1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) THÂM CANH TẠI HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN

87 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biết được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, các cấp chính quyền địa phương và nông hộ luôn chú trọng công tác quản lý chất lượng nước trong nuôi tôm..

Trang 1

TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN

TRẮNG (Penaeus vannamei) THÂM CANH TẠI

HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN

Thực hiện bởi

THÁI THỊ SINH

Khóa luận được đệ trình hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư Nuôi Trồng Thủy sản

Giáo viên hướng dẫn:

NGUYỄN THỊ BẠCH MAI

Thành phố Hồ Chí Minh

- 07/ 2010 -

Trang 2

TÓM TẮT

Đề tài “Tìm hiểu hiện trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)

thâm canh tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” đã được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2010

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp 50 hộ nuôi tôm tại ba

xã Quỳnh Xuân, Quỳnh Liên và Mai Hùng bằng biểu mẫu soạn sẵn để tìm hiểu, đánh giá tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Quỳnh Lưu Qua đó xác định những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Về kinh tế - xã hội: hộ nuôi tôm nằm trong khu quy hoạch nuôi trồng thủy sản của huyện và tỉnh Đất dùng để nuôi chủ yếu là đất giao khoán từ chính quyền địa phương Diện tích của các nông hộ từ 10.000 - 40.000 m2 là chủ yếu và chiếm 82 % tổng số hộ điều tra Các chủ hộ nuôi tôm có tuổi phân bố đều ở các lứa tuổi từ 28 - 60, trình độ học vấn của các nông hộ ở mức khá Giữa diện tích nuôi và lao động gia đình không thể hiện được mối quan hệ, ở đây nuôi với quy mô lớn nên lao động gia đình rất

ít Kinh nghiệm nuôi chủ yếu từ 4 – 7 năm phân bố đều ở các độ tuổi, chiếm 52%

Về kỹ thuật nuôi: Mặc dù chưa thực sự nắm vững được kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng, nhưng đã nắm bắt được một số kỹ thuất cơ bản và có nhiều kinh nghiệm nuôi tôm thâm canh Biết được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, các cấp chính quyền địa phương và nông hộ luôn chú trọng công tác quản lý chất lượng nước trong nuôi tôm Tại vùng điều tra, các bệnh tôm nuôi thường gặp phải là đốm trắng, đóng rong, đỏ đuôi…

Khó khăn trong nuôi tôm: Ý thức cộng đồng, tính tự giác của người dân chưa cao Khi ao nuôi bị bệnh, một số hộ đã xả trộm nước chưa được xử lý ra môi trường ngoài Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến các hộ nuôi khác và làm ô nhiễm môi trường Thị trường tôm ngày càng bấp bênh, nhất là giá tôm thẻ ngày càng giảm trong khi đó giá nguyên vật liệu trong nuôi tôm lại tăng cao Giá con giống tăng cao, chất lượng nguồn giống đôi lúc không ổn định Con giống sản xuất ra tại địa phương không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nuôi của bà con Khó vay vốn ngân hàng để phát triển nuôi

Trang 3

tôm Việc sản xuất chịu ảnh hưởng của thời tiết khá nhiều và dịch bệnh vẫn thường xảy ra và diễn biến phức tạp

Thuận lợi trong nuôi tôm: Nuôi tôm với quy mô lớn nên việc xây dựng cơ sở hạ tầng luôn được chú trọng, trang thiết bị được đầu tư kỹ lưỡng Khâu chuẩn bị ao đã được chú trọng nên dịch bệnh không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và năng suất của tôm nuôi (tính trên toàn khu vực được điều tra) Nguồn giống được các trại giống đưa

từ miền trung ra khá nhiều, được thuần dưỡng và bán cho dân nuôi Quy mô nuôi lớn nên ít bị thương lái ép giá

Về hiệu quả kinh tế: Kết quả điều tra cho thấy năng suất đạt được trung bình là 10.103 kg/ ha/vụ đã mang lại lợi nhuận trung bình cho các nông hộ là 191.756.000 đồng và thu nhập bình quân là 197.151.000 đồng

Trang 4

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh,

- Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Khoa Học, Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt khóa học

- Cô Nguyễn Thị Bạch Mai đã hướng dẫn, góp ý kiến trong quá trình làm đề tài

- Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn tỉnh Nghệ An, Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản tỉnh Nghệ An, Phòng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn huyện Quỳnh Lưu, Phòng Thống Kê huyện Quỳnh Lưu, các cô chú cán bộ trong ủy ban xã Quỳnh Xuân, Quỳnh Liên, Mai Hùng và các hộ nông dân đã nhiệt tình giúp đỡ cung cấp số liệu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

- Gia đình đã động viên và giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập, cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để con hoàn thành khóa luận này

- Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua và thời gian thực hiện đề tài này

Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên quyển khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang tựa

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình ix

Danh mục các biểu đồ x

Chương I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài: 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ Lược Về Tôm Thẻ Chân Trắng 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Phân bố 3

2.1.3 Chu kỳ sống của tôm 3

2.1.4 Một số đặc điểm sinh học và sinh sản của tôm thẻ chân trắng 4

2.1.5 Sinh trưởng 5

2.1.6 Điều kiện môi trường sống thích hợp cho tôm thẻ chân trắng 6

2.1.7 Một số bệnh thường gặp ở tôm thẻ chân trắng 6

2.2 Tình Hình Nuôi Tôm Trên Thế Giới 7

2.3 Tình Hình Nuôi Tôm Ở Việt Nam 8

2.4 Tình Hình Nuôi Tôm Ở Nghệ An 10

2.5 Điều Kiện Tự Nhiên và Kinh Tế Xã Hội Của Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An 11

2.5.1 Điều kiện tự nhiên 11

2.5.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội 15

2.6 Hiện Trạng Nuôi Thủy Sản Ở Huyện Quỳnh Lưu 17

2.6.1 Các mô hình nuôi thủy sản nước mặn lợ ở huyện Quỳnh Lưu 18

2.6.2 Tình hình nuôi tôm thẻ 20

Trang 6

2.6.3 Hậu cần dịch vụ thủy sản 21

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 23

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu 23

3.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 24

3.2.1 Phương pháp điều tra 24

3.2.2 Thu thập số liệu 24

3.3 Phương Pháp Phân Tích Kết Quả và Xử Lý Số Liệu 24

3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 24

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Một Vài Đặc Trưng Về Kinh Tế - Xã Hội Của Nông Hộ 26

4.1.1 Thông tin về nông hộ 26

4.1.2 Kinh nghiệm nuôi tôm của chủ hộ 31

4.1.3 Mối liên hệ giữa tuổi và kinh nghiệm nuôi 32

4.2 Các Đặc Trưng Về Kỹ Thuật Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Tai Quỳnh Lưu, Nghệ An 33

4.2.1 Điều kiện ao nuôi 33

4.2.2 Công tác chuẩn bị và cải tạo ao 39

4.2.3 Chọn giống 42

4.2.4 Mật độ và thời vụ thả 43

4.2.5 Chăm sóc và quản lý 44

4.2.6 Tình hình dịch bệnh tại khu vực điều tra năm 2009 49

4.2.7 Thu hoạch 49

4.3 Những thuận lợi và khó khăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Quỳnh Lưu50 4.3.1 Thuận lợi 50

4.3.2 Khó khăn 51

4.4 Hiệu Quả Kinh Tế 52

4.4.1 Mức đầu tư ban đầu cho một hecta nuôi tôm 52

4.4.2 Kết Quả -Hiệu Quả Kinh Tế Trên Một Hecta Nuôi Tôm 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGH 56

5.1 Kết Luận 56

Trang 7

5.1.2 Kỹ thuật 56

5.1.3 Thuận lợi – khó khăn và hiệu quả kinh tế trong nuôi tôm thẻ .57

5.2 Đề Nghị 57

5.2.1 Đối với cơ quan chức năng 57

5.2.2 Đối với nông hộ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Sự phân bố độ tuổi của các chủ hộ nuôi tôm 27

Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi tôm .28

Bảng 4.3 Số lao động của nông hộ trực tiếp nuôi tôm 29

Bảng 4.4 Mối liên hệ giữa diện tích và số lao động 30

Bảng 4.5 Mối liên hệ giữa tuổi và kinh nghiệm nuôi tôm 32

Bảng 4.6 Diện tích mặt nước của nông hộ 36

Bảng 4.7 Diện tích ao lắng của nông hộ 39

Bảng 4.8 Mật độ thả trong ao nuôi của các nông hộ 44

Bảng 4.9 các chỉ tiêu phù hợp cho tôm thẻ chân trắng 45

Bảng 4.10 Thông tin về các loại thức ăn sử dụng 48

Bảng 4.11 Sản lượng tôm của nông hộ 50

Bảng 4.12 Các khó khăn gặp phải trong quá trình nuôi tôm 51

Bảng 4.13 Các khoản đầu tư ban đầu cho 1 hecta ao nuôi tôm 52

Bảng 4.14 Chi phí sản xuất cho 1 hecta ao nuôi tôm 53

Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của 1 hecta ao nuôi tôm 54

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Sơ đồ Chu kỳ sống và phát triển của tôm thẻ chân trắng (theo Nguyễn Nhật

Phong, 2007) 4

Hình 2.2 Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản Nghệ An 10

Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng kinh tế xã hội huyện Quỳnh Lưu 23

Hình 4.1 Cách bố trí quạt trong ao hình vuông ở Quỳnh Lưu 34

Hình 4.2 Cách bố trí quạt trong ao hình chữ nhật 34

Hình 4.3 Ao lắng và hệ thống cống, ống bơm nước từ ao lắng qua ao nuôi 38

Hình 4.4 Nhãn hiệu Chlorine sử dụng 40

Hình 4.5 Loại phân gà thường sử dụng 41

Hình 4.6 Hỗn hợp phân ủ để gây màu 41

Hình 4.7 Chạy quạt cho ao nuôi tôm 46

Hình 4.8 Cho tôm ăn 47

Hình 4.9 Thức ăn được sử dụng trong nuôi tôm 48

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1 Kinh nghiệm nuôi của chủ hộ 32

Biểu đồ 4.2 Hình dạng ao nuôi 33

Biểu đồ 4.3 Diện tích ao nuôi 36

Biểu đồ 4.4 Số ao lắng 37

Trang 11

đã trở thành ngành nghề sản xuất phổ biến ở nông thôn trong cả nước được Chính phủ

và người dân chú trọng đầu tư

Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, với bờ biển dài 82 km Có 6 cửa lạch, nhiều sông ngòi và hồ đập, ruộng trũng lớn là những điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) Ở Nghệ An có diện tích tiềm năng NTTS là 59.369

ha bao gồm 56.669 ha nuôi ngọt và 2.700 ha nuôi mặn lợ Theo số liệu điều tra năm

2008 thì diện tích NTTS đạt 21.131 ha, chỉ mới chiếm 35,6% so với diện tích tiềm năng Trong đó, diện tích nuôi mặn đạt 159 ha, nuôi lợ đạt 1.517 ha và nuôi ngọt đạt 19.455 ha Tổng sản lượng NTTS ngày càng tăng cao, năm 2008 tổng sản lượng nuôi trồng đạt 31.313 tấn tăng 9,37% so với năm 2007, dự tính năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng đạt 35.500 tấn

Trong những năm gần đây nghề sản xuất giống thủy sản và nuôi tôm thịt đã giải quyết được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Bên cạnh đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho lao động

dư thừa và nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên cũng có nhiều hộ nông dân vì nuôi tôm mà gặp không ít khó khăn, nợ ngày càng lớn và không có khả năng chi trả,

Trang 12

một số hộ có khả năng tái nghèo Nguyên nhân là do hoạt động nuôi chưa chú trọng mạnh đến vấn đề kỹ thuật và bảo vệ môi trường nuôi nên còn nhiều rủi ro Do đó, việc đánh giá để tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi tôm là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ thực trạng của địa phương và được sự đồng ý của Ban Chủ Nhiệm

Khoa Thủy Sản đề tài: Tìm hiểu hiện trạng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) thâm canh tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã được thực hiện

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2 1 Sơ Lược Về Tôm Thẻ Chân Trắng

2.1.1 Phân loại

Bộ: Decapoda

Họ: Penaeidea

Giống: Penaeus

Tên tiếng Anh: White Leg shrimp Tên tiếng Việt: Tôm thẻ chân trắng

2.1.2 Phân bố

Tôm thẻ chân trắng phân bố chủ yếu ở vùng nước ven bờ phía đông biển Thái Bình Dương từ phía bắc Peru đến biển phía nam Mexico Tôm phân bố tập trung ở vùng biển ven bờ của Ecuador và Hawaii Hiện nay tôm thẻ chân trắng đã được nhân giống ra nhiều vùng trên thế giới Tại Việt Nam, tôm thẻ chân trắng được nuôi chủ yếu

ở vùng biển miền trung

2.1.3 Chu kỳ sống của tôm

Cũng như các loài khác thuộc họ tôm he, tôm thẻ chân trắng cái ký thác hoặc rải trướng ra môi trường ngoài thay vì mang trứng tới khi trứng nở Trứng nở ra ấu trùng, phát triển qua sáu giai đoạn Nauplius, ba giai đoạn Zoea, ba giai đoạn Mysis kế

đó là hậu ấu trùng, ấu niên và phát triển thành tôm trưởng thành và sau đó thành tôm

bố mẹ để thực hiện chức năng giao vỹ và đẻ trướng tiếp tục nối lại vòng đời của nó

Trang 14

Trứng (khoảng 12 - 16 giờ)

Tôm trưởng thành Postlavae (10 - 15 ngày)

3 - 5 tháng

Hình 2.1 Sơ đồ Chu kỳ sống và phát triển của tôm thẻ chân trắng (theo Nguyễn

Nhật Phong, 2007)

2.1.4 Một số đặc điểm sinh học và sinh sản của tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng có chủy dài, phía trên chủy có 8 - 9 răng và ở dưới chủy có

2 răng

Mũi khứu giác và râu là cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm

Tôm có chân hàm dùng để lấy thức ăn và bơi lội, chân ngực lấy thức ăn và bò, chân bụng dùng để bơi

Đuôi tôm có tác dụng như một mái chèo dùng để điều chỉnh hướng bơi của tôm Tôm thẻ chân trắng có tính ăn tạp, nhu cầu protein của tôm thẻ thấp hơn tôm sú, loại thức ăn ưa thích là những thức ăn có mùi tanh của xác động vật, ngoài tự nhiên thì

ưa ăn xác nhuyễn thể, giun tơ

Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển

có độ sâu 70 m với nhiệt độ 26 - 280C, độ mặn khá cao (35‰) Trứng nở ra ấu trùng

Trang 15

và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: nhiều thức ăn hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn … Sau một vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm trọn chu kỳ sống của loài

Tôm thẻ cái thường có kích thước lớn hơn tôm đực, bộ phận sinh dục nằm ở dưới bụng Khi tôm trưởng thành phân biệt rõ đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài Cơ quan sinh dục phụ của tôm đực là petasma, nằm giữa gốc chân bò thứ nhất, giúp cho việc đưa bó tinh từ tôm đực sang tôm cái Cơ quan sinh dục phụ của tôm cái là thelycum, nằm ở gốc chân bò thứ 5 Thelycum gồm một tấm giữa và hai tấm bên, là nơi nhận và lưu giữ các bó tinh từ tôm đực chuyển qua

Cơ quan sinh dục của tôm đực gồm: Một đôi tuyến tinh phân nhiều thùy, một đôi ống dẫn tinh và một đôi túi tinh Túi tinh đổ ra gốc chân bò thứ 5

Cơ quan sinh dục của tôm cái là một đôi buồng trứng phân thùy và ống dẫn trứng mở ra ở gốc đôi chân bò thứ 3

Tuổi thành thục: Tuổi thành thục của tôm thẻ chân trắng nhỏ hơn tôm sú, khoảng 4 - 5 tháng Trọng lượng thành thục của tôm thẻ thường khoảng 35 - 40g trở lên Sự thành thục sinh dục của tôm thẻ chân trắng phụ thuộc vào sự tác động của hormone tuyến nội tiết, cụ thể là tế bào thần kinh ở cơ quan X của cuống mắt

Khi tôm cái vừa lột xác, tôm đực thường giao vĩ, đưa tinh cho tôm cái: các bó tinh với sự giúp đỡ của petasma được đưa vào thelycum

Số lượng trứng của tôm cái nhiều hay ít phụ thuộc vào chất lượng buồng trứng

và trọng lượng cá thể tôm: trọng lượng lớn cho nhiều trứng hơn Nếu tôm cái có trọng lượng từ 30 - 45g thì số lượng trứng khoảng từ 100.000 - 250.000 trứng, trứng có đường kính khoảng 0,22mm Sự phát triển của trứng từ sau khi đẻ đến giai đoạn đầu của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ ở 26 - 280C

2.1.5 Sinh trưởng

Tôm thuộc họ Penaeus sinh trưởng rất nhanh, khoảng 4 - 5 tháng là tôm đạt

mức trưởng thành, trọng lượng khoảng 28 gr Trong tự nhiên, tôm nước mặn tới mùa sinh sản chúng tiến ra biển nơi có độ mặn cao để đẻ trứng Trứng nở ra ấu trùng theo sóng dạt vào các cửa sông, nơi có độ mặn thấp, thích hợp cho sự tăng trưởng của ấu trùng Tại môi trường nước lợ, ấu trùng tiến sang qua thời kỳ hậu ấu trùng

Trang 16

(Postlarvae), sau đó chuyển qua thời kỳ ấu niên (Juvenile) đồng thời bơi ra biển tiếp tục tăng trưởng, sinh sản và tiếp tục chu kỳ sống của loài (theo Vũ Thế Trụ, 1999)

Tôm thẻ chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực (theo Nguyễn Nhật Phong 2007)

Tôm lúc nhỏ thay vỏ cần vài giờ để vỏ cứng nhưng khi tôm lớn thì cần khoảng

1 - 2 ngày Trong khi tôm lột xác thì hàm lượng kiềm và oxy hòa tan trong môi trường giảm rất nhanh

2.1.6 Điều kiện môi trường sống thích hợp cho tôm thẻ chân trắng

Một số yếu tố môi trường phù hợp đối với tôm thẻ chân trắng:

2.1.7 Một số bệnh thường gặp ở tôm thẻ chân trắng

Theo nhận định chung của Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy sản Nghệ An (2009) thì tôm thẻ chân trắng thường mắc các bệnh sau:

™ Bệnh đốm trắng (White Spot Syndrome Virus): Bệnh do white spot baculovirus

™ Bệnh đầu vàng (Yellow Head Disease YH): Bệnh do virus Yellow head Virus

™ Bệnh còi (Monodon Type Baculovirus Disease): Do Monodon Type Baculovirus

™ Bệnh đóng rong: đây là bệnh do sinh vật bám (Fouling Disesse): Có 3 nhóm chính gây bệnh là vi khuẩn, nguyên sinh động vật và tảo có kích thước tương đối lớn

Trang 17

™ Bệnh đen mang (Black Gill Disease): Bệnh đen mang có thể do nhiễm

nấm Fusarrium spp,…nhưng cũng có thể là do sự tác động của các yếu tố vô sinh như

các khí độc, ion kim loại nặng tác động làm tổn thương tế bào mang tôm, gây đen mang

™ Bệnh đỏ thân ở tôm (Red Disease In Penaeid Shrimp): Tôm bị bệnh này thường hay xuất hiện màu đỏ ở đuôi, các phần phụ, mang và khi nặng cho thấy hiện tượng đỏ toàn thân

™ Bệnh mềm vỏ ở tôm (Soft Shell Disease), bệnh thường gặp ở tôm nuôi thương phẩn Khi bị bệnh này, dấu hiệu nhận biết đó là sau khi lột xác 24 - 48 giờ mà

vỏ kitin không cứng lại được

Ngoài ra, trong quá trình nuôi tôm còn gặp thêm một số bệnh khác như tôm sú

là bệnh thối đuôi, bệnh cong thân – cong đuôi và một số bệnh khác

2.2 Tình Hình Nuôi Tôm Trên Thế Giới

Nghề nuôi tôm mới thực sự phát triển từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước và phát triển rầm rộ vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 Nghề nuôi tôm trên thế giới tuy đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế của các nước ở châu Á và Mỹ la tinh nhưng đi kèm với nó là những vấn đề rất lớn như dịch bệnh tôm đang bùng nổ ở diện rộng và gây tổn thất to lớn, thảm rừng ngập mặn quý giá bị triệt phá nghiêm trọng, ô nhiễm nước và đất, mặn hóa các vùng đất nông nghiệp, môi trường xuống cấp…

Nhìn chung, nghề nuôi tôm phục vụ xuất khẩu hiện nay chỉ tập trung ở 3 khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Mỹ La tinh Nghề nuôi tôm hiện nay tập trung nhiều nhất ở Châu Á (chiếm 87% sản lượng tôm thế giới), sau đó là Mỹ La tinh Việt Nam được xem là một trong những nước có sản lượng tôm sú lớn và tăng nhanh nhất

Theo số liệu của FAO năm 2002 và năm 2003, sản lượng tôm của Châu Á ước đạt 1,4 triệu tấn, tăng 11% so với sản lượng năm 2002 và 15% sản lượng thực tế của năm 2001 Riêng Trung Quốc, sản lượng ước đạt 390.000 tấn, tăng 15% so với sản lượng ước tính năm 2002 và 28% sản lượng thực tế năm 2001

Tiếp đến là Thái Lan có sản lượng 280.000 tấn, giảm 9% so với sản lượng năm

2000 Sản lượng tôm của Việt Nam tăng nhanh từ 50.000 tấn năm 2001 đến 194.000 tấn năm 2002 và năm 2003 là 224.000 tấn

Trang 18

Sản lượng tôm he chân trắng đã đạt khoảng 33% sản lượng tôm nuôi của Châu

Á năm 2003, các nước nuôi là Trung Quốc, Đài Loan và Inđônêxia Tôm sú vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong nuôi tôm ở Châu Á với khoảng 50% sản lượng

Trong số 390.000 tấn tôm nuôi của Trung Quốc năm 2003, có khoảng hơn 60%

là tôm he chân trắng Năm 2004, Trung Quốc tiếp tục phát triển nuôi tôm, tăng sản lượng lên trên 400.000 tấn, chủ yếu là tôm he chân trắng Nghề nuôi tôm ở Trung Quốc có lợi thế là giá thành sản xuất có tính cạnh tranh, chỉ 2,6 USD/kg so với 3,2 - 3,4 USD/kg Khó khăn lớn nhất trong suất xuất nuôi tôm thẻ chân trắng ở Trung Quốc

là nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh phải phụ thuộc vào nhập khẩu

Ở Philipin và Malaixia, sản xuất tôm sú vẫn tiếp tục chiếm ưu thế, và cấm sản xuất tôm thẻ chân trắng

Ở Ấn Độ, tình hình đang không rõ ràng Người nuôi đang chờ đợi vào chính sách của chính phủ, do hiệu quả kinh tế từ việc nuôi tôm thẻ chân trắng ở các vùng khác nhau có sự sai biệt rất lớn Mặc dù chỉ giới hạn ở một vài bang nhất định nhưng sản lượng tôm thẻ chân trắng ở Ấn Độ năm 2003 vẫn đạt kết quả cao

Sản lượng tôm nuôi thế giới năm 2004 đã tăng 2,5 lần so với năm 1995 Dẫn đầu vẫn là tôm thẻ chân trắng tăng 8 lần, tôm sú tăng 1,2 lần

2.3 Tình Hình Nuôi Tôm Ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi Nguồn lao động dồi dào với 3.260 km bờ biển và trên 4.000 hòn đảo lớn vùng ven bờ trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang cùng 10 vạn đầm phá, 10 vịnh nhỏ, khoảng 24 vạn ha rừng ngập mặn, 29

ha bãi triều là tiềm năng to lớn cho nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ Dựa vào điều kiện sinh thái và khí hậu, có thể chia khu vực nuôi tôm ở nước ta thành 3 khu vực chính: khu vực phí Bắc, khu vực Miền Trung và khu vực phía Nam

Việt Nam cũng đã bắt đầu đa dạng hóa các loại tôm nuôi bằng việc nuôi tôm thẻ chân trắng Năm 2003, Việt Nam đã sản xuất 15.000 tấn, năm 2004 là 40.000 tấn tôm he chân trắng cùng với 200.000 tấn tôm sú Năm 2005 Việt Nam sản xuất hơn 100.000 tấn tôm he chân trắng

Với những ưu điểm về điều kiện tự nhiên, trong những năm gần đây phong trào nuôi tôm đang phát triển mạnh mẽ, từ quảng canh với năng suất thấp chuyển dần sang

Trang 19

So với các ngành kinh tế khác, ngành thủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh

Tỷ trọng xuất khẩu của ngành thủy sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng từ 2,9% năm 1995 lên 3,4% năm 2000 và đạt 3,93% vào năm 2003 Năm 2003 sản lượng tôm sú tăng vọt lên 200.000 tấn theo số liệu đã công bố của tổng cục thống kê, tỉ trọng xuất khẩu của ngành thủy sản giai đoạn 1995 đến 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng

Trong thập niên qua, nghề nuôi tôm đã phát triển khá mạnh ở một số tỉnh duyên hải Miền Trung và các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long trong đó: 10 tỉnh từ Phú Yên đến Kiên Giang có diện tích nuôi tôm khoảng 208 ngàn ha chiếm 89% diện tích nuôi tôm cả nước (234.689 ha) mà hình thức nuôi quảng canh chủ yếu chiếm 78% và quảng canh cải tiến là 19% (riêng các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm 50%)

Diện tích mặt nước nuôi tôm ở nước ta tăng lên nhanh chóng Theo số liệu thống kê năm 1990, ở Việt nam có 96 ngàn ha diện tích mặt nước nuôi tôm với tổng sản lượng là 32.740 tấn Đến năm 1995 diện tích mặt nước nuôi tôm đã tăng 216.675,5

ha và sản lượng 55.593 tấn, chỉ riêng ở Đồng Bằng sông Cửu Long diện tích nuôi tôm chiếm 19.102,5 ha với tổng sản lượng là 47.121 tấn Chiếm 84,76% tổng sản lượng cả nước So với một số nước có điều kiện mặt nước nuôi trồng thủy sản (NTTS) tương tự thì năng suất nước ta còn thấp, chất lượng tôm chưa cao chứng tỏ trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ lao động của chúng ta còn thấp Do đó vấn đề đặt ra là phải tìm biện pháp để đẩy mạnh thâm canh, đặc biệt là nâng cao năng lực của người nuôi tôm nói riêng và NTTS nói chung để hoạt động nuôi trồng đạt hiệu quả, năng suất tăng cao tương xứng với tiềm năng của đất nước

Trang 20

2.4 Tình Hình Nuôi Tôm Ở Nghệ An

Hình 2.2 Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản Nghệ An

Nghệ An có bờ biển dài 82km, là vùng có địa giới hành chính của 48 xã phường thuộc 6 huyện, thành, thị: Quỳnh Lưu (23 xã), Diện Châu (9 xã), Nghi Lộc (7 xã), Cửa

Lò (7 phường), thành Phố Vinh (xã Hưng hòa), Hưng Nguyên (xã Hưng Lợi) với diện tích tự nhiên là 29.240,6 ha chiếm 1,78% diện tích của toàn tỉnh Vùng ven biển Nghệ

An chịu tác động trực tiếp của nước biển và thủy triều Địa hình vùng ven biển Nghệ

An được chia làm từng vùng rõ rệt, phần ven biển Quỳnh Lưu, Diện Châu thấp, bằng phẳng và bị chia cắt bởi những lạch nhỏ, một phần thấp thường hay bị ngập lụt và phần có địa hình cao hơn gồm những đồi và các cồn cát chảy dài theo hướng bắc nam

Trang 21

lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, cửa Lò, cửa Hội trung bình cứ 14km bờ biển có 1 cửa lạch (theo Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh nghệ An, 2005)

Năm 2009, sản lượng thủy sản Nghệ An đạt 37.500 tấn bằng 112% kế hoạch và tăng 20% so với năm 2008 Trong đó, nuôi ngọt đạt 32.000 tấn bằng 114% kế hoạch

và bằng 117% so với năm 2008, nuôi mặn - lợ đạt 5.500 tấn bằng 100% kế hoạch và bằng 140% so với năm 2008

So với một số vùng trong nước thì năng suất của nuôi tôm của Nghệ An phát triển tương đối Nếu năm 2006 diện tích nuôi tôm của Nghệ An là 1.445 ha, trong đó nuôi thâm canh và bán thâm canh là 865 ha với năng suất bình quân khoảng từ 2 – 5 tấn/ ha (tôm sú) và 6 – 9 tấn/ ha (tôm thẻ chân trắng) Thì năm 2007 diện tích nuôi tôm

đã tăng lên 2.110 ha, trong đó nuôi thâm canh và bán thâm canh là 1.759 ha Tuy nhiên, tốc độ phát triển vẫn chưa đều và chưa có tính bền vững Nguyên nhân là do Nghệ An là một tỉnh vùng Bắc trung bộ có thời tiết tương đối khắc nghiệt, nắng lắm, mưa nhiều và những tháng rét thường kéo dài Một nguyên nhân khác nữa là do ý thức, nhận thức về việc nuôi tôm của người dân chưa đồng đều

2.5 Điều Kiện Tự Nhiên và Kinh Tế Xã Hội Của Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ

An

2.5.1 Điều kiện tự nhiên

2.5.1.1 Vị trí địa lý (theo Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Quỳnh

Phía tây giáp huyện Yên Thành và Nghĩa Đàn Phía nam giáp huyện Diễn Châu

Phía đông giáp vịnh bắc bộ

Quỳnh Lưu có bờ biển dài 20 km, có nhiều cửa lạch như: Lạch Cờn, lạch Quèn

và lạch Thơi Ở đây có 3 con sông lớn là sông Ông Độ, sông Mai Giang và sông Dừa

Trang 22

và nhiều sông, rạch nhỏ khác Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ở Quỳnh Lưu

2.5.1.2 Thời tiết và khí hậu (theo Cục Khí Tượng Thủy Văn Nghệ An, 2010)

a Khí hậu

Quỳnh Lưu là huyện thuộc vùng ven biển nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của gió mùa tây - nam (tháng 4 - tháng 8) và gió mùa đông - bắc (tháng 11 - tháng 3 năm sau) Nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất vào tháng 1

Khí hậu ở đây chia làm 4 mùa rõ rệt trong năm, mùa xuân mát mẻ bắt đầu từ cuối tháng 12 đến cuối tháng 3 âm lịch, mùa hạ oi bức và nóng nực bắt đầu từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 8 âm lịch, mùa thu se lạnh từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 âm lịch, thời gian còn lại trong năm là một mùa đông buốt giá Thời tiết trong năm biến đổi liên tục và phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nuôi trồng thủy sản và các hoạt động sản xuất khác

b Nhiệt độ

Tùy theo mùa mà nhiệt độ cũng thay đổi rất khác nhau, vào mùa hạ nhiệt độ luôn ở mức cao trung bình khoảng 34 - 370C, có lúc lên đến trên 400C - 410C Mùa đông thì ngược lai, nhiệt độ luôn ở mức thấp trung bình khoảng 13 - 170C nhiều giai đoạn nằm dưới 100C và có lúc xuống nhiệt độ âm Mùa thu và mùa xuân nhiệt độ tương đối dễ chịu khoảng từ 17 - 280C và có sự xê dịch không đáng kể

c Chế độ mưa

Lượng mưa ở Quỳnh Lưu là thấp nhất trong toàn tỉnh Tổng lượng mưa hàng năm của huyện Quỳnh Lưu vào khoảng 1.736,3 mm, tập trung vào mùa mưa (80%) từ giữa tháng 6 - tháng 10 Những tháng còn lại có lượng mưa khoảng 200 mm nên thường bị hạn vào cuối vụ đông

Quỳnh Lưu có thời gian khô nắng gần 8 tháng (từ tháng 11 - tháng 6 năm sau) đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng từ 900 - 1.200 mm, độ ẩm không khí trung bình khoảng 81%, thấp nhất là 72% và cao nhất là 93% là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Trang 23

d Chế độ nắng

Nắng khá nhiều và số giờ nắng cao, trung bình khoảng 150 - 175 ngày nắng, tương đương 1.500 - 1800 giờ/năm Cao nhất vào mùa hạ 10 - 13 giờ/ngày và thấp nhất vào mùa đông (tháng 11 - 1 năm sau) khoảng 2 - 3 giờ/ngày, thậm chí có lúc 5 - 7 ngày liên tục không có nắng Đây cũng có thể coi là hạn chế lớn nhất của việc phát triển nuôi thủy sản của vùng

2.5.1.3 Thủy văn

Huyện Quỳnh Lưu có 3 cửa lạch thông ra biển: lạch Cờn (tráp) là cửa sông Mai Giang, lạch Quèn là cửu sông Ông Độ, lạch Thơi là cửa sông Dừa Hầu hết diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện đều nằm trong lưu vưc 3 con sông này Thủy triều của vùng chủ yếu là nhật triều - Bán nhật triều không đều Biên độ thủy triều thấp từ 1,5 - 2m Thời gian triều dâng, triều rút thường ngắn Khả năng thay đổi khối nước trong sông kém, làm giảm chất lượng nước trong từng khu vực

Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng triều của cửa lạch Cờn gồm các xã: Quỳnh Lộc, Quỳnh Di, Quỳnh Phương, Quỳnh Thuận, Quỳnh Thanh, Quỳnh Xuân, Quỳnh Liên, Quỳnh Đôi, Quỳnh Yên và Mai Hùng Đây được xem là khu vực khá thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản của huyện

2.5.1.4 Địa hình - Thổ những

a Địa hình (theo Phòng Địa Chính Huyện Quỳnh Lưu, 2010)

Nằm trong khu vực đồng bằng ven biển, Quỳnh Lưu có địa hình tương đối bằng phẳng, hơi dốc ttheo hướng tây - đông Dân cư tập trung khá đông đúc, cơ sở hạ tầng ngày được nâng cao, hệ thống giao thông, thủy lợi được chú trọng xây dựng và phát triển mạnh Khu vực đông và đông nam có địa hình thấp, bằng phẳng độ mặn tương đối ổn định, thuận lợi cho việc bố trí nuôi trồng thủy sản theo hướng tăng tỉ trọng nuôi thâm canh, bán thâm canh và khai thác ruộng muối

b Thổ nhưỡng (theo Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Quỳnh Lưu, 2009)

Nếu phân theo sự phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp, có thể phân vùng huyện

Quỳnh Lưu theo kết cấu đất như sau:

Vùng I (vùng đồi thấp): Đây là vùng ngọt hoàn toàn, phần lớn đất thuộc vùng này là đất feralit sói mòn trở thành sỏi đá và một phần đất thịt Với diện tích là 27.048

ha, chiếm 44,56% diện tích tự nhiên, đất đai màu mỡ và dễ bị khô cằn Vùng này

Trang 24

thuộc khu vực phía tây và tây bắc của huyện, ở đây chủ yếu là trồng cây công nghiệp, lúa và hoa màu

Vùng II (vùng đồng bằng chiêm trũng): Đây là vùng ngọt và mặn ít, đất ở vùng này chủ yếu là đất thịt và thịt pha cát Diện tích là 21.800 ha, chiếm 35,91% tổng diện tích Đất dai có độ phì nhiêu cao, phần lớn nước là nước ngọt và có nhiễm mặn nhẹ vào mùa khô nắng Khu vục này chủ yếu là trồng lúa và hoa màu

Vùng III (vùng ven biển): Là vùng có nguồn nước mặn quanh năm, khu vực này có rất nhiều loại đất như: đất cát biển, đất mặn sú vẹt, đất mặn chua và chua mặn, đất ít mặn và đất thịt Gồm 11.852 ha chiếm 19,53% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện

Tổng diện tích tự nhiên của huyên Quỳnh Lưu là 60.700 ha, trong đó:

Đất nông nghiệp chiếm 42.750 ha (70,43% diện tích tự nhiên), trong đó cây hàng năm là 19.790 ha Phần lớn là trồng lúa và hoa màu, và một số ít loại cây lâu năm chủ yếu là cây ăn quả và mía Đất lâm nghiêp 19.067 ha, là rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ phía tây và rừng trồng là các đồi tràm Đất nuôi trồng thủy sản có 3.207

ha, chủ yếu là đất nuôi thủy sản lợ mặn Đất ruộng muối là 665ha, còn lại là đất nông nghiệp khác Bình quân đất nông nghiệp/người đân là 1.128 m2

Nhóm đất phi nông nghiệp chiếm 10.663 ha (= 17,57% diện tích tự nhiên), trong đó đất ở chiếm 1.693,3 ha, bình quân đất ở/người là 44,7 m2 Đất chuyên dùng chiếm 5.820 ha, bình quân 153,5 m2 /người nhưng chủ yếu là đất công trình công cộng Đất tôn giáo, tín ngưỡng 33 ha, đất nghĩa trang, nghĩa địa 362,62 ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 2.741,86 ha Bình quân đất ở + công trình dân dụng/ đầu người là 107 m2, còn lại là đất phi nông nghiệp sử dụng các mục đích khác

Nhóm chưa sử dụng còn lại là 7.325,21 ha

Trong những năm gần đây, nhóm đất nông nghiệp có nhiều chuyển biến Việc giảm dần diện tích cây lâu năm, diện tích làm muối sang nuôi trồng thủy sản đã và đang được chú trọng (tăng từ 2.151 ha năm 2005 – 3.207 ha năm 2009) Trong nhóm đất phi nông nghiệp, các loại đất xây dựng, đất giao thông, đất ở tăng chậm, nhưng đất thủy lợi lại tăng nhanh

Trang 25

2.5.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội

2.5.2.1 Cơ cấu hành chính

Huyện quỳnh lưu có 41 xã và 2 thị trấn, với 538 khối ấp

2.5.2.2 Dân số - Lao động và nguồn lực của nông hộ (Theo Phòng Thống Kê huyện

Quỳnh Lưu, 2009)

Với diện tích tự nhiên là 607 km2, tổng dân số là 379.052 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 216.409 người, mật độ dân số bình quân khoảng 624 người/km2 Tỉ lệ tăng tự nhiên của huyện năm 2009 là 0,95%, tăng nhanh so với các địa phương khác trong tỉnh và so với tăng tự nhiên của toàn tỉnh Nghệ An, nhưng so với tốc độ tăng dân số của khu vực và của cả nước lại nằm ở mức tương đối thấp Mật

độ dân số khá cao so với các địa phương khác nhưng so với khu vực Bắc Trung Bộ thì lại không quá cao

Nguồn lao động của huyện được coi là khá dồi dào, khả năng vận dụng linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh Kiến thức của người lao động ngày càng được nâng cao trong quá trình hoạt động kinh tế với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, lực lượng lao động có trình độ cao còn hụt hẫng, người nuôi tôm ít hiểu biết về những kiến thức cần thiết để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hàng hóa

Thực trạng nguồn nhân lực trong các hộ dân: Lực lượng lao động tuy dồi dào nhưng thiếu kiến thức khoa học – kỹ thuật trình độ cao, việc bổ sung lực lượng cán bộ trợ giúp có trình độ cao còn nhiều hạn chế

Việc cơ cấu và bố trí lực lượng cán bộ còn mất cân đối, lực lượng cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật chủ yếu tập trung ở các ngành giáo dục - đào tạo, y tế, công nghiêp nặng và quản lý nhà nước nhưng trong nông – lâm - thủy sản lại rất ít

Hàng năm số học viên, sinh viên ra trường về địa phương không nhiều, vì thế việc nâng cao số lao động có trình độ theo hướng được đào tạo bài bản từ trên xuống

là rất khó Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ cho người lao động cần được chú trọng theo hướng mở các lớp tập huấn hay đào tạo ngắn hạn cho lao động địa phương, nhưng việc thực hiện vấn đề này đang gặp rất nhiều khó khăn, vì thế chất lượng lao động có tăng nhưng không vượt bậc

Trang 26

2.5.2.3 Cơ Cấu Giá Trị Sản Xuất Nông - Lâm Nghiệp - Thủy Sản (theo Phòng Nông

Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn và Phòng Thống Kê huyện Quỳnh Lưu,2010)

Trong cơ cấu kinh tế của huyện hiện nay, thủy sản đang được chú trọng phát triển mạnh Mặc dù chỉ chiếm có 13 - 15% tỉ trọng GDP của toàn huyện, nhưng thủy sản đã và đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện Vì là huyện ven biển thuộc khu vực duyên hải miền trung, nên Quỳnh Lưu

có đầy đủ điều kiện phát triển thủy sản bên cạnh phát triển cây nông nghiệp Nông nghiệp có tỉ trọng là 32% GDP của huyện và chiếm 64% giá trị của ngành nông - lâm - thủy sản Ngành chăn nuôi là mũi nhọn phát triển kinh tế nông thôn từ bao đời nay, và những năm gần đây vẫn đang phát triển mạnh mẽ Ngành lâm nghiệp chủ yếu là phát triển các rừng trồng tràm phủ kín các đồi trọc Ngoài ra, các rừng tự nhiên vên biển hay các rừng cao phía tây hàng năm cho gỗ, lấy củi đốt cho dân cư thuộc các khu vực vùng ven

2.5.2.4 Kế hoạch phát triển (theo Phòng nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện

Quỳnh Lưu, 2010)

Ngành nuôi trồng thủy sản tập trung phát triển đưa thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn thực sự của huyện Dựa trên cơ sở phát triển các đối tượng nuôi có giá trị xuất khẩu cao như tôm, nghêu, sò và một số loài cá có giá trị Tiếp tục chuyển đổi các loại đất làm muối, đất trồng lúa kém hiệu quả sang phát triển nuôi trồng thủy sản với hình thức thâm canh Dựa trên nguyên tắc là phát triển bền vững, thân thiện với môi trường

Đẩy mạnh công tác ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân trong lĩnh vực nuôi và khai thác thủy sản Đa dạng hóa đối tượng nuôi và hình thức nuôi, xây dựng mô hình nuôi các đối tượng nuôi mới có giá trị cao, đưa nông dân tham quan các mô hình trình diễn về thủy sản, đặc biệt là các mô hình nuôi thủy đặc sản

Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa dịch bệnh, thực hiện tốt các quy định

về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩn của tỉnh, cũng như của nhà nước đã ban hành trong phát triển nuôi tôm thâm canh và khai thác thủy sản

Tiếp tục tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thủy sản hiện nay Trên cơ sở xây dựng, củng cố về mặt quản lý sản xuất của các tổ hợp tác,

Trang 27

hợp tác xã hiện có đi vào nề nếp hoạt động đúng luật sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần nâng cao tỉ trọng kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân

Tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nước trong lĩnh vực thủy sản, tổ chức hoạt động chuyên môn đồng bộ, có nề nếp khoa học, có tinh thần trách nhiệm cao Thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Huyện Ủy - Ủy Ban Nhân Dân huyện, hoàn thành chỉ tiêu kế họach đã đề ra cho năm 2010

2.6 Hiện Trạng Nuôi Thủy Sản Ở Huyện Quỳnh Lưu (theo Phòng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn và Phòng Thống Kê huyện Quỳnh Lưu, 2010)

Huyện Quỳnh Lưu là huyện có thế mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản nhất cả tỉnh Nghệ An, trong đó phù hợp phát triển nhất là các đối tượng nuôi lợ và mặn Do

đó, huyện tập trung đầu tư phát triển nuôi thủy sản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và nước góp phần cải thiện kinh tế vùng nồng thôn Nghề nuôi thủy sản ngoài phát triển chiều rộng, nay từng bước phát triển theo chiều sâu Đặc biệt là các năm gần đây, các mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa, mô hinh nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh đạt hiệu quả kinh tế cao Phong trào nuôi tôm phát triển mạnh mẽ ở người đân nuôi tôm và thúc đẩy mọi thành phần kinh tế liên quan cùng tham gia sản xuất

Diện tích nuôi thủy sản nhiều nhưng diện tích nuôi hữu ích chỉ chiếm 45,0 – 72.5 % tùy theo loại hình nuôi Những năm trước đây, nghề nuôi tôm chủ yếu là nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến, đại bộ phận những người nuôi còn ít có điều kiện tiếp cận với những kỹ thuật cơ bản về đối tượng nuôi và mô hình nuôi Hoặc nếu có điều kiện tham gia thì cũng có một bộ phận người dân do hạn chế về trình độ, nên khả năng nắm bắt tiếp cận thông tin còn yếu Nhưng 5 năm gần đây, nghề nuôi thủy sản ở nghệ an nói chung và ở Quỳnh Lưu nói riêng đã có nhiều chuyển biến đáng kể, kể cả

về sản lượng và diện tích đều tăng lên theo từng năm

Nghề nuôi thủy sản ở Quỳnh Lưu giai đoạn 2005 – 2010 chủ yếu là do các hộ gia đình đảm nhận dưới sự tư vấn kỹ tuật của cán bộ kỹ thuật, phát triển theo quy hoạch của huyện Chi cục thủy sản, dưới sự chỉ đạo của tỉnh, đã thành lập mạng lưới

dự báo và phòng chống bệnh thủy sản nhưng lực lượng còn ít chưa bao phủ hết địa bàn trong điều kiện phát triển mạnh mẽ hiện nay

Cơ sở hạ tầng phục vụ cho nuôi thủy sản, mặc dù được quan tâm và ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ cho nhu cầu sản xuất Phần lớn

Trang 28

diện tích nuôi chưa có hệ thống cấp thoát nước riêng biệt, nên nước cấp vào và thoát ra của các hệ thống nuôi vẫn còn lẫn lộn qua lại, gây ra không ít thiệt hại trong sản xuất

Công tác phòng trừ dịch bệnh còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng con giống còn kém, do đa số giống được di nhập từ các tỉnh và dịa phương khác về trong khi đó năng lực sản xuất giống của địa phương còn rất hạn chế chỉ đáp ứng chưa đến 20% nhu cầu, cũng là một khó khăn trong sản xuất

Thức ăn phục vụ cho nuôi thủy sản chủ yếu là sử dụng thức ăn công nghiệp, có một số ít hộ sử dụng thức ăn tự chế để bổ sung Tuy nhiên, do hạn chế hiểu biết về mặt

kỹ thuật nên một bộ phận không nhỏ các hộ nuôi khi chăm sóc, cho ăn còn tùy tiện và chưa được kiểm soát chặt chẽ về thành phần và số lượng nên phần nào ảnh hưởng đến kết quả của vụ nuôi

Lao động nuôi thủy sản của huyện Quỳnh Lưu tính đến năm 2009 là khoảng > 10.000 người, trong đó không ít người nuôi thủy sản chưa nắm chắc về kỹ thuật nuôi của từng mô hình nuôi, đối tượng nuôi Chủ yếu các hộ nuôi dựa vào kinh nghiêm và

sự tư vấn của các cán bộ kỹ thuật nhà nước và của các công ty thuốc, thức ăn

Để nuôi trồng thủy sản được ổn định về năng suất và sản lượng, đặc biệt là nuôi tôm thì việc nâng cao trình độ hiểu biết về kỹ thuật cho người nuôi là việc làm rất cần thiết và cấp bách

Trung tâm khuyến ngư của tỉnh, phòng nông nghiệp của huyện, các công ty thuốc - hóa chất, công ty thức ăn và công ty giống thường xuyên mở các lớp tập huấn

để phổ biến công nghệ và kỹ thuật mới để người dân kịp thời nắm bắt và đưa vào sản xuất (Phòng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, 2010)

2.6.1 Các mô hình nuôi thủy sản nước mặn lợ ở huyện Quỳnh Lưu

Nuôi thủy sản ở huyện Quỳnh Lưu chủ yếu là nuôi tôm nước mặn lợ, tính đến thời điểm tháng 5/2010 là 2.736 ha đất đưa vào sử dụng nuôi tôm Diện tích nuôi tôm tăng nhanh và liên tục phát triển Tiềm năng đất nuôi ngày càng được khai thác và diện tích nuôi không ngừng tăng theo hằng năm, ước tính đến năm 2015 diện tích nuôi tôm

sẽ đạt mức 3.000 ha (Phòng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, 2010) Bên cạnh

đó kỹ thuật nuôi ngày càng được nâng cao

Theo Phòng thống kê huyện Quỳnh Lưu (2010), trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu

Trang 29

2.6.1.1 Nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh

Năm 2010 diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh là 1.106 ha, đạt 110,38% kế hoạch so với năm 2009 tăng 104 ha Năng suất bình quân đạt 10 - 12 tấn/ha đối với tôm thẻ chân trắng và 6 - 7 tấn/ha đối với tôm sú Mô hình này đã và đang hướng gia tăng nhanh diện tích trong thời gian tới, do hiệu quả của mô hình nuôi tôm công nghiệp rất cao Nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp tăng diện tích ở các xã Quỳnh Bảng, An Hòa, Quỳnh Xuân, Trịnh Môn, Quỳnh Liên, Mai Hùng, Quỳnh Lộc Các hộ nuôi có ít vốn đầu tư sẽ chuyển một phần diện tích nuôi quảng canh cải tiến sang hình thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Đặc biệt các nhà đầu tư trong và ngoài huyện cũng đã đến khu vực chuyên nuôi tôm của huyện để đầu

tư phát triển mô hình nuôi này

2.6.1.2 Nuôi quảnh canh

Nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến tính đến đầu năm 2010 là 1.320 ha, đạt 94,28% kế hoạch so với năm 2009, giảm 80 ha Nguyên nhân là do người dân chuyển sang nuôi thâm canh và bán thâm canh

Hình thức nuôi này chủ yếu dựa vào nguồn giống tự nhiên, một số đối tượng

thường xuất hiện như tôm Bạc (Metapenaus lysianassa), tôm Đất (Metapenaus ensis), tôm Thẻ (Penaeus indicus) và một số loài tôm khác có ở vùng biển này Tuy nhiên,

loại tôm cho sản lượng chủ yếu ở hình thức nuôi này là tôm Bạc và tôm Đất Hai loại tôm này thường có kích thước nhỏ và giá trị kinh tế không cao

Qua các kỳ triều cường, giống được đưa vào đầm nuôi một cách thụ động qua các cửa cống Diện tích nuôi tôm quảng canh lớn nên người nuôi tôm không bổ sung thêm thức ăn, có bổ sung giống nhưng không nhiều mà chủ yếu chỉ là quản lý và thu hoạch Việc thu hoạch tôm thường được kết hợp lấy giống bổ sung từ các cửa cống Sản lượng tôm thu hoạch thường thấp và không ổn định, phụ thuộc vào mùa vụ trong năm Do không có hiệu quả đáng kể về mặt kinh tế nên hình thức này dần được xóa bỏ trong những năm gần đây

2.6.1.3 Nuôi tôm lúa

Diện tích nuôi tôm lúa là 105 ha, đạt 100% kế hoạch đã đề ra và so với năm

2008 là không thay đổi Đây là hình thức xen canh một vụ lúa, môt vụ tôm Mật độ

Trang 30

nuôi là 4 - 5 con/m2, tôm giống khi thả có kích thước từ 2 - 3 cm/con Thời gian nuôi

từ 4 - 5 tháng, năng suất bình quân là 0,3 tấn/ha

2.6.1.4 Nuôi cá lồng

Hình thức này nuôi trên biển, tổng số lồng cá có được tính tới thời điểm điều tra (05/2010) là 120 lồng Các loài cá nuôi chủ yếu là cá Song, cá Giò, cá Tráp và cá Hồng Mỹ Các lồng nuôi chủ yếu tập trung ở ngoài biển thuộc các xã Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, An Hòa và Mai Hùng Việc nuôi cá lồng trên biển mới hoạt động được khoảng 5 năm trở lại đây Trọng lượng trung bình đạt được của cá Tráp và cá Hồng Mỹ khoảng 500 - 600 gr sau 4 - 5 tháng nuôi, mùa vụ chủ yếu là từ tháng 4 – tháng 10

2.6.1.5 Nuôi nghêu, sò

Diện tích nuôi nghêu, sò của Quỳnh Lưu tính đến 2010 là 350 ha, trong đó diện tích nuôi nghêu là 230 ha, diện tích nuôi sò là 120 ha, đạt 80% kế hoạch và tăng 2% so với năm 2009 Hình thức nuôi này ở Nghệ An có sử dụng rào chắn nên mùa vụ năm

2010 thả giống là 350 ha, ước tính thu hoạch cũng là 350 ha

2.6.2 Tình hình nuôi tôm thẻ

Theo điều tra cho thấy, tôm thẻ chân trắng bắt đầu đưa vào nuôi ở Quỳnh Lưu

từ năm 2005 Ban đầu chỉ là nuôi thử nghiệm tại hai vùng nuôi Quỳnh Bảng và An Hòa Sau khi thu được kết quả khả quan thì năm 2006 đã được mở rộng ra nhiều khu vực nuôi khác trong huyện

Kết quả bước đầu cho thấy, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở Quỳnh Lưu là

80 ha (năm 2006) tập trung ở các xã Quỳnh Lương (11 ha), Quỳnh Xuân (34 ha), An Hòa (18 ha), … sản lượng đạt 575 tấn, năng suất bình quân khoảng 7,19 tấn/ ha Giá bán bình quân từ 55.000 – 58.000 đ/kg Đến năm 2009 toàn huyện đã có tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 648 ha, sản lượng đạt 7.000 tấn, năng suất trung bình khoảng 10,8 tấn/ ha Nhìn chung, tôm thẻ chân trắng là đối tượng dễ nuôi hơn tôm sú

và được xem là phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Quỳnh Lưu, hàng năm tôm thẻ chân trắng không ngừng tăng lên cả về diện tích lẫn năng suất

Ngoài những kết quả khả quan thu hoạch được, vấn đề phát triển tôm thẻ chân trắng cũng có nhiều trở ngại Vốn đầu tư cho nuôi tôm thẻ thâm canh là khá lớn, nên

Trang 31

không đủ điều kiện kinh tế Môi trường nuôi xuống cấp và chưa được cải tạo đáng kể, tình hình dịch bệnh ngày càng cao,

2.6.3 Hậu cần dịch vụ thủy sản (theo Phòng Thống Kê Huyện Quỳnh Lưu, 2010)

2.6.3.1 Về con giống

Toàn huyện Quỳnh Lưu tính đến giữa tháng 5/2010 có 22 cơ sở sản xuất giống,

7 cơ sở thuần dưỡng đã kiểm tra cấp giấy chứng nhận đầy đủ điều kiện hoạt động Đa

số các cơ sở này nhập tôm bột giống từ tỉnh ngoài (các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ) về ương lớn rồi bán cho các hộ nuôi Các trại này vừa là điểm sản xuất ương giống bán cho các hộ nuôi vừa là điểm trình diễn triển khai, tư vấn kỹ thuật cho người dân nuôi tôm trong vùng Số lượng giống thả nuôi của toàn huyện là 600 triệu con, trong đó sản xuất tại chỗ là 250 triệu con (chiếm khoảng 42%) Với tình hình cơ sở vật chất hiện có thì nếu phấn đấu hơn trong sản xuất có thể đáp ứng được khoảng 55 - 60% nhu cầu giống của cả huyện Như vậy có thể giảm lượng con giống phải nhập xuống và qua đó tránh được phần nào sự phụ thuộc nguồn giống bên ngoài vào

Trong toàn huyện hiện có 25 cở sở bán thức ăn và thuốc thú y thủy sản đang hoạt động, so với cùng kỳ năm 2009 là tăng 5 cơ sở (chủ yếu là cấp 2 - 3)

2.6.3.3 Về khai thác thủy sản

Hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn huyện diễn ra cả ở biển lẫn nội địa

Số lượng tàu thuyền của toàn huyện đến 05/2010 là 2.200 chiếc (trong đó có 1.078 tàu đánh bắt xa bờ) tăng 190 chiếc trong tổng số so với năm 2009 Ước tính sản lượng khai thác khoảng 48.000 tấn, đạt 106,7% so với cùng kỳ năm 2009 tăng 3000 tấn

2.6.3.4 Về chế biến thủy sản

Đến năm 2010 huyện Quỳnh Lưu có 2 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh Hai

cơ sở này có thể đáp ướng thu mua được 30% tổng sản lượng thủy sản của toàn huyện

Trang 32

Đối với các cơ sở chế biến khô toàn huyện có khoảng 25 cơ sở thuộc sự quản lý của

tư nhân, sản lượng khô ước đạt 2.542 tấn

2.6.3.5 Cơ sở sản xuất nước đá

Huyện quỳnh lưu có 18 cơ sở sản xuất nước đá lớn nhỏ, sản lượng ước đạt 15.000 tấn Ngoài việc cung cấp cho sinh hoạt tiêu dùng và góp phần cung cấp cho việc bảo quản tôm sau thu hoạch

2.6.3.6 Các cơ sở vật tư

Khi thủy sản phát triển các cở sở sản xuất, kinh doanh tại các xã có nghề nuôi tôm cũng phát triển theo Ở vùng nuôi tôm có bán các loại thức ăn, thuốc phòng bệnh, vật tư phục vụ cho nuôi trồng thủy sản

2.6.3.7 Về chuyển giao kỹ thuật

Trong 4 tháng đầu năm 2010 Phòng Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn Huyện đã phối hợp với cơ sở thủy sản tổ chức hội thảo kỹ thuật chăm sóc nuôi tôm đầu vụ, tổng số người tham gia là 250 Huyện phối hợp với các công ty thức ăn mở 4 cuộc hội thảo tổng số có gần 1000 lượt người tham dự

Phòng phối hợp với Ban Quản Lý dự án Hỗ Trợ Phát Triển Nghề Nuôi Thủy Sản (FSPS) xây dựng mô hình nuôi tôm tránh đông ở xã Mai Hùng, mở 01 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm qua đông cho nông dân xã Mai Hùng có 56 người tham dự

Trang 33

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2010 tại ba xã Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân và Mai Hùng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

● Địa điểm điều tra

Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng kinh tế xã hội huyện Quỳnh Lưu

Trang 34

3.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu

3.2.1 Phương pháp điều tra

Với mục đích tìm hiểu hiện trạng của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên

50 hộ dân nuôi tôm tại địa điểm điều tra

3.2.2 Thu thập số liệu

Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn trực tiếp các chủ

hộ kết hợp quan sát thực tế để có những thông tin về kỹ thuật nuôi, sản lượng, khó khăn, thuận lợi, hiệu quả kinh tế,… theo biểu mẫu điều tra đã được soạn trước (phụ lục 1)

Số liệu thứ cấp: Thu thập từ phòng Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn, phòng thống kê huyện Quỳnh Lưu Chi cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản, Sở Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn tỉnh Nghệ An và các phòng ban có liên quan

3.3 Phương Pháp Phân Tích Kết Quả và Xử Lý Số Liệu

Khi điều tra, thu thập số liệu về tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh chúng tôi ghi nhận những biện pháp kỹ thuật nuôi, những thuận lợi, khó khăn và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Quỳnh Lưu

Số liệu thu thập được sẽ xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel để tính các thông số cho một ha (10.000 m2) ao nuôi

3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế

Phí cơ hội = Lãi suất ngân hàng * Tổng biến phí (không tính thuế sử dụng đất) Khấu hao = khấu hao ao + khấu hao cống + khấu hao máy quạt nước, sục khí + khấu hao máy bơm

Thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí lao động gia đình

Trang 35

b Hiệu quả một đồng chi phí

Tỷ suất thu nhập = Thu nhập/ Tổng chi phí sản xuất → một đồng chi phí sản xuất bỏ ra tương ứng với bao nhiêu đồng thu nhập

Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/Tổng chi phí sản xuất → một đồng chi phí sản xuất bỏ ra tương ứng với bao nhiêu đồng thu nhập Tỷ số này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng tốt

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận/Doanh thu → một đồng thu được từ kết quả sản xuất có bao nhiêu đồng lợi nhuận

Tỷ suất thu nhập trên doanh thu = Thu nhập/ Doanh thu → một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng thu nhập

Trang 36

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Một Vài Đặc Trưng Về Kinh Tế - Xã Hội Của Nông Hộ

4.1.1 Thông tin về nông hộ

4.1.1.1 Tình trạng sở hữu đất

Qua điều tra 50 hộ dân tại huyện thì 100% số hộ dân nuôi tôm có quyền sử dụng đất nuôi tôm gián tiếp, tức là nhận sự giao khoán đất sản xuất từ chính quyền địa phương (thời gian là 10 năm và thuế giao khoán là 3.000.000 đồng/ha/năm) Một số

hộ dân nuôi tôm có năng lực nuôi nhưng diện tích đất quá ít nên phải thuê đất các hộ

có đất mà không có đủ nguồn lực phát triển để sản xuất Số hộ thuê đất chiếm 21% số

hộ điều tra Ngoài ra, còn rất nhiều hộ khác đang tìm thuê đất để sản xuất Thời hạn thuê đất không cụ thể, dựa vào thời hạn giao khoán của chính quyền (thường là từ lúc thuê đến hết hạn giao khoán) Giá thuê từ 500.000 – 800.000 đồng/ 1000m2 tùy theo

sự thỏa thuận của bên thuê đất và bên cho thuê đất

Người nuôi tôm ở các xã điều tra chủ yếu là dân địa phương Ngoài ra, cũng có các nhà đầu tư từ nơi khác đến thuê đất để phát triển sản xuất, những nhà đầu tư này chủ yếu nuôi tôm theo quy mô khá lớn

4.1.1.2 Sự phân bố độ tuổi

Độ tuổi của chủ hộ phản ánh thực tế kinh nghiệm trong quá trình sản xuất Vì vậy, việc tìm hiểu về tuổi tác của người lao động chính trực tiếp tham gia nuôi tôm là vấn đề cần thiết Để xác định được độ tuổi của chủ hộ đang hoạt động sản xuất thường xuyên tại địa phương và năng lực lao động của từng khu vực ta cần dựa vào kết quả điều tra trực tiếp, đồng thời tái khẳng định bởi số liệu thống kê tại địa phương

Qua kết quả điều tra 50 hộ dân nuôi tôm, độ tuổi cụ thể của các hộ nuôi tôm được trình bày qua bảng 4.1

Trang 37

Bảng 4.1 Sự phân bố độ tuổi của các chủ hộ nuôi tôm

Trong tất cả các chủ hộ nuôi tôm được điều tra không có người có độ tuổi trên

60 và những chủ hộ không nằm trong diện điều tra cũng có rất ít người lớn hơn 60 tuổi

là một điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạt lại những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người nuôi tôm Những hộ nuôi tôm trên địa bàn có độ tuổi tương đối đồng đều, sự chênh lệch về độ tuổi của các chủ hộ là có nhưng vẫn nằm trong khoảng ≤ 60 Nếu như độ tuổi 20 – 40 (34%) được coi là thông minh nhạy bén, dám nghĩ dám làm để tiến đến mục tiêu mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất có thể Thì tuổi từ 41 – 60 lại được coi là những người rất ham học hỏi và có đủ chín chắn để tìm tòi, thu thập cho mình những kiến thức khoa học kỹ thuật mới để áp dụng vào sản xuất nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất

4.1.1.3 Trình độ văn hóa

Trong tất cả các lĩnh vực, trình độ văn hóa luôn đóng trò quan trọng Nó là yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và góp phần làm tăng năng lực quản lý của các chủ hộ nuôi

Dựa vào kết quả điều tra từ 50 hộ nuôi tôm của 3 xã được chọn, chúng ta thấy trình độ cấp 1 và 2 chiếm 52% trong tổng số hộ điều tra Những chủ hộ thuộc nhóm này thường là những người được sinh ra trong những thập niên 50 của thế kỷ 20 Khi

Trang 38

đó điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn nên việc học hành ít được chú trọng nên trình độ của bà con không được cao

Điều này cho thấy phần lớn những hiểu biết về nuôi tôm của bà con được tích lũu chủ yếu từ kinh nghiệm nuôi tôm lâu năm Nhưng do trình độ văn hóa của bà con không quá thấp (trong cộng đồng người nuôi tôm còn có người là trình độ đại học chuyên ngành) nên việc tiếp cận khoa học kỹ thuật mới mặc dù hơi khó khăn nhưng không có nhiều trở ngại Với kinh nghiệm nuôi lâu năm cộng thêm kiếm thức khoa học kỹ thuật của bà con ngày được nâng cao, trong thời gian tới thủy sản Quỳnh Lưu nói riêng và Nghệ An nói chung sẽ có những chuyển biến đáng kể

Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi tôm

Trình độ văn hóa Số lượng (hộ) Tỉ lệ (%)

để phát triển tốt hơn trong tương lai của chính bà con tại đây

4.1.1.4 Số lao động trực tiếp tham gia sản xuất trong nông hộ

Đa phần các vùng nuôi tôm đều nằm trong khu vực nông thôn nên có được ưu thế là nguồn lao động dồi dào và nhân công giá rẻ Nghề nuôi tôm phát triển đã tạo công ăn việc làm cho nhiều nông dân và thanh niên trẻ chưa có công ăn việc làm ổn định

Theo số liệu điều tra của chúng tôi thu thập được thì công việc của một ao nuôi tôm có diện tích từ 0,5 - 1 ha thì cần 3 - 5 người lao động nam Tại khu vực điều tra,

Trang 39

ao Số lao động thường xuyên của một hộ thường từ 3 - 20 người, nhưng trong số đó

số lao động gia đình chỉ có khoảng từ 1 - 5 người

Nghệ An là tỉnh có truyền thống hiếu học, nên những gia đình có điều kiện nuôi tôm thì cũng có khả năng đầu tư cho con cái học hành Chính vì thế, số lao động gia đình từ 1 - 2 người chiếm 58% (chủ yếu là chủ hộ và vợ hoặc con trai lớn), qua đó ta

có thể thấy được tiềm năng nâng cao năng lực cho người nuôi ở khu vực này là rất lớn

Số lao động của một hộ từ 2 - 4 người chiếm tỉ lệ rất lớn (88%) nếu so với diện tích nuôi thì hầu hết các hộ nuôi tôm phải thuê lao động bên ngoài Mặt khác, công việc chăm sóc một ao nuôi tôm không tốn nhiều sức nhưng phải quản lý thật chặt chẽ

và thường xuyên nên để đảm bảo thời gian làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, cần có nhiều người để thay nhau canh giữ và chăm sóc cho ao nuôi tôm tốt hơn Vì vậy, việc thuê nhân công ngoài là không tránh khỏi, giá thuê một lao động từ 1.300.000 - 2.000.000 đồng/tháng, tùy theo tính chất công việc và năng lực của từ người Ngoài lực lượng lao động thuê thường xuyên, các hộ nuôi tôm còn thuê thêm lao động thời vụ, số lao động này được thuê lúc thu hoạch, cải tạo và sửa chữa ao

Bảng 4.3 Số lao động của nông hộ trực tiếp nuôi tôm

Số lao động nuôi tôm/ hộ Số hộ Tỉ lệ (%)

Trang 40

4.1.1.5 Nguồn đất sử dụng

Qua kết quả điều tra 50 hộ nuôi tôm và tài liệu của các cơ quan quản lý cho thấy nguồn đất mà các hộ sử dụng thiết kế ao nuôi tôm là đất hoang hóa trước đây bỏ không, hoặc là đất trồng lúa kém hiệu quả

Theo điều tra của chúng tôi, sau khi quy họach chuyển đổi sang nuôi tôm thì diện tích đất đó đã mang lại hiệu quả kinh tế nhiều hơn Từ đó cải thiện đáng kể đời sống người dân ở 3 xã góp phần tăng thêm thu nhập và đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của toàn huyện

4.1.1.6 Mối liên hệ giữa số lao động và diện tích nuôi

Nuôi tôm thâm canh là một việc tốn rất nhiều lao động để theo dõi tôm nuôi trong ao suốt ngày Do đó cần có nhiều người để chia nhau canh giữ ao nuôi để kịp thời có biện pháp xử lý khi tôm nuôi gặp sự cố về việc bị sốc hoặc môi trường không thuận lợi Qua điều tra 50 hộ dân thuộc huyện Quỳnh Lưu thì giữa diện tích nuôi và lao động gia đình không thể hiện được mối liên hệ với nhau Đều này được ghi nhận

và trình bày qua bảng 4.4

Bảng 4.4 Mối liên hệ giữa diện tích và số lao động

Số lao động (người/ hộ) Diện tích nuôi (m 2 )/ hộ

Qua bảng 4.4 cho thấy với diện tích nuôi 10.000 - 20.000 m2 thì số lao động từ

1 - 2 người chiếm 14 trong tổng số 50 hộ được điều tra và chiếm 28% tổng số hộ điều tra Cũng với diện tích đó, số hộ có từ 3 - 4 lao động gia đình là 6 hộ, không có hộ nào trong phạm vi diện tích này có 5 - 6 người lao động gia đình cùng tham gia nuôi tôm

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w