Theo Phan Trung Nghĩa 2009, bệnh dễ gây chết trên nhóm heo con sơ sinh dưới 10 ngày tuổi khoảng 10 % nhóm heo con theo mẹ do tiêu chảy mất nước nặng và không được bù nước kịp thời.. Có n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN - NUÔI THÚ Y
****************
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT CHỨNG TIÊU CHẢY VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
TRÊN HEO CON THEO MẸ TẠI MỘT
TRẠI HEO CÔNG NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HỮU HIỆP Lớp: DH05DY
Ngành: Dược Thú Y Niên khoá: 2005 – 2010
THÁNG 08/ 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
****************
NGUYỄN HỮU HIỆP
KHẢO SÁT CHỨNGTIÊU CHẢY VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
TRÊN HEO CON THEO MẸ TẠI MỘT TRẠI
HEO CÔNG NGHIỆP
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu bằng cấp
Bác Sỹ Thú Y Chuyên Ngành Dược
Giáo viên hướng dẫn
BSTY ĐẶNG THỊ XUÂN THIỆP
THÁNG 08/ 2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Hiệp
Tên luận văn: “Khảo sát chứng tiêu chảy và hiệu quả điều trị trên heo
con theo mẹ tại một trại heo công nghiệp”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày … tháng … năm 2010
Giáo viên hướng dẫn
BSTY ĐẶNG THỊ XUÂN THIỆP
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng thành kính ghi ơn đến
Ba, mẹ người đã sinh con ra và nuôi dưỡng thương yêu con hết mình, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho con được học hành
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
BSTY Đặng Thị Xuân Thiệp, TS Nguyễn Tất Toàn, BSTY Ngô Bá Duy đã tận tâm hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện tốt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Bộ môn Nội Dược Khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Đã truyền đạt nhiều kiến thức và tạo nhiều điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong thời gian học và thực tập đề tài
Trân trọng cảm ơn
Chú Bùi Duy Hoàng chủ tại heo tư nhân công nghiệp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai cùng toàn thể các anh chị em trong trại đã nhiệt tình, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn
Các bạn bè trong lớp và ngoài lớp Dược Thú Y 31 đã hết lòng hỗ trợ, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trong thời gian làm luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi xin đón nhận sự đóng góp ý kiến quý báu từ các bạn và quý thầy cô
Xin chân thành cảm ơn
Nguyễn Hữu Hiệp
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài: “Khảo sát chứng tiêu chảy và hiệu quả điều trị trên heo con theo
mẹ tại một trại heo công nghiệp”
Thời gian: từ 09/ 03 / 2010 – 30/ 06 / 2010
Địa điểm: tại trại heo công nghiệp (ấp Thọ Chánh, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai)
Các kết quả đã được ghi nhận lại như sau:
Nhiệt độ trung bình chuồng nuôi cao nhất vào tháng 4 (31,21 OC) và thấp nhất vào tháng 6 (29,94OC), trung bình 30,59 OC Ẩm độ trung bình cao nhất vào tháng 6 (63,97 %) và thấp nhất vào tháng 4 (59,89 %), trung bình 61,47 % Mật độ chuồng nuôi trung bình chung của chúng tôi 4,09 con/ m2
Tỷ lệ tiêu chảy theo tháng khảo sát trung bình là 41,37 % Tỷ lệ tiêu chảy theo giai đoạn tuổi cao nhất ở giai đoạn 8 – 15 ngày tuổi (21,40 %) và thấp nhất ở giai đoạn 1 – 7 ngày tuổi (5,85 %) Tỷ lệ ngày con tiêu chảy cao nhất vào tháng 5 (3,52 %) và thấp nhất vào tháng 3 (2,88 %), trung bình là 3,30 %
Trọng lượng bình quân lúc sơ sinh cao nhất vào tháng 3 (1,52 kg), thấp nhất
là tháng 6 (1,44 kg) và trung bình là 1,49 kg Trọng lượng bình quân lúc cai sữa trung bình là 6,12 %
Vi khuẩn phân lập được gồm E.coli và Salmonella; tỷ lệ dương tính vi khuẩn
E.coli là 100 % Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy cả hai vi khuẩn E.coli và Salmonella đều đề kháng với nhiều loại kháng sinh
Liệu pháp điều trị tiêu chảy tại trại tương đối hiệu quả Tỷ lệ khỏi bệnh trung bình là (90,69 %) Thời gian điều trị trung bình trung bình là 1,84 ngày Tỷ lệ tái phát trung bình là 22,43 % Tỷ lệ chết do tiêu chảy trung bình là 1,43 % Tỷ lệ chết
do nguyên nhân khác trung bình là 5,71 % Tỷ lệ còi trung bình là 5,28 % Tỷ lệ loại thải cao nhất vào tháng 3 (6,38 %) và thấp nhất vào tháng 6 (0 %)
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt khoá luận iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng x
Danh sách các sơ đồ xi
Danh sách các hình xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Tổng quan về trại heo công nghiệp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 3
2.1.1 Vị trí địa lí 3
2.1.2 Quá trình thành lập và cơ cấu đàn 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Hệ thống chuồng trại 4
2.1.5 Chế độ nuôi dưỡng 5
2.1.5.1 Thức ăn 5
2.1.5.2 Nước uống 5
2.1.6 Qui trình chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh 5
2.1.6.1 Heo con theo mẹ (khoảng từ 1 – 24 ngày tuổi) 5
2.1.6.2 Heo cai sữa (khoảng từ 25 ngày đến 80 ngày) 6
Trang 72.1.6.3 Heo thịt nhỏ (khoảng 81 ngày đến khoảng 140 ngày) 6
2.1.6.4 Heo thịt lớn (khoảng 140 ngày đến xuất chuồng) 6
2.1.6.5 Nái hậu bị, nái mang thai và đực thí tình và nái nuôi con 7
2.1.6.6 Qui trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo tại trại 8
2.2 Chứng tiêu chảy ở heo con theo mẹ 9
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và hấp thu của heo con 9
2.2.1.1 Đặc điểm bộ máy tiêu hoá và sinh trưởng của heo con 9
2.2.1.2 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa 9
2.2.2 Các nguyên nhân gây tiêu chảy 10
2.2.2.1 Do heo mẹ 11
2.2.2.2 Do heo con 12
2.2.2.3 Do virus 14
2.2.2.4 Do vi khuẩn 15
2.2.2.5 Do cầu trùng (Coccidiosis) 18
2.2.2.6 Do chăm sóc, dinh dưỡng và điều kiện tác động của ngoại cảnh 18
2.2.3 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy 20
2.2.4 Điều trị bệnh 20
2.2.4.1 Phòng bệnh bằng biện pháp quản lí 20
2.2.4.2 Biện pháp sử dụng vaccine 21
2.2.4.3 Biện pháp sử dụng thuốc kháng sinh và các chế phẩm sinh học 21
2.2.4.4 Ứng dụng kháng sinh đồ trong việc điều trị tiêu chảy heo con 22
2.3 Lược duyệt các công trình nghiên cứu liên quan 22
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thời gian và địa điểm 24
3.1.1 Thời gian 24
3.1.2 Địa điểm 24
3.2 Đối tượng khảo sát 24
3.3 Nội dung khảo sát 24
Trang 83.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Khảo sát về tiểu khí hậu chuồng nuôi và mật độ 24
3.4.1.1 Dụng cụ khảo sát 24
3.4.1.2 Phương pháp tiến hành 24
3.4.1.3 Công thức tính và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.2 Khảo sát tình hình tiêu chảy 25
3.4.2.1 Dụng cụ khảo sát 25
3.4.2.2 Phương pháp tiến hành 25
3.4.2.3 Công thức tính và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.3 Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng trên heo con theo mẹ 26
3.4.3.1 Dụng cụ khảo sát 26
3.4.3.2 Phương pháp tiến hành 26
3.4.3.3 Công thức tính và các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.4 Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ 26
3.4.4.1 Dụng cụ khảo sát 26
3.4.4.2 Phương pháp tiến hành 26
3.4.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.5 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh 27
3.4.5.1 Thuốc điều trị 27
3.4.5.2 Phương pháp tiến hành 27
3.4.5.3 Công thức tính và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.5 Xử lý số liệu 28
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Khảo sát về tiểu khí hậu chuồng nuôi và mật độ 29
4.1.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 29
4.1.2 Mật độ chuồng nuôi 30
4.2 Khảo sát tình hình tiêu chảy 31
4.2.1 Tỷ lệ tiêu chảy theo tháng khảo sát 31
4.2.2 Tỷ lệ tiêu chảy theo giai đoạn tuổi 32
Trang 94.2.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 33
4.3 Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng trên heo con theo mẹ 34
4.4 Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ 35
4.4.1 Phân lập vi khuẩn 35
4.4.2 Thử kháng sinh đồ 36
4.5 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh 37
4.5.1 Liệu pháp điều trị tiêu chảy tại trại 37
4.5.2 Tỷ lệ khỏi bệnh 38
4.5.3 Thời gian điều trị trung bình 39
4.5.4 Tỷ lệ tái phát 39
4.5.5 Tỷ lệ heo chết 40
4.5.6 Tỷ lệ còi và tỷ lệ loại thải 41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 47
Trang 10
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
E.coli : Escherichia coli
FMD : Foot and Mouth Disease
MMA : Metritis Mastitis Agalactia
KS : Khảo sát
PEDV : Porcine Epidemic diarrhea
SCCDNNK : Số con chết do nguyên nhân khác
SCCDTC : Số con chết do tiêu chảy
SCKS : Số con khảo sát
SCTC : Số con tiêu chảy
TC : Tiêu chảy
TGĐTTB : Thời gian điều trị trung bình
T.G.E.V : Transmissible Gastroenteritis Virus
TLBQCS : Trọng lượng bình quân cai sữa
TLBQSS : Trọng lượng bình quân sơ sinh
TLC : Tỷ lệ còi
TLCDNNK : Tỷ lệ chết do nguyên nhân khác
TLCDTC : Tỷ lệ chết do tiêu chảy
TLKB : Tỷ lệ khỏi bệnh
TLNCTC : Tỷ lệ ngày con tiêu chảy
TLTC : Tỷ lệ heo tiêu chảy
TLTP : Tỷ lệ tái phát
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng heo các loại 3
Bảng 2.2 Lượng và loại thức ăn cho nái và đực 7
Bảng 2.3 Qui trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo 8
Bảng 2.4 Sự phát triển của bộ máy tiêu hoá lợn con 9
Bảng 2.5 Những mầm bệnh có thể gây tiêu chảy cho heo con 19
Bảng 4.1 Nhiệt ẩm độ trung bình chuồng nuôi 29
Bảng 4.2 Mật độ trung bình chuồng nuôi 30
Bảng 4.3 Tỷ lệ tiêu chảy theo tháng khảo sát 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ tiêu chảy theo giai đoạn tuổi 32
Bảng 4.5 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo tháng khảo sát 33
Bảng 4.6 Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng trên heo con theo mẹ 34
Bảng 4.7 Kết quả phân lập vi khuẩn 35
Bảng 4.8 Kết quả thử kháng sinh đồ 36
Bảng 4.9 Tỷ lệ khỏi bệnh 38
Bảng 4.10 Thời gian điều trị trung bình 39
Bảng 4.11 Tỷ lệ tái phát 40
Bảng 4.12 Tỷ lệ heo chết 40
Bảng 4.13 Tỷ lệ còi và tỷ lệ loại thải 41
Trang 12DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Hệ vi khuẩn đường ruột 10
Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy 20
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Chuồng đẻ 4 Hình 2.2 Bồn nước uống chuồng đẻ 5 Hình 4.1 Heo con vừa hết triệu chứng tiêu chảy 38
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, mô hình chăn nuôi heo tập trung ở nước ta đang
phát triển mạnh, số lượng heo lớn và mang lại hiệu quả kinh tế nhất định Theo Vũ
Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005), số đầu lợn của Việt Nam năm 1980 chỉ có 10
triệu con và sản lượng thịt là 292 nghìn tấn, đến năm 1990 con số này là 12,26 triệu
con và 728 nghìn tấn, đến năm 2003 số đầu lợn đã lên tới 25,4 triệu con và lượng
thịt đạt 1753,6 nghìn tấn (niên giám thống kê từ 1981 – 2003) Theo Viện Chăn
Nuôi (2009), giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 720,7 tỉ đồng tăng 9,4 % so với
năm 2008
Bên cạnh mặt thuận lợi, ngành chăn nuôi heo còn gặp một số khó khăn nhất
định làm hạn chế sự phát triển Đó là tình hình nhiều loại dịch bệnh thường xuất
hiện, trong đó có bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ Bệnh này xuất hiện với tỷ lệ
mắc khá cao, khó điều trị và có thể gây tử vong nhanh Bệnh còn làm cho trọng
lượng cai sữa thấp, heo con bị còi cọc, chi phí phòng trị bệnh tăng, Theo Phan
Trung Nghĩa (2009), bệnh dễ gây chết trên nhóm heo con sơ sinh dưới 10 ngày tuổi
(khoảng 10 % nhóm heo con theo mẹ) do tiêu chảy mất nước nặng và không được
bù nước kịp thời Có nhiều nguyên nhân gây nên như do công tác tiêm phòng cho
heo mẹ không được thực hiện nghiêm ngặt và đúng định kỳ, do heo mẹ bị nhiễm
bệnh trong thời gian mang thai và sau khi sinh, do cấu tạo bộ máy tiêu hóa và thân
nhiệt heo con chưa hoàn thiện, do heo con không được bú sữa đầu, do heo con bị
nhiễm vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa, Xuất phát từ vấn đề trên, được sự
chấp thuận của Bộ Môn Nội Dược, Khoa Chăn Nuôi – Thú Y Trường Đại học Nông
Lâm TP.HCM, dưới sự hướng dẫn của BSTY Đặng Thị Xuân Thiệp, chúng tôi
Trang 15thực hiện đề tài: “Khảo sát chứng tiêu chảy và hiệu quả điều trị trên heo con
theo mẹ tại một trại heo công nghiệp”
1.2 Mục tiêu
Khảo sát tình hình bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ và đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh này, từ đó khuyến cáo cho người chăn nuôi liệu trình phòng bệnh
1.3 Yêu cầu
(1) Khảo sát về tiểu khí hậu chuồng nuôi và mật độ
(2) Khảo sát tình hình tiêu chảy
(3) Khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng trên heo con theo mẹ
(4) Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ
(5) Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về trại heo công nghiệp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Vị trí địa lí
Trại nằm ở ấp Thọ Chánh, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (cách thị xã Long Khánh khoảng 10 Km về phía Bắc) Chuồng heo được thiết kế theo hướng Đông Tây với diện tích khoảng 1,5 hecta, có tường rào bao bọc xung quanh Trại nằm cập một con đường đá đỏ, cách quốc lộ 1A khoảng 9 km, xe tải vào được tận trại, rất thuận lợi cho việc chăn nuôi
2.1.2 Quá trình thành lập và cơ cấu đàn
Trại bắt đầu được thành lập với khoảng 40 nái và qui mô trại được mở rộng dần Sau thời gian nái bị loại thải do chết, do chậm động dục hoặc do nái mập thì trại nhập nái hậu bị từ công ty cổ phần CP Việt Nam Khi nhập về, chúng được cách
ly khoảng 2 tuần mới đem vào trại (chuồng cách ly cách trại khoảng 1,5 Km) Heo thịt được bán cho công ty cổ phần Vissan Số lượng heo chúng tôi thống kê theo Bảng 2.1 tính đến ngày 31/5/2010
Bảng 2.1 Số lượng heo các loại Loại heo Số lượng (con)
Heo con theo mẹ 217 Heo cai sữa 307 Heo thịt nhỏ 434 Heo thịt lớn 418 Heo đực thí tình 2
Tổng 1518
Trang 172.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Bao gồm 1 chủ trại, 1 kỹ thuật viên và 6 công nhân Chủ trại quản lý tổng thể Kỹ thuật viên tiêm ngừa các loại vaccine phòng bệnh trên heo và có nhiệm vụ theo dõi chuồng heo bầu, chuồng cai sữa
2.1.4 Hệ thống chuồng trại
Toàn bộ các dãy chuồng được lợp bằng thiếc và trên mái thiếc có hệ thống giải nhiệt bằng vòi phun (có thể điều chỉnh lượng nước phun ra ngoài) để giảm nhiệt khi trời nóng (chủ yếu giải nhiệt vào buổi trưa từ 10 giờ - 14 giờ) Các dãy chuồng được thiết kế theo hướng Đông Tây
Chuồng cai sữa gồm 2 loại (18 ô chuồng sàn, mỗi ô nuôi 12 con và 6 ô chuồng bê tông nền xi măng, mỗi ô nuôi 25 con) Một máng ăn bán tự động ghép cho 2 ô sàn (tổng cộng có 8 máng) và 2 máng ăn tay được làm bằng sắt
Riêng mỗi ô chuồng bê tông nền xi măng chứa một máng ăn bán tự động Chuồng đẻ là loại chuồng sàn có kích
thước mỗi ô chuồng là 3,74 m2 (trong đó
diện tích dành cho heo mẹ 1,1 m2 được lót
bằng đan bê tông có những rãnh nhỏ song
song để thoáng khí, tránh đọng nước và 2,64
m2 dành cho heo con, nền lót bằng tấm nhựa
cứng dẻo kích thước 0,4m x 0,5m
Chuồng bầu là loại chuồng sàn lót
bằng tấm đan xi măng có những rãnh nhỏ dài để thoáng khí và tránh đọng nước (2 heo đực thí tình cũng được nuôi ở đây nhằm phát hiện nái lên giống)
Chuồng thịt nhỏ và thịt lớn là loại chuồng bê tông nền xi măng Chuồng thịt nhỏ gồm 24 ô, máng ăn bán tự động Chuồng thịt lớn có 28 ô, máng ăn bằng xi măng
Trừ chuồng đẻ và chuồng bầu, các chuồng còn lại đều có xây thêm một số ô riêng dành cho heo bệnh với kích thước nhỏ hơn
Trang 182.1.5 Chế độ nuôi dưỡng
2.1.5.1 Thức ăn
Thức ăn dạng viên và dạng bột để trộn thành thức ăn (cám trộn) Thức ăn
dạng viên được mua từ các công ty có uy tín trong lĩnh vực chăn nuôi thú y như công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (Bell Feed 8667, Hi - Gro 567S), công ty Cargill Việt Nam (Red – 1012), công ty Anco (U20, U21, U41S), thức ăn gia súc
Bình Phước (A34, A33, số 8, số 9) Thức ăn dạng bột (cám trộn tại trại dùng cho
heo thịt nhỏ và thịt lớn) nguyên liệu được mua từ công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
2.1.5.2 Nước uống
Nước uống được bơm trực tiếp từ 4 giếng
khoan lên bồn chứa, rồi nước sẽ được dẫn đến
từng ô chuồng thông qua hệ thống ống nhựa
PVC Heo uống nước qua vòi uống nước tự
động Trong một tuần các bồn chứa nước uống
được khử trùng ít nhất 1 lần bằng thuốc khử
trùng nước Aquasept F
2.1.6 Qui trình chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh
Tất cả các chuồng đều được sát trùng định kỳ vào ngày thứ 4 và chủ nhật trong tuần Sau những cơn mưa đầu mùa và khi dịch bệnh xảy ra nhiều, lịch sát trùng chuồng trại nhiều hơn bình thường (có thể tăng thêm 1 – 2 lần trong tuần)
2.1.6.1 Heo con theo mẹ (khoảng từ 1 – 24 ngày tuổi)
Heo con mới sinh: một tay giữ ngang bụng và một tay lau sạch nhớt ở mũi và miệng để kích thích hô hấp heo, sau đó bỏ heo vào lồng sưởi ấm, dùng bột làm ấm rắc đều từ vùng cổ đến mông và chỗ rốn bị đứt Dùng bút đánh dấu (con sinh ra đầu tiên còn sống đánh số 1, 2, 3, … cho đến hết và cân trọng lượng từng con một) Tiếp tục cho khi heo con bú sữa đầu (những con nhỏ không bú được thì phải bắt cho bú) Tất cả heo được cho uống kháng thể ngay sau sinh Một ngày sau, heo được bấm răng và cắt đuôi Khoảng ngày 6 đến ngày 15 thì thiến đực Tiêm sắt và uống cầu
Trang 19trùng được tiến hành song song vào ngày thứ 3 và 10 Heo con tập ăn lúc 7 ngày tuổi, lượng ăn lúc đầu chỉ vài viên cho một máng ăn và sau đó tăng dần theo ngày
tuổi và sức ăn Heo được tiêm ngừa Mycoplasma lúc 18 – 21 ngày tuổi và cai sữa
khoảng 24 ngày tuổi
2.1.6.2 Heo cai sữa (khoảng từ 25 ngày đến 80 ngày)
Khi chuyển từ chuồng đẻ sang chuồng cai sữa, heo con được chích Catosal 10% và Amoxinject (amoxicillin) hoặc Vetrimoxin L.A (amoxicillin) nhằm giảm stress và đề phòng vi sinh vật gây bệnh Thức ăn theo công thức của trại
Điều trị bệnh: qua quan sát của chúng tôi, bệnh chủ yếu giai đoạn này là hô hấp và tiêu chảy với nhiều mức độ khác nhau Các thuốc thường được sử dụng điều trị là Ampi Sure (ampixicllin, colistin), Gennorfcoli (gentamicin, colistin) , Bio - Tylo DC (florphenicol, tyosin), Safa Fenicol – 40 (florphenicol); thuốc bổ, trợ lực trợ sức như Bio - B Complex C (B1, B2, B6, B12, nicotinamide, dexpanthenol, vitamin C), Vime – C 1000 (vitamin C)
2.1.6.3 Heo thịt nhỏ (khoảng 81 ngày đến khoảng 140 ngày)
Trọng lượng heo ở giai đoạn này khoảng 25 kg đến 60 kg, ăn bằng máng ăn bán tự động, cho thức ăn vào máng 1 lần trong ngày (sáng lúc 6h30 – 7h) Vệ sinh chuồng ngày 2 lần vào lúc 9h và 15h Sau khi vệ sinh chuồng, công nhân theo dõi tình hình bệnh và tiến hành điều trị cùng lúc đó Các thuốc thường được sử dụng là Bio - Tylo DC (florphenicol, tyosin), Bio - Tylo PC (tylosin, thiamphenicol), Safa Fenicol – 40 (florphenicol)
2.1.6.4 Heo thịt lớn (khoảng 140 ngày đến xuất chuồng)
Trọng lượng heo ở giai đoạn này khoảng 60 kg trở lên được cho ăn 4 lần trong ngày và làm vệ sinh chuồng 2 lần trong ngày lúc 9h và 15h Kiểm tra sức khỏe và điều trị bệnh tiến hành ngay lúc mới cho heo ăn
Trang 202.1.6.5 Nái hậu bị, nái mang thai, đực thí tình và nái nuôi con
Heo được tắm và cho ăn 2 lần trong ngày (riêng nái nuôi con không được tắm) Lượng và loại thức ăn theo Bảng 2.2
Bảng 2.2 Lượng và loại thức ăn cho nái và đực
Chỉ tiêu Nái hậu bị Nái mang thai Nái nuôi con Đực thí tình
Phối – hết tuần 11:
Bình Phước số 8
Bell Feed 8667 hoặc Hi – Gro 567S
Bell Feed 8667
Tuần 12 – hết tuần 14: Bình Phước số 9 Tuần 15 – đến đẻ:
Bell Feed 8667 hoặc
Hi - Gro567S
Trang 212.1.6.6 Qui trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo tại trại (theo Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Qui trình tiêm phòng vaccine cho các loại heo
Loại heo Bệnh được phòng
Liều tiêm Heo con
Giả dại PR-Vac Plus Tuần 11 sau khi phối 2 ml
Phòng bệnh hô hấp, tiêu hóa Vetrimoxin Tuần 14 sau khi phối
1ml/ 10kg TT Phòng nội ngoại ký
sinh Ivermectin 10 Tuần 15 sau khi phối
1ml/ 33kg Nái
Parvovirus + giả dại 2 ml FMD Aftopor 1 tuần sau khi tiêm dịch tả 2 ml
Parvovirus + giả dại Parvo Shield LSE +
PR-Vac Plus 1 tuần sau khi tiêm FMD 2 ml
Trang 222.2 Bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá và hấp thu của heo con
Quá trình sống của động vật là quá trình trao đổi chất, cơ quan đầu tiên thực hiện quá trình này là bộ máy tiêu hóa Trong dạ dày chủ yếu thực hiện chức năng tiêu hóa bằng enzyme Ở ruột non thực hiện chức năng tiêu hóa là sự phân bố tuyến tiêu hóa (tuyến mật, tuyến tụy và tuyến dịch ruột) đặc biệt là hệ thống lông nhung dày đặc Tiêu hoá là quá trình phân giải những hợp chất hữu cơ phức tạp của thức
ăn thành những chất đơn giản nhất để có thể hấp thu được, nó được diễn ra dưới tác động của cơ học và hoá học Ngoài ra, hệ tiêu hoá còn duy trì chức năng hàng rào bảo vệ cơ thể và phòng ngừa sự xâm nhập của những chất đại phân tử, những mầm gây bệnh truyền nhiễm
2.2.1.1 Đặc điểm bộ máy tiêu hoá và sinh trưởng của heo con
Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005), lợn con trong thời kỳ này phát triển rất nhanh thể hiện thông qua sự tăng khối lượng cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con ở 7 – 10 ngày tuổi đã gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần khối lượng sơ sinh, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 lần khối lượng sơ sinh và đến
60 ngày tuổi gấp 10 – 15 lần khối lượng sơ sinh (theo Bảng 2.4)
Bảng 2.4 Sự phát triển của bộ máy tiêu hoá lợn con
Thời gian
Cơ quan Sơ sinh 70 ngày Số lần tăng
Dạ dày 2,5 ml 1815 ml > 70 Ruột non 100 ml 6000 ml 60 lần Ruột già 40 ml 2100 ml > 50 lần
(Nguồn: Kvasnitskii,1951 – trích dẫn bởi Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận, 2005)
2.2.1.2 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa
Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của động vật rất phong phú và đa dạng Trong
dạ dày, ruột có chứa Streptococcus, Bacillus subtilis, E.coli, Salmonella,
Trang 23Enterococcus, Ruột non có số lượng vi sinh ít hơn ruột già là do chịu tác động
của dịch tiết dạ dày, dịch mật, dịch tụy, có tác dụng diệt khuẩn
Sự cân bằng quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hoá ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ vật chủ Khi cơ thể gặp tác động ảnh hưởng khác nhau như sai sót về chế
độ dinh dưỡng, sai sót trong việc dùng thuốc điều trị nhất là dùng thuốc kháng sinh, hoặc trong một số trường hợp bệnh mà các đáp ứng miễn dịch bị thay đổi, đều có thể làm cho quần thể vi sinh vật đường tiêu hóa mất cân đối dẫn đến rối loạn tiêu hoá Bình thường, sự điều tiết của hệ sinh thái nội tại ngăn cản sự hình thành vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể Nếu các nhân tố điều tiết hệ sinh thái nội tại bị phá vỡ, các vi khuẩn gây bệnh sẽ có điều kiện phát triển làm cho bệnh phát sinh
Sơ đồ 2.1 Hệ vi khuẩn đường ruột (Nguồn: Nguyễn Như Pho, 1995 – trích dẫn bởi
Bùi Chí Hiếu, 2008)
2.2.2 Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ Các nguyên nhân này không đứng riêng lẻ mà kết hợp lại với nhau như chuỗi mắc xích và gây ra nhiều triệu chứng khác nhau mà ta thường gọi là hội chứng tiêu chảy
Vi sinh vật có hại
Các loại vi sinh gây bệnh
Tiết độc tốTiết chất có tính kháng sinh
Trang 24Theo Võ Văn Ninh (2008), tiêu chảy là hiện tượng rối loạn tiêu hóa, thay vì nhu động của ruột diễn ra bình thường thì trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong lòng ruột non, ruột già thải qua hậu môn quá nhanh, dưỡng chất không kịp tiêu hóa và ruột già chưa hấp thu được nước … tất cả đều bị tống ra hậu môn với thể lỏng hoặc sền sệt Hậu quả nghiêm trọng là cơ thể bị mất nhiều nước, mất nhiều ion điện tích và ngộ độc các loại độc tố do vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy sản sinh ra, con vật suy nhược rất nhanh và có thể chết rất nhanh nếu là thú sơ sinh nhỏ tuổi, gầy ốm kém sức chịu đựng
2.2.2.1 Do heo mẹ
Do công tác tiêm phòng cho heo mẹ không được thực hiện nghiêm ngặt và đúng định kỳ, ở những heo nái không được tiêm phòng vaccine cần thiết như phó
thương hàn, TGE, E.coli … nên heo mẹ không nhận được kháng nguyên và heo con
không nhận được kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu, dẫn đến nguy cơ nhiễm vi sinh vật và bệnh tiêu chảy trên heo con sẽ tăng lên
Theo Nguyễn Như Pho (2001), do heo mẹ mắc hội chứng MMA (còn gọi là hội chứng viêm vú, viêm tử cung, kém sữa): sự nhiễm trùng vú hoặc tử cung sau khi sanh sẽ gây vấy nhiễm vi trùng vào đường tiêu hoá heo con
Nếu chế độ chăm sóc nái mang thai (nhất là 2 tháng cuối không hợp lý), làm bào thai và heo con sau khi sinh yếu sức sống và sức đề kháng, làm bệnh trên đường tiêu hóa dễ phát sinh Heo mẹ không đủ chất dinh dưỡng trong thời gian mang thai, không cung cấp đủ chất dinh dưỡng như thiếu protein, vitamin A, Cu, Zn, Fe … làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai nên heo con sinh ra yếu ớt, sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh ở đường tiêu hóa Lượng sữa mẹ từ khi đẻ ra thường tăng dần đến cuối tuần thứ 3 rồi giảm thấp Trong khi đó nhu cầu sữa của heo con tăng Vì vậy, nếu không cung cấp thêm đủ chất dinh dưỡng thì heo con sẽ bị stress và dễ bị nhiễm bệnh Trong trường hợp nái thiếu canxi trong khẩu phần dẫn đến sữa bị thiếu canxi, từ đó sữa khó tiêu hóa và khi heo con bú sữa này có thể dễ bị tiêu chảy
Theo Võ Văn Ninh (2008), trong trường hợp nái tốt sữa, heo con bú nhiều sữa mẹ không đủ sức tiêu hoá hết lượng sữa đã bú, protein còn thừa sẽ bị vi sinh rất
Trang 25độc chiếm dụng, tăng mật số gây bệnh đồng thời protein thừa cũng có thể bị phân huỷ thành độc chất gây co thắt nhu động ruột thái quá Heo nái ăn quá nhiều muối NaCl làm cho sữa mặn, heo con bú cũng dễ bị tiêu chảy do dư muối
Theo Võ Văn Ninh (2008), có thể vì một trắc trở nào đó nhũ bộ heo cái hậu
bị có thể không phát triển toàn diện, hoặc nhiều vú bị lép không có (hay rất ít) tuyến sữa hoặc có tuyến nang sữa nhưng không có núm vú hoặc có núm vú nhưng không
có 2 lỗ thông tia sữa Như vậy nái chửa lứa đầu có thể có nhiều con không có sữa một cách mặc nhiên
Heo mẹ bị nhiễm trước khi sinh mặc dù đã điều trị và khỏi triệu chứng nhưng vẫn còn mang mầm bệnh như thương hàn, xoắn khuẩn, … khi mang thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau, gây sẩy thai hoặc heo con đẻ ra có thể bị nhiễm các vi trùng này
2.2.2.2 Do heo con
Theo Nguyễn Như Pho (2001), ở heo con mới sinh bộ máy tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết không đủ lượng acid clohydric và các men tiêu hoá các chất dinh dưỡng Trên heo con sơ sinh, khả năng phân tiết acid clohydric rất
ít, chỉ đủ hoạt hoá men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hoá chất đạm), lượng acid clohydric tự do quá ít, không đủ để làm tăng độ toan dạ dày, do vậy độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy Sự phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa; thí dụ men tiêu hoá chất đạm (protease) gồm pepsin, trypsin, chymotrypsin chỉ đủ tiêu hoá protein của sữa hoặc protein đậu nành và không đủ tiêu hoá được protein của gạo, bắp, bột cá, bánh dầu, … trong vòng tuần lễ đầu sau khi sanh Men saccharase chỉ hoạt động mạnh sau 2 tuần, men maltase chỉ được phân tiết đầy đủ sau 4 tuần Yếu tố này cho thấy trong vòng 2 tuần lễ đầu sau khi sanh, heo con chỉ
có thể tiêu hoá được sữa hoặc loại thức ăn tập ăn với thành phần chủ yếu là sữa Trên những bầy heo quá đông, hoặc phải nuôi hộ vì heo nái mắc bệnh, nếu sử dụng thức ăn không đúng, thí dụ dùng sữa đặc có đường cho heo con bú sẽ dẫn đến tiêu
Trang 26Theo Nguyễn Như Pho (1995), do heo con thiếu sắt (Fe), mỗi ngày heo con cần 7 mg Fe nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1 mg Fe mỗi ngày Heo con lại dự trữ Fe ít (30 mg), vì màng nhau là hàng rào hạn chế vận chuyển từ mẹ sang bào thai (trích dẫn bởi Bùi Chí Hiếu, 2008) Trong khi đó tốc độ sinh trưởng của heo con rất nhanh, lượng máu trong cơ thể cũng phải tăng lên cho phù hợp, sự thiếu Fe sẽ làm ngưng trệ quá trình thành lập hemoglobin của hồng cầu dẫn đến thiếu máu và tiêu chảy
Do thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ẩm độ chuồng nuôi cao sẽ dẫn đến tiêu chảy
Do đặc tính heo con hay liếm láp nước đọng nên dễ nhiễm vi khuẩn gây bệnh vào đường ruột hay do heo con ăn thức ăn của mẹ, bộ máy tiêu hóa khó tiêu hóa dẫn đến rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy
Heo con sơ sinh chỉ sử dụng được các vitamin tan trong nước như vitamin nhóm B, C còn các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K phải từ 1 – 3 tuần tuổi mới sử dụng được (Phạm Khắc Hiếu, 1997 – trích dẫn Bùi Chí Hiếu, 2008) Vì thế heo con thiếu các vitamin A, D, E, K làm rối loạn chức năng nhu động, phân tiết và hấp thu dạ dày ruột đưa đến tiêu chảy
Trang 272.2.2.3 Do virus
Đặc điểm chung tiêu chảy do virus gây ra là thường kết hợp với E.coli, xảy
ra trên heo con mới sinh đến 2 tuần tuổi Bệnh lây lan nhanh trong bầy, mất nước nặng, heo con gầy sút rất nhanh và dùng kháng sinh điều trị không khỏi
(1) Tiêu chảy do viêm dạ dày ruột truyền nhiễm T.G.E (Transmissible Gastroenteritis Virus)
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm có tỷ lệ chết khá cao Tiêu chảy thường bắt đầu từ 16 – 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus Dấu hiệu ban đầu là heo con nôn mửa sau đó tiêu chảy rất nhanh, heo bị mất nước tai cụp, mắt bị trũng sâu Theo Nguyễn Như Pho (2001), heo con bị tiêu chảy do virus có triệu chứng là tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, có thể có các mảnh thức ăn không tiêu Ói mửa ít xảy ra, chỉ xuất hiện nhưng không thường xuyên trên những heo con nhỏ hơn 3 tuần tuổi Heo con gầy, mất nước nặng, suy nhược, và chết sau 3 – 5 ngày mắc bệnh Không có dấu hiệu sốt hoặc triệu chứng thần kinh
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm do virus nhóm Coronavirus gây ra
Virus có vỏ bọc, dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng nhưng chúng có khả năng
kháng axít Khi virus nhóm Coronavirus vào trong các tế bào, nó nhân lên và phá
huỷ tế bào trong vòng 4 – 5 giờ Khi tế bào chết, hàng ngàn phân tử virus được giải phóng và nhiễm sang tế bào khác Sau 4 – 5 chu kỳ nhân lên của virus, các tế bào của bộ máy tiêu hoá đã bị giết chết, khi đó các chất dinh dưỡng không được tiêu hoá, nước không được hấp thu, mất dịch và các chất điện giải ở cơ thể gây ra tiêu chảy
Trang 28(2) Tiêu chảy do Rotavirus
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1999), Rotavirus là một bệnh nguyên đường ruột quan trọng ở nhiều loài động vật sơ sinh, bao gồm cả ở lợn Rotavirus được chứng minh có khả năng gây viêm dạ dày ruột (Gastroenteritis) trầm trọng và thoái
hóa lông nhung cho lợn gây huyết thực nghiệm trong điều kiện chăn nuôi sạch bệnh
và không được bú sữa đầu
Theo Nguyễn Như Pho (2001), đặc điểm của bệnh là tiêu chảy phân vàng với nhiều bọt và chất nhầy Bệnh rất nặng trên heo con theo mẹ, và nhẹ hơn trên heo con đã cai sữa Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa Heo con lười bú, lười vận động, ói mửa, vài giờ sau thấy tiêu chảy ở một vài con trong bầy Sau đó, lây lan cho cả bầy, rồi các bầy heo lân cận Thời gian tiêu chảy thường kéo dài nhiều ngày (4 – 6 ngày)
Theo Nguyễn Như Pho (2001), tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở heo
con dưới 1 tháng tuổi và thường được gọi là tiêu chảy sữa, tiêu chảy trắng hoặc tiêu chảy tuần 3 Đặc trưng của bệnh là tiêu chảy phân màu trắng hoặc vàng, thời gian
tiêu chảy kéo dài Khi Rotavirus xâm nhập và phá huỷ các tế bào màng nhầy ruột
non, các nhung mao sẽ ngắn lại, các chất dinh dưỡng đường tiêu hoá không hoàn toàn và hấp thu kém, điều này gây tiêu chảy, mất nước, chất điện giải, giảm trọng
cơ thể và có thể gây chết cho heo con
2.2.2.4 Do vi khuẩn
(I) Tiêu chảy do E.coli (Colibacillosis)
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1999), bệnh do E.coli gây ra là bệnh truyền
nhiễm, diễn biến cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở động vật non, nhất là vào 3 – 5 ngày sau khi sinh, thậm chí bị bệnh vào
lúc 1 ngày tuổi Có 48 % các trường hợp tiêu chảy ở lợn con là do E.coli gây ra, vì vậy bệnh do E.coli có tầm quan trọng đặc biệt trong các bệnh nhiễm khuẩn ở lợn con Trong các vi khuẩn đường ruột thì loài Escherchia là loài phổ biến nhất Loài
này xuất hiện và sinh sống trong động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y
Trang 29Chiếm tỉ lệ rất cao trong bệnh tiêu chảy heo con Thường gây bệnh lúc tập
ăn, lúc mọc răng sữa, và lúc cai sữa
Tiêu chảy phân trắng
Không có triệu chứng ói, sốt, heo con không bỏ bú Mức độ mất nước không nhiều như tiêu chảy do virus Lây lan chậm trong đàn, một số heo tiêu chảy, một số khác bình thường Không xuất huyết hoặc loét ở niêm mạc ruột Dùng kháng sinh
có hiệu quả
Tiêu chảy phân vàng
Do E.coli kết hợp với virus Xảy ra trên heo con trong 2 tuần đầu sau khi
sinh Phân vàng, nhiều nước Lây lan nhanh trong bầy Tiêu chảy kèm theo ói mửa, heo con bỏ bú Mất nước rất nặng, heo con có thể gầy sút rất nhanh Mổ khám thấy thành ruột rất mỏng Ruột chứa nhiều hơi, căng bóng Dùng kháng sinh điều trị không khỏi
(II) Tiêu chảy do Salmonella
Bệnh còn gọi là phó thương hàn, là một bệnh truyền nhiễm, lợn con thường
bị bệnh hơn lợn trưởng thành
(1) Mầm bệnh
Trang 30Do vi trùng Salmonella gây ra, thông thường chủng Salmonella cholerasuis
và S.typhi suis là 2 chủng chính gây bệnh, tuy nhiên nhiều chủng khác như
S.typhimurium, S.derby, S.saintpaul, … cũng tham gia gây bệnh
(2) Đường truyền lây
Đường tiêu hóa do heo ăn thức ăn, nước uống có vấy nhiễm phân, đất có chứa vi trùng hoặc do vi trùng có sẵn trong thức ăn nhất là bột cá Các loài gặm nhấm (chuột) cũng truyền mầm bệnh vào khu vực chăn nuôi qua sự bài thải phân của chúng
(3) Thời gian nung bệnh: 3- 4 ngày
(4) Lứa tuổi mắc bệnh: heo con theo mẹ, heo sau cai sữa, hoặc giai đoạn đầu nuôi
thịt có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn heo vỗ béo, heo giống
(5) Triệu chứng
Thể viêm ruột cấp tính:
Xảy ra trên heo con theo mẹ; heo con mắc bệnh thường tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, kèm theo triệu chứng sốt vừa (40,6 – 41,5 OC) Sau vài ngày vi trùng xâm nhập vào phổi gây viêm phổi, có thể thấy xuất huyết ở vùng da mỏng; sau 5 – 6 ngày mắc bệnh heo con suy nhược nặng, nằm liệt, có thể co giật nhẹ rồi chết Tử số có thể lên đến 100 %
Thể nhiễm trùng máu
Thường xảy ra trên heo nuôi thịt, với các dấu hiệu sốt vừa trong nhiều ngày, phân dạng bón có chất nhầy bao bọc chung quanh Sau 4 – 5 ngày, vi khuẩn tràn ngập trong máu, gây viêm phổi nặng Giai đoạn cuối của bệnh có thể thấy tiêu chảy, đặc biệt phân rất thối, có nhiều màng giả, da vùng tai tím bầm, heo con suy nhược dần rồi chết
Thể mãn tính
Thường xuất hiện trên heo lớn Heo lười ăn, gầy ốm, sốt lên xuống, thỉnh thoảng bị tiêu chảy, tử số rất thấp
Trang 31(III) Tiêu chảy do Clostridium perfringens ở heo con
Theo Đào Trọng Đạt (1999), có 3 loài Clostridium perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đường ruột quan trọng đối với lợn C.perfringens type C gây bệnh
viêm ruột hoại tử ác tính chủ yếu ở lợn con dưới một tuần tuổi Lợn con mắc bệnh
có tỷ lệ tử vong cao C.perfringens type A tìm thấy nhiều trong phân lợn, chúng có
thể gây bệnh viêm ruột cho cả lợn sơ sinh lẫn lợn lớn sau cai sữa
Theo Nguyễn Như Pho (2001), tiêu chảy ra máu trên heo con dưới 1 tuần tuổi, tiêu chảy phân màu nâu hoặc màu café trên heo lớn hơn 1 tuần tuổi Chết sau 2 – 3 ngày phát bệnh Mổ khám thấy ruột non xuất huyết tràn lan trên heo dưới 1 tuần tuổi
2.2.2.5 Do cầu trùng (Coccidiosis)
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004), bệnh cầu trùng là một bệnh thường gặp và chiếm vị trí quan trọng trong các bệnh của lợn con từ 5 – 15 ngày tuổi với triệu chứng ỉa chảy, sau đó chậm lớn và có thể gây chết ở lợn sơ sinh đến 20 %
Theo Nguyễn Như Pho (2001), bệnh này có một số đặc điểm xảy ra lúc 7 –
36 ngày tuổi Tiêu chảy phân vàng, sệt, mùi rất tanh Heo con hay rặn ỉa Heo con ít
bú, lông xù, kém lanh lợi Không sốt, không ói mửa Phân không có máu
2.2.2.6 Do chăm sóc, dinh dưỡng và điều kiện tác động của ngoại cảnh
Theo Nguyễn Như Pho (2001), không úm cho heo con, hoặc úm không đúng quy cách làm heo con bị lạnh, hệ tiêu hoá sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hoá, dẫn đến tình trạng không tiêu, rồi viêm ruột, tiêu chảy Vệ sinh rốn không tốt: heo con bị viêm rốn sẽ tiêu chảy, do đó sau khi sanh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng Biodin sau khi cắt và sau đó tiếp tục sát trùng rốn ngày 2 lần cho đến khi rụng
Theo Võ Văn Ninh (2008), khi heo con mới biết ăn, thức ăn không phù hợp với hệ tiêu hóa hoặc chứa nhiều độc trùng, độc chất sẽ gây ra tiêu chảy cho heo con Nhiệt độ lạnh hay biến động nhiệt độ lớn trong nhiều ngày đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây bệnh tiêu chảy của heo Khi nhiệt độ môi
Trang 32Bảng 2.5 Những mầm bệnh có thể gây tiêu chảy cho heo con
Tiêu chảy do Rotavirus
Viêm ruột hoại tử
Tiêu chảy do E.coli
Tiêu chảy do Salmonella
Salmonella Serbulina hyodysenteriae Campylobacter coli
Isopora suis Cryptosporidium Parvum
Type I: heo cai sữa, heo lớn
Type II: heo mọi lứa tuổi Heo con 1 – 10 ngày tuổi
Heo con theo mẹ và heo đã cai sữa Heo con nhỏ hơn
10 ngày tuổi Heo từ sơ sinh đến sau khi cai sữa Heo mọi lứa tuổi Heo cai sữa đến trưởng thành Heo từ 3 ngày đến sau cai sữa Heo con 5 – 15 ngày tuổi Heo ở mọi lứa tuổi, thường thấy ở heo sau cai sữa
(Nguồn: Trần Thanh Phong, 1996)