đàn 3

2.1.4 Hệ thống chuồng trại 3

2.1.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 4

2.1.5.1 Thức ăn 4

2.1.5.2 Nước sử dụng 4

2.1.5.3 Quy trình chăm sóc heo trong trại 4

2.1.6 Quy trình vệ sinh và thú y 6

2.1.6.1 Quy trình vệ sinh sát trùng 6

Trang 7

2.1.6.2 Quy trình thú y 7

2.2 TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ NÁI MANG THAI 8

2.2.1 Sự thành thục và động dục 8

2.2.1.1 Sự thành thục 8

2.2.1.2 Dấu hiệu động dục 8

2.2.2 Nuôi dưỡng chăm sóc nái mang thai 8

2.2.2.1 Sự mang thai 8

2.2.2.2 Giai đoạn nái mang thai 8

2.3 MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN NÁI MANG THAI 9

2.3.1 Không đậu thai 9

2.3.2 Viêm đường sinh dục 10

2.3.3 Sẩy thai 10

2.3.4 Viêm khớp 11

2.4 VIÊM TỬ CUNG VÀ VIÊM VÚ TRÊN NÁI SAU KHI SINH 12

2.4.1 Viêm tử cung trên nái 12

2.4.1.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung 12

2.4.1.2 Phân loại các dạng viêm tử cung 13

2.4.1.3 Tác hại của viêm tử cung 14

2.4.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung 15

2.4.2 Viêm vú trên nái 15

2.4.2.1 Nguyên nhân gây viêm vú 16

2.4.2.2 Bệnh pháp phòng và trị viêm vú 16

2.5 TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ 17

2.5.1 Nguyên nhân gây tiêu chảy 17

2.5.2 Phòng ngừa và điều trị bệnh 18

2.6 LƯỢC DUYỆT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 19

2.6.1 Công trình nghiên cứu một số bệnh trên nái mang thai 19

2.6.2 Công trình nghiên cứu viêm tử cung, viêm vú trên nái sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ 19

Trang 8

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT 21

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 21

3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 21

3.4 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 21

3.4.1 Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ của trại nái mang thai và trại nái đẻ 21

3.4.1.1 Dụng cụ 21

3.4.1.2 Phương pháp tiến hành 21

3.4.1.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 22

3.4.2 Khảo sát một số chứng bệnh trên nái trong giai đoạn mang thai 22

3.4.2.1 Phương pháp khảo sát 22

3.4.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 23

3.4.3 Khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú trên nái sau khi sinh 23

3.4.3.1 Phương pháp khảo sát 23

3.4.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 23

3.4.4 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng, tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ 24

3.4.4.1 Dụng cụ 24

3.4.4.2 Phương pháp khảo sát 24

3.4.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 24

3.4.5 Phân lập và thử kháng sinh đồ của một số vi khuẩn trong mẫu dịch viêm tử cung và mẫu phân heo con tiêu chảy 25

3.4.5.1 Dụng cụ và hóa chất 25

3.4.5.2 Phương pháp tiến hành 25

3.4.5.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 26

3.4.6 Khảo sát hiệu quả điều trị bệnh trên nái của trại 26

3.4.6.1 Thuốc sử dụng 26

3.4.6.2 Phương pháp khảo sát 26

3.4.6.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 27

Trang 9

3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 27

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRẠI NÁI 28

4.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNG BỆNH TRÊN NÁI MANG THAI 30

4.2.1 Tỷ lệ một số chứng/bệnh trên nái khảo sát 30

4.2.2 Tỷ lệ của từng loại chứng/bệnh trên nái theo lứa đẻ 31

4.2.4 Ảnh hưởng của nái mắc chứng/bệnh đến tỷ lệ đậu thai trên nái 34

4.3 KHẢO SÁT VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ TRÊN NÁI SAU KHI SINH 35

4.3.1 Tỷ lệ viêm tử cung và viêm vú trên heo nái sau khi sinh 35

4.3.2 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát 36

4.3.3 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung 37

4.4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG, TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ 39

4.4.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển heo con theo thể trạng nái 39

4.4.2 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 24 ngày tuổi theo thể trạng nái 41

4.4.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo thể trạng nái 42

4.5 PHÂN LẬP VÀ THỬ KHÁNG SINH ĐỒ MỘT SỐ VI KHUẨN TRONG MẪU DỊCH VIÊM TỬ CUNG VÀ MẪU PHÂN HEO CON TIÊU CHẢY 43

4.5.1 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ trong mẫu dịch viêm tử cung trên nái sinh sản 44

4.5.1.1 Kết quả phân lập vi khuẩn trong mẫu dịch viêm 44

4.5.1.2 Kết quả thử kháng sinh đồ trên mẫu dịch viêm 45

4.5.2 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ từ mẫu phân heo con tiêu chảy 47

4.5.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn trong mẫu phân tiêu chảy 47

4.5.2.2 Kết quả thử kháng sinh đồ trên những mẫu phân heo con tiêu chảy 48

Trang 10

4.6 KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÊN NÁI CỦA TRẠI 49

4.6.1 Hiệu quả điều trị bệnh trên nái ở trại mang thai 49

4.6.1.1 Liệu pháp điều trị 49

4.6.1.2 Kết quả điều trị 50

4.6.2 Hiệu quả điều trị viêm tử cung trên nái sau khi sinh của trại 51

4.6.2.1 Liệu pháp phòng và điều trị 51

4.6.2.2 Kết quả điều trị 51

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 KẾT LUẬN 53

5.2 ĐỀ NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Trang 11

CÁC DANH TỪ VIẾT TẮT

AĐTBTN: Ẩm độ trung bình trong ngày

AĐTBTT: Ẩm độ trung bình trong tuần

AĐTBTTh: Ẩm độ trung bình trong tháng

FMD : Foot and Mouth disease

NĐTBTN: Nhiệt độ trung bình trong ngày

NĐTBTT: Nhiệt độ trung bình trong tuần

NĐTBTTh: Nhiệt độ trung bình trong tháng

MMA: Metritis Mastitis Agalactiae

PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome

TLTLBTN: Tỷ lệ từng loại bệnh trên nái

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn heo của trại 7

Bảng 4.1 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ trại nái mang thai 28

Bảng 4.2 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ trại nái đẻ 28

Bảng 4.3 Tỷ lệ một số chứng/bệnh trên nái mang thai 30

Bảng 4.4 Tỷ lệ của từng loại chứng/bệnh trên nái mang thai theo lứa đẻ 31

Bảng 4.5 Sự liên hệ giữa nái mang thai mắc chứng/bệnh với tỷ lệ đậu thai 33

Bảng 4.6 Tình hình sức khỏe trên nái sau khi sinh 35

Bảng 4.7 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát 36

Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển trên heo con theo thể trạng nái 39

Bảng 4.9 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 24 ngày tuổi theo thể trạng nái 41

Bảng 4.10 Kết quả phân lập vi sinh vật trong mẫu dịch viêm 44

Bảng 4.11 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn Staphylococcus spp 45

Bảng 4.12 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn Steptococcus spp 46

Bảng 4.13 Kết quả phân lập vi sinh vật trong mẫu phân 47

Bảng 4.14 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn E.coli 48

Bảng 4.15 Hiệu quả điều trị bệnh trên nái mang thai của trại 50

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 4.1 Tần suất các dạng viêm tử cung trên nái viêm 37

Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo thể trạng nái 43

Biểu đồ 4.3 Phân bố heo nái khỏi viêm theo thời gian điều trị 51

Trang 13

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Nái mang thai viêm tử cung 32

Hình 4.2 Dịch viêm tử cung dạng mủ 32

Hình 4.3 Nái sẩy thai lúc 35 ngày 33

Hình 4.4 Thai sẩy của nái sẩy thai 33

Hình 4.5 Nái mang thai bi sưng khớp 34

Hình 4.6 Khớp sưng đang bị hoại tử 34

Trang 14

và chất lượng với mục đích hạ thấp giá thành sản tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước đồng thời xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới Và để cung cấp con giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các hộ gia đình, các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu, lai tạo ra được nhiều giống vật nuôi mới có năng suất cao, sức đề kháng bệnh tốt, chất lượng thịt cao, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng (Đỗ Cường Thịnh, 2005)

Trong lĩnh vực chăn nuôi heo, khâu chăm sóc, quản lý heo nái sinh sản và heo con theo mẹ có ảnh hưởng lớn đến thành tích sinh sản của nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi Mặc dù việc chăm sóc và phòng ngừa các bệnh về đường sinh sản của heo nái và các bệnh trên heo con theo mẹ luôn được người chăn nuôi đặc biệt quan tâm Song do điều kiện khí hậu nước ta nóng ẩm, công tác chăm sóc quản

lý còn nhiều hạn chế nên dễ phát sinh bệnh trên nái và tiêu chảy trên heo con theo

mẹ (Nguyễn Văn Út, 2007)

Trang 15

Trong đó, những chứng/bệnh thường gặp trên nái mang thai như không đậu thai, viêm đường sinh dục, sẩy thai,…viêm vú, viêm tử cung trên nái ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của nái, làm giảm số lứa đẻ trong năm thậm chí có thể làm mất hẳn khả năng sinh sản của nái Không những thế đây còn là một trong những nguyên nhân gây tỷ lệ tiêu chảy ở heo con theo mẹ tăng cao do thành phần sữa mẹ thay đổi (Nguyễn Văn Thanh, 2007)

Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Bộ môn Nội Dược, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, dưới

sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tất Toàn và PGS.TS.Trần Thị Dân, chúng tôi tiến

hành đề tài: “Khảo sát một số chứng/bệnh trên heo nái mang thai, heo nái đẻ và tiêu chảy trên heo con theo mẹ”

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Tìm hiểu các bệnh thường xảy ra trên nái sinh sản (nái mang thai và nái nuôi con), ảnh hưởng của bệnh trên đến sinh trưởng phát triển của heo con để có biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả

1.2.2 Yêu cầu

Khảo sát ẩm độ và nhiệt độ chuồng nuôi

Ghi nhận tỷ lệ các chứng/bệnh xảy ra trên nái trong thời gian mang thai

Theo dõi và ghi nhận nái viêm tử cung, viêm vú sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ

Khảo sát mối liên quan giữa một số chứng/bệnh trên nái đối với sinh trưởng, phát triển của heo con

Trang 16

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI

2.1.1 Lịch sử hình thành

Cơ sở được thành lập năm 2000, dựa trên nền tảng là cơ sở chăn nuôi Long Nguyên Đến quý I năm 2005, cơ sở Long Nguyên chính thức được thành lập, lấy tên là “Công ty TNHH Gia Nam” Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất heo thịt cung cấp cho thị trường Ngoài ra công ty còn nuôi thêm đà điểu và các sấu, để lấy trứng và thịt

Sau hai năm hoạt động đến quý IV năm 2007, công ty TNHH Gia Nam chuyển nhượng lại cho công ty TNHH Long Châu Đồng Nai, cơ sở vẫn giữ nhiệm

vụ cung cấp heo thịt, trứng đà điểu và cá sấu thịt cho thị trường

Nái sinh sản : 707 con

Heo con theo mẹ : 705 con

Heo sau cai sữa : 1043 con

Heo thịt : 1606 con

2.1.4 Hệ thống chuồng trại

Trại gồm 2 khu chăn nuôi heo: khu 1 có 6 dãy, khu 2 có 9 dãy, khu nọc nằm dọc giữa khu 1 và khu 2, ngoài ra còn có khu vực nuôi đà điểu và nuôi cá sấu phía

Trang 17

sau khu chăn nuôi heo Chuồng xây dựng theo hướng đông tây, bố trí theo chiều dọc, so le nhau Tất cả chuồng nuôi đều dạng 2 mái lợp bằng tole, chuồng kín dành cho nái sinh sản, nọc, cai sữa Riêng heo thịt được nuôi ở kiểu chuồng hở

Nền chuồng heo con cai sữa, hai bên của ô chuồng nái đẻ thiết kế bằng nhựa cứng Nền chuồng nái mang thai, phần giữa ô chuồng nái đẻ, đực giống, heo thịt làm bằng xi măng Trần nhà: nái đẻ, nái mang thai, đực giống, heo con cai sữa căng

la phông bằng bạt nilon, xung quanh là cửa kính có thể đóng mở được

Chuồng nái nuôi con: chuồng cá thể, mỗi ô gồm 03 phần: phần giữa làm bằng đan ximăng dành cho heo mẹ có các thanh chắn hạn chế heo mẹ đè heo con Hai phần ở 2 bên bằng nhựa cứng dành cho heo con gồm 1 phần to và 1 phần nhỏ

Ở cuối ô chuồng phía phần to là nơi úm heo con Chuồng nái mang thai, cái hậu bị chờ phối làm bằng lồng sắt đặt trên nền đan ximăng, có máng ăn bằng thiếc cứng và vòi uống tự động riêng ở mỗi đầu chuồng Ở khu 1 nái cai sữa về được nhốt tập trung ở khu vực bên ngoài, không nằm trong dãy chuồng

2.1.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng

2.1.5.1 Thức ăn

Trại sử dụng thức ăn của công ty Thức ăn gia súc Long Châu, Đồng Nai, cho

ăn theo từng lứa tuổi, giai đoạn mang thai Riêng heo con từ tập ăn đến cai sữa và 2

tuần sau cai sữa ăn cám Right - Track Red của công ty Cargill

Định mức thức ăn và thành phần dinh dưỡng của từng loại thức ăn được

phân theo từng giai đoạn phát triển của heo, được trình bày chi tiết ở phần phụ lục 2.1.5.2 Nước sử dụng

Nước uống lấy từ nguồn nước giếng khoan, được bơm lên bồn chứa rồi theo

hệ thống ống dẫn tới các dãy chuồng cho heo uống bằng núm uống tự động gắn ở đầu mỗi ô chuồng và sử dụng vào việc vệ sinh sát trùng chuồng trại

2.1.5.3 Quy trình chăm sóc heo trong trại

Nái mang thai

Công nhân cho nái ăn 2 lần/ngày, lúc 7 giờ 15 và 15 giờ Lượng thức ăn cho

ăn tùy theo giai đoạn nái mang thai, tùy theo thể trạng của nái Sau khi cho ăn, dọn

Trang 18

phân trên nền chuồng, rửa sạch máng ăn của nái, rửa sạch sàn chuồng Nái mang thai được tắm 2 lần/tuần, tắm vào buổi sáng sau khi cho ăn xong Nái mới cai sữa

về nhốt ở khu vực riêng được tắm mỗi ngày

Quan sát heo phát hiện heo bệnh, bỏ ăn, viêm đường sinh dục, nghi không đậu thai hoặc không đậu thai, viêm khớp, đau móng vào đầu buổi sáng và đầu giờ trưa mỗi ngày để điều trị kịp thời Đánh dấu nái bị viêm đường sinh dục, không đậu thai chuyển ra khu vực chờ phối hoặc tập trung ở một phần dãy chuồng để tiện cho việc theo dõi và điều trị Theo dõi thường xuyên, phát hiện nái lên giống lại và phối lại đúng lúc

Nái mang thai trước khi sinh 7 – 10 ngày so với dự kiến được chuyển từ dãy chuồng nái mang thai sang dãy chuồng nái đẻ Chuồng trống phải được rửa sạch, phun vôi sát trùng và bỏ trống vài ngày trước khi chuyển nái đến

Nái đẻ và nái nuôi con

Trước khi sinh 7 – 10 ngày nái được đưa lên chuồng đẻ, heo nái được cho

ăn thức ăn A 70 Giảm dần lượng thức ăn trên nái xuống còn khoảng 2 kg/con/ngày vào 3 ngày trước khi sinh và 1,0 – 1,5 kg/con/ngày trước khi sinh 1 – 2 ngày Khi nái có dấu hiệu sắp sinh, công nhân chuẩn bị bao bố mềm để lót ở phía sau nái và để lau heo con, chuẩn bị lồng úm, đèn úm, thuốc kháng sinh và thuốc trợ sức

Để cho nái đẻ bình thường, chỉ tiến hành các biện pháp can thiệp đối với những nái có dấu hiệu đẻ khó, khoảng cách đẻ giữa hai con lâu, nái rặn mạnh nhiều nhưng không ra con thì tiêm 40 – 50 UI Bio - oxytocin (1000UI), mát – xa bầu vú

mà heo vẫn không đẻ thì mới can thiệp bằng tay, móc heo

Tiêm Multibio (thành phần ampicilin, colistin, dexamethasone) sau khi nái

đẻ con đầu tiên Nái đẻ được 2 – 3 con thì tiêm mũi thứ nhất Bio - oxytocin liều 40 – 50 UI/nái Tiếp tục tiêm mũi thứ hai Bio - oxytocin khi nái đẻ được 7 – 8 con, liều chích giảm xuống 20 – 30 UI/nái Trợ sức cho những nái có biểu hiện rặn đẻ kém, mệt, thở nhiều bằng 500 – 1000 ml Glucose 5% kết hợp Bio - Cevit (thành phần Ascortic acid), kết hợp thêm với Bio – Calcimax trong trường hợp nái yếu hay run chân

Trang 19

Sau khi nái đẻ xong theo dõi tình hình ra nhau của nái tránh tình trạng sót nhau dễ gây viêm nhiễm tử cung Tùy vào tình trạng sức khỏe và sức ăn của nái mà công nhân quyết định cho nái ăn ít hay không ăn trong ngày nái sinh, sau đó tăng dần lượng thức ăn đến ngày thứ năm thì cho nái ăn tự do

Nái sau khi sinh ngày thứ 2 được tiêm Multibio, Bio - oxytocin liều 20 – 25 UI/2 lần/ngày Trong quá trình nuôi con, nếu nái có hiện tượng chảy dịch viêm (viêm tử cung), sốt thì tiêm Multibio liên tục trong 3 – 5 ngày tùy vào thể viêm Nái sốt thì hạ sốt cho nái bằng Bio - Cevit hoặc Bio - Anazin C (thành phần dipyron, vitamin C)

Heo con theo mẹ

Heo con sinh ra được lau sạch dịch nhờn trong miệng, rãi bột Mistral lên mình heo con để hạn chế mất nhiệt, đặt heo con vào lồng úm, cho heo con bú sữa đầu tự do Sau 24 giờ bấm răng, bấm đuôi, bấm số tai, cân trọng lượng và tiêm sắt cho heo con Tập ăn cho heo con vào ngày thứ 5 bằng cám Right - Track Red 1012 của công ty Cargill Sau 7 – 10 ngày thiến heo đực Tiêm vaccine Mycoplasma cho heo con 1 và 3 tuần tuổi

Heo con được cai sữa lúc 24 - 28 ngày tuổi tùy vào sức khỏe của mẹ và heo con Những con yếu, không đủ trọng lượng sẽ được giữ lại, ghép chung bầy để tiếp tục cho mẹ nuôi thêm 1 thời gian

Trong thời gian heo con theo mẹ, phải theo dõi hằng ngày để phát hiện kịp thời những heo con bị tiêu chảy, viêm phổi, viêm khớp và có liệu pháp điều trị thích hợp Định kỳ tiêm thuốc bổ Bio - B complex cho những heo con ốm yếu, còi cọc, những heo con mới qua điều trị nhằm tăng sức đề kháng của heo con

2.1.6 Quy trình vệ sinh và thú y

2.1.6.1 Quy trình vệ sinh sát trùng

Công nhân và khách thăm quan

Công nhân được trang bị quần áo và ủng bảo hộ lao động trong khi làm việc, trước khi xuống trại công nhân phải vào phòng thay đồ bảo hộ lao động, mang ủng Công nhân chỉ nên di chuyển trong khu vực được phân công chăm sóc, hạn chế từ

Trang 20

khu này sang khu khác khi không cần thiết Dẫm lên hố vôi sát trùng ở cửa ra vào

mỗi dãy khi ra vào dãy chuồng

Khách thăm quan phải thay đồ do trại phát, mang ủng Trước khi vào khu

vực chăn nuôi, khách phải dẫm vào hố vôi sát trùng và đi thăm quan các dãy

chuồng dưới sự hướng dẫn của quản lý hay nhân viên trại Xe ra vào trại được sát

trùng ngay đầu cổng trại

Chuồng trại

Định kỳ phun thuốc sát trùng 2 lần/tuần với các loại thuốc sát trùng như

biodine, bioxide, TH4…với nồng độ tuỳ vào hướng dẫn của từng thuốc và có sự

luân phiên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh sự đề kháng của mầm bệnh đối

với thuốc sát trùng Phát quang bụi rậm xung quanh trại, vệ sinh hố sát trùng, cống

rãnh

2.1.6.2 Quy trình thú y

Quy trình tiêm phòng cho đàn heo của trại được trình bày qua Bảng 2.1

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn heo của trại

Loại heo Ngày tuổi Phòng bệnh Loại vaccine Liều dùng

ml/con

Nái mang thai

5 tuần trước khi sinh

4 tuần trước khi sinh 4,5 tuần trước khi sinh

3 tuần trước khi sinh

2 tuần trước khi sinh

1 tuần trước khi sinh

FMD Mycoplasma Giả dại E.coli Dịch tả

Ký sinh trùng

Aftopor

M + Pac Porcilis Begonia Porcilis Porcoli Colapest Ivermectin

Nái nuôi con 2 tuần sau khi sinh

2,5 tuần sau khi sinh

PRRS Parvovirus

Porcilis PRRS Porcilis Parvo

2

2

Trang 21

2.2 TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ NÁI MANG THAI

2.2.1 Sự thành thục và động dục

2.2.1.1 Sự thành thục

Heo cái tơ trưởng thành sinh dục ở khoảng 5 – 7 tháng tuổi, heo cái bắt đầu động dục, giống heo nội có thể động dục sớm hơn Lần động dục đầu tiên thường có thể không rõ trên một số cá thể, khoảng cách giữa hai lần động dục là 21 ngày Khi động dục nái thường bỏ ăn, đi lại ngẩn ngơ trong chuồng, hay gặm máng phá chuồng và chồm nhảy lên lưng những con khác

2.2.2 Nuôi dưỡng chăm sóc nái mang thai

2.2.2.1 Sự mang thai

Theo Võ Văn Ninh (2006), sau khi phối giống 21 ngày không thấy nái động dục trở lại xem như đã mang thai Thời gian mang thai kéo dài từ 114 – 115 ngày Nếu nái mang thai nhiều con có khả năng sinh từ ngày 113, nếu ít con có thể sinh từ ngày 115 – 118 Nhưng nếu nái sinh sớm hơn ngày 108 heo con thường rất khó nuôi, dù cho có sữa nhưng con rất yếu, sức bú mẹ kém, tỷ lệ nuôi sống thấp

2.2.2.2 Giai đoạn nái mang thai

Căn cứ vào sự phát triển của thai có thể chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn chửa kỳ 1: thường kéo dài khoảng 60 ngày, thời kỳ này thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự trữ tạo sữa sau này Thiếu dưỡng chất trong thức ăn heo nái giai đoạn này ảnh hưởng xấu đến

Trang 22

sự phát triển của phôi thai, quá thừa sẽ làm nái mập mỡ Nái cai sữa quá gầy ốm lại không dự trữ đủ dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ bị thiếu sữa khi cho con bú trong lứa đẻ kế tiếp Do đó cần cung cấp thức ăn cho nái không chỉ đủ về số lượng mà còn phải đủ về chất lượng Vai trò tiểu khí hậu cũng rất quan trọng, nái cần được yên tĩnh, nhiệt độ ẩm độ chuồng nuôi thích hợp, với điều kiện nước ta độ ẩm trung bình

75 – 80% là đạt yêu cầu Nhiệt độ quá nóng làm nái tiêu thụ ít thức ăn có ảnh hưởng xấu đến thai và thai sống (Võ Văn Ninh, 2006)

Giai đoạn chửa kỳ 2: khoảng 54 – 55 ngày, thời kỳ này thai đã lớn sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu của mẹ để phát triển Thiếu dưỡng chất trong thức ăn của nái sẽ làm heo con sơ sinh nhỏ vóc, khó nuôi, tỷ lệ hao hụt cao Nhưng nếu quá

dư thừa dưỡng chất bào thai sẽ tăng trọng nhiều, trở nên lớn vóc làm cho nái đẻ khó,

đẻ không ra, phải can thiệp kéo thai móc thai gây tổn thương bộ phận sinh dục làm nái viêm nhiễm, mất sữa Vì vậy ở thời kỳ này cần phân nhóm nái theo thể vóc để cung cấp mức thức ăn thích hợp (Võ Văn Ninh, 2006)

2.3 MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN NÁI

2.3.1 Không đậu thai

Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai của con cái:

Ảnh hưởng từ con đực

Do di truyền hoặc do bẩm sinh, dịch hoàn đực bị ẩn, phát triển không bình thường (không phát triển, kém phát triển, phát triển quá mức hoặc bị teo) hay do đực bị lưỡng tính Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý, chuồng trại dơ bẩn thiếu ánh sáng, nhiệt độ chuồng nuôi quá nóng hoặc quá lạnh, khẩu phần dinh dưỡng không cân đối, khai thác đực quá dày hay quá thưa Tình trạng sức khỏe của đực, đực già tinh trùng giảm hoạt lực, đực nhiễm bệnh truyền nhiễm hoặc do đực đồng huyết với con cái

Ảnh hưởng từ con cái

Heo cái hậu bị

Do sai sót trong khâu chọn giống, chọn nhầm heo dị tật bẩm sinh, bộ phận sinh dục không phát triển, tắc nghẽn ống dẫn trứng Hoặc heo bị rối loạn nội tiết tố

Trang 23

làm chu kỳ động dục không đều Heo bị viêm nhiễm đường sinh dục

Nái sinh sản

Do bất thường trong sinh sản: thai to, xương chậu hẹp, nái đẻ khó làm xây sát

bộ phận sinh dục gây ra viêm nhiễm, làm cho nái chậm động dục lại pH âm đạo của nái và pH tinh dịch sai biệt lớn làm tinh trùng chết nhiều, hoặc do nái rối loạn nội tiết tố có chu kỳ sinh dục không đều Nái già, nái trên 7 – 8 lứa, nái viêm nhiễm hoặc do nái bị nhiễm bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai (Trần Văn

Dư, 2008)

Do chăm sóc nuôi dưỡng: sử dụng thuốc rửa tử cung không đúng nồng độ, thụt rửa tử cung không đúng kỹ thuật thuốc chảy ra ngoài không hết theo sừng tử cung đến ống dẫn trứng tiếp xúc với noãn sào làm noãn sào bị chai hoặc nang Theo

Hồ Thị Kim Hoa (2008), nhiệt độ tới hạn của heo xấp xỉ 280C, khi nhiệt độ không khí lên đến 320C heo nái giảm tỷ lệ thụ tinh 30 – 80%, chậm động dục hoặc không động dục, tỷ lệ rụng trứng giảm, tỷ lệ chết phôi tăng

2.3.2 Viêm đường sinh dục

Heo nái trong quá trình mang thai vẫn xảy ra tình trạng viêm đường sinh dục Hiện tượng viêm chảy mủ trong quá trình mang thai thường là do viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm đường tiết niệu Trong sản dịch viêm thường có sự xuất hiện

của vi khuẩn Staphylococcus, Streptococcus Dạng viêm này nếu nhẹ thì không ảnh

hưởng đến bào thai còn nặng có thể dẫn đến xảy thai trên nái Nếu xảy ra trong vài ngày sau khi phối, nái sẽ không đậu thai (Đỗ Cường Thịnh, 2005)

Công tác phối giống không đúng kỹ thuật nhất là phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, dụng cụ bơm tinh không được vô trùng, khi phối có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung gây viêm hoặc heo đực bị viêm đường sinh dục khi giao phối trực tiếp sẽ lây viêm sang con cái

2.3.3 Sẩy thai

Bạch Đăng Phong và Nguyễn Hữu Ninh (1994) cho rằng, tất cả các trường hợp thai bị tống ra trước ngày sinh bình thường được gọi là sẩy thai Sẩy thai là do sức sống của thai không mạnh, thai và các bộ phận phụ không bình thường, hoặc do

Trang 24

nái bệnh

Theo Nguyễn Văn Thành (2002), sẩy thai có thể do các nguyên nhân sau: Nguyên nhân truyền nhiễm, thú nhiễm các bệnh như Aujeszky’s, bệnh do

Parvovirus, Leptospirosis, Brucellosis Chuồng trại chật hẹp, thời tiết nắng nóng

có thể gây rối loạn sinh sản, gia tăng nguy cơ chết thai trong bụng mẹ

Một số nguyên nhân bên ngoài tác động gây sẩy thai như nhiễm trùng đường

sinh dục: viêm niêm mạc tử cung, viêm âm đạo do vi khuẩn như Staphylococus

aureus có sẵn trong chuồng nuôi hay lây nhiễm theo đường tinh dịch Nái già, đực

già ảnh hưởng đến khả năng sống của thai Nhiễm các độc chất, nấm mốc từ thức ăn hoặc từ không khí như nitrate chì, dioxide, CO Thú mang thai sẩy thai do bị trượt

té, bị rượt đuổi, chen lấn khi ăn uống, nhảy chuồng, cắn nhau hay stress Hoặc do khẩu phần thức ăn không đầy đủ chất dinh dưỡng như protein, vitamin, muối khoáng cũng gây sẩy thai

2.3.4 Viêm khớp

Theo Đặng Hồng Nhung (2000), viêm khớp là bệnh thường xảy ra trên cả heo con và heo trưởng thành Khớp thường mắc bệnh nhất là khớp khuỷu chân, viêm làm nhiễm trùng khớp và các mô xung quanh bởi vi khuẩn Ngoài ra còn có sự tham gia của các yếu tố khác như: mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất (tỷ lệ Ca/P không cân đối, thiếu vitamin D), chấn thương ở chân, thoái hóa xương hoặc có những thay đổi về khớp

Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997) nhận định rằng vi khuẩn

Streptococcus gây viêm khớp cấp tính và mãn tính cho heo mọi lứa tuổi Nhưng

bệnh thường xảy ra trên heo con và được coi là hội chứng yếu khớp kết hợp với hội chứng viêm rốn Mầm bệnh của viêm khớp thường được tìm thấy trong dịch âm hộ,

dịch đường hô hấp, sữa mẹ Streptococcus xâm nhập chủ yếu qua đường rốn, qua

những vết thương hở do chuồng trại quá nhám

2.4 VIÊM TỬ CUNG VÀ VIÊM VÚ TRÊN NÁI SAU KHI SINH

Trang 25

2.4.1 Viêm tử cung trên nái

Vào năm 1995, Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho cho rằng heo nái bị viêm

tử cung khi có chảy dịch, mủ từ đường sinh dục (âm môn) là dấu hiệu thường thấy khi heo nái bị viêm tử cung sau khi sinh thường kéo dài 3 – 7 ngày sau khi sinh Tùy thuộc vào mức độ của quá trình viêm mà dịch chảy ra có thể lẫn chất nhầy hay mủ Khi tử cung bị viêm sẽ tổn thương lớp niêm mạc, gây ảnh hưởng đến

sự phân tiết prostaglandin làm xáo trộn chu kỳ động dục trên nái sau khi sinh

2.4.1.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung

Do dinh dưỡng

Schenk Kolb (1962) cho rằng nếu thiếu vitamin A sẽ gây sừng hóa niêm mạc tử cung, làm giảm sức đề kháng niêm mạc tử cung, gây viêm tử cung Summer và Ringarb (1960) cho rằng khẩu phần dư đạm, heo nái mập trước và trong kỳ mang thai dễ gây nên hội chứng M.M.A (Metritis Mastitis Agalactiae) (trích dẫn Nguyễn Như Pho, 1995) Theo Trần Thị Dân (2003), ít uống nước làm cho nái phải dự trữ nước của cơ thể bằng cách hấp thu nước từ dịch chất trong lòng ruột, do đó heo nái có thể bị bón là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A

Do vi sinh vật

Đa số các tác giả cho rằng hội chứng M.M.A không phải là nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm Những vi sinh vật phân lập được đều là vi sinh vật cơ hội, có sẵn trong môi trường xung quanh, chuồng trại, nước tiểu, phân Sau khi sinh, nái thường mệt, giảm sức đề kháng, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung bị tổn thương, là điều kiện tốt cho chúng xâm nhập vào bộ phận sinh dục gây viêm nếu chuồng trại kém vệ sinh Theo Nguyễn Văn Thành (2002) và Võ Thị Minh Châu (2004), vi

sinh vật trong dịch viêm tử cung heo chủ yếu là Streptococci, E.coli,

Staphylococci

Do quản lý chăm sóc

Theo Frienes (1970), những yếu tố liên quan đến chăm sóc quản lý như môi trường, stress, dinh dưỡng sẽ làm giảm sức đề kháng, heo dễ mắc bệnh hơn (trích dẫn bởi Đặng Đào Thùy Dương, 2006) Đặng Đức Thiệu (1978), cho rằng nái thiếu

Trang 26

vận động hoặc bị stress do nhốt chung quá đông, vệ sinh kém, sự thay đổi đột ngột của điều kiện môi trường trong thời gian đẻ dễ đưa đến hội chứng M.M.A (trích dẫn bởi Huỳnh Thị Sao Ly, 2006)

Do sinh đẻ không bình thường

Heo nái đẻ khó do thai quá lớn, vị trí bào thai không bình thường, cấu tạo xương chậu hẹp, heo nái mập mỡ, heo rặn nhiều, tự gây tổn thương trên đường sinh dục Nái biếng rặn hoặc rặn yếu, thời gian đẻ kéo dài, tổn thương bộ phận sinh dục do can thiệp bằng tay của người đỡ đẻ không đúng…, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển (Nguyễn Văn Út, 2007)

Theo Đặng Khắc Thiệu (1978), nái sau khi sinh bị sót nhau rất dễ đưa đến chứng mất sữa và nhiễm trùng tử cung Nhau và thai bị sót sẽ bị thối rữa trong

tử cung từ 24 – 48 giờ là môi trường tốt cho vi sinh vật phát triển và gây viêm tử cung (trích dẫn bởi Huỳnh Thị Sao Ly, 2006)

2.4.1.2 Phân loại các dạng viêm tử cung

Viêm dạng nhờn

Viêm nhờn là thể viêm nhẹ thường xuất hiện từ 1 – 3 ngày sau khi sinh

Ở dạng này niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch nhờn trong hoặc đục, lợn cợn có mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần, đặc lại Heo nái không sốt hay sốt nhẹ, nái vẫn cho con bú bình thường Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sức khỏe của heo nái cũng như sự phát triển của đàn heo con (Nguyễn Như Pho, 2002)

Trang 27

Viêm dạng mủ

Dạng viêm mủ là thể viêm nặng, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều hoặc do viêm tử cung dạng nhờn kế phát Heo nái thường sốt 40 – 41oC, nái tăng hô hấp, kém ăn và thường nằm nhiều Lúc đầu dịch viêm lỏng, trắng đục sau chuyển sang nhầy đặc, lợn cợn, có màu vàng, xanh đặc, có khi có lẫn máu, mùi rất hôi tanh, viêm thường kéo dài 3 – 4 ngày và có thể đến 7 ngày Sau đó xuất hiện mủ đặc, dính mép âm hộ Nếu không can thiệp kịp thời nó sẽ chuyển sang dạng viêm rất nặng, dẫn đến viêm vú và mất sữa

Viêm mủ lẫn máu

Theo Nguyễn Văn Thành (2002), dạng viêm mủ lẫn máu là viêm niêm mạc

tử cung có màng giả và thể viêm nặng, niêm mạc tử cung bị hoại tử, vết thương ăn sâu vào cổ tử cung Nái sốt ở 40 – 41oC, không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn, tăng tần số hô hấp, khát nước, mệt mỏi, hay nằm, kém phản ứng với tác động bên ngoài, đôi khi đè cả con Nái có thể chết do nhiễm trùng máu, dịch viêm có mùi rất tanh Thành tử cung viêm nặng dễ rách, các tiết vật và chất tiết có màu xám đen lẫn máu hay tế bào

2.3.1.3 Tác hại của viêm tử cung

Nái suy yếu, giảm sức đề kháng, giảm sản lượng sữa, ít cho con bú và hay

đè con Tổ chức tế bào tử cung thay đổi làm giảm khả năng sinh sản của nái ở các lứa đẻ tiếp theo Nái khó đậu thai, thai dễ bị hư, khả năng nuôi con cũng không bình thường Nái bị viêm vú làm giảm sản lượng sữa nên heo con đói, khát, còi cọc, giảm tăng trọng Heo con liếm phải sản dịch viêm của mẹ gây ra tiêu chảy

Khi viêm thì các tế bào niêm mạc tử cung bị thay đổi, làm ảnh hưởng đến sự phân tiết prostagladin ở tử cung, làm giảm sự phân tiết prostagladin dẫn đến tồn thể vàng sau khi sinh gây chậm lên giống sau cai sữa

Mặt khác viêm tử cung còn làm cho niêm mạc tử cung bị biến đổi về mặt mô học, xơ hóa, điều này làm hạn chế sự định vị của thai, do đó làm giảm năng suất sinh sản của heo ở các lứa sau Nếu quá trình viêm kéo dài, sự xơ hóa xảy ra trên một diện tích lớn, viêm có thể lây lên phía trên gây viêm dính và xơ hóa ống dẫn

Trang 28

trứng là nguyên nhân gây vô sinh

2.3.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung

Phòng ngừa

Vệ sinh chuồng trại và thân thể nái tốt, tạo điều kiện môi trường sống phù hợp cho nái trong giai đoạn mang thai và sinh đẻ Đồng thời tăng sức đề kháng cho nái bằng cách bổ sung vitamin A, E, C, muối khoáng, chất xơ cùng với chế

độ ăn uống hợp lý sẽ giảm thiểu được viêm tử cung

Nguyễn Như Pho (2002) cho rằng chuồng trại sạch sẽ, vệ sinh thân thể nái trước khi sinh, thụt rửa tử cung sau khi sinh, sử dụng nguồn nước sạch và cung đầy đủ nước cho nái giúp làm giảm đáng kể tỷ lệ viêm tử cung

Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1995) báo cáo sử dụng tetracycline hay phối hợp tetracycline và streptomycine chích cho nái một lần trước khi sinh có tác dụng ngừa bệnh

Điều trị

Việc điều trị phải tiến hành càng nhanh càng tốt khi nái có dấu hiệu sốt cao

và tiết dịch viêm Bệnh được điều trị kịp thời sẽ mau khỏi và ít ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái Sự chậm trễ trong việc điều trị sẽ dẫn đến kéo dài thời gian điều trị, tử cung bị tổn thương nặng, độc tố vi khuẩn vào máu gây nhiễm trùng máu và nái có thể chết

Thụt rửa tử cung cho nái viêm bằng các dung dịch thụt rửa phù hợp để loại

bỏ bớt dịch viêm ra ngoài Sử dụng kháng sinh phổ rộng như enrofloxacine, norfloxacin, nhóm tetracycline, hỗn hợp penicillin và streptomycine tiêm cho nái

Nái sốt cao, hạ sốt cho nái bằng thuốc hạ sốt và cấp vitamin C, truyền dịch

để tăng cường sức đề kháng cho nái

2.4.2 Viêm vú trên nái

Trường hợp này ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú có thể xảy ra ở một hoặc vài vú hoặc cả bầu vú bị viêm sưng cứng, màu đỏ bầm, khi ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa, sữa bị lợn cợn hoặc có lẫn máu Nếu chữa trị không kịp thời, vú bị teo lại, mất sữa, đôi khi còn xơ hoá, mất khả năng cho sữa

Trang 29

2.4.2.1 Nguyên nhân gây viêm vú

Viêm vú thường xảy ra do sự chăm sóc quản lý không tốt tạo điều kiện cho

sự kế phát nhiễm trùng Nền chuồng nhám hay heo con sơ sinh không được bấm răng kỹ làm tổn thương núm vú hoặc do nái ăn nhiều đạm sữa được tiết nhiều, heo con bú không hết tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào bầu vú và gây viêm

Viêm vú thường do nhiều yếu tố tác động nhưng chủ yếu là do nhiễm

trùng kế phát các vi sinh vật như E coli, Klebsiella spp., Enterobacter spp.,

Citrobacter spp., Staphylococcus spp., và Pseudomonas aeruginosa Hầu hết

những vi sinh vật kể trên là những vi sinh vật cơ hội có trong môi trường xung quanh nái, chúng lợi dụng khi bầu vú tổn thương sẽ xâm nhập vào bầu vú gây

Bấm răng heo con sơ sinh để tránh tổn thương bầu vú Đối với nái nhiều sữa cần tiến hành ghép bầy khi nái nuôi con ít để tránh tồn đọng sữa dư gây viêm

vú Điều trị tích cực khi nái bị viêm tử cung dạng mủ hoặc các vết thương trên bầu vú nếu có để tránh viêm kế phát

Điều trị

Viêm vú không được điều trị hợp lý sẽ dẫn đến xơ hóa teo bầu vú, giảm sản lượng sữa ở kỳ sau Trường hợp heo nái bị viêm vú gây kém sữa sau khi sinh có thể sử dụng oxytocin để sự xuống sữa được dễ dàng hơn giúp cho heo con bú được sữa đầu Để điều trị có kết quả cần tiến hành cấp thuốc sớm, nên sử dụng các loại kháng sinh mẫn cảm với vi khuẩn gây bệnh Theo Nguyễn Như Pho (2002), các kháng sinh hiệu quả trong điều trị viêm vú là ampicillin, cephalexin,

Trang 30

gentamycin, norfloxacin, kết hợp với corticoid để làm giảm viêm

2.5 TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ

2.5.1 Nguyên nhân gây tiêu chảy

Do heo mẹ

Theo Nguyễn Như Pho (1995), heo con bú sữa có sản vật viêm hoặc liếm dịch viêm tử cung rơi vãi trên nền chuồng dẫn tới tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa heo con bú ít hoặc không được bú sữa đầu thường có sức đề

kháng kém cũng dễ phát sinh bệnh Ngược lại, ở những đàn heo có heo mẹ tốt sữa,

heo con bú nhiều sữa không tiêu hóa kịp tạo môi trường thuận lợi cho những vi

sinh vật có hại gây bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ (Võ Văn Ninh, 2006)

Do heo con

Bộ máy tiêu hóa heo con trong những ngày đầu chưa hoàn thiện về chức năng và cấu trúc, các men tiêu hóa chưa đầy đủ làm cho pH trong dịch đường tiêu hóa cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn độc hại phát triển và gây bệnh Mặt khác heo con thiếu sắt (Fe) dẫn đến thiếu máu làm giảm sức đề kháng hoặc heo con

bị viêm rốn do E.coli dẫn đến tiêu chảy (Kvanhixki, 1960; dẫn liệu của Nguyễn

Như Pho, 1995)

Ở heo con sơ sinh lớp mỡ dưới da rất ít và thiếu mỡ nâu nên khả năng sản sinh nhiệt kém Khi stress lạnh kéo dài, heo con dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2003)

Theo Võ Văn Ninh (2006), thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu chảy Hoặc do heo con hay liếm nước đọng trên nền chuồng, ăn thức ăn của heo mẹ, bộ máy tiêu hóa không tiêu hóa được dẫn tới rối loạn gây tiêu chảy

Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Do thiết kế chuồng trại không phù hợp làm ẩm ướt, mưa tạt gió lùa, nền chuồng ẩm ướt, sự biến đổi đột ngột của thời tiết đều có thể gây tiêu chảy

Theo Nguyễn Như Pho (1995), do bấm răng không kỹ, khi bú heo con làm trầy vú mẹ và heo con bú sữa của vú bị viêm Hoặc do quản lý, chuyển chuồng, nhập tác đàn gây stress cho heo heo cũng gây tiêu chảy (Huỳnh Thị Sao Ly, 2006)

Trang 31

Do vi sinh vật

Vi khuẩn: gồm hai nhóm chính, đó là nhóm vi khuẩn thường trú trong ống

tiêu hóa như E.coli, Samonella, Klebsiella, Proteus … nhóm vi khuẩn tạp nhiễm đồng hành với thức ăn, nước uống và đường tiêu hóa như Staphylococci,

Streptococci…

Virus: người ta cũng chứng minh được virus là một tác nhân gây tiêu chảy,

thường thấy là Rotavirus, Enterovirus, Coronavirus …

Ký sinh trùng: tác động qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công

2.5.2 Phòng ngừa và điều trị bệnh

Phòng ngừa

Hiện nay có rất nhiều khuyến cáo về các biện pháp phòng tiêu chảy trên heo con Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), để phòng chống tiêu chảy cho heo con cần: (1)giữ ấm cho heo con, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ khô ráo tránh làm ướt lạnh heo heo mới sinh, (2) chế độ dinh dưỡng phù hợp cho nái lẫn heo con, hạn chế stress cho heo, (3) tiêm phòng cho nái, heo con đầy đủ

Nguyễn Như Pho (1995), cho rằng nên chích sắt cho heo con đúng liệu trình, tập ăn sớm cho heo con, bổ sung vào thức ăn các chế phẩm sinh học như: Biolactyl

(Lactobicillus acidophilus, Lactobacillus casei), Biosubtyl (Bacillus subtilis)

nhằm ức chế vi khuẩn gây bệnh và kích thích vi khuẩn có lợi phát triển Thường xuyên sát trùng chuồng trại, khử trùng nguồn nước nhằm hạn chế sự hiện diện của một số loại vi khuẩn

Điều trị

Ngay sau khi phát hiện heo tiêu chảy nên điều trị nhanh và tích cực Theo Nguyễn Như Pho (1995), cần cung cấp năng lượng, chất điện giải và sinh lý ngọt, cấp vào xoang bụng Tiêm hoặc cho uống kháng sinh để ngăn chặn vi sinh vật có hại phát triển, cấp vitamin và bổ sung khoáng chất Sau khi bệnh giảm và ngưng liệu trình kháng sinh được 24 giờ thì nên dùng các chế phẩm vi

Trang 32

sinh như: Biolactyl, Biosubtyl… cho heo uống để phục hồi hệ vi sinh vật đường ruột Trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, vệ sinh sạch sẽ chuồng trại giữ chuồng luôn khô ráo

2.6 LƯỢC DUYỆT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.6.1 Công trình nghiên cứu một số bệnh trên nái mang thai

Đỗ Cường Thịnh (2005) “Khảo sát các bệnh trên heo nái trong giai đoạn mang thai và một số chỉ tiêu trên heo con sơ sinh” Qua khảo sát 72 nái tác giả kết luận rằng bệnh xảy ra trong giai đoạn mang thai là sẩy thai, viêm khớp, viêm đường sinh dục Tỷ lệ ca bệnh là 23,61% trên tổng số nái khảo sát, bệnh thường xảy ra nhất là sốt – bỏ ăn chiếm 23,53%, viêm khớp 17,65%, sẩy thai, viêm đường sinh dục và tiêu chảy là 11,76% Tỷ lệ bệnh cao nhất ở lứa 4 trở lên

Mai Hiếu Ngọc (2005) “Khảo sát bệnh trên nái trong thời gian mang thai và

sự liên quan đến một số chỉ tiêu trên heo con sơ sinh của xí nghiệp chăn nuôi heo huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang” cho biết tỷ lệ nái mắc bệnh trên 261 nái khảo sát

là 18%, sẩy thai, viêm khớp 11,5%, viêm đường sinh dục 1,92% Nái lứa 2 bỏ ăn – sốt cao nhất 85,71%, tỷ lệ tiêu chảy cao nhất ở lứa 1 (33,33%) và viêm đường sinh dục cao nhất lứa 4 trở lên (16,13%)

2.6.2 Công trình nghiên cứu viêm tử cung, viêm vú trên nái sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ

Đặng Đào Thùy Dương (2006) “Tình hình viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại Bàu Lâm” cho biết tỷ lệ viêm tử cung trên nái là 25,21%, viêm nhờn 18,72%, viêm mủ là 6,4% Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở nhóm nái bình thường là 4,84%, nái viêm nhờn 5,69% và nái viêm dạng mủ là 5,74% Kết quả phân lập 10 mẫu dịch viêm tử cung giống với các tác giả trên, trong đó 70% mẫu chứa 1 loại vi khuẩn, 30% mẫu chứa 2 loại vi khuẩn và

100% mẫu phân heo con tiêu chảy có sự hiện diện của E.coli

Nguyễn Văn Út (2007) “Tình hình viêm tử cung, viêm vú heo nái, tiêu chảy heo con theo mẹ và thử nghiệm phòng viêm tử cung, viêm vú heo nái bằng Oxytetracycline L.A”, qua khảo sát 74 nái và con của những nái này, tác giả cho

Trang 33

biết tỷ lệ viêm tử cung trên nái sau khi sinh là 43,24% không có trường hợp viêm

vú, viêm tử cung dạng nhờn chiếm tỷ lệ cao nhất 78,13% và tỷ lệ viêm cao nhất ở lứa 3, 4 trở lên (57,89%), lứa 1 không ghi nhận đực trường hợp viêm nào Tỷ lệ ngày con tiêu chảy cao nhất ở nhóm nái viêm mủ máu (11,37%), thấp nhất ở nái ình thường (5,94%) Kết quả phân lập có 13/15 mẫu dịch viêm tử cung dương tính với

sự có mặt của vi khuẩn E.coli, Staphylococcus spp, Streptococcus spp, trong đó chỉ duy nhất có norfloxacine là nhạy cảm với Streptococcus spp còn các kháng sinh

còn lại chỉ đạt mức trung gian hoặc đã bị đề kháng

Nguyễn Văn Nhiều (2010) “Khảo sát bệnh viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh và tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi súc sản Đồng Tiến Thành phố Cần Thơ”, sau khi khảo sát 105 nái ghi nhận kết quả như sau: tỷ lệ viêm tử cung là 36,18%, trong đó viêm nhờn 19,04%, viêm dạng mủ chiếm 17,14% và không ghi nhận được tình trạng viêm vú trên nái sau khi sinh Và

tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở nái bình thường là 0,94%, nái viêm nhờn 3,74% còn nái viêm mủ là 9,78%

Nhận xét chung: Sau khi tìm hiểu một số công trình nghiên cứu liên quan

đến các chứng/bệnh trên nái sinh sản và tiêu chảy trên heo con theo mẹ, chúng tôi nhận thấy tình hình bệnh trên nái sinh sản qua nhiều đợt (nhiều năm) khảo sát của nhiều tác giả tại nhiều địa điểm khác nhau vẫn duy trì ở mức độ cao (bệnh trên nái trong giai đoạn mang thai dao động từ 18 – 23,16%, bệnh trên nái sau khi sinh từ 25,12 – 43,24%) và tỷ lệ ngày con tiêu chảy của heo con theo mẹ trên nái sau khi mắc bệnh cao hơn trên nái bình thường Vi khuẩn phân lập được trong mẫu dịch viêm trên nái và mẫu heo con tiêu chảy có xu hướng ngày càng đề kháng với nhiều loại kháng sinh Vì vậy để hiểu rõ hơn về các bệnh sinh sản thường xảy ra trong giai đoạn nái mang thai và nái nuôi con, ảnh hưởng của bệnh trên nái đến sinh trưởng và phát triển của heo con để có biện pháp phòng và điều trị hiệu quả nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này

Trang 34

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT

Thời gian: đề tài được tiến hành từ 22/02/2010 đến 22/06/2010

Địa điểm khảo sát: trại chăn nuôi heo công nghiệp, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Địa điểm xét nghiệm: Bệnh viện Thú Y trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

Khảo sát 216 nái mang thai được phối từ 01/01/2010 đến 30/04/2010

Khảo sát 60 nái đẻ của 216 nái mang thai khảo sát trên

Heo con theo mẹ của 60 nái được khảo sát

3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT

(1) Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ của trại nái mang thai và trại nái đẻ

(2) Khảo sát một số chứng/bệnh trên nái trong giai đoạn mang thai

(3) Khảo sát tình hình viêm tử cung và viêm vú trên nái sau khi sinh

(4) Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và tình hình tiêu chảy trên heo con

Trang 35

3.4.1.2 Phương pháp tiến hành

Để tiến hành đo nhiệt độ và ẩm độ của trại, chúng tôi đặt ở mỗi trại 1 nhiệt

kế, ẩm kế, đặt ở giữa chuồng cách nền 1,5 m Ghi nhận nhiệt độ và ẩm độ 3 lần trong ngày: sáng 7 giờ - 7 giờ 30 phút, trưa 12 giờ 45 phút – 13 giờ 15 phút, chiều

16 giờ 45 phút – 17 giờ 15 phút, liên tục trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Sau đó chúng tôi tính nhiệt độ, ẩm độ trung bình của mỗi ngày, trung bình của tuần, của tháng, từ đó đánh giá ảnh hưởng của tiều khí hậu chuồng nuôi đến tỷ

lệ bệnh trên nái và heo con

3.4.1.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chỉ tiêu theo dõi

- Nhiệt độ trung bình trong ngày (NĐTBTN)

- Nhiệt độ trung bình trong tuần (NĐTBTT)

- Nhiệt độ trung bình trong tháng (NĐTBTTh)

- Ẩm độ trung bình trong ngày (AĐTBTN)

- Ẩm độ trung bình trong tuần (AĐTBTT)

- Ẩm độ trung bình trong tháng (AĐTBTTh)

Công thức tính

NĐTBTN (0C) = (Tổng nhiệt độ khảo sát trong ngày/số lần khảo sát)

NĐTBTT (0C) = (Tổng nhiệt độ trung bình các ngày trong tuần/7)

NĐTBTTh (0C) = (Tổng nhiệt độ trung bình các ngày trong tháng/số ngày của tháng)

AĐTBTN (%) = (Tổng ẩm độ khảo sát trong ngày/số lần khảo sát)

AĐTBTT (%) = (Tổng ẩm độ trung bình các ngày trong tuần/7)

AĐTBTTh (%) = (Tổng ẩm độ trung bình các ngày trong tháng/số ngày của tháng)

3.4.2 Khảo sát một số chứng bệnh trên nái trong giai đoạn mang thai

3.4.2.1 Phương pháp khảo sát

Ghi nhận thông tin liên quan đến nái (số tai, giống, lứa đẻ), tình trạng bệnh của nái từ lúc phối giống đến lúc chuyển đẻ của nái Quan sát biểu hiệu của nái, nền chuồng, chỗ nái nằm, mông đuôi, màu sắc, dịch âm hộ để phát hiện nái viêm, sẩy

Trang 36

thai, nái lên giống vào mỗi buổi sáng, trưa, chiều Quan sát tình trạng nái: mức độ

ăn uống, thân nhiệt, tình trạng sức khỏe của nái

3.4.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ từng loại bệnh trên nái (TLTLBTN)

- Tỷ lệ bệnh trên nái theo lứa

- Tỷ lệ nái mắc chứng/bệnh vẫn đậu thai

Công thức tính

TLTLBTN (%) = (Số heo nái bị bệnh/ Tổng số heo nái khảo sát) x 100

Tỷ lệ nái bệnh theo lứa (%) = (Số nái bệnh theo lứa/ Tổng số heo nái khảo sát theo lứa) x100

Tỷ lệ nái mắc chứng/bệnh vẫn đậu thai (%) = (Số nái mắc chứng bệnh vẫn đậu thai/Tổng số nái mắc chứng/bệnh đó) x 100

3.4.3 Khảo sát tình hình viêm tử cung và viêm vú trên nái sau khi sinh

3.4.3.1 Phương pháp khảo sát

Ghi nhận thông tin liên quan đến nái (số tai, giống, lứa đẻ), tình trạng bệnh tật của nái sau khi được đưa lên chuồng đẻ Quan sát nền chuồng, chổ nái nằm, mông, đuôi, mép âm hộ để phát hiện nái viêm Kiểm tra bầu vú của nái, quan sát heo con đang bú, tình trạng heo con hằng ngày để biết heo mẹ có bị kém sữa, mất sữa hay không Quan sát tình trạng nái: mức độ ăn uống, thân nhiệt tình trạng sức khỏe của nái 5 ngày liên tục sau khi sinh Đồng thời quan sát kiểm tra ghi nhận số heo con tiêu chảy trong mỗi ô chuồng theo thể trạng nái

3.4.3.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ nái viêm tử cung

- Tỷ lệ nái theo dạng viêm

- Tỷ lệ nái viêm vú

- Tỷ lệ nái viêm theo lứa đẻ

Trang 37

Công thức tính

Tỷ lệ nái viêm tử cung (%) = (Số nái viêm tử cung/Số nái đẻ khảo sát) x 100

Tỷ lệ nái theo dạng viêm (%) = (Số nái viêm theo dạng viêm/Số nái viêm) x 100

Tỷ lệ nái viêm vú (%) = (Số nái viêm vú/Tổng số nái đẻ khảo sát) x 100

Tỷ lệ nái viêm theo lứa đẻ (%) = (Số nái viêm theo lúa đẻ/Số nái đẻ khảo sát theo lứa đẻ) x 100

3.4.4 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ

3.4.4.1 Dụng cụ

Cân đồng hồ để cân trọng lượng heo con

3.4.4.2 Phương pháp khảo sát

Sau khi nái đẻ xong tiến hành ghi nhận số heo sinh ra trong cùng một ổ Sau

24 giờ cân heo con và ghi lại trọng lượng heo con sơ sinh bình quân, số con chọn nuôi trên ổ Khi cai sữa cân và ghi nhận số con và trọng lượng cai sữa bình quân trên ổ lúc 24 ngày tuổi

Quan sát, kiểm tra tình hình tiêu chảy của heo con vào đầu mỗi buổi sáng trước khi dọn vệ sinh bằng cách quan sát toàn đàn sau đó quan sát từng con, đọc

số tai ghi nhận số heo con tiêu chảy trong mỗi ô chuồng theo thể trạng nái

3.4.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ ngày con tiêu chảy (TLNCTC)

- Tỷ lệ nuôi sống (TLNS)

- Trọng lượng sơ sinh bình quân (TLSSBQ)

- Trọng lượng cai sữa bình quân (TLCSBQ)

Công thức tính

TLNCTC (%) = (Tổng số ngày con tiêu chảy/Tổng số ngày con nuôi) x 100

TLNS (%) = (Tổng số con còn sống lúc 24 ngày/Tổng số con chọn nuôi) x 100 TLSSBQ (kg) = (Tổng trọng lượng sơ sinh/Tổng số con sơ sinh) x 100

TLCSBQ (kg) = (Tổng trọng lượng sơ sinh/Tổng số con cai sữa) x 100

Trang 38

3.4.5 Phân lập và thử kháng sinh đồ của một số vi khuẩn trong mẫu dịch viêm

tử cung và mẫu phân heo con tiêu chảy

3.4.5.1 Dụng cụ và hóa chất

Bông gạc, cồn 700, tăm bông vô trùng, găng tay vô trùng

Môi trường vận chuyển Carry Blair

3.4.5.2 Phương pháp tiến hành

Số lượng mẫu

Do điều kiện hạn chế, chúng tôi chỉ lấy 05 mẫu dịch viêm đường sinh dục trên nái mang thai bị viêm đường sinh dục, 05 mẫu dịch viêm tử cung trên nái sau khi sinh bị viêm tử cung Tất cả mẫu được lấy trước khi điều trị bằng kháng sinh Riêng 05 mẫu phân heo con theo mẹ bị tiêu chảy thì có 03 mẫu lấy từ heo con tiêu chảy phân vàng hoặc trắng, được lấy ở giai đoạn mới bắt đầu tiêu chảy chưa điều trị bằng kháng sinh, 02 mẫu còn lại lấy từ mẫu ruột heo con tiêu chảy nặng mới vừa chết (đã điều trị kháng sinh)

Cách lấy mẫu và bảo quản mẫu

Mẫu dịch viêm tử cung nái mang thai và nái sau khi sinh

Xác định heo bị viêm tử cung dựa vào các dấu hiệu lâm sàng như: sốt, tiết dịch viêm (lỏng, nhờn đục hoặc lợn cợn, mủ đặc hay loãng có mùi hôi) chảy ra ngoài mà chưa rửa thuốc sát trùng hoặc chưa tiêm kháng sinh sẽ tiến hành lấy mẫu

Dùng nước rửa sạch bên ngoài âm hộ, sau đó sát trùng bằng bông gạc tẩm cồn 70o Mang găng tay vô trùng vào rồi dùng tay mở âm hộ ra đưa tăm bông vô trùng vào âm đạo ngoáy một vòng để lấy dịch viêm Lấy tăm bông ra, cắm tăm bông sâu vào ống nghiệm có môi trường vận chuyển Carry – Blair, đậy nút kín lại cho ngay vào thùng đá lạnh để bảo quản Thao tác nhẹ nhàng, dứt khoát tránh vấy nhiễm tạp khuẩn từ môi trường ngoài

Mẫu được bảo quản trong thùng đá (nhiệt độ bảo quản từ 4 – 80C), đưa về Bệnh Viện Thú y trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM Mẫu phải được ghi đầy đủ các chi tiết như kí hiệu mẫu, thời gian lấy mẫu, số tai của nái và dạng viêm tử cung

Trang 39

Mẫu phân heo con tiêu chảy

Chọn những heo con tiêu chảy phân lỏng, màu trắng, vàng hoặc xanh, đi phân điển hình trên toàn đàn và chưa điều trị kháng sinh

Lau sạch bên ngoài hậu môn, sau đó sát trùng bằng bông gạc tẩm cồn 70o, đưa tăm bông vô trùng vào trực tràng heo con xoay một vòng để lấy phân Lấy tăm bông ra, cắm sâu vào ống nghiệm có môi trường vận chuyển Carry – Blair, đậy nút kín lại cho ngay vào thùng đá lạnh để bảo quản

Ghi nhận, đánh dấu và ký hiệu mẫu, gửi về phòng thí nghiệm Bệnh Viện Thú

Y trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, yêu cầu phân lập vi sinh vật và thử kháng sinh đồ

3.4.5.3 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính

Chỉ tiêu theo dõi

- Các loại vi khuẩn phân lập được trong mẫu dịch viêm và mẫu phân heo tiêu chảy

- Tỷ lệ mẫu có vi khuẩn mẫn cảm với kháng sinh trong mẫu dịch viêm và mẫu phân Công thức tính

Tỷ lệ mẫu có vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh (%) = (Số mẫu có vi khuẩn mẫn cảm với kháng sinh/Số mẫu dương tính với vi khuẩn đó) x 100

3.4.6 Khảo sát hiệu quả điều trị bệnh trên nái của trại

3.4.6.1 Thuốc sử dụng

Sau đây là các loại thuốc mà trại đang sử dụng để điều trị bệnh cho nái

Trại nái mang thai: Bio Peni-strepto, Bio-Selevit E, Bio-Oxytocin, Ketovet, Bio-K, Bio-Anazin C, Glucose 5%

Trại nái đẻ: Multibio, Oxytocin, Cevit, Ananzin C, Calcimax, Bio - Bcomplex, Baytril 5%, Vimetryl, Glucose 5%

Bio-3.4.6.2 Phương pháp khảo sát

Theo dõi phương pháp, liệu trình, loại thuốc sử dụng, diễn biến lâm sàng và hiệu quả điều trị một số bệnh trên nái mang thai và nái nuôi con của trại và ghi nhận

tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tái phát

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm