1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ TRÊ PHÚ QUỐC (Clarias sp.)

85 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ TRÊ PHÚ QUỐC Clarias sp... MỘT SỐ NGHIÊN CỨ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH

HỌC CÁ TRÊ PHÚ QUỐC (Clarias sp.)

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH TÂM Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Niên khóa: 2006 – 2010

Trang 2

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

CÁ TRÊ PHÚ QUỐC (Clarias sp.)

Tác giả

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư

Ngành Nuôi trồng thủy sản

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Tư

Tháng 07 năm 2010

Trang 3

CẢM TẠ

Qua cuốn luận văn này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

– Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

– Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản cùng toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho chúng tôi trong suốt thời gian học tại trường

– Con xin cám ơn ba mẹ và gia đình đã luôn ủng hộ và động viên con trong thời gian qua

Ngoài ra, chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

– Thầy Nguyễn Văn Tư đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

– Thầy Trần Văn Minh đã giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu

– Cô Đặng Thị Khánh Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Kiên Giang cùng các anh chị cán bộ kỹ thuật của trung tâm đã giúp đỡ chúng tôi trong thời gian tiến hành đề tài

– Cùng với cán bộ địa phương, người dân huyện đảo Phú Quốc

– Anh Phạm Gia Điệp và bạn Phan Văn Lượng cùng toàn thể các anh chị, các bạn trong và ngoài lớp DH06NT đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian qua

Do thời gian thực hiện đề tài ngắn và kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô, các anh chị và các bạn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Một số nghiên cứu bước đầu về đặc điểm sinh học cá trê Phú Quốc

(Clarias sp.)” được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010 tại trường Đại học

Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài được thực hiện với các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá trê Phú Quốc Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

Cá trê Phú Quốc có thân thon dài, cá sống có màu nâu, đậm ở phần lưng và trên các vây lẻ (vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn), nhạt hơn ở phần bụng Cá có 4 đôi râu, trên đường bên có 15 – 17 hàng đứng, mỗi hàng có 2 – 5 điểm trắng nhỏ hiện diện, và một dãy không đều các điểm màu trắng lớn hơn chạy dọc theo thân cá và phía dưới đường bên

Cá trê Phú Quốc có 84 – 103 tia vây lưng, 74 – 92 tia vây hậu môn, 6 tia vây bụng Vây ngực có 1 gai nhỏ và 8 tia vây Gai vây ngực có 19 – 25 gờ nhỏ ở cạnh trước và nhẵn ở cạnh sau Cuống đuôi ngắn Vây đuôi tròn Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn không dính liền nhau

Cá trê Phú Quốc có 5 đôi cung mang, cung mang thứ nhất có 17 – 20 lược mang Ngoài ra, cá cũng có cơ quan hô hấp phụ là hoa khế

Cá trê Phú Quốc có dạ dày rất phát triển và ruột ngắn, là điển hình của những loài ăn động vật với tỷ lệ Li/Lo là 0,61 ± 0,11 Thức ăn là cá chiếm tỷ lệ khá cao trong

dạ dày (88,33%) nên có thể dự đoán đây là loại thức ăn ưa thích của cá trê Phú Quốc

Phương trình tương quan chiều dài và trọng lượng của cá: W = 0,0037 L3,0747với hệ số R2 = 0,9833 đã thể hiện mối tương quan khá chặt chẽ (L = 8,8 – 46,0 cm; P

= 2,6 – 420 g)

Cá trê Phú Quốc có một số đặc điểm sinh học rất khác biệt so với các loài cá trê

đã được nghiên cứu và đây là một loài mới chưa được định danh của giống Clarias

Trang 5

ABSTRACT

“Preliminary study of biological characteristics of Phu Quoc Clarias catfish

(Clarias sp.)” was carried out from January to July, 2010 Fish samples were collected

from Phu Quoc Insland of Kien Giang Province and examined at the Fisheries Faculty, Nong Lam University, Ho Chi Minh City

The body of the fish is anguilliform and cylindrical Dorsal and lateral surfaces

of head and body of the fish are dark gray, fading to pale gray on ventral surfaces There are fifteen to seventeen vertical rows of two to five white spots, subtended ventrally by two irregular rows of white spots running below lateral line

Long dorsal fin with 84 – 103 rays covered by thick layer of skin Long anal fin with 74 – 92 rays Pelvic fin with 6 rays Pectoral fin with small spine, sharply pointed

at tip, and 8 rays Caudal peduncle short Caudal fin rounded Dorsal fin, caudal fin and anal fin are not confluent

They have five branchial arches, the first branchial arch with 17 – 20 gill rakers The fish possesses a big stomach and short intestine with Li/Lo ratio of 0.61 Feeding prey of the fish is mainly small fish (account for 88,33% in stomach)

The relationship between of body length and weight is expressed by following formula: W = 0.0037 L3,0747 with R2 = 0.9833

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Cảm tạ ii Tóm tắt iii Abstract iv

2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Vườn Quốc Gia Phú Quốc 3

2.1.1 Lịch sử hình thành 3

2.1.4 Đa dạng sinh học 4

2.2 Giới Thiệu Họ Cá Trê Clariidae 5

2.3 Đặc Điểm Sinh Học Một Số Loài Cá Trê 6

2.3.1 Cá trê đen (C fuscus) 6

2.3.2 Cá trê trắng (C batrachus) 7

2.3.3 Cá trê vàng (C macrocephalus) 8

2.3.4 Cá trê phi (C gariepinus) 9

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện 12

3.2 Vật Liệu Phục Vụ Công Tác Nghiên Cứu 12

3.3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái và định danh cá 14

Trang 7

3.3.2 Khảo sát đặc điểm dinh dưỡng 16

3.3.2.1 Cơ quan bắt mồi và cơ quan tiêu hóa 16

3.3.2.2 Tính ăn của cá 16

3.3.2.3 Chỉ số độ no 17

3.3.3 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng 17

3.3.4 Khảo sát đặc điểm sinh học sinh sản 18

3.3.4.1 Tuổi và kích thước thành thục sinh dục 18

3.3.4.2 Khảo sát mùa vụ sinh sản 18

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 19

4.1 Định Danh Và Khảo Sát Môi Trường Sống 19

4.1.1 Mô tả hình thái và màu sắc 19

4.1.2 Các chỉ tiêu hình thái và định danh cá 24

4.1.3 Môi trường sống 30

4.1.4 Hoạt động khai thác và tiêu thụ 36

4.2 Đặc Điểm Sinh Học Cá Trê Phú Quốc 39

4.2.1 Cơ quan hô hấp 39

4.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 41

4.2.2.1 Hệ thống tiêu hóa 41

4.2.2.2 Thức ăn 45 4.2.2.3 Chỉ số độ no 47

4.2.3 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng 48

4.2.4 Đặc điểm sinh học sinh sản 49

4.2.4.1 Xác định giới tính 49

4.2.4.2 Khảo sát mùa vụ sinh sản 50

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình Trang Hình 3.1: Bản đồ Phú Quốc và các vị trí thu mẫu 13

Hình 3.2: Hình minh họa một số chỉ tiêu đo trên C gariepinus 14

Hình 3.3: Hình minh họa chỉ tiêu đo phiến răng trên cá trê 15

Hình 4.1: Hình dạng ngoài của cá trê Phú Quốc 19

Hình 4.2: Hình dạng chẩm của (a) C nigricans; (b) C nieuhofii

và (c) cá trê Phú Quốc 20

Hình 4.3: Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn tách rời nhau 21

Hình 4.4: Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn của cá dính liền nhau 21

Hình 4.5: Hình dạng gai ngực của (a) C nigricans; (b) C nieuhofii

và (c) Cá trê Phú Quốc 22

Hình 4.6: Các đốm trắng đứng trên thân ở (a) cá trê Phú Quốc

và (b) C nieuhofii 24

Hình 4.7: Môi trường sống của cá bị thu hẹp vào suối và bưng trong rừng 31

Hình 4.8: Nước suối có màu nâu nhưng trong, có thể nhìn thấy đáy 31

Hình 4.9: Một dòng suối trong rừng đã khô cạn 32

Hình 4.10: Nơi ở của cá chỉ là một vũng nước rất nhỏ vào mùa khô 33

Hình 4.11: Môi trường sống của cá được mở rộng hơn khi bắt đầu mùa mưa 34

Hình 4.12: Nơi ở của cá mở rộng vào mùa mưa 35

Hình 4.13: Môi trường sống của cá bị thu hẹp vào các suối cuối mùa mưa 36

Hình 4.15: Mồi dùng để đặt lợp 37

Hình 4.16: Vị trí đặt lợp vào mùa mưa 38

Hình 4.18: Cá nuôi tại một hộ dân ở đảo 39

Hình 4.19: Cơ quan hoa khế của cá trê Phú Quốc 40

Hình 4.20: Hình dạng phiến răng lá mía và phiến răng tiền hàm 42

Hình 4.21: Cung mang thứ nhất của cá trê Phú Quốc 43

Hình 4.22: Ống tiêu hóa của cá trê Phú Quốc 43

Trang 9

Hình 4.23: Thức ăn của cá trê Phú Quốc là (a) cá và (b) giáp xác 45

Hình 4.24: Phân biệt đực, cái ở cá trê Phú Quốc với (a) cá đực và (b) cá cái 50

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Trang

Bảng 2.1: So sánh các đặc điểm khác nhau của ba loài C fuscus, C batrachus

và C gariepinus 11

Bảng 4.1: So sánh số tia vây của cá trê Phú Quốc với một số loài cá trê khác 23

Bảng 4.2: So sánh một số điểm khác nhau về chỉ tiêu hình thái giữa cá trê

Phú Quốc với C nieuhofii, C pseudonieuhofii và C nigricans 25

Bảng 4.3: Tỷ lệ Li/Lo của cá trê Phú Quốc 44

Bảng 4.4: Loại thức ăn và tỷ lệ bắt gặp trong dạ dày cá trê Phú Quốc 46

Bảng 4.5: Chỉ số độ no các cấp ở cá trê Phú Quốc 47

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ Trang Biểu đồ 4.1: Tần số xuất hiện các loại thức ăn trong dạ dày 46

Biểu đồ 4.2: Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá trê Phú Quốc 48

Trang 12

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt Vấn Đề

Hiện nay, ngành thủy sản đã và đang có vị trí quan trọng, đặc biệt là trong vấn đề

an ninh lương thực trên toàn thế giới Cá là một trong những nguồn lợi thủy sản đã được biết đến và nghiên cứu từ rất lâu với trên 30.000 loài đã được định danh Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được thêm khoảng 600 loài mới và còn rất nhiều loài vẫn chưa được tìm thấy

Tại Việt Nam, những nghiên cứu về các loài cá cũng chỉ mới bắt đầu từ năm

1954 đến nay và sau năm 1975 đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố với thành phần các loài cá biển và cá nước ngọt rất đa dạng và phong phú Tổng số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong đó cá có 2.458 loài với khoảng 130 loài có giá trị kinh tế (Viện Nghiên cứu Hải sản, 2006) Lãnh thổ nước ta

có bờ biển dài 3.260 km với nhiều khu hệ sinh thái thủy vực đa dạng đã góp phần tạo nên sự phong phú về số lượng cũng như thành phần loài của các loài cá

Trong nhiều năm qua, việc suy giảm đa dạng sinh học đang là mối lo chung của nhân loại Bên cạnh việc bảo vệ các nguồn lợi thủy sản trước áp lực về dân số cũng như những tác động xấu của môi trường thì ngành thủy sản đã tiến hành những hoạt động nghiên cứu và phát hiện thêm nhiều loài mới Do đó, để ngành thủy sản nước ta phát triển bền vững thì ngoài việc tìm hiểu các đặc điểm sinh học để tiến hành quản lý, bảo vệ nguồn lợi cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa nhằm đa dạng hóa mô hình nuôi và đối tượng nuôi bên cạnh các loài cá đã thuần hóa

Từ lâu, người dân ở đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) đã phát hiện và đang khai thác từ tự nhiên một loài cá trê mà họ gọi là “cá chình Phú Quốc” với hình dáng thon

Trang 13

dài và phẩm chất thịt rất ngon Loài cá này có thể phân biệt với loài cá trê đã được mô

tả trong các tài liệu “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai

Đình Yên (1978), “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên và ctv

(1992), “Định loại cá nước ngọt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), “Fishes of the Cambodian Mekong” của Rainboth (1996) và “Field guide to fishes of the Mekong delta” của Chavalit (2008)

Theo một số nghiên cứu về các loài cá nước ngọt Phú Quốc cho rằng loài cá này là C

nieuhofii – tên tiếng Việt là cá trê đuôi vẹo niêu (Nguyễn Thị Thu Hè, 2003) Tuy

nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào trên đối tượng này ở trong nước Nhằm tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của loài cá mới này, đồng thời tiến hành khảo sát về đặc điểm môi trường sống của cá trong Vườn quốc gia Phú Quốc Với những lý do trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản – Đại Học

Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Một số nghiên cứu bước đầu

về đặc điểm sinh học cá trê Phú Quốc (Clarias sp.)” Đề tài được thực hiện và hoàn

thành từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau:

– Nghiên cứu các đặc điểm sinh học và tìm hiểu môi trường sống của cá trê Phú Quốc ngoài tự nhiên

– Dựa trên các kết quả nghiên cứu để xác định đây là loài mới so với các loài cá trê đã được định danh trước đây

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Vườn Quốc Gia Phú Quốc

2.1.1 Lịch sử hình thành

Đảo Phú Quốc có diện tích 56.200 ha, là hòn đảo lớn nhất trong cả quần đảo gồm 14 đảo nhỏ Đảo Phú Quốc nằm trong khu vực Vịnh Thái Lan, cách vùng đất liền của Việt Nam khoảng 40 km về phía tây

Năm 1986, Phú Quốc được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên có diện tích 5.000 ha (Bộ NN&PTNT, 1997) với mục tiêu bảo tồn khu rừng còn lại trên đảo với sự

phong phú các loài cây họ Dầu như Sao (Hopea sp.) (Cao Văn Sung, 1995) Khu bảo

tồn thiên nhiên Phú Quốc đã được thành lập và hoạt động trong suốt thời kỳ 1986 –

1992 (Anon, 1998) Ngày 3/4/1996, UBND tỉnh Kiên Giang ra Quyết định về việc sát nhập hai Khu rừng phòng hộ đầu nguồn và Khu bảo tồn thiên nhiên Trong đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc có diện tích là 14.957 ha và Khu phòng hộ đầu nguồn có diện tích là 35.873 ha (Anon, 1998)

Theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/06/2001 về việc chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc thành Vườn quốc gia Phú Quốc, khu vực này được mở rộng bao gồm cả một phần của rừng phòng hộ đầu nguồn Phú Quốc Do đó, tổng diện tích Vườn quốc gia Phú Quốc là 31.422 ha, trong đó, bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 8.786 ha, phân khu phục hồi sinh thái 22.603 ha và phân khu hành chính, dịch vụ là 33 ha

Ngày 17/01/2002, UBND tỉnh Kiên Giang đã ra Quyết định số 01/2002/QĐ-UB thành lập Vườn quốc gia Phú Quốc

Trang 15

Vườn quốc gia Phú Quốc có địa hình đồi núi, độ dốc không lớn Điểm cao nhất

là núi Chúa cao 603 m Đây là nơi tập trung nhiều suối, nhưng chủ yếu chỉ có nước theo mùa Chỉ có một con sông khá lớn trên đảo là rạch Cửa Cạn, chảy về phía nam

của Vườn quốc gia và đổ ra bờ biển phía tây của đảo

2.1.4 Đa dạng sinh học

Hiện nay có ít thông tin về khu hệ động vật đảo Phú Quốc Thảm thực vật nơi đây là rừng thường xanh trên địa hình đồi núi thấp Vườn quốc gia Phú Quốc có đến 12.794 ha rừng, trên các đai cao rừng có độ che phủ cao, còn ở các đai thấp rừng bị suy thoái nhiều, chiếm ưu thế là các cây họ đậu (Fabaceae) Đến nay, các nhà nghiên cứu đã thống kê được 929 loài thực vật trên đảo

Rừng có nhiều hệ sinh thái quý hiếm như: rừng cây gỗ lớn họ dầu, rừng tràm tập

Trang 16

Phần biển Phú Quốc rất phong phú và đa dạng, các rặng san hô bắt gặp ở quanh các đảo nằm ở phía nam, chiếm đến 41% diện tích Khu hệ cá trong các rặng san hô rất phong phú, các loài họ cá mú (Serranidae), họ cá bướm (Chaetodontidae) và nhiều loài

có giá trị kinh tế khác Các nhà khoa học đã thống kê được 89 loài san hô cứng, 19 loài san hô mềm, 125 loài cá ở rặng san hô, 132 loài thân mềm, 32 loài da gai và 62 loài

rong biển, trong đó nhiều loài quan trọng như trai tai tượng (Tridacna squamosa) và ốc đụn cái (Trochus nilotichus)

Ngoài ra, với cảnh quan đẹp và hoang sơ, Vườn quốc gia Phú Quốc hiện đang là điểm thu hút du khách đến hòn đảo này Tuy nhiên, tiềm năng du lịch của Vườn quốc gia Phú Quốc và vùng biển xung quanh vẫn chưa thực sự được nhận thức một cách đầy đủ

2.2 Giới Thiệu Họ Cá Trê (Clariidae)

Họ cá trê (Clariidae) là một trong những họ cá lớn trên thế giới Ngày nay, các nhà khoa học đã định danh được 16 giống với 113 loài khác nhau (Ferraris, 2007)

Trong đó, giống cá trê (Clarias) có thành phần loài đa dạng với 56 loài (Ferraris,

2007) hầu hết đều phân bố trong tự nhiên ở Châu Phi và Châu Á Một số nghiên cứu gần đây như của Lim và Ng (1999), Teugels và ctv (2001), Sudarto và ctv (2003) và

Ng (2004) đã cho thấy sự đa dạng và phong phú về thành phần loài cá trê ở Châu Á, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á Tuy vậy, vẫn còn nhiều loài cá trê mới đang tiếp tục được tìm thấy trong một số kết quả nghiên cứu gần đây của Ng và Kottelat (2008)

Hiện nay, có 18 loài cá trê ở Châu Á đã được định danh bao gồm: Clarias

batrachus (Linnaeus, 1758), C fuscus (La Cepède, 1803), C nieuhofii (Valenciennes,

1840), C meladerma (Bleeker, 1846), C leiacanthus (Bleeker, 1851), C

macrocephalus (Gunther, 1864), C olivaceus (Fowler, 1904), C batu (Lim và Ng,

1999), C anfractus (Ng, 1999), C planiceps (Ng, 1999), C microstomus (Ng, 2001),

C intermedius (Teugels, Pouyaud và Sudarto, 2001), C insolitus (Ng, 2003), C nigricans (Ng, 2003), C kapuasensis (Sudarto, Teugels và Pouyaud, 2003), C pseudoleiacanthus (Sudarto, Teugels và Pouyaud, 2003), C sulcatus (Ng, 2004), C pseudonieuhofii (Sudarto, Teugels và Pouyaud, 2004) Nhìn chung, các loài này được

phân thành hai nhóm loài khác nhau dựa vào hình thái cơ thể của chúng Trong đó,

Trang 17

những loài có thân thon dài hơn được xếp vào nhóm gần giống với C nieuhofii (Sudarto và ctv, 2003) Những loài có hình thái gần giống với C nieuhofii hiện nay bao gồm ba loài: C nieuhofii (Valenciennes, 1840), C nigricans (Ng, 2003) và C

pseudonieuhofii (Sudarto, Teugels và Pouyaud, 2004)

Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), cá trê có thân dài, dẹp ngang dần về phía đuôi Đầu dẹp đứng Miệng rộng, răng lá mía kết thành dải hình lưỡi liềm Có bốn đôi râu Không có vây mỡ Vây đuôi tròn Vây lưng dài, không có vây cứng và không liền với vây đuôi Vây ngực có gai cứng mang răng cưa ở mặt sau Cá sống ở nước ngọt, chủ yếu ở ao, hồ, ruộng, lạch,…

Cá trê là loài có khả năng chịu đựng cao do có cơ quan hoa khế nên cá có khả năng thích hợp được với nhiều loại hình nuôi như: ao tù, mương rãnh và có thể nuôi ở nơi có hàm lượng oxy thấp

Đây là loài ăn tạp, thức ăn chủ yếu là động vật Trong tự nhiên, cá trê ăn côn trùng, giun, ốc, cua, tôm, cá,… hoặc có thể cho cá ăn các phụ phẩm của trại chăn nuôi, các nhà máy chế biến thực phẩm,… (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002)

Về mặt phân loại cá trê có một giống: giống cá trê Clarias Scopoli 1977 Theo

tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong nước thì ở Việt Nam có 3 loài cá trê là cá trê

đen (C fuscus) phân bố chủ yếu ở miền Bắc (Mai Đình Yên, 1978), cá trê trắng (C

batrachus) và cá trê vàng (C macrocephalus) phân bố chủ yếu ở miền Nam (Mai Đình

Yên và ctv., 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Vào những năm

1970 của thế kỷ 20, Việt Nam đã nhập nội loài cá trê phi (C gariepinus) Hiện nay, nước ta đã thành công trong việc sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá trê lai (C

gariepinus X C macrocephalus) Việc nuôi cá trê lai đã góp phần cải thiện đời sống

của người nuôi cá và tạo ra nguồn thực phẩm thủy sản quan trọng cho xã hội

2.3 Đặc Điểm Sinh Học Một Số Loài Cá Trê

Trang 18

mở ra ở mặt dưới của đầu Vây lưng dài, tia vây nhiều, gắn liền với vây đuôi Vây đuôi tròn, bé Vây bụng bé, số tia vây ít Vây ngực có một gai cứng, cả hai mặt đều có răng cưa Tia vây chưa đạt tới vây bụng Vây bụng kéo dài về sau, quá khởi điểm vây hậu môn Đường bên rất rõ

Về màu sắc: cá có màu đen hay màu nâu đen, bụng xám (màu cá khá thay đổi)

Về phân bố: cá trê đen là loài cá phổ biến ở các tỉnh phía Bắc nước ta Chúng sống nhiều ở hồ, ao, ruộng, những nơi nhiều bùn nước tĩnh, thiếu ánh sáng Mùa cá đẻ

ở miền Bắc chủ yếu vào tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9, điều kiện nhiệt độ 25 – 30°C Cỡ

cá 15 cm có 2.000 trứng, cỡ 17 – 25 cm có 7.600 trứng, cỡ 31 cm có 21.000 trứng Đường kính trứng 1,4 mm (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002)

Về sinh trưởng: cá lớn 3 tuổi thân dài 31 cm, nặng 300 g Con lớn nhất ở Trung Quốc dài 47,8 cm, nặng 938 g

Cá hoạt động chủ yếu vào ban đêm, lúc đi kiếm ăn nó thường phát ra tiếng kêu

“kèn kẹt”, cá thường sống thành đàn lớn, hay phá bờ, khoét lỗ (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002)

2.3.2 Cá trê trắng (C batrachus)

Về hình thái: theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), đầu rộng, dẹp bằng, da đầu ở sọ mỏng, xương sọ lộ hẳn ra ngoài Miệng cận dưới, khe miệng thẳng, nằm ngang, không co duỗi được, răng hàm nhỏ, mịn Có 4 đôi râu: một đôi râu mũi, một đôi râu mép và hai đôi râu cằm dưới Râu mép và râu hàm dưới kéo dài đến gốc vây ngực, râu mũi kéo dài đến bờ sau nắp mang Mắt nhỏ nằm lệch về mặt lưng của đầu và gần chóp mõm hơn điểm cuối nắp mang Đầu có hai lỗ thóp, lỗ trước nằm ngay sau đường thẳng nối hai mắt và lỗ sau nằm phía trước gốc mấu xương chẩm Gốc mấu xương chẩm có dạng tam giác, chiều rộng của gốc tương đương với hai lần chiều cao Lỗ mang hẹp, hoàn toàn nằm ở mặt bụng của đầu, xương nắp mang kém phát triển

Thân dài, phần sau dẹp bên, mỏng Cuống đuôi rất dẹp bên và rất ngắn Đường bên hoàn toàn nằm trên trục ngang giữa thân và vây kéo dài từ mép trên lỗ mang đến điểm giữa gốc vây đuôi, cơ ở hai gốc vây này phát triển và phủ tới ngọn các tia vây

Trang 19

Các vây ngực to khỏe, cả hai mặt đều có răng cưa hướng xuống gốc, gai ở mặt sau phát triển hơn mặt trước Vây đuôi tròn không chẻ hai

Ngoài ra, theo mô tả của Mai Đình Yên và ctv (1992), cá trê trắng có vây lưng

và vây hậu môn không nối liền với vây đuôi, khi chết cá màu trắng nhạt Có thể chịu được nước phèn

Về màu sắc: mặt lưng của đầu và thân có màu xám nhạt và lợt dần xuống mặt bụng Vây hậu môn, vây lưng có màu xám Vây bụng màu trắng Có thể có một số chấm trắng rải rác trên thân

Về phân bố: cá có kích thước nhỏ, tối đa chỉ 40 cm Phân bố khá rộng rãi ở các thủy vực nước ngọt ở miền Nam Thường tập trung cao trong các ao hồ, đầm đìa và mương rạch nhỏ Là loài cá có giá trị kinh tế cao (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

Cá phân bố ở Ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippine và Đồng bằng sông Cửu Long nước ta

Về sinh trưởng: thân thường dài 25 – 45 cm, nặng 150 – 500 g Cỡ cá 2 tuổi thân dài 30 cm, nặng 300 g có 40.000 trứng, cỡ cá 210 g có 11.616 trứng (Ngô Trọng Lư và

Lê Đăng Khuyến, 2002)

2.3.3 Cá trê vàng (C macrocephalus)

Về hình thái: theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá trê vàng

có đầu rộng, dẹp bằng, da đầu ở sọ não mỏng, xương sọ nổi lên rõ ràng Miệng cận dưới, không co duỗi được, rạch miệng thẳng, nằm ngang, răng trên hàm nhỏ, mịn, cứng chắc Có 4 đôi râu khá phát triển: một đôi râu mũi, một đôi râu mép và hai đôi râu cằm dưới, râu mép to và dài hơn các râu khác Mắt nhỏ, nằm ở mặt lưng của đầu

và gần chót mõm hơn điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng Đầu có hai lỗ thóp, một lỗ nằm phía sau đường ngang nối hai mắt, còn hai lỗ kia nằm phía trước gốc mấu xương chẩm Mấu xương chẩm tròn, chiều rộng gốc mấu xương chẩm tương

Trang 20

môn rất dài, phần cuối gần chạm gốc vây đuôi Cơ gốc vây phát triển, phủ lên gần tới ngọn các tia vây Gai vây ngực cứng, nhọn, cả hai đều có răng cưa hướng xuống gốc, xương đai vây ngực lộ hẳn ra ngoài Vây đuôi tròn không chẻ hai

Về màu sắc: mặt lưng của thân và đầu đều có màu xám đến nâu đen và nhạt dần xuống mặt bụng Bụng và mặt dưới của đầu có màu vàng Trên thân mỗi bên có khoảng 10 hàng chấm nhỏ màu trắng nằm vắt ngang thân Ngoài ra, các vây của cá có màu đen, điểm các đốm thẫm (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

Về phân bố: thường có miền Nam nước ta, phân bố ở Philippine, Thái Lan, Lào, Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam

Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), cá có kích thước nhỏ, thường gặp cỡ 20 – 30

cm Thịt ngon, sản lượng nhiều, có giá trị kinh tế cao Cá phân bố khá rộng trong hầu hết các thủy vực nước ngọt, chủ yếu sống ở các ao, hồ, mương rạch, đầm,… còn ít gặp trong các sông lớn

Về sinh trưởng: Cỡ cá lớn 1 tuổi thân dài 20,5 cm, nặng 70 g Cỡ cá lớn 2 tuổi, thân dài 35 cm, nặng 250 g Cỡ cá lớn nhất đợt điều tra ở miền Nam nước ta dài 45

cm, nặng 495 g Thân cá dài 37 cm có 35.770 trứng Thân cá dài 19 cm, có 10.640 trứng Cá ăn giun, sâu bọ, tôm tép, thịt đã thối rữa,… Nuôi cho ăn thức ăn động vật Năng suất đạt 450 – 900 kg/ha (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002)

2.2.4 Cá trê phi (C gariepinus)

Về hình thái: Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá trê phi có râu mũi dài đến tận gốc vây lưng, có 4 đôi râu Mấu xương chẩm có dạng tam giác, chiều rộng mấu xương chẩm tương đương với chiểu cao của nó Các xương hai bên mấu xương chẩm kéo dài ra phía sau làm cho mép sau của xương sọ có dạng chữ M trong

khi ở hai loài cá trê vàng (C macrocephalus) và cá trê trắng (C batrachus) thì các

xương hai bên xương chẩm trên không phát triển

Về màu sắc: có thể phân biệt được với gốc vây đuôi có một gạch màu trắng nằm vắt ngang

Về phân bố: sống ở hạ lưu các sông đầm, hồ, lớn ở Châu Phi Đến mùa mưa ngược lên thượng lưu các vùng ngập nước ven sông để sinh đẻ Cá phân bố ở sông Nin, Công Gô, Ai Cập, Châu Phi

Trang 21

Về sinh trưởng: cá có tốc độ lớn nhanh, 6 tháng bình quân đạt 1 kg/con, cơ thể

to, sản lượng cao Thân thường dài 35 – 50 cm, nặng 250 – 2.500 g Có con 2 tuổi lớn nhất đạt 4.300 g với thân dài 64 cm

Cá đẻ trong năm, nuôi 3 tháng có thể đạt thương phẩm, thịt mềm Đang được nuôi ở Châu Phi, Tây Âu (Hà Lan), ở Trung Quốc nuôi đạt 20 – 40 kg/m2

Cá trê phi đã nhập vào miền Nam nước ta từ năm 1975 và đến năm 1980 đem ra nuôi ở miền Bắc Dựa vào các đặc tính trên đây của các loài cá trê từ 1983, người ta đã tiến hành lai tạo giữa cá trê phi đực với cá trê vàng cái tạo ra loài cá trê lai lớn nhanh, thịt ngon có màu sắc hấp dẫn, có thể nuôi 2 – 3 vụ trong 1 năm

Năm 1984, Trung Quốc lai cá phi đực với cá trê đen cái để có con lai thịt khá ngon, nuôi 3 – 4 tháng có thể nặng 0,25 – 0,5 kg, con lớn 0,75 kg (Ngô Trọng Lư và

Lê Đăng Khuyến, 2002)

Do đó, để phân biệt cá trê phi với các loài cá trê bản địa, Ngô Trọng Lư và Lê

Đăng Khuyến (2002) đã nêu một số điểm khác nhau giữa ba loài C gariepinus, C

batrachus và C fuscus được trình bày ở Bảng 2.1

Trang 22

Bảng 2.1 So sánh các đặc điểm khác nhau của 3 loài cá trê đen (C fuscus), cá trê trắng

(C batrachus) và cá trê phi (C gariepinus)

Giống loài Trê đen Trê trắng Trê phi Thân dài/ đầu dài (cm) 3,8/4,0 3,7/3,9 4,6/5,2 Chiều dài đầu / chiều

cao đầu (cm) 1,85/2,0 1,85/2,0 2,1/2,3 Thời gian nuôi (tháng) 6-7 3-4 2-3

Đầu dài và dẹt, đỉnh đầu bằng (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002)

Trang 23

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện

Đề tài được thực hiện và hoàn thành từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 7 năm 2010

Để tìm hiểu về các đặc điểm sinh học chúng tôi tiến hành thu mẫu từ tự nhiên tại Phú Quốc và các chỉ tiêu được phân tích trong phòng thí nghiệm Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

3.2 Vật Liệu Phục Vụ Công Tác Nghiên Cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã thực hiện 5 lần khảo sát thực địa với 7 lần thu mẫu (11/10, 22/11 và 22/12 năm 2009, 13/1, 26/2, 13/3 và 9/6 năm 2010) nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học, tìm hiểu môi trường sống của cá cũng như việc khai thác và tiêu thụ cá trê Phú Quốc Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đo các chỉ tiêu chất lượng nước tại môi trường nơi cá sinh sống, đồng thời ghi nhận các đặc điểm môi trường sống của cá Sau khi thu mẫu, chúng tôi tiến hành cân đo kích thước, trọng lượng cá và ghi nhận số liệu thô tại chỗ Đối với mẫu vật dùng nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng sẽ được tiến hành mổ lấy nội quan và cố định với dung dịch formol 10% để được tiếp tục phân tích tại phòng thí nghiệm thuộc Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Nông Lâm TP

Hồ Chí Minh

Trang 24

Hình 3.1: Bản đồ Phú Quốc và vị trí thu mẫu qua các đợt khảo sát

3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu

Các nghiên cứu đặc điểm sinh học cá dựa vào các phương pháp nghiên cứu được

đề xuất bởi Pravdin (1973)

Trang 25

3.3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái và định danh cá

Cá sẽ được định danh dựa trên các chỉ tiêu hình thái được sử dụng bởi Ng (2003)

và Sudarto và ctv (2004) được minh họa như Hình 3.2 và Hình 3.3

Hình 3.2: Hình minh họa một số chỉ tiêu đo trên C gariepinus (Teugels, 1986; Turan

và ctv., 2005)

OPL

OPW

Trang 26

Các chỉ tiêu mà chúng tôi đã thực hiện bao gồm:

1 TL (Total length): chiều dài tổng cộng

2 SL (Standard length): chiều dài chuẩn

3 PDD (Predorsal distance): khoảng cách trước vây lưng

4 PAD (Preanal distance): khoảng cách trước vây hậu môn

5 PVD (Preventral distance): khoảng cách trước vây bụng

6 PPD (Prepectoral distance): khoảng cách trước vây ngực

7 DFL (Dorsal fin length): chiều dài vây lưng

8 AFL (Anal fin length): chiều dài vây hậu môn

9 PVFL (Pelvic fin length): chiều dài vây bụng

10 PFL (Pectoral fin length): chiều dài vây ngực

11 PSL (Pectoral spine length): chiều dài gai vây ngực

12 CFL (Caudal fin length): chiều dài vây đuôi

13 DODF (Distance between occipital process and dorsal fin): khoảng cách giữa mấu xương chẩm và vây lưng

14 BDA (Body depth at anus): chiều cao thân ở hậu môn

15 CPD (Caudal peduncle depth): chiều cao cuống đuôi

16 HL (Head length): chiều dài đầu

17 HW (Head width): chiều rộng đầu

18 HD (Head depth): chiều cao đầu

19 SNL (Snout length): chiều dài miệng

Hình 3.3: Hình minh họa chỉ

tiêu đo phiến răng trên cá trê (1: chiều dài phiến răng tiền hàm (PMX – Premaxillary); 2: chiều dài phiến răng lá mía (VM – Vomerine); 3: chiều rộng phiến răng tiền hàm; 4: chiều rộng phiến răng lá mía)

Trang 27

20 ID (Interorbital distance) khoảng cách giữa hai ổ mắt

21 ED (Eye diameter): đường kính mắt

22 NBL (Nasal barbel length): chiều dài râu mũi

23 MBL (Maxillary barbel length): chiều dài râu hàm trên

24 IMBL (Inner mandibular barbel length): chiều dài râu trong hàm dưới

25 OMBL (Outer mandibular barbel length): chiều dài râu ngoài hàm dưới

26 FFL (Length of frontal fontanel): chiều dài thóp trán

27 FFW (Width of frontal fontanel): chiều rộng thóp trán

28 OFL (Length of occipital fontanelle): chiều dài thóp chẩm

29 OFW (Width of occipital fontanelle): chiều rộng thóp chẩm

30 OPL (Length of occipital process): chiều dài mấu chẩm

31 OPW (Width of occipital process): chiều rộng mấu chẩm

32 PMXL (Premaxillary toothplate length): chiều dài phiến răng tiền hàm

33 PMXW (Premaxillary toothplate width): chiều rộng phiến răng tiền hàm

34 VML (Vomerine toothplate length): chiều dài phiến răng lá mía

35 VMW (Vomerine toothplate width): chiều rộng phiến răng lá mía

Các chỉ tiêu đo từ (3) đến (18) được so sánh với chiều dài chuẩn (%SL) và các chỉ tiêu đo từ (19) đến (35) được so sánh với chiều dài đầu (%HL) Các chỉ tiêu đếm bao gồm số tia của các vây bụng, ngực, lưng và hậu môn, số lược mang ở cung mang thứ nhất Các chỉ tiêu đo đếm được xác định ở bên trái của mẫu cá Các số liệu này

được so sánh với các loài cá trê C nieuhofii và C pseudonieuhofii được mô tả bởi Sudarto và ctv (2004) và C nigricans được mô tả bởi Ng (2003) Đây là những loài có

hình thái tương tự với cá trê Phú Quốc

3.3.2 Khảo sát đặc điểm dinh dưỡng

3.3.2.1 Cơ quan bắt mồi và cơ quan tiêu hóa

Trang 28

Tiến hành giải phẫu, đo chiều dài ruột, xác định chiều dài ruột tương đối (Relative length of gut, RLG) là tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài chuẩn (Li/Lo) và qua đó xác định tính ăn của cá theo Nikolsky (1963)

Li/Lo < 1: cá ăn động vật

1 < Li/Lo < 3: cá ăn tạp Li/Lo > 3: cá ăn thực vật Dựa vào các đặc điểm về hình thái cấu tạo của bộ máy tiêu hóa kết hợp với việc phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày của cá theo phương pháp tần số xuất hiện nhằm xác định tính ăn của cá

Phương pháp tần số xuất hiện: là tỷ lệ % các loại thức ăn khác nhau hiện diện trong dạ dày có chứa thức ăn (Pravdin, 1973)

3.3.2.3 Chỉ số độ no

Xác định chỉ số độ no qua lượng thức ăn có trong ruột và dạ dày theo chỉ tiêu sáu cấp của Lebedev (trong Sinh thái cá của Nikolsky, 1963) và chỉ số no đầy chung Chỉ tiêu sáu cấp được xác định như sau:

Cấp 0: ruột không có thức ăn, cá rất đói

Cấp 1: thức ăn có lác đác, cá đói ít

Cấp 2: thức ăn có một ít, cá no ít

Cấp 3: thức ăn tương đối nhiều, cá no vừa

Cấp 4: thức ăn chứa đầy trong dạ dày nhưng ruột chưa căng, cá no nhiều Cấp 5: thức ăn chứa đầy trong dạ dày, cá no căng

Chỉ số no đầy chung (CSNĐC) được tính theo công thức:

CSNĐC = (Trọng lượng thức ăn trong dạ dày (g) * 104) / (Trọng lượng cơ thể (g)) Cường độ bắt mồi: cho biết số dạ dày của cá có chứa thức ăn trong tổng số dạ dày khảo sát

3.3.3 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng

Trên cơ sở cân đo khối lượng (W) và chiều dài (L), xác lập phương trình tương quan giữa khối lượng và chiều dài nhằm xác định kích thước tối đa cá trong tự nhiên (Le Cren, 1951)

Trang 29

Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá được xác định qua công thức:

W = a.Lb

Trong đó: W (g): khối lượng

L (cm): chiều dài a: hằng số

b: số mũ của mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng

3.3.4 Khảo sát đặc điểm sinh học sinh sản

3.3.4.1 Tuổi và kích thước thành thục sinh dục

Mỗi loài cá có độ tuổi thành thục sinh dục riêng tùy thuộc vào điều kiện môi trường, chế độ dinh dưỡng và tập tính của loài Theo quy luật chung, cá sống ở vùng

có nhiệt độ thấp thì có tuổi thành thục sinh dục lần đầu cao hơn cá sống ở nơi có nhiệt

độ cao

Chế độ dinh dưỡng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục sinh dục Những nơi cá có điều kiện dinh dưỡng tốt thì có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn và hệ số thành thục cao hơn cá có chế độ dinh dưỡng kém

Trong cùng một điều kiện môi trường sống thì giữa các loài cá khác nhau cũng

có tuổi thành thục sinh dục khác nhau

3.3.4.2 Khảo sát mùa vụ sinh sản

Đa số các loài cá da trơn đều sinh sản vào mùa ngập lũ, bãi đẻ của chúng có thể

là các vùng ngập nước ven sông vào mùa mưa, ven các sông hồ lớn hoặc chúng làm tổ trong các hang hốc, dọc các bờ mương nơi có mực nước nông từ 1 – 1,3 m

Kết hợp các thông tin ghi nhận được qua quá trình khảo sát cũng như việc điều tra từ ngư dân để xác định mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên

Trang 30

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Định Danh Và Khảo Sát Môi Trường Sống

4.1.1 Mô tả hình thái và màu sắc

Hình 4.1: Hình dạng ngoài của cá trê Phú Quốc, SL = 295,5 mm với (a) mặt bên, (b)

mặt lưng và (c) mặt bụng

a

b

c

Trang 31

Về hình thái: đầu cá nhỏ và hẹp Mắt hình oval với trục dọc lớn nhất nằm ở mặt lưng – bên; xương chẩm hơi nhọn và ngắn Thóp chẩm có hình dạng gần giống như

hình oval, tương tự như ở C nieuhofii và C nigricans nhưng lại có sự khác biệt so với

hai loài này về hình dạng mấu chẩm và thóp trán (Hình 4.2) Chiều dài của thóp trán

và thóp chẩm gần gấp đôi so với chiều rộng (16,1% HL vs 8,4 và 11,7% HL vs 6,4)

Vây lưng có gốc vây dài với 84 – 103 tia vây (số mẫu = 90) được bao phủ với lớp da dầy Vây hậu môn được bao phủ với lớp da dầy và có gốc vây dài với 74 – 92

c

Trang 32

Hình 4.3: Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn tách rời nhau

Tuy nhiên, trong số 160 mẫu cá được phân tích, có 7 mẫu với vây lưng, vây đuôi

và vây hậu môn dính liền nhau (Hình 4.4) Sự dính liền các vây này có thể là tự nhiên hay bị dính sau khi lành vết thương gây ra bởi sự tấn công nhau Cá trê Phú Quốc là loài có tập tính hung dữ Do vậy, chúng sẵn sàng tấn công nhau khi bị đói hay được giữ ở mật độ cao Các vết thương thường được quan sát ở những vây lẻ, đặc biệt là ở phần đuôi

Hình 4.4: Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn của cá dính liền nhau

Trang 33

Vây ngực có 1 gai nhỏ và 8 tia vây Gai vây ngực có 19 – 25 gờ nhỏ ở cạnh

trước và nhẵn ở cạnh sau (Hình 4.5), đặc điểm này tương tự như ở gai vây ngực của C

nieuhofii và C nigricans Vây bụng có 6 tia vây Số tia vây ngực và vây bụng hầu như

không thay đổi qua các mẫu nghiên cứu

Hình 4.5: Hình dạng gai ngực của (a) C nigricans, SL = 197,4 mm; (b) C nieuhofii,

SL = 186,2 mm và (c) Cá trê Phú Quốc, SL = 283,5 mm

c

1 mm

Trang 34

Bảng 4.1: So sánh số tia vây của cá trê Phú Quốc với một số loài cá trê khác

Số tia vây lưng

Số tia vây hậu môn

Số tia vây ngực

Số tia vây bụng Nguồn tham khảo

Lư và Lê Đăng Khuyến, 2002

Mai Đình Yên và ctv, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương,

Qua đó, chúng tôi nhận thấy cá trê Phú Quốc có sự khác biệt với các loài cá trê

bản địa như C fuscus, C batrachus và C macrocephalus về số tia vây lưng nhiều hơn

(84 – 103 vs 57 – 60, 68 – 74, 63 – 69) và số tia vây hậu môn nhiều hơn (74 – 92 vs

39 – 45, 48 – 55, 46 – 52) Điều này cũng phù hợp vì cá trê Phú Quốc có thân thon dài với vây lưng và vây hậu môn đều dài hơn so với ba loài cá trê ở nước ta Vây ngực và

vây bụng của cá trê Phú Quốc tương tự với C fuscus và C batrachus đều có 1 gai ngực và 8 tia vây Ngoài ra, cá trê Phú Quốc có tia vây bụng tương tự với C batrachus

và C macrocephalus (6 tia vây) nhưng lại lớn hơn C fuscus chỉ có 5 tia vây

Trang 35

Tuy nhiên, cá trê Phú Quốc tương tự với C nieuhofii, C pseudonieuhofii và C

nigricans về số tia vây lưng (84 – 103 vs 82 – 105, 87 – 90 và 83 – 108) và số tia vây

hậu môn (74 – 92 vs 73 – 96, 73 – 81 và 74 – 91) Cá trê Phú Quốc có 6 tia vây bụng

tương tự với C nieuhofii và C pseudonieuhofii nhưng lại có sự khác biệt với C

nigricans chỉ có 5 tia vây bụng

Về màu sắc: cá sống có màu nâu, đậm ở phần lưng và trên các vây lẻ (vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn), nhạt hơn ở phần bụng Hai bên thân cá có các hoa văn là

những hàng đứng có các đốm trắng nhỏ tương tự với hoa văn của C nieuhofii (Hình

4.6) Chúng tôi thấy trên đường bên có 13 – 19 (phổ biến là 15 – 17) hàng đứng có 2 –

5 điểm trắng nhỏ hiện diện và một dãy không đều các điểm màu trắng lớn hơn chạy dọc theo thân cá và phía dưới đường bên

a

Hinh 4.6: Các đốm trắng đứng trên thân ở (a) cá trê Phú Quốc và (b) C nieuhofii

4.1.2 Các chỉ tiêu hình thái và định danh cá

Với số mẫu cá = 80, chúng tôi đã đo được các chỉ tiêu hình thái được sử dụng

bởi Ng (2003) và Sudarto và ctv (2004) và tiến hành so sánh với C nieuhofii, C

pseudonieuhofii và C nigricans được trình bảy ở Bảng 4.2

Trang 36

Bảng 4.2: So sánh một số điểm khác nhau về chỉ tiêu hình thái giữa cá trê Phú Quốc (n=80) với C nieuhofii, C pseudonieuhofii và

C nigricans

Cá trê Phú Quốc* C nieuhofii** C pseudonieuhofii** C nigricans***

Biến động Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Chiều dài tổng cộng (mm) 125,0-343,0 198,0±6,2

Chiều dài chuẩn (mm) 103,0-318,0 174,0±5,6

% chiều dài chuẩn

Chiều dài trước vây lưng 24,6-28,8 26,6±0,9 25,2±1,4 26,6±0,7 25,8±0,83 Chiều dài trước vây hậu

môn 37,2-43,6 40,3±1,5 38,5±1,8 40,7±1,2 38,1±0,91 Chiều dài trước vây bụng 34,2-39,0 36,8±1,2 35,0±1,7 36,7±1,2 34,0±1,3 Chiều dài trước vây ngực 12,0-15,1 13,5±0,7 14,8±0,8 15,8±0,5 14,6±0,74 Chiều dài vây lưng 71,1-78,3 74,0±1,6 75,8±2,0 72,4±1,0 75,0±0,78 Chiều dài vây hậu môn 56,8-65,8 59,8±2,1 62,6±1,7 57,7±0,9 62,3±1,37

Chiều dài vây bụng 4,1-5,8 5,0±0,3 5,2±0,6 7,0±0,4 4,8±0,48 Chiều dài vây ngực 8,1-11,0 9,6±0,7 8,7±0,9 9,9±0,6 6,6±1,41 Chiều dài gai vây ngực 5,2-7,9 6,4±0,7 6,0±0,7 6,4±0,4 4,3±0,87 Chiều dài giữa mấu xương

chẩm và vây lưng 7,0-9,6 8,5±0,6 6,7±1,0 6,9±0,5 8,5±0,54

Trang 37

Cá trê Phú Quốc* C nieuhofii** C pseudonieuhofii** C nigricans***

Biến động Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Chiều dài vây đuôi 12,0-17,3 14,7±1,4 11,6±0,85 Chiều cao thân ở hậu môn 10,4-13,3 12,0±0,7 11,9±0,9 11,9±0,6 11,3±0,98 Chiều cao cuống đuôi 4,0-5,9 4,7±0,4 4,5±0,5 4,8±0,7 4,5±0,50

Chiều dài đầu 17,1-19,8 18,5±0,6 18,8±0,9 19,9±0,6 17,8±0,38 Chiều rộng đầu 12,0-14,5 13,2±0,5 13,2±0,8 13,5±0,5 12,1±0,21 Chiều cao đầu 7,1-9,1 8,2±0,4 9,4±0,89

% chiều dài đầu

Chiều dài mõm 18,3-23,9 20,6±1,3 22,9±1,7 22,6±0,8 32,4±1,93

Chiều rộng giữa 2 ổ mắt 41,6-47,9 44,3±1,3 41,4±1,8 40,6±1,2 41,9±1,32

Đường kính mắt 4,7-7,0 5,8±0,6 6,0±0,6 5,7±0,6 4,8±0,41 Chiều dài râu mũi 66,9-108,3 87,4±8,0 74,0±7,98 Chiều dài râu hàm trên 121,7-189,7 60,3±12,9 127,6±12,76

Chiều dài râu trong hàm

70,1-100,0 84,7±6,8 64,1±9,39

Trang 38

Cá trê Phú Quốc* C nieuhofii** C pseudonieuhofii** C nigricans***

Biến động Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Trung bình±SD Chiều rộng mấu chẩm 23,4-37,4 32,0±3,3 29,3±1,7 27,4±3,3 29,1±2,39 Chiều dài thóp trán 11,5-19,0 16,1±1,6 12,8±2,1 12,5±1,8 11,3±2,17 Chiều rộng thóp trán 6,1-9,9 8,4±0,8 6,7±1,2 7,1±1,3 4,9±1,03 Chiều dài thóp chẩm 7,9-14,9 11,7±1,8 7,0±0,94 Chiều rộng thóp chẩm 4,3-8,5 6,4±0,9 3,6±0,57 Chiều dài phiến răng tiền

hàm 5,2-9,2 7,1±0,9

Chiều rộng

phiến răng tiền hàm 22,8-32,7 25,8±2,0 25,0±1,6 23,0±1,3

Chiều dài phiến răng lá mía 5,7-13,5 9,4±1,9

Chiều rộng phiến răng lá

mía 18,9-30,1 23,5±2,2 22,6±1,3 22,3±1,4

* Chúng tôi (2010)

** Sudarto và ctv (2004)

*** Ng (2003)

Trang 39

Dựa trên các chỉ tiêu đã thực hiện, chúng tôi nhận thấy cá trê Phú Quốc tương tự

với C nieuhofii và C pseudonieuhofii về chiều cao thân ở hậu môn (12,0% SL vs

11,9 và 11,9) và chiều rộng đầu (13,2% SL vs 13,2 và 13,5) Cá trê Phú Quốc tương

tự với C nieuhofii và C nigricans về chiều dài vây bụng (5,0% SL vs 5,2 và 4,8) Ngoài ra, cá trê Phú Quốc tương tự với C nieuhofii về chiều dài đầu (18,5% SL

vs 18,8), chiều rộng đầu (13,2% SL vs 13,2) và chiều cao thân ở hậu môn (12,0% SL

vs 11,9) Cá trê Phú Quốc tương tự với C pseudonieuhofii về chiều dài trước vây lưng

(26,6% SL vs 26,6), chiều dài trước vây hậu môn (40,3% SL vs 40,7), chiều dài trước vây bụng (36,8% SL vs 36,7), chiều dài vây ngực (9,6% SL vs 9,9), chiều dài gai vây ngực (6,4% SL vs 6,4) và đường kính mắt (5,8% HL vs 5,7) Cá trê Phú Quốc tương

tự với C nigricans về khoảng cách từ mấu xương chẩm đến vây lưng (8,5% SL vs

8,5)

Tuy nhiên, cá trê Phú Quốc khác với C nieuhofii, C pseudonieuhofii và C

nigricans về chiều dài vây lưng (74,0% SL vs 75,8; 72,4 và 75,0), chiều dài vây hậu

môn (59,8% SL vs 62,6; 57,7 và 62,3), chiều dài mấu chẩm (9,0% HL vs 10,9; 5,8 và 13,3), với chiều rộng giữa hai ổ mắt lớn hơn (44,3% HL vs 41,4; 40,6 và 41,9), một thóp trán rộng hơn (8,4% HL vs 6,7; 7,1 và 4,9) và dài hơn (16,1% HL vs 12,8; 12,5

và 11,3) nhưng lại có chiều dài trước vây ngực nhỏ hơn (13,5% SL vs 14,8; 15,8 và

14,6) và chiều dài mõm nhỏ hơn (20,6% HL vs 22,9; 22,6 và 32,4)

Đặc biệt, cá trê Phú Quốc khác với C nieuhofii và C pseudonieuhofii về chiều

dài vây lưng (74,0% SL vs 75,8 và 72,4), chiều dài vây hậu môn (59,8% SL vs 62,6

và 57,7) và chiều dài mấu chẩm (9,0% HL vs 10,9 và 5,8), với chiều dài trước vây ngực nhỏ hơn (13,5% SL vs 14,8 và 15,8) và khoảng cách dài hơn giữa mấu xương chẩm và vây ngực (8,5% SL vs 6,7 và 6,9); tương tự, chiều dài mõm nhỏ hơn (20,6%

HL vs 22,9 và 22,6), một đường kính mắt lớn hơn (6,6% HL vs 6,0 và 5,7), chiều rộng giữa hai ổ mắt lớn hơn (44,3% HL vs 41,4 và 40,6), thóp trán rộng hơn (8,4%

Trang 40

(40,3% SL vs 38,5 và 38,1), chiều dài trước vây bụng (36,8% SL vs 35,0 và 34,0), gai vây ngực (6,4% SL vs 6,0 và 4,3) và đường kính mắt (5,8% HL vs 6,0 và 4,8); bởi một chiều dài lớn hơn của vây ngực (9,6% SL vs 8,7 và 6,6), chiều cao cuống đuôi lớn hơn (4,7% SL vs 4,5 và 4,5) và một chiều dài vây hậu môn nhỏ hơn (59,8%

SL vs 62,6 và 62,3); tương tự, một khoảng cách lớn hơn giữa hai ổ mắt (44,3% HL vs 41,4 và 41,9), một thóp trán dài hơn (16,1% HL vs 12,8 và 11,3), và một mấu xương chẩm ngắn hơn (9,0% HL vs 10,9 và 13,3)

Cá trê Phú Quốc khác với C nieuhofii với sự lớn hơn về chiều dài trước vây

lưng (26,6% SL vs 25,2), chiều dài trước vây hậu môn (40,3% SL vs 38,5), chiều dài trước vây bụng (36,8% SL vs 35,0), chiều dài vây ngực (9,6% SL vs 8,7), chiều dài gai vây ngực (6,4% SL vs 6,0), chiều cao cuống đuôi (4,7% SL vs 4,5); tương tự, một khoảng cách lớn hơn giữa hai ổ mắt (44,3% HL vs 41,4), một thóp trán dài hơn (16,1% vs 12,8% HL) và đường kính mắt (5,8% HL vs 6,0) nhưng lại có mấu xương chẩm ngắn hơn (9,0% HL vs 10,9) và chiều dài vây hậu môn nhỏ hơn (59,8% SL vs 62,6)

Ngoài ra, cá trê Phú Quốc khác với C pseudonieuhofii khi có sự lớn hơn về

chiều dài vây lưng (74,0% SL vs 72,4), chiều dài vây hậu môn (59,8% SL vs 57,7) và đường kính mắt (6,6% HL vs 5,7), chiều rộng giữa hai ổ mắt (44,3% HL vs 40,6), thóp trán rộng hơn (8,4% HL vs 7,1) và dài hơn (16,1% HL vs 12,5), chiều dài mấu chẩm (9,0% HL vs 5,8), chiều rộng phiến răng tiền hàm (25,8% HL vs 23,0) và chiều

dài phiến răng lá mía (23,5% HL vs 22,3) Tuy nhiên, cá trê Phú Quốc lại nhỏ hơn C

pseudonieuhofii về chiều dài trước vây ngực (13,5% SL vs và 15,8), chiều dài vây

ngực (8,5% SL vs 6,9) và chiều dài mõm nhỏ hơn (20,6% HL vs 22,6)

Cá trê Phú Quốc khác với C nigricans bởi một vây đuôi dài hơn (14,7% SL vs

11,6), chiều rộng đầu lớn hơn (13,2% SL vs 12,1), một đường kính mắt lớn hơn (5,8%

HL vs 4,8), một thóp chẩm dài hơn (11,7% HL vs 7,0) và rộng hơn (6,4% HL vs 3,6), một sự dài hơn của các râu mũi (87,4% HL vs 74,0), râu hàm (160,3% HL vs 127,6), râu trong hàm dưới (84,7% HL vs 64,1) và râu ngoài hàm dưới (119,7% HL

vs 92,2) nhưng lại có chiều cao đầu nhỏ hơn (8,2% SL vs 9,4)

Do đó, dựa trên những kết quả đo đếm về chỉ tiêu hình thái, cá trê Phú Quốc là loài hoàn toàn khác với những loài đã được định danh trước đây Theo Ng và Tu (2010

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm