BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINHKHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y ***************** NGUYỄN HUYỀN TRÂN SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN TRONG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG NIỆU DƯỚI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN TRONG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG NIỆU DƯỚI CỦA CHÓ VÀ
PHÂN TÍCH SỎI BÀNG QUANG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN HUYỀN TRÂN Lớp : DH05TY
Ngành : Thú Y
Niên khóa : 2005 – 2010
Tháng 08/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
*****************
NGUYỄN HUYỀN TRÂN
SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN TRONG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG NIỆU DƯỚI CỦA CHÓ VÀ
PHÂN TÍCH SỎI BÀNG QUANG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn :
TS VÕ THỊ TRÀ AN
BSTY VŨ KIM CHIẾN
Tháng 08/2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Huyền Trân
Tên đề tài: “Sự hiện diện của một số vi khuẩn trong nhiễm trùng đường
niệu dưới của chó và phân tích sỏi bàng quang” Đã hoàn thành luận văn theo
yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội Đồng
chấm thi tốt nghiệpkKhoaChăn nuôi Thú y ngày …/…/2010
Ngày tháng năm 2010
Giáo viên hướng dẫn
TS VÕ THỊ TRÀ AN
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5"
Formatted: Justified, Indent: Left: 2", First
line: 0.5"
Trang 4Xin gửi lời cảm ơn đến
Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm và Điều trị cùng các anh chị củaphòng điều trị và bộ môn Dược
Đã tận tình hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Xin chân thành biết ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn NuôiThú Y cùng toàn thể quý thầy cô của Trường Đại Học Nông Lâm đã truyền đạt kiếnthức và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Trang 5Tỷ lệ vi khuẩn Staphylococcus aureus trong mẫu nước tiểu trên chó viêm
nhiễm đường niệu dưới chiếm khá cao (41 %)
Số ca điều trị phẫu thuật và nội khoa là 60 ca Kết quả điều trị thành công sỏibàng quang tại Trạm chiếm tỷ lệ cao: nội khoa (100 %), ngoại khoa (94,59 %).Kết quả phân tích thành phần hóa học sỏi bàng quang ghi nhận sỏimagnesium ammonium phosphate chiếm tỷ lệ cao nhất (41,18 %) Phân tích cặnnước tiểu có thể dự đoán được thành phần của sỏi bàng quang để từ đó có hướngđiều trị nội khoa trong trường hợp kích thước sỏi nhỏ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa ii
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn iii
Lời cảm ơn iv
Tóm tắt khóa luận v
Mục lục vi
Danh sách các bảng và các hình xi
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đặc điểm sinh lý của chó 3
2.1.1 Thân nhiệt 3
2.1.2 Tần số hô hấp 3
2.1.3 Nhịp tim 3
2.1.4 Trưởng thành sinh dục và chu kỳ lên giống 3
2.1.5 Thời gian mang thai và số con đẻ ra trong một lứa 3
2.1.6 Một vài chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành 4
2.2 Cấu trúc đường niệu dưới 4
2.2.1 Niệu quản 4
2.2.2 Bàng quang 4
2.2.3 Niệu đạo 5
2.3 Nhiễm trùng đường niệu dưới 6
2.4 Bệnh lý sỏi bàng quang 8
2.5 Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu 9
2.5.1 Định nghĩa siêu âm 9
2.5.2 Đọc và phân tích hình ảnh siêu âm 9
Trang 72.5.2.1 Hình bờ 9
2.5.2.2 Hình cấu trúc 9
2.5.2.3 Độ hồi âm (mức độ phản âm) 9
2.5.2.4 Mật độ của mô 10
2.5.3 Các hiện tượng hay gặp trong siêu âm 10
2.5.3.1 Bóng âm 10
2.5.3.2 Sự hồi âm mạnh 10
2.5.3.3 Sự tăng âm 11
2.5.3.4 Sự giảm âm 11
2.5.3.5 Hiện tượng dội lại (đa âm phản hồi) 11
2.5.4 Các bước tiến hành siêu âm 11
2.5.4.1 Chuẩn bị thú 11
2.5.4.2 Tư thế thú trong siêu âm bệnh đường tiết niệu 11
2.5.4.3 Động tác quét đầu dò 12
2.5.4.4 Động tác lia đầu dò 12
2.5.4.5 Phương pháp siêu âm thận 12
2.5.4.6 Phương pháp siêu âm bàng quang 14
2.5.5 Hình ảnh siêu âm bình thường của thận 14
2.5.6 Hình ảnh siêu âm bình thường của bàng quang 14
2.6 Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu 16
2.6.1 Xét nghiệm nước tiểu 16
2.6.2 Phương pháp lấy mẫu nước tiểu 17
2.6.2.1 Thu thập tự nhiên 17
2.6.2.2 Chọc dò bàng quang 18
2.6.2.3 Thông niệu đạo 19
2.6.3 Các thông số trong kiểm tra nước tiểu 20
2.6.3.1 Tính chất lý hóa 20
2.6.3 Các thông số trong kiểm tra nước tiểu 20
2.6.3.1 Tính chất lý hóa 20
Trang 82.6.3.1.1 Khối lượng 20
2.6.3.1.2 Màu sắc 20
2.6.3.1.3 pH 20
2.6.3.1.4 Tỷ trọng 21
2.6.3.2 Phân tích về sinh hóa 21
2.6.3.2.1 Các chất bình thường không có trong nước tiểu 21
2.6.3.2.1.1 Glucose niệu 21
2.6.3.2.1.2 Protein niệu 21
2.6.3.2.1.3 Kiểm tra máu và hemoglobin trong nước tiểu 22
2.6.3.2.1.4 Bilirubin 22
2.6.3.2.1.5 Aceton niệu 22
2.6.3.2.1.6 Bạch cầu 23
2.6.3.2.1.7 Nitrite 23
2.6.3.2.1.8 Urobilinogen 23
2.6.3.2.2 Các chất bình thường cũng có trong nước tiểu 23
2.6.3.2.3 Phương pháp xét nghiệm 24
2.6.4 Thay đổi về sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường niệu dưới 24
2.6.5 Những vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu 24
2.7 Sỏi bàng quang 24
2.7.1 Nguồn gốc của sỏi 24
2.7.2 Phân loại sỏi 25
2.7.2.1 Struvite 25
2.7.2.2 Calcium oxalate 27
2.7.2.3 Urate và ammonium urate 28
2.7.2.4 Sỏi cystine 29
2.7.2.5 Sỏi silica 30
2.8 Những nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài 30
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 32
3.1 Thời gian và địa điểm 32
Trang 93.2 Đối tượng khảo sát 32
3.3 Nội dung 32
3.3.1 Sự hiện diện của một số vi khuẩn trong nhiễm trùng đường niệu dưới của chó 32
3.3.2 Phân tích sỏi bàng quang 32
3.4 Phương pháp thực hiện 32
3.4.1 Quy trình thực hiện 32
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng các ca bệnh có biểu hiện bệnh lý trên đường tiết niệu 33
3.4.3 Phương pháp chẩn đoán phi lâm sàng các ca bệnh trên đường niệu dưới bằng siêu âm 34
3.4.4 Phương pháp xét nghiệm nước tiểu 36
3.4.4.1 Trên môi trường MCA 36
3.4.4.2 Trên mô trường BA 37
3.4.5 Phương pháp phân tích thành phần hóa học của sỏi bàng quang 37
3.4.6 Các chỉ tiêu khảo sát 38
3.4.7 Xử lý số liệu 38
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Bệnh lý ở các cơ quan được chẩn đoán bằng phương pháp siêu âm 39
4.1.1 Tỷ lệ sỏi bàng quang theo giới tính 40
4.1.2 Tỷ lệ sỏi bàng quang theo lứa tuổi 40
4.1.3 Tỷ lệ sỏi bàng quang theo nhóm giống 41
4.1.4 Thành phần và tỷ lệ phần trăm các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường niệu dưới 42 4.1.5 Kết quả mẫn cảm kháng sinh đồ đối với vi khuẩn E.coli và S.aureus 42
4.2 Kết quả điều trị sỏi bàng quang 44
4.3 Sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của nước tiểu trong nhiễm trùng đường tiết niệu 48
4.4 Phân loại sỏi bàng quang dựa vào hình dạng tinh thể trong cặn nước tiểu 51
4.5 Phân tích sỏi bàng quang bằng phương pháp hóa học xác định thành phần sỏi 52 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
Trang 105.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 2.1 Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành 4
Bảng 4.1 Tỷ lệ (%) các nhóm bệnh lý được chẩn đoán qua siêu âm 40
Bảng 4.2 Tỷ lệ (%) phát hiện sỏi bàng quang theo giới tính 40
Bảng 4.3 Tỷ lệ (%) phát hiện sỏi bàng quang theo lứa tuổi 40
Bảng 4.4 Tỷ lệ (%) phát hiện sỏi bàng quang theo nhóm giống 41
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện kháng sinh đồ 10 chủng phân lập của S.aureus 43
Bảng 4.6 Kết quả điều trị chung 48
Bảng 4.7 Kết quả xét nghiệm các thông số nước tiểu trên chó bị nhiễm trùng đường niệu dưới 49
Bảng 4.8 Tinh thể sỏi tìm thấy trong 27 mẫu nước tiểu 51
Bảng 4.9 Kết quả phân tích thành phần hóa học của sỏi bàng quang 51
Sơ đồ 3.4 Quy trình thực hiện đề tài 33
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 2.1 Cấu tạo niệu đạo trên chó đực 6
Hình 2.2 Hình ảnh siêu âm bàng quang bình thường 15
Hình 2.3 Hình ảnh siêu âm bàng quang bị viêm 15
Hình 2.4 Tinh thể sỏi struvite 27
Hình 2.5 Sỏi struvite 27
Hình 2.6 Tinh thể của sỏi Calcium oxalate 28
Hình 2.7 Sỏi calcium oxalate 28
Hình 2.8 Tinh thể sỏi Urate 29
Hình 2.9 Sỏi Amonium Urate 29
Hình 2.10 Tinh thể sỏi cystine 30
Hình 2.11 Sỏi cystine 30
Hình 3.11 Hệ thống máy siêu âm 35
Hình 4.1 Hình ảnh siêu âm sỏi bàng quang trên chó đực (4 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 45
Hình 4.2 Viên sỏi trong bàng quang sau khi mổ của chó đực (7 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 46
Hình 4.3 Thông tiểu chó cái (8 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 47
Hình 4.5 Thông tiểu chó đực (6 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 48
Hình 4.6 Hình ảnh đại thể của sỏi calci oxalate ở chó đực (7 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 54
Hình 4.7 Hình ảnh đại thể của sỏi calci carbonate và amoniphosphate của chó cái (6 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 54
Hình 4.8 Hình ảnh đại thể của sỏi calci carbonate (8 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 54 Hình 4.9 Hình ảnh đại thể của sỏi struvite của chó cái (7 năm tuổi, nhóm giống ngoại) 55
Formatted: Normal
Trang 13ra hiện nay cũng có một số người đầu tư kinh doanh chó Chính từ sự đa dạng vềnhu cầu và mục đích nuôi chó mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều giống chó khácnhau được nhập từ nước ngoài.
Chủng loại chó đa dạng, số lượng chó nuôi ngày càng nhiều nên vấn đề bệnhtật là điều không thể tránh khỏi, từ những bệnh truyền nhiễm đến những bệnh kýsinh trùng, bệnh nội khoa… Do đặc trưng của nếp sống đô thị, chó thường đượcnuôi nhốt, ăn thực phẩm khô, ít được cung cấp đầy đủ nước uống cũng như tiểu tiệnhạn chế Chính vì những yếu tố này mà bệnh lý hệ tiết niệu cũng thường xảy ra,trong đó có bệnh lý ở bàng quang Đào Thị Thúy Hà (2010) đã khảo sát 3159 cabệnh đến khám và điều trị tại Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm và Điều trị thuộc Chicục Thú y thành phố Hồ Chí Minh với 1166 ca được chỉ định siêu âm tổng quátchiếm 36,91% Trong đó, 516 ca phát hiện bệnh lý ở hệ tiết niệu, chiếm tỷ lệ khácao (44,25%)
Trước đây, việc chẩn đoán bệnh đường tiết niệu thường dựa vào khám lâmsàng Ngày nay, bên cạnh việc chẩn đoán lâm sàng các bác sỹ thú y còn được hỗ trợbởi nhiều phương tiện chẩn đoán phi lâm sàng như siêu âm, X-quang, xét nghiệmmáu, xét nghiệm nước tiểu… Điều này giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và giúpcho công tác điều trị được hiệu quả hơn Trước đây khi muốn phân tích thành phầnhóa học của các mẫu sỏi thu được trong bàng quang chó phải gửi sang Đại học Y -Dược để thực hiện Việc tự thực hiện phân tích sỏi bàng quang tại Trạm là một
Trang 14trong những yêu cầu của cơ sở thực tập trong những đề tài nghiên cứu tiếp theo vềsỏi bàng quang trên chó.
Được sự đồng ý của bộ môn Nội Dược, khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đạihọc Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh,dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Võ Thị Trà An và BSTY Vũ Kim Chiến, chúng tôi
thực hiện đề tài: “Sự hiện diện của một số vi khuẩn trong nhiễm trùng đường
niệu dưới của chó và phân tích sỏi bàng quang” tại Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm
và Điều trị thuộc Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm sinh lý của chó
2.1.1 Thân nhiệt
Chó trưởng thành có thân nhiệt từ 38 – 39oC, chó con có thân nhiệt từ 35,5oC –36,5oC Thân nhiệt của chó bình thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như độtuổi (thú già cao hơn thú non); phái tính (thú cái cao hơn thú đực); sự hoạt động(thú hoạt động nhiều cao hơn thú ít hoạt động); nhiệt độ môi trường (nhiệt độ buổichiều cao hơn buổi sáng) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai buổi khoảng 0,2 – 0,5%(Trích dẫn bởi Phạm Lương Hiền, 2005)
2.1.2 Tần số hô hấp
Chó trưởng thành có tần số hô hấp từ 10 – 30 lần/phút, chó con từ 15 – 35lần/ phút Tần số hô hấp của chó cũng phụ thuộc vào các yếu tố như độ tuổi, pháitính, những hoạt động, nhiệt độ bên ngoài…(Trích dẫn bởi Phạm Lương Hiền,2005)
2.1.3 Nhịp tim
Chó trưởng thành từ 70 – 120 lần/phút, chó con từ 200 – 220 lần/phút Nhịptim có thể thay đổi theo loài, tuổi, tầm vóc, nhu cầu biến dưỡng cũng như tình trạngdinh dưỡng của thú, nhiệt độ môi trường, thân nhiệt (Trần Thị Dân và DươngNguyên Khang, 2007)
2.1.4 Trưởng thành sinh dục và chu kỳ lên giống
Tuổi trưởng thành sinh dục của chó đực từ 7 - 10 tháng tuổi, chó cái từ 9 - 10tháng tuổi Chu kỳ lên giống thông thường xảy ra mỗi năm 2 lần, thời gian động dục
từ 12 - 20 ngày, giai đoạn thích hợp cho sự phối giống từ ngày thứ 9 đến ngày thứ
13 sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên
2.1.5 Thời gian mang thai và số con đẻ ra trong một lứa
Trang 16Thời gian mang thai từ 59 - 63 ngày, số con đẻ ra trong một lứa phụ thuộcvào giống lớn hay nhỏ, thông thường từ 3 - 15 con/lứa, tuổi cai sữa từ 8 - 9 tuầntuổi.
2.1.6 Một vài chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành
Bảng 2.1 Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa trên chó trưởng thành.
Hồng cầu
Hemoglobin
Hematocrite
Bạch cầu
ASAT (aspartate aminotransferase)
ALAT (alanine aminotransferase)
1 – 6 mg/l
10 – 20 g/l30/120 g/l
2.2.2 Bàng quang
Trang 17Bàng quang là một túi cơ, có kích thước rất thay đổi tùy thuộc vào lượngnước tiểu đang chứa bên trong Nếu bàng quang rỗng sẽ có dạng hình quả lê, nằm
co lại hoàn toàn bên trong xoang chậu Nếu bàng quang chứa đầy nước tiểu có dạnghình bầu dục, phần sau nằm cố định trong hố chậu, phần trước tự do có thể lấn khốiruột đi vào trong xoang bụng Cổ bàng quang là phần cố định ở phía sau, liên hệ vớiống thoát tiểu và hai ống dẫn tiểu Mặt lưng của bàng quang nằm trên sàn xoangchậu Mặt trên tiếp xúc trực tràng và đoạn xuống của kết tràng, đoạn cuối tiếp xúcống dẫn tinh, túi tinh nang của chó đực; tiếp xúc với thân tử cung, âm đạo ở chó cái.Tam giác bàng quang là vùng được giới hạn từ cổ bàng quang đến chỗ đi vào 2 niệuquản Bàng quang được cố định nhờ 3 dây chằng: Dây chằng giữa và hai dây chằngbên Dây chằng giữa nối phần trước bàng quang đến cạnh trước xoang chậu và kéodài đến tận rốn Dây chằng bên có vết tích của hai động mạch rốn khi còn là bàothai (Phan Quang Bá, 2004)
Thành bàng quang có 3 lớp: Lớp mô liên kết bên ngoài Lớp giữa gồm 2 lớp
cơ trơn: cơ dọc và cơ chéo Riêng phần cổ bàng quang có một lớp cơ vòng rất mạnhgọi là cơ vòng bàng quang Lớp niêm mạc mỏng, màu nhạt và có nhiều nếp nhănkhi bàng quang rỗng Bàng quang là nơi dự trữ nước tiểu và cũng là nơi điều khiểnviệc thải nước tiểu nhờ vào tác động của hệ thần kinh và cấu trúc cơ vòng cổ bàngquang
2.2.3 Niệu đạo
Niệu đạo là phần nối tiếp phía sau của bàng quang để thải nước tiểu ra ngoài.Bao quanh niệu đạo ở thú đực là tuyến tiền liệt, niệu đạo trong xoang chậu: có cấutạo dạng xốp và cơ hành xốp, và niệu đạo ngoài xoang chậu (dương vật) gồm rễthận, qui đầu và có xương dương vật dài 8 - 10 cm nằm ở mặt lưng Phần cuối củaxương dương vật là rãnh xoắn Nơi đây sỏi và các chất cặn bã thường hay đóng lại.Hai nhánh tĩnh mạch của mặt lưng qui đầu đi đến xương rồi nhập làm một Niệuđạo thú cái tương đương niệu đạo nằm trong xoang chậu của thú đực nhưng không
có chứa tuyến (Trần Đình Cường, 2004)
Trang 18Hình 2.1 Cấu trúc niệu đạo trên chó đực
(Nguồn College of Veterinary medicine, Pet health topic)
2.3 Nhiễm trùng đường niệu dưới
Nhiễm trùng đường niệu dưới là nhiễm vi khuẩn ở bất cứ nơi nào dọc theođường tiết niệu, bao gồm bàng quang và niệu đạo Bệnh lý nhiễm trùng đường niệudưới thường xảy ra rất phổ biến ở chó, đặc biệt là trên chó cái, mặc dù tỷ lệ bệnhcũng khá cao trên chó đực Khi chó có dấu hiệu có thể quan sát được, nó có xuhướng thường xuyên đi tiểu, mệt mỏi khi đi tiểu, đi tiểu không kiểm soát hoặc ởnhững nơi không thích hợp (đi những chỗ nó không nên đi), nước tiểu đục, hoặc cómáu, bỏ ăn, sốt, mệt mỏi Viêm nhiễm đường niệu dưới thường gây đau đớn chothú Nhiều chó bị nhiễm trùng đường niệu nhưng không có bất kì biểu hiện lâmsàng nào để nhận biết Vì vậy, kết quả phân lập vi khuẩn nước tiểu của thú bị nghingờ nhiễm trùng đường niệu dưới rất quan trọng để giúp bác sĩ thú y có thể xác định
Trang 19chính xác bệnh Nhiễm trùng đường niệu dưới thường được gây ra bởi vi khuẩnđường ruột hoặc từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào qua niệu đạo và lên bàngquang, những trường hợp này được gọi là nhiễm trùng đường niệu đơn giản Nhữngcon chó cũng có thể gia tăng viêm nhiễm đường niệu dưới nếu nó có sỏi trong bàngquang hoặc ở nơi nào đó trong đường niệu, trường hợp này được gọi là nhiễm trùngphức tạp, kéo dài hoặc có thể tái phát rất khó khăn trong điều trị (Petwave, 2010).Nhiễm trùng đường niệu dưới có thể do nguyên nhân đơn giản Nhiễm trùngđơn giản thường bị gây ra bởi một loại vi khuẩn hoặc có một số con chó bị nhiễmtrùng hỗn hợp Vi khuẩn nhiễm trùng đường niệu dưới thường gặp trên chó cái hơn
vì nó có niệu đạo ngắn hơn so với chó đực Do đó, vi khuẩn chỉ cần di chuyển mộtđoạn đường ngắn hơn từ bên ngoài bộ phận sinh dục để vào bàng quang Những conchó bị hẹp đường niệu đạo bẩm sinh từ khi mới sinh ra cũng sẽ có nguy cơ caotrong nhiễm trùng đường niệu dưới Hầu hết vi khuẩn gây nhiễm trùng ở đườngniệu đều tập trung ở đường niệu dưới Đôi khi vi khuẩn di chuyển lên đường niệutrên, thông qua niệu quản vào thận gây nhiễm trùng nghiêm trọng
Hầu hết nguyên nhân gây nhiễm trùng đường niệu đều là do vi khuẩn Tuynhiên trong một số trường hợp hiếm, các vi sinh vật khác là thủ phạm gây viêm
nhiễm bao gồm Chlamydia, Mycoplasma, virus và nấm.
Nhiễm trùng đường niệu dưới cũng có thể do nguyên nhân phức tạp gâynhiễm trùng liên tục và tái nhiễm trên chó Những nguyên cơ tiềm ẩn gây nhiễmtrùng đường niệu bao gồm những khiếm khuyết trên cơ thể hoặc các rối loạn nhưcác khối u trong bàng quang, bướu thịt, sỏi bàng quang, viêm bể thận, viêm tuyếntiền liệt, hay bất thường ở đốt cột sống gây ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát tiểutiện của chó hoặc nâng cao độ pH của nước tiểu vì bất kì lý do nào tạo điều kiện cho
vi khuẩn phát triển Một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây viêm nhiễm đườngniệu dưới là việc sử dụng corticosteroid lâu dài Tiểu đường cũng là một nguyênnhân gây viêm nhiễm đường niệu dưới vì nó nâng mức glucose trong máu và bàithải ra ngoài qua nước tiểu tạo một môi trường hỗ trợ cho sự tăng trưởng của vi
Trang 20khuẩn Cuối cùng, một trong những nguyên nhân đang nổi lên và là một vấn đề khókhăn cho các bác sĩ trong quá trình điều trị là vi khuẩn đề kháng với kháng sinh.Chúng ta có thể chẩn đoán nhiễm trùng đường niệu bằng cách kiểm tra sinh
lý, sinh hóa, phân lập vi khuẩn nước tiểu kết hợp với phương pháp siêu âm
Nhiễm trùng đường niệu dưới rất khó để dự phòng và có thể gây nguy hiểmđến sự sống nếu không chữa trị kịp thời, nhiễm trùng không biến chứng có thể đượcđiều trị bằng kháng sinh theo kinh nghiệm của bác sĩ thú y (Petwave, 2010)
Hầu hết các viên sỏi được tìm thấy trong bàng quang và niệu đạo (chỉ 5 %sỏi có mặt trong thận và niệu quản) Các viên sỏi thường được đặt tên theo thànhphần hóa học của nó (calcium oxalate, silicate, urate…)
Điều kiện góp phần vào sự kết tinh của muối và sự hình thành sỏi bao gồmmột lượng muối khoáng lớn tích lũy trong một khoảng thời gian thích hợp trongđường tiết niệu, pH nước tiểu thuận lợi cho các muối kết tinh Bên cạnh đó, chế độ
ăn uống với lượng lớn protein và khoáng chất tạo điều kiện cho nước tiểu chó bãohòa muối khoáng hoặc nhiễm trùng do vi khuẩn cũng góp phần hình thành sỏi.Ngoài ra, còn những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình hình thànhsỏi như chế độ ăn uống, dược phẩm làm tăng mức calcium trong nước tiểu, có khilàm giảm hoặc tăng pH nước tiểu Do thói quen tập tính cho chó không được đi tiểu
tự do, thiếu vận động, thiếu nước uống
Trang 21Những dấu hiệu cho thấy có thể có sự tồn tại của sỏi trong hệ tiết niệu phụthuộc vào số lượng, loại, và vị trí của sỏi Hầu hết các sỏi nằm trong bàng quang và
do đó có dấu hiệu đi tiểu thường xuyên hoặc đi tiểu khó khăn và máu trong nướctiểu Sỏi nhỏ có thể đi vào niệu đạo ở chó đực dẫn đến tắc nghẽn một phần hay hoàntoàn đường tiết niệu, khi đó bàng quang căng to và thú tiểu khó Một số chó có sỏitrong niệu đạo không có biểu hiện gì hoặc có thể có máu trong nước tiểu, hoặc đauvùng bụng
Bác sĩ thú y có thể chẩn đoán sự hiện diện của sỏi trên cơ sở kết hợp bệnh sử,kiểm tra, hoặc sử dụng kỹ thuật siêu âm Ở chó đực, sỏi gây bí tiểu có thể sử dụngống thông để kiểm tra niệu đạo bằng cách cảm nhận có sự cản trở trong quá trìnhthông tiểu hay không
Các nguyên tắc trong điều trị sỏi trên chó bao gồm làm giảm tắc nghẽn niệuđạo và làm giảm sự căng to bàng quang do bí tiểu Điều này được thực hiện bằngcách sử dụng dụng cụ thông tiểu và trường hợp khẩn cấp phải thực hiện phẫu thuật.Phẫu thuật lấy sỏi hay sử dụng thuốc làm tan sỏi đều có những ưu điểm và khuyếtđiểm riêng
Phương pháp phẫu thuật có lợi thế là có thể xác định được loại sỏi và nhữngbất thường cấu trúc bên trong có thể được sửa chữa và có thể thu thập nước tiểu trựctiếp trong bàng quang để phân lập vi khuẩn Bất lợi của phương pháp phẫu thuật làphải gây mê và có thể xảy ra biến cố trong quá trình phẫu thuật đối với những conchó già và những con chó đã phẫu thuật lấy sỏi nhiều lần trước, hoặc khả năng loại
bỏ không hoàn toàn sỏi trong bàng quang
Sử dụng phương pháp nội khoa có thể làm giảm nồng độ muối khoáng trongnước tiểu, làm tăng độ hòa tan muối khoáng và tăng bài tiết nước tiểu Khuyết điểmchính của phương pháp nội khoa là phải có sự phối hợp tốt với chủ vật nuôi vì quátrình điều trị lâu dài và cần sự kiên nhẫn của chủ nuôi Bên cạnh đó, chi phí điều trịnội khoa cũng cao hơn do trong quá trình điều trị phải thực hiện phân tích nước tiểu
và siêu âm nếu được yêu cầu
Trang 22Chó bị tắc nghẽn đường tiểu điều trị bằng nội khoa không đạt kết quả cao.Một số sỏi như (calcium oxalate, calcium phosphate, silicate và sỏi hỗn hợp) điều trịnội khoa không có tác dụng.
2.5 Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu
2.5.1 Định nghĩa siêu âm
Sóng âm là hiện tượng vật lý trong đó năng lượng được dẫn truyền dưới dạngdao động của các phần tử vật chất
Đơn vị đo lường của sóng âm là Hz (Hertz) Trong ghi hình siêu âm y họcbiến thiên từ 1 MHz đến 12 MHz Tần số biểu thị số chu kỳ chấn động trong mộtgiây (1MHz = 1 mêga Hertz = 1 triệu chấn động trong một giây)
2.5.2 Đọc và phân tích hình ảnh siêu âm
2.5.2.1 Hình bờ
Có thể là liên kết bề mặt giới hạn giữa hai môi trưởng đặc có cấu trúc âmkhác nhau như giữa gan và thận phải, lách và thận trái, giữa khối u đặc với nhu môbình thường Hoặc là giới hạn của một cấu trúc bình bình thường hoặc bệnh lý:thành bàng quang, thành túi mật, tim, u nang
2.5.2.2 Hình cấu trúc
Hình cấu trúc được phân biệt thành nhiều loại gồm: cấu trúc đặc có hồi âmđồng nhất (nhu mô phủ tạng đặc) hoặc không đồng nhất (nhu mô bệnh lý phủ tạngđặc); cũng có thể là cấu trúc lỏng rỗng có hồi âm bình thường (bàng quang, túi mật)hoặc bệnh lý (u nang, ổ máu tụ, thận ứ nước) Như vậy, siêu âm phân biệt được cấutrúc choán chỗ
2.5.2.3 Độ hồi âm (mức độ phản âm)
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm, đôi khi gọi tắt là echo,phản ánh đặc trưng của cơ quan phản xạ lại sóng siêu âm
Người ta phân biệt độ hồi âm thành ba mức độ: hồi âm dày (hồi âm cao,hyperechoic) cho hình ảnh sáng trên hình siêu âm (hồi âm của xương, chủ mô,…),hồi âm kém (hồi âm thấp, hypoechoic) cho hình ảnh tối trên hình siêu âm (hồi âm
Trang 23của mô, của dịch mủ, ), hồi âm trống (không có hồi âm, sonolucent) cho hình ảnhđen trên hình siêu âm (hồi âm dịch).
Độ hồi âm trên máy siêu âm phản ánh độ sáng hay tối của hình quan sátđược Trên máy siêu âm đều có thang độ xám chuẩn, nhờ vậy ta có thể ước lượngđược sự thay đổi nếu có
2.5.2.4 Mật độ của mô
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), căn cứ vào độ hồi âm ta có thểước lượng được tổn thương ở dạng đặc hay lỏng Gồm 3 loại: tính chất đặc (hồi âmbên trong đồng nhất hoặc không đồng nhất), tính chất dịch (nang), tính chất hỗnhợp, có phần đặc – có phần dịch
Trên thực tế nhiều khi bản chất mô đặc nhưng có độ hồi âm rất kém – gầnnhư trống (ví dụ, hạch lymphoma) hay ngược lại, là chất dịch mủ nhưng độ hồi âmlại rất dày (ví dụ, abscess gan do vi trùng) Do đó, cần dựa thêm vào nhiều yếu tốkhác để xác định được dạng tồn thương
2.5.3 Các hiện tượng hay gặp trong siêu âm
2.5.3.1 Bóng âm
Ta sẽ thấy hiện tượng bóng âm (hay còn gọi là hiện tượng bóng lưng) mỗikhi chùm tia siêu âm bị một cấu trúc phản xạ rất mạnh chặn lại Trên ảnh siêu âm,vách phản xạ được biểu hiện bởi một sóng phản hồi rất đậm kèm theo sau đó là mộtvệt hình nón của bóng âm mà trong vệt bóng âm không một hình ảnh nào còn thấy
rõ được (Trích dẫn bởi Nguyễn Thị Tố Nga, 2008)
2.5.3.2 Sự hồi âm mạnh
Mô xương, vôi có độ cản âm rất lớn nên khi gặp loại mô này hầu hết sóngsiêu âm đều bị phản xạ ngược trở lại Trên ảnh siêu âm, mô này cho hình ảnh có độhồi âm rất dày (rất sáng), ví dụ như sỏi (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
2.5.3.3 Sự tăng âm
Tăng âm là hiện tượng chùm tia siêu âm đi qua môi trường có độ cản âmthấp (ví dụ như nang) thì phần sâu sẽ nhận được nhiều tín hiệu siêu âm hơn chungquanh (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Trang 242.5.3.5 Hiện tượng dội lại (đa âm phản hồi)
Hình ảnh xuất hiện trên màn hình siêu âm là một loạt hình ảnh giả của mặtphân cách với những khoảng cách đều nhau phía sau mặt phân cách thật với kíchthước và độ hồi âm nhỏ dần (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
2.5.4 Các bước tiến hành siêu âm
2.5.4.1 Chuẩn bị thú
Để dễ dàng cho việc siêu âm, cần cho thú nhịn ăn tối thiểu 6 giờ trước khithực hiện thao tác Cho thú uống nước (khoảng dưới 0,5 lít) trước khi siêu âmkhoảng 30 phút đến 1 giờ để tạo được lượng nước tiểu vừa đủ trong bàng quang.Tiếp theo là cạo lông vùng bụng và bôi gel dẫn âm
2.5.4.2 Tư thế thú trong siêu âm bệnh đường tiết niệu
Tư thế nằm ngửa: tư thế này được xem là chuẩn mực cho khám nghiệm siêu
âm bụng phù hợp với tình trạng sinh lý cơ thể, cho phép sự giãn cơ và làm dẹt lạikhoang bụng, từ tư thế này có thể bộc lộ hầu hết các phủ tạng trong ổ bụng Ở tư thếnghiêng phải và nghiêng trái: lúc này mặt phẳng vành của cơ thể vuông góc với mặtgiường Trong một số trường hợp cần thiết phải khám ở tư thế đứng
Tiến hành siêu âm ở tư thế thú đứng, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng tùy trườnghợp Tuy nhiên, tư thế nằm ngửa là tư thế được sử dụng phổ biến và thích hợp chohầu hết trường hợp siêu âm (Trích dẫn bởi Nguyễn Đoan Trang, 2006)
2.5.4.3 Động tác quét đầu dò
Được liên tưởng như động tác sử dụng chiếc quạt tay
Khi chiếc quạt chuyển động nhờ lắc cổ tay thì mặt phẳng của chiếc quạt sẽlàm nên hình khối dạng kim tự tháp Tương tự như vậy, thay vì giữ đầu dò cố định ởmột vị trí và ta sẽ chỉ nhận được thông tin trên một mặt phẳng cắt của đầu dò, việc
Trang 25quét đầu dò giúp nhận được lượng thông tin từ nhiều mặt cắt Nhờ đó, có thể thăm
dò không những toàn bộ khối thể tích mô trong khoảng thời gian ngắn mà còn nhận
được thông tin về mối liên hệ trong không gian ba chiều của các thành phần trong
cơ quan đang thăm dò
2.5.4.4 Động tác lia đầu dò
Nhược điểm của phần lớn thiết bị siêu âm ngày nay là chỉ tạo trường khảo
sát nhỏ và giới hạn để khắc phục nhược điểm này, ngoài động tác quét người ta có
thể dùng động tác lia đầu dò sang hai phía mặt cắt (nghĩa là hướng chuyển động của
đầu dò lúc này vuông góc với hướng chuyển động của động tác quét) để mở rộng
diện khảo sát đối với đầu dò loại rẽ quạt và cong, còn đối với đầu dò thẳng thì di
chuyển trượt đầu dò sang hai phía
2.5.4.5 Phương pháp siêu âm thận
Tại sụn mấu kiếm, di chuyển đầu dò về phía phải Dùng gan làm cửa sổ siêu
âm để đánh giá độ hồi âm của thận Sau khi có cái nhìn tổng quát thận phải, di
chuyển đầu dò về phía trái và dùng lách làm cửa sổ siêu âm cho thận trái Để tiện
cho việc quan sát, nghiên cứu và định vị chính xác bệnh tích, cần chú ý 5 đường cắt
cơ bản
Đường cắt dọc giữa thận là đường cắt ưu tiên để quan sát tổng quát quả thận
Quan sát từ ngoài vào trong, ta sẽ thấy
(a) Bao thận tạo nên bờ phân cách với gan (thận phải) và lách (thận trái) bằng một
đường tăng âm mảnh, trơn láng và đều Nhờ hình ảnh này ta thấy được hình
dạng elip hoặc bầu dục của quả thận
(b) Vỏ thận liền sau bao thận, có độ hồi âm hỗn hợp, mịn và đồng nhất Độ hồi âm
của vỏ thận ngang bằng hoặc giảm âm hơn độ hồi âm của gan nhưng lại tăng âm
hơn độ hồi âm của lách
(c) Tủy thận có độ hồi âm kém, đôi khi không thấy hồi âm (echo trống)
(d) Xoang thận ở trung tâm quả thận, có độ hồi âm rất tăng, gần như bằng bao thận
Đường cắt lưng bên của mặt cắt dọc giữa thận
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 26Hình ảnh siêu âm của mặt cắt này gần giống hoàn toàn mặt cắt dọc giữa thậntức là cũng có đường bao thận bên ngoài và cấu trúc tăng âm và vùng vỏ thận có độhồi âm đồng nhất Tuy nhiên, ta cũng quan sát thấy sự khác biệt giữa vùng tủy thận
Đường cắt ngang qua cực trên thận
Đây là đường cắt ngang Để có được đường cắt này, thú được đặt nằm ngửahoặc nghiêng sang phải hoặc trái tùy bên thận muốn khảo sát Trên hình siêu âm,cực trên thận có hình oval hoặc hình tròn Những cấu trúc được mô tả trên mặt cắtdọc (bao thận, vỏ thận, tủy thận, xoang thận) cũng được nhận thấy ở mặt cắt này
Đường cắt ngang qua rốn thận
Trên đường cắt này, thận được nhận thấy trên hình siêu âm có hình chữ C
Vỏ thận, tủy thận, xoang thận, mỡ quanh xoang thận, bể thận, các mạch máu vàniệu quản có thể được thấy rõ trên mặt cắt này Đường viền hồi âm cho thấy lưng vàbụng của bể thận và mạch máu tỏa ra từ xoang trung tâm đến vỏ thận Đường kẽnày được dùng đánh giá mức độ giãn của bể thận, một số tắc nghẽn của hệ thốngmạch máu và hệ thống thoát tiểu
Đường cắt ngang qua cực dưới thận
Tương tự như đường cắt ngang qua cực trên thận nhưng ở vị trí phần dướicủa thận Ứng dụng mặt cắt ngang trên thận và dưới thận để định vị bệnh một cáchchính xác hơn
2.5.4.6 Phương pháp siêu âm bàng quang
Trong siêu âm bàng quang cần chú ý các mặt cắt sau đây
Trang 27Mặt cắt ngang
Mặt cắt ngang của bàng quang căng là cấu trúc dịch không hồi âm
Có dạng hình vuông (khi mặt cắt gần đáy bàng quang) hoặc dạng hình tròn
(khi mặt cắt gần với đỉnh bàng quang)
Thành bên tương ứng với bó cơ thắt lưng chậu
Mặt cắt dọc
Mặt cắt dọc của bàng quang có dạng hơi giống hình tam giác Đỉnh tam giác
trên hình siêu âm ứng với đỉnh bàng quang
2.5.5 Hình ảnh siêu âm bình thường của thận
Bao thận tạo hình ảnh đường bờ phân tách chủ mô thận với các tổ chức xung
quanh Có bản chất là mô liên kết – xơ nên bao thận tạo một mặt hồi âm mảnh, tạo
một đường viền mảnh – sắc nét – trơn láng – đều đặn với độ hồi âm tăng rất sáng
Vỏ thận liền sau bao thận, thuộc dạng hồi âm hỗn hợp, cho hình ảnh mịn và
đồng nhất Tủy thận – tháp thận có độ hồi âm rất giảm, đôi khi giảm đến mức gần
như không có hồi âm Xoang thận là một vùng hồi âm trung tâm sáng, có độ tăng
âm giảm hơn so với rìa của các tổ chức (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Độ hồi âm từ dày đến kém: Xoang thận – Vỏ thận – Tủy thận
2.5.6 Hình ảnh siêu âm bình thường của bàng quang
Thành bàng quang có ba lớp hồi âm riêng biệt:
- Lớp trong cùng có hồi âm tăng Lớp này rất mỏng tương ứng với mặt phẳng
phân cách giữa bề mặt niêm mạc và môi trường nước tiểu trong lòng bàng
quang
- Lớp giữa hơi giảm hồi âm so với lớp trong cùng
- Lớp ngoài cùng có hồi âm tăng
Khi bàng quang căng đầy nước tiểu thì không có hồi âm Khi bàng quang xẹp,
các nếp gấp trên thành bàng quang sẽ xuất hiện làm bề dày thành bàng quang tăng
(Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 28Hình 2.2 Hình ảnh siêu âm bàng quang bình thường
Hình 2.3 Hình ảnh siêu âm bàng quang bị viêm, vị trí đánh dấu x là độ dày
của thành bàng quang khi bị viêm
2 6 Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu
2.6.1 Xét nghiệm nước tiểu
Xét nghiệm nước tiểu là phân tích nước tiểu Phương pháp này có thể chothấy rõ bệnh lý, xét nghiệm nước tiểu là một phần trong xét nghiệm thường quitrong kiểm tra sức khỏe Xét nghiệm nước tiểu bao gồm quan sát đại thể nước tiểu(coi màu sắc nước tiểu), xét nghiệm nước tiểu bằng các que nhúng và xét nghiệm vithể nước tiểu
Trang 29(a) Xét nghiệm đại thể nước tiểu là quan sát trực tiếp nước tiểu xem số lượng,
màu sắc nước tiểu, đỏ, đục, lợn cợn…
(b) Xét nghiệm nước tiểu bằng que nhúng là xét nghiệm có tính chất định lượng
giúp trả lời có hay không có bất thường khi thử bằng que nhúng, xét nghiệm này
làm trong vòng 1 phút Màu sắc thay đổi biểu hiện trên que nhúng sẽ được đọc bằng
cách so sánh với màu chuẩn qui định trên mẫu Xét nghiệm bằng que thử có thể
được sử dụng để xác định độ pH của nước tiểu, độ đậm đặc của nước tiểu, đạm,
đường, cetone, nitrite, heroin, thử thai và xác định có tính chất ước lượng số bạch
cầu có trong nước tiểu
Quy tắc sử dụng test nhanh bằng que nhúng
Dipstick là một miếng nhựa chia ra làm nhiều ô nhỏ mà mỗi ô nhỏ đó có
chứa thuốc thử hóa học Một ô nhỏ sẽ thử nghiệm với một chất cụ thể trong nước
tiểu Khi nước tiểu tiếp xúc với các thuốc thử, một phản ứng hóa học sẽ xảy ra mà
sự thay đổi màu sắc xảy ra dựa trên số lượng chất có trong nước tiểu Màu sắc của
từng ô sẽ được so với một bảng màu và xác định được mức độ hiện diện của các
chất
Một số thành phần trong nước tiểu có thể được xác định bởi Dipstick như
glucose, bilirubin, ketone, tỉ trọng, pH, protein, urobilinogen, nitrit, hồng cầu, bạch
cầu (Katharine Hillestad, 2004)
(c) Xét nghiệm vi thể nước tiểu: là xét nghiệm nước tiểu dưới kính hiển vi Mẫu
nước tiểu được lấy và mang đến phòng xét nghiệm, lấy một giọt nước tiểu nhỏ lên
lam kính để quan sát Trước tiên, nước tiểu được cho li tâm sau đó xem dưới kính
hiển vi, tìm các tinh thể, trụ, tế bào vẩy, vi trùng và các tế bào khác
Rất nhiều bệnh được phát hiện qua xét nghiệm nước tiểu Những thông số
hóa lý đo được sẽ cho phép xác định nguyên nhân và vị trí mắc bệnh Tuy nhiên, để
có một kết quả xét nghiệm chính xác các bác sĩ phải lấy nước tiểu đúng cách
Mẫu nước tiểu đòi hỏi phải sạch, tươi Mẫu này cho phép thực hiện các xét
nghiệm thường quy như test nhanh bằng que nhúng (Dipsticks) kiểm tra đạm niệu
hay các thành phần khác như hồng cầu, bạch cầu, trụ niệu, các tinh thể phosphat,
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 30oxalat calci… Khi có nghi ngờ bệnh lý chuyên khoa, có thể phải lấy mẫu nước tiểu
với những qui trình riêng để đáp ứng được các nhu cầu xét nghiệm cần thiết (Trích
dẫn liệu bởi Đào Thị Thúy Hà, 2010)
2.6.2 Phương pháp lấy mẫu nước tiểu
Chỉ định lấy mẫu nước tiểu trong những trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng
tiểu Bình thường nước tiểu vô khuẩn Trong một số trường hợp bệnh lý, trong nước
tiểu xuất hiện vi khuẩn Nước tiểu phải được lấy trước khi thú sử dụng kháng sinh
Sau khi lấy mẫu xong phải bảo quản mẫu trong điều kiện vô trùng, có thể thu thập
mẫu từ bàng quang, thông niệu đạo, nước tiểu giữa dòng Mẫu lấy xong phải gửi
ngay đến phòng xét nghiệm Nếu chậm trễ, có thể giữ trong tủ lạnh 4oC, nhưng
không quá 24 giờ Trước hôm lấy nước tiểu có thể cho thú bệnh uống ít nước để cho
nước tiểu cô đặc hơn (Nguyễn Tất Toàn, 2008)
2.6.2.1 Thu thập tự nhiên
Quy trình không đòi hỏi nghiêm ngặt và có thể thực hiện được bởi chủ nuôi
Tuy nhiên để phương pháp thu thập nước tiểu tự nhiên được chấp nhận cho việc lấy
mẫu để phân tích thường quy thì chủ nuôi phải thu thập nước tiểu giữa dòng
Phương pháp này bất lợi ở chỗ là mẫu có thể bị nhiễm những tế bào, vi trùng, mảnh
vỡ tế bào từ đường niệu đạo, sinh dục hay từ lông da Vì vậy trong trường hợp cần
xác định protein niệu, mủ niệu hay để kiểm tra vi sinh vật từ mẫu được chỉ định
trước, việc thu thập mẫu để phân tích từ bàng quang hay thông niệu đạo là cần thiết
và tốt nhất
Khi muốn chủ nuôi thu thập nước tiểu tự nhiên tại nhà, chúng ta cần gửi lọ
đựng nước tiểu và hướng dẫn cách lấy nước tiểu một cách cặn kẽ Một số lời
khuyên cần thiết cho chủ nuôi như sau
- Chọn một chén cạn để thu thập nước tiểu Kích thước của chén phải đủ lớn để
đón dòng chảy của nước tiểu Đối với chó cái, kích thước của chén nên đủ nhỏ
để phù hợp giữa hai chân sau của chó vì cấu tạo niệu đạo của chó cái ngắn hơn
chó đực
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 31- Chén để thu thập nước tiểu phải được rửa bằng xà phòng và để khô tự nhiên.Chén phải thật sạch sẽ để phòng ngừa sự nhiễm khuẩn các mẫu nước tiểu.Không sử dụng khăn để lau khô chén để tránh lây lan vi khuẩn từ khăn vào chén.
- Mang chén theo và dẫn chó đi dạo một vòng, nếu là chó đực khi nó chuẩn bị giởchân lên để chuẩn bị đi tiểu, đặt chén trên mặt đất phía dưới dòng nước tiểu đểlấy được mẫu; nếu là chó cái khi nó ngồi xổm xuống, nhẹ nhàng đặt chén giữahai chân và phía dòng nước tiểu để thu được mẫu Lưu ý phải lấy nước tiểu giữadòng
- Hãy kiên nhẫn vì sẽ mất vài lần chủ nuôi không lấy được mẫu nước tiểu Đầutiên thú nuôi có thể ngừng tiểu khi chủ nuôi cố gắng lấy mẫu Đừng tức giận vớithú nuôi vì nó không hiểu là chủ nuôi muốn làm gì nó và không muốn tiểu lêntay của chủ
- Nếu có thể thì lập tức chuyển mẫu nước tiểu đến cho Trạm chẩn đoán, nếukhông có điều kiện mang lên ngay thì đặt lọ nước tiểu trong túi nhựa có thể niêmkín lại để trong tủ lạnh đề hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có thể gây sai lệchkết quả xét nghiệm và đem đến phòng xét nghiệm trong vòng 24 giờ
Tuy nhiên vấn đề đưa lọ nước tiểu cho chủ nuôi về lấy nước tiểu còn gặpnhiều hạn chế vì chủ nuôi không kiên nhẫn lấy mẫu đến cùng và không tuân thủnhững nguyên tắc lấy nước tiểu dẫn đến sai lệch kết quả xét nghiệm
2.6.2.2 Chọc dò bàng quang
Phương pháp này thường dùng kim đâm xuyên qua thành bụng để thu thậpnước tiểu tránh tạp nhiễm Tuy nhiên, việc lấy nước tiểu bằng phương pháp chọchút phức tạp hơn lấy mẫu nước tiểu giữa dòng hoặc qua ống thông tiểu Đầu tiên,phải xác định bàng quang căng đầy Sát trùng trên khớp xương mu 2 cm, sau đóchọc hút bằng xi lanh và kim vô trùng để tiến hành lấy mẫu, tùy theo thú lớn nhỏ
mà kỹ thuật viên sẽ chọn kim thích hợp Kỹ thuật có thể được áp dụng là chó nằmngửa hoặc ở tư thế đứng Bất cứ ở tư thế nào, thủ thuật luôn được khuyến cáo làkim đâm xuyên qua thành bụng hay một bên của thành bụng của bàng quang đểgiảm thiểu những rủi ro do tổn thương đường dẫn niệu và những mạch máu lớn ở
Trang 32bụng Kim nên đâm xuyên trực tiếp qua bàng quang một góc 45o sẽ tạo ra một
đường chéo, khi rút kim ra nhẹ nhàng sẽ đóng kín vị trí chỗ bàng quang Trước khi
tiến hành, nên cắt lông tại vị trí cần tiến hành và sát trùng alcohol và iodua Lọc bỏ
đi 20 ml nước tiểu đầu, sau đó hút 20 ml để gửi xét nghiệm Sau đó cần hút thêm để
bàng quang hết nước tiểu, tránh rò qua đường kim
2.6.2.3 Thông niệu đạo
Thông niệu đạo là phương pháp có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh đường niệu
đạo Nếu ta cho thẳng ống thông vào bàng quang để thông nước tiểu thì vừa để điều
trị vừa để chẩn đoán
Để thông được niệu đạo ta cần phải có ống thông bằng cao su hoặc bằng
nhựa, độ to nhỏ khác nhau tùy kích thước của thú Khi thực hiện thao tác thông tiểu
phải nhẹ nhàng để hạn chế gây tổn thương và nhiễm trùng
Một số vấn đề cần phải chú ý khi thao tác ống thông tiểu
- Tránh sử dụng ống thông tiểu khi không cần thiết, đặc biệt là ở những chó bệnh
có nguy cơ gia tăng nhiễm trùng đường niệu và những di chứng của nó Những
đối tượng cần chú ý là thú bị nhiễm trùng đường niệu, đặc biệt là nhiễm trùng
đường niệu dưới, hoặc bị tiểu đường
- Quá trình thực hiện thông tiểu phải được thực hiện bởi kỹ thuật viên có kinh
nghiệm
- Tránh đâm quá sâu ống thông tiểu để hạn chế sự tổn thương lớp màng nhầy
niêm mạc bàng quang
Toàn bộ quy trình được thực hiện với sự chú ý nghiêm ngặt về kỹ thuật vô
trùng và thao tác nhẹ nhàng bao gồm việc cắt lông xung quanh bao quy đầu hay âm
đạo và dùng povidone – iodine hay chlorhexidine (dùng trong phẫu thuật) để rửa
sau khi đã rửa nước muối Găng tay vô trùng được sử dụng cho sự vô trùng và khi
thao tác ống thông tiểu Sau khi đã đặt ống thông tiểu, bỏ 10 – 20 ml nước tiểu đầu,
sau đó lấy khoảng 20 ml vào ống nghiệm vô trùng để gửi xét nghiệm
2.6.3 Các thông số trong kiểm tra nước tiểu
2.6.3.1 Tính chất lý hóa
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 332.6.3.1.1 Khối lượng
Ở chó lượng nước tiểu khoảng 0,25 – 2 lít/24h Nước tiểu tăng hay giảm đều
là các dấu hiệu bệnh lý Khối lượng nước tiểu của thú giảm trong suy thận, bệnh
tim, xơ gan, mất nước, mồ hôi nhiều, huyết áp hạ, ăn uống ít nước và khối lượng
nước tiểu của thú tăng trong đái tháo đường, đái tháo nhạt, tăng huyết áp, viêm thận
mãn, uống nhiều nước, dùng các chất lợi niệu, thời kỳ lại sức sau viêm phổi, viêm
gan do virút, thương hàn
2.6.3.1.2 Màu sắc
Bình thường màu vàng nhạt đến vàng tươi, lâu có cặn
Thay đổi sinh lý
- Lúc mệt mỏi, sốt nhiễm khuẩn, ăn uống thái quá: nước tiểu màu nâu sẫm
- Uống quinin, acid picric, santonin: nước tiểu màu vàng
- Ăn nhiều rau, thịt, nước tiểu đục do có nhiều phosphate
Thay đổi bệnh lý
- Màu đỏ: có máu
- Màu nâu: tiểu ra hemoglobin, porphyrin
- Đục: tiểu ra phosphate, urate; nước tiểu có mủ hoặc dưỡng chấp
2.6.3.1.3 pH
Dùng pH kế để đo hoặc dùng giấy đo pH
Bình thường pH nước tiểu của chó có tính hơi acid khoảng 6 – 7 pH nước
tiểu được quyết định bởi sự điều hòa nồng độ bicarbonate và H+của ống thận pH
nước tiểu thường chịu ảnh hưởng của thức ăn hằng ngày Con vật ăn nhiểu protein
thì nước tiểu có pH acid; ngược lại, ăn nhiều ngũ cốc hoặc cỏ thì nước tiểu trung
tính hoặc hơi kiềm (Hogan và Wane, 2003)
Do đó, xác định được pH nước tiểu có lợi vì pH thay đổi có liên quan đến
những bất thường trong cơ thể (Rose, 2001)
2.6.3.1.4 Tỷ trọng
Bình thường tỷ trọng nước tiểu: 1,020 – 1,050
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 34Lượng nước tiểu mỗi ngày thay đổi theo thức ăn, công việc, lượng nước tiêuthụ, mùa và nhiệt độ bên ngoài Lượng nước trong nước tiểu do sự vận chuyển thụđộng từ gian bào vào ống thận do sự chênh lệch áp suất thẩm thấu Tỷ trọng nướctiểu thay đổi theo tỷ lệ tương đối các chất hòa tan và nước Đánh giá tỷ trọng có giátrị lâm sàng bởi vì tỷ trọng nước tiểu không bình thường do những thay đổi về môitrường sống (Schmidt, 1997).
Tỷ trọng nước tiểu phản ánh không những số lượng các phần tử mà cả kíchthước và sự hấp dẫn giữa phần tử Vì thế hàm lượng protein trên 400 mg/dl có thểlàm tăng giá trị tỷ trọng lên 0,001; glucose trên 270 mg/dl làm tăng 0,001
2.6.3.2 Phân tích về sinh hóa
2.6.3.2.1 Các chất bình thường không có trong nước tiểu
Protein, đường, dưỡng chấp, hemoglobin, muối mật, sắc tố mật là nhữngthành phần mà bình thường nước tiểu không có hoặc có rất ít, không đáng kể Nếunước tiểu có các chất này thì chứng tỏ có tổn thương của hệ thống thận hoặc tiếtniệu
2.6.3.2.1.1 Glucose niệu
Glucose niệu do tăng đường huyết quá cao so với mức lọc tối đa của quảncầu thận hoặc do giảm khả năng tái hấp thu glucose ở ống thận Nói chung, đườnghuyết vượt quá 10 mmol/lít (180 mg/dl) đưa đến glucose niệu Tuy nhiên, vận tốcdòng chảy trong ống thận và khả năng tái hấp thu trong ống thận không đồng nhấtcũng là các yếu tố gây glucose niệu (Maddox và Brenner, 1996)
2.6.3.2.1.2 Protein niệu
Protein trong nước tiểu thường có nguồn gốc từ thận nếu không có lẫn hồngcầu hoặc tế bào bị viêm Nó có thể do rò rỉ ở quản cầu hoặc do tái hấp thu kém ởống lượn gần hoặc cả hai; do viêm thận cấp hoặc suy thận mãn Protein trong nướctiểu có lẫn hồng cầu và bạch cầu thì việc giải thích khó khăn hơn Sự hiện diện bạchcầu báo hiệu một đáp ứng viêm cùng với khả năng rò rỉ protein huyết thanh Khihồng cầu và bạch cầu hiện diện và phản ứng protein dương tính, khả năng có bệnh
đi kèm ở một vị trí khác hay với nguyên nhân khác, vì thế cần giới hạn lại nguyên
Trang 35nhân hiện diện hồng cầu và bạch cầu và đánh giá protein trong máu tạm thời haykéo dài (Knepen và Stanton,1997).
2.6.3.2.1.3 Kiểm tra máu và hemoglobin trong nước tiểu
Bình thường trong nước tiểu không có máu và hemoglobin Nước tiểu cómáu do rò rỉ hemoglobin (hemoglobin niệu) và myoglobin qua quản cầu(myoglobin niệu), tràn hồng cầu trực tiếp vào ống niệu sinh dục (huyết niệu) hay dovấy nhiễm Việc này xảy ra trong những bệnh tiêu huyết trong mạch máu Xuấthuyết bất cứ nơi nào từ mao mạch quản cầu đến đầu mút cơ quan sinh dục đều cóthể gây huyết niệu, do đó huyết niệu không thể cho là dấu hiệu tại chỗ Hemoglobinniệu do dung huyết thì nước tiểu đỏ trong Hemoglobin niệu do huyết niệu thì nướctiểu đỏ đục (Brenner và Rector, 1995)
2.6.3.2.1.4 Bilirubin
Trong tình trạng chảy máu, lượng hemoglobin thừa hiện diện trong thận, một
số đi qua thận nhưng một số lớn được thoái hóa thành bilirubin kết hợp ở ống thận
và bài tiết vào nước tiểu Chứng bilirubin nước tiểu xuất hiện sớm trong bệnh dunghuyết trên chó và có thể không do nghẽn hệ thống ống mật ở gan Ở chó đực,bilirubin trong huyết tương Bilirubin có trong nước tiểu khi hồng cầu bị phá hủyquá nhiều, viêm gan, xơ gan, nghẽn ống mật, gan bị hư hại do độc chất, viêm ganmãn kết hợp nhiễm hemosiderin thứ phát và viêm gan hoại tử do thiếu máu (Finco,1997)
2.6.3.2.1.5 Aceton niệu
Ketone bất thường trong nước tiểu ở chứng ketoacidosis, đái tháo, quá liềuinsulin, nôn mửa, nhịn đói, ăn kiêng, sốt nặng do nhiễm trùng Thể ketone trong cơthể bao gồm acetoacetate, betahydroxybutyrate và acetone Những hợp chất nàyđược tạo ra từ phân giải lipid, số lượng được tạo ra tăng lên đáng kể trong tình trạngoxid hóa lipid để cung cấp lượng lớn năng lượng Thể ketone xuất hiện trong dịchlọc và được tái hấp thu bởi ống thận Trong điều kiện bình thường, thể ketone tronghuyết tương rất thấp và chúng không có trong nước tiểu Thể ketone thường thấy ở
Trang 36loài nhai lại trong lúc đói nhưng ít khi có trong chó mèo Tiểu đường là bệnh liênquan đến ketone niệu (ketouria) (Adrogue và Wesson, 1994)
Tăng urobilinogen trong nước tiểu có thể do thận viêm và dung huyết; thiểunăng tế bào gan làm lượng urobilinogen tái hấp thu được bài tiết trở lại nước tiểuđưa đến tăng thất thoát ở đại tuần hoàn hoặc do gan quá tải, vỡ hồng cầu, tăng sảnxuất urobilinogen, chức năng gan hạn chế, gan nhiễm khuẩn, ngộ độc, xơ gan.Urobilinogen ở mức thấp do sản xuất mật kém, nghẽn ống mật Mức bìnhthường trong nước tiểu ít hơn 17µmol/l (< 1 mg/dl) (Leib và Monroe, 1997)
2.6.3.2.2 Các chất bình thường cũng có trong nước tiểu
Các chất này luôn ở trong một giới hạn nhất định, ra ngoài giới hạn đó làbệnh lý Thí dụ như urê bình thường có 20 đến 30 g/lít nước tiểu, giảm trong suythận, tăng trong ăn nhiều thịt và một số bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, acid uric bìnhthường 0,5g/lít và tăng trong bệnh gút
2.6.3.2.3 Phương pháp xét nghiệm
Quan sát bằng mắt các chỉ tiêu màu sắc, mùi, độ đục Sau đó sử dụng bănggiấy thử Multiple reagent strips for urinalysis của công ty Bayer và đọc bằng máy
so màu tự động Clinitex
Kiểm tra cặn nước tiểu bằng cách cho nước tiểu vào máy ly tâm với tốc độ
3000 vòng/phút trong 5 phút, gạt bỏ phần nước nổi và dùng tay búng lên thành ống
Trang 37ly tâm để trộn đều cặn Sau đó nhỏ 1 giọt thuốc nhuộm Steiheiner Malbin Staininglên mỗi giọt cặn trên lame và đậy lamelle lại Mẫu được xem dưới kính hiển viquang học ở độ phóng đại 400 và 1000 Ghi nhận sự xuất hiện các loại cặn có trong
nước tiểu
2.6.4 Thay đổi về sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường tiết niệu
Khi chó bị nhiễm trùng phần trên đường tiết niệu, xét nghiệm nước tiểuthường phát hiện máu, mủ, protein, vi khuẩn và bạch cầu bị bong tróc ở một vàiloại
Trong trường hợp chó bị nhiễm trùng phần dưới đường tiết niệu, xét nghiệmnước tiểu thường thấy hồng cầu, bạch cầu, tế bào mủ, protein, có thể có vi khuẩn.Còn trong trường hợp chó bị sỏi tiết niệu, xét nghiệm nước tiểu phát hiện máu vàtinh thể niệu, các loại khoáng cấu tạo nên tinh thể, mủ, protein và vi khuẩn
2.6.5 Những vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu
Enterobacter spp, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus spp, Streptococcus spp là
những vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng đường tiết niệu (Nguyễn Tất Toàn, 2008).Những mẫu nước tiểu được thu thập thường được nuôi cấy trên môi trườngthạch máu (BA) và MacConkey (MCA)
2.7 Sỏi bàng quang
2.7.1 Nguồn gốc của sỏi
Sỏi bàng quang một phần do sỏi thận và sỏi niệu quản di chuyển xuống, cònhầu hết được tạo thành tại chỗ do ứ đọng nước tiểu bởi thiếu nước uống, thiếu tự do
để thải nước tiểu, nhiễm khuẩn, hẹp ống thoát tiểu, chấn thương vùng chậu bàngquang hay do khối u chèn ép
2.7.2 Phân loại sỏi
2.7.2.1 Struvite
Magnesium ammonium phosphate (MAP) hay còn gọi là struvite Dạng trònhoặc nhiều mặt, phẳng hay xù xì, màu kem hay xám Sỏi struvite chiếm 41 % trong28.629 mẫu sỏi được đem đến phân tích tại trung tâm Sỏi Minnesota vào năm 2003
Trang 38Calcium oxalate chiếm 40 %, calcium phosphate chiếm 0,5 %, urate chiếm 6
%, còn lại là các loại sỏi khác Hầu như sỏi struvite thường gặp ở chó nhiễm trùngđường tiết niệu do men urease được sản sinh bởi vi khuẩn (mà chủ yếu là do
Staphylococcus) Theo Osborne (2004), nhiễm trùng có liên quan đến hình thành sỏi
struvite có thể xảy ra ở bất kì giống chó nào Sỏi struvite được hình thành trên 160giống chó đã được đánh giá ở trung tâm sỏi Minnesota bao gồm: MiniatureSchnauzers (12 %), Shih Tzus (9 %), Bichon Frises (7 %), Cocker Spaniels (5 %),Lhasa Apsos (4 %) và các giống còn lại là (25 %) Sỏi struvite thường phổ biến trênchó cái (85 %) cao hơn trên chó đực (15 %) Lứa tuổi hay bị sỏi là khoảng 6 nămtuổi (từ khoảng 1 đến 19 năm tuổi)
Sỏi struvite thường được lấy trên đường tiết niệu dưới (95 %) hơn là từđường niệu trên (5 %) Nước tiểu phải được bão hòa với MAP để sỏi struvite đượchình thành và nước tiểu sẽ tiếp tục bão hòa với MAP để sỏi struvite được phát triển.Mặc dù nước tiểu bão hòa MAP có thể được gây ra bởi nhiều nguyên nhân nhưngnguyên nhân chính vẫn là nhiễm trùng đường niệu bởi sự sản xuất men urease của
vi khuẩn, vi khuẩn thủy phân urê để hình thành ammonia Sau đó hình thành các ionamoni làm tăng pH nước tiểu Thứ hai là trong nước tiểu hình thành số lượng lớnurea Bên cạnh đó sự gia tăng bài tiết magiê, amoni, phốt pho có thể làm tăng nguy
cơ hình thành sỏi struvite
Nguồn gốc của urê có trong nước tiểu chủ yếu là do chế độ ăn với hàm lượngcao protein Ngoài ra, chế độ ăn nhiều protein cũng sẽ làm tăng bài thải phospho.Tinh thể struvite thường được hòa tan nếu pH nước tiểu thấp hơn 6,3
Ngoài việc góp phần vào sự hình thành của MAP, nồng độ cao của cáccation amoni kết hợp với nhóm sulphate có trên bề mặt của lớp bảo vệglycosaminoglycans (GAGS), lớp này bao phủ trên bề mặt màng nhầy của đườngtiết niệu Kết quả là các tinh thể struvite bám lên bề mặt niêm mạc, đây là điều kiệntốt để nó có thể duy trì và tăng trưởng trên đường tiết niệu Sự tổn thương của lớpbảo vệ GAGS bởi nồng độ cao của amonia cũng dẫn đến việc gia tăng vi khuẩn bámtrên bề mặt màng nhầy của đường tiết niệu
Trang 39Những vi khuẩn bị bẫy bắt trong ma trận tinh thể của sỏi struvite vẫn cònhữu hiệu trong thời gian dài Trong vị trí này nó thường được bảo vệ khỏi tác độngcủa thuốc kháng sinh Mặc dù nước tiểu và bề mặt của sỏi có thể không còn vikhuẩn sau khi điều trị kháng sinh thích hợp nhưng sự tồn tại của vi khuẩn vẫn còn ởdưới bề mặt của sỏi Sự quan sát này có tầm quan trọng lâm sàng bởi vì sớm ngưngđiều trị kháng sinh có thể gây tái phát lại nhiễm khuẩn đường niệu nhanh chóng vàlàm giảm hiệu quả của liệu pháp dinh dưỡng.
Nhiễm trùng đường niệu nguy cơ gây ra sỏi có thể hình thành trong vòng vàingày đến vài tuần sau khi nhiễm trùng đường tiết niệu với những vi khuẩn có khảnăng sản xuất urease
Sỏi struvite có xu hướng tái phát sau khi phẫu thuật hoặc điều trị bằng nộikhoa Nguyên nhân có thể trong quá trình giải phẫu không lấy hết sỏi ra hoặc khôngkiểm soát tốt viêm nhiễm đường niệu dẫn đến vi khuẩn sản xuất urease Vì vậynguyên tắc để phòng ngừa tái phát sỏi struvite là phải điều trị triệt để và kiểm soátđược viêm nhiễm đường niệu dưới (Osborne, 2004)
Bên cạnh đó, có thể điều trị bằng khẩu phần chuyên biệt, giảm Mg, P vàprotein với cơ chế là nước tiểu thiếu bão hòa làm cho sỏi hòa lẫn trong nước tiểu vàsau đó theo nước tiểu ra ngoài Thêm muối cũng giúp chó uống nhiều và tiểu nhiềuhơn
Kháng sinh sẽ được sử dụng trong một thời gian ngắn kèm với việc sử dụngthực phẩm dành cho thú bị sỏi bàng quang của Royal canine (Urinary LP18) liên tụctrong 4 đến 6 tháng cho đến khi sỏi không còn hiện diện khi siêu âm Nếu sỏi vẫncòn sau khi điều trị 2 tháng thì cần phẫu thuật
Trang 40Hình 2.4 Tinh thể của sỏi struvite Hình 2.5 Sỏi struvite
(Nguồn : Wikipedia) (Nguồn Calculi reference
laboratory)
2.7.2.2 Calcium oxalate
Phổ biến thứ hai, chiếm 30 – 50 % số chó bị sỏi và đặc biệt trên chó đực ở tất
cả các giống trừ Dalmatians Sỏi này xuất hiện ở hai dạng monohydrate tròn vàphẳng, còn hydrate luôn có bề mặt xù xì thô ráp, đôi khi thấy cả hai loại sỏi và cũng
có khi được tìm thấy cùng với các loại sỏi khác như calcium phosphate, struvite hayammonia urate
Vài yếu tố nguy cơ kết hợp với nhau làm tăng khả năng tạo sỏi như chứngtăng calcium trong máu, chứng tăng calcium trong nước tiểu, đang mắc bệnhCushing hay đang sử dụng cortisone
Sỏi calcium oxlate có tỷ lệ tái phát cao, cần có liệu trình lâu dài và tích cực
để giám sát, chú ý mức Ca trong máu Giảm lượng protein, Ca và Na mà vẫn khônglàm cho nước tiểu acid là khẩu phần lý tưởng Bổ sung potassium citrate nhằm ngănchặn sự tạo thành tinh thể và giữ pH nước tiểu từ 5,5 – 7
Hạn chế các thực phẩm có nhiều oxalate, nhiều Ca như các rau dền, cần tây
và các thực phẩm giàu protein như sữa, muối NaCl, vitamin D, C và các loại thuốclàm cho nước tiểu acid, kể cả cortisone vì nó làm tăng mức Ca trong nước tiểu.Kiểm tra nước tiểu sau phẫu thuật hai tuần, nếu còn tinh thể thì bổ sungpotassium citrate, nếu không hiệu quả sẽ bổ sung vitamin B6 và tái kiểm tra nướctiểu mỗi 3 tháng một lần cho đến khi không còn tinh thể trong nước tiểu
Phương pháp điều trị sỏi calcium oxalate hiệu quả nhất vẫn là điều trị lấy sỏi
và can thiệp kháng sinh khi có nhiễm trùng Ngoài ra, cần sử dụng thực phẩmchuyên biệt nhằm hạn chế protein và sodium; ngưng sử dụng vitamin C và các chấtgây nước tiểu acid