1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ DĨA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

75 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ tiêu chất lượng nước, thức ăn, bệnh cá trong qui trình nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất giống và ương nuôi cá hương cũng được khảo sát chi tiết.. Một số giải pháp thử nghiệm nhằm nâng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ DĨA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

Trang 2

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ DĨA TẠI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

Tác giả

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn :

TS Vũ Cẩm Lương

Tháng 07 năm 2010

Trang 3

CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn :

Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm khoa thủy sản, cùng tất cả các Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt cho tôi gởi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Vũ Cẩm Lương đã hết lòng giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này

Đồng thời cho tôi gởi lời cảm ơn đến :

Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM và các anh chị em trong cơ quan đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Các anh chị, bạn bè trong và ngoài lớp đã chia sẻ cùng tôi trong thời gian học tập cũng như giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập này

Do thời gian và kiến thức chuyên ngành còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi sai sót, kính mong được sự đóng góp của thầy cô

và bạn bè

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài ‘‘Khảo sát và đánh giá qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM’’ được thực hiện từ 01/02/2010 đến 15/07/2010, với nội dung nhằm: Khảo sát và đánh giá kết quả sản xuất giống cá dĩa

đã được thực hiện, đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết lập bảng câu hỏi khảo sát, kết hợp bố trí thí nghiệm

Kết quả đã khảo sát được bốn đợt sản xuất giống cá dĩa trong giai đoạn 2008 –

2009 Số cặp cá bố mẹ nuôi vỗ năm 2008 là 15 cặp, 2009 là 24 cặp, kích thước (chiều dài tổng) cá bố mẹ tham gia sinh sản trung bình 13 cm, tuổi cá bố mẹ nuôi vỗ trung bình từ 2 – 3 năm tuổi Tỉ lệ sống trung bình của cá hương sau khi tách khỏi cá bố mẹ năm 2008 thấp nhất 43,4% ứng với số ngày tuổi tách cá con khỏi cá bố mẹ là 11 ngày tuổi và cao nhất đạt 78,4% ứng với thời điểm tách cá con là 19 ngày tuổi, năm 2009 tỉ lệ sống trung bình của cá hương đạt 87,9% ứng với ngày tuổi tách cá con khỏi cá bố mẹ là 18 ngày tuổi Các chỉ tiêu chất lượng nước, thức ăn, bệnh cá trong qui trình nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất giống và ương nuôi cá hương cũng được khảo sát chi tiết

Một số giải pháp thử nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá dĩa đã và đang được thực hiện ở Trung tâm: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ khi

cá được 18, 20 và 23 ngày tuổi, theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm Kết quả bước đầu ghi nhận: Thời điểm tách

cá con khỏi cá bố mẹ khi cá được 23 ngày tuổi có tỉ lệ sống cao nhất đạt 80,1 % ; Các chỉ tiêu chất lượng nước như DO, pH, nhiệt độ, nitrit, độ cứng nằm trong phạm vi thích hợp cho qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm ; Các thông số kỹ thuật sản xuất giống

cá dĩa đang và sẽ được hệ thống hóa phục vụ công tác theo dõi, quản lý và nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

Trang 6

2.3 Tổng quan về các chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi cá cảnh 13

Trang 7

3.2.2 Số liệu sơ cấp 16

c Thông tin về cá bột (từ lúc nở đến ngày tách khỏi cá bố mẹ) 17

3.3 Đánh giá những ưu, nhược điểm trong quá trình sản xuất 18

3.4 Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

giống cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ

3.4.1 Giải pháp 1: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ 18

3.4.2 Giải pháp 2: Theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong qui

3.4.2.3 Hệ thống hóa các thông số kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa

Trang 8

4.1.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ 22

4.1.3 Chăm sóc cá bột (từ lúc nở đến ngày tách khỏi cá bố mẹ) 29

a Ảnh hưởng của thời gian tách bầy đến tỉ lệ sống của cá hương 30

Trang 9

4.3 Đánh giá những ưu, nhược điểm trong quá trình sản xuất 40

4.4 Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống

cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao

4.4.1 Giải pháp 1: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ 41

4.4.2 Giải pháp 2: Theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong

c Hệ thống hóa các thông số kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 50

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.4 Thông tin về các cặp cá bố mẹ sinh sản 26

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thời gian tách bầy đến tỉ lệ sống của cá hương 31

Bảng 4.22 Theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước tại Trung tâm 45

Trang 12

Tuy nhiên, hiện việc sản xuất cá dĩa ở Trung tâm gặp một số khó khăn, trở ngại Điều đó có thể do Trung tâm mới thành lập, điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, mô hình nuôi cá dĩa cũng chỉ mới được sản xuất thử nghiệm và đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Trung tâm còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm nhiều trong sản xuất giống cá dĩa

Trang 13

Từ tình hình thực tế trên và được sự phân công của khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ DĨA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU & PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Tp.HCM”

1.2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu chung của đề tài là nhằm đúc kết, đánh giá qui trình sản xuất giống cá dĩa

ở Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM bao gồm các mục tiêu cụ thể sau:

- Khảo sát và đánh giá kết quả sản xuất giống cá dĩa đã thực hiện được tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM

- Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá dĩa

S aequifasciatus (Pellegrin, 1904) Loài phụ: S discus discus (Heckel, 1840);

S discus willischwartzi (Burgees, 1981);

S aequifasciatus aequifasciatus (Pellegrin, 1904);

S aequifasciatus axelrodi (Schultz.L.P, 1960);

S aequifasciatus haraldi (Schultz.L.P, 1960)

Ngoài ra còn nhiều loài tạp lai khác nên hiện nay cá dĩa trên thị trường rất đa dạng

và phong phú Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, cá dĩa được nuôi dưỡng và hơn 10 năm sau đó được nuôi đại trà ở nhiều quốc gia trên thế giới như Hongkong, Đài Loan, Trung quốc, Singapore, Úc, Đức, Nhật, Việt Nam

Trang 15

2.1.2 Phân bố sinh thái

Cá dĩa có nguồn gốc từ lưu vực của hệ thống sông Amazone, ở những nhánh sông

có tính axit, nước mềm, chảy qua các nước Brazil, Colombia, Peru, Venezuela thuộc Nam

Mỹ Chúng sống ở những hồ nhỏ nơi có những nhánh cây, rễ cây chìm trong nước, mực nước sâu ít nhất 1m

Cá dĩa rất nhạy cảm với điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ, cá thích nơi yên tĩnh và có ánh sáng đầy đủ Qua quá trình thuần hóa, cá dĩa thích nghi với môi trường như sau:

- Nguồn nước trong, sạch, mềm, giàu ôxy, ánh sáng nhẹ Nếu thiếu ánh sáng cá bắt mồi yếu, màu sắc nhợt nhạt

- pH hơi acid (5,5 - 7), tối ưu trong khoảng 6,5 - 6,7, nếu pH > 7 cá tiết nhiều nhớt, nhợt nhạt

- Nhiệt độ tối ưu 27 - 300C, nếu nhiệt độ > 340C hoặc thấp hơn 240C, cá có phản ứng sậm màu toàn thân, bơi lờ đờ, chìm xuống đáy bể, ăn kém

- Độ cứng: 4,50dH

Trang 16

- Ngưỡng H2S gây độc cho cá: 1 mg/L

- Ngưỡng CO2 gây ảnh hưởng đến cá: 50mg/L

2.1.4 Đặc điểm hình thái, sinh lý

a Hình thái bên ngoài

Cá dĩa có dạng hình tròn giống cái dĩa, dẹp ngang, đầu ngắn, mắt khá lớn Miệng nhỏ,

lỗ mũi hở hai bên đầu, các tia vây phát triển, vây phía đầu cứng, phía sau mềm, vây lưng và vây hậu môn đối xứng, vây bụng có hai tia dài, vây ngực và vây đuôi có tia vi mềm Cá dĩa đặc trưng cho khả năng biến đổi gen cao, hài hòa về màu sắc Sự biến đổi này tùy vào sự tăng trưởng, nguồn thức ăn, môi trường sinh thái, sự lai tạo giữa các loài Cá dĩa có các sọc sậm chạy dài từ trên phần lưng xuống dưới vi bụng, các vây có màu xanh nước biển phần đuôi gần như không màu

b Cấu tạo ống tiêu hóa

Theo Võ Ngọc Cẩm (1983), cá dĩa có chỉ số Li/Ls (chiều dài ruột/chiều dài toàn

thân) tương đối nhỏ khoảng 1,4 - 1,5, ống tiêu hóa có dạ dày phát triển, dạ dày có dạng đặc biệt phân nhánh có vách dày

c Hình dạng bộ máy sinh dục

- Cá đực: Gai sinh dục ngắn, chia thành hai thùy nhọn và hơi cong về phía sau

- Cá cái: Gai sinh dục lồi ra khoảng 3 mm dạng tù, thẳng

Trang 17

(Trích bởi Phạm Thị Thanh Thúy, 2008)

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

a Tính ăn của cá dĩa

Cá dĩa là loài ăn tạp thiên về động vật, đặc biệt thích mồi sống di động Giai đoạn

nhỏ thức ăn ưa thích là Artemia, Moina, Daphnia Cá trưởng thành có thể ăn các loại thức

ăn như: trùng chỉ, tim, gan, thịt bò xay nhuyễn

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của cá dĩa

Thức ăn Thành phần dinh dưỡng

(Chastel & Kiệt, 1995; Thúy & Hour, 1997; Hùng, 2000, trích bởi Phạm Thị Thanh Thúy, 2008)

Hình 2.1 Hình dạng bộ máy

sinh dục cá dĩa cái Hình 2.2 Hình dạng bộ máy sinh dục cá dĩa đực

Trang 18

b Chuyển biến tính ăn

Giai đoạn cá mới nở đến 3 ngày tuổi, cá con dinh dưỡng nhờ vào chất dự trữ trong túi noãn hoàng dưới bụng (Huỳnh Thanh Vân, 2006)

Giai đoạn từ 4 – 14 ngày tuổi, cá con bám trên mình cá bố mẹ, dinh dưỡng nhờ chất nhầy tiết ra từ mình cá bố mẹ

Từ ngày thứ 12 ngoài việc dinh dưỡng nhờ chất nhầy trên da cá bố mẹ, cá con có

thể ăn một số thức ăn có kích thước nhỏ như Artemia, Moina, Daphnia

Cá được 20 ngày tuổi, tách bầy, tiếp tục ăn Artemia, Moina, Daphnia, đồng thời ăn

được thức ăn như cá trưởng thành nhưng với kích cỡ mồi nhỏ

Khi được 30 ngày tuổi, cá ăn thức ăn như cá trưởng thành

2.1.6 Đặc điểm tăng trưởng

Giai đoạn 1 (giai đoạn cá mởi nở): cá con mới nở dài khoảng 1,2 – 2 mm, có màu xám đen, vây trong suốt Giai đoạn này cá chưa bơi lội được, bám vào giá thể hoặc thành

bể nhờ sợi nhờn ở đầu (Huỳnh Thanh Vân, 2006)

Giai đoạn 2 (giai đoạn ăn chất nhờn trên mình cá bố mẹ): sau 2,5 ngày từ khi trứng

nở thành cá bột, cá con có thể bơi lội thành đàn quanh cá bố mẹ Cá con sống nhờ ăn chất nhầy tiết ra từ mình cá bố mẹ trong 12 – 15 ngày Cá sau một tuần tuổi dài 3mm

Giai đoạn 3 (giai đoạn sau khi tách khỏi cá bố mẹ): cá khoảng 2 tuần tuổi dài khoảng 1 cm, thân có sọc thẳng, mắt màu nâu xám Khi được 18 ngày tuổi cá dài 1,5 cm, vây lưng và vây bụng màu đen, cá bắt đầu lên màu Khi cá 5 – 6 tuần tuổi, cá dài 6 – 7

cm, màu sắc thể hiện rõ Khi cá 5 – 6 tuần tuổi, cá dài khoảng 2 – 2,5 cm, có hình dạng như cá trưởng thành, nhưng màu sắc chưa rõ

Giai đoạn 4 (giai đoạn cá được 3 tháng tuổi): sau 3 tháng tuổi, cá dài 6 – 7 cm, màu sắc thể hiện rõ Khi cá 5 – 6 tháng, cá có màu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành, nuôi và chăm sóc tốt đến tháng thứ 10 cá có thể bắt cặp sinh sản

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

a Tuổi thành thục

Cá dĩa thành thục khi 12 tháng tuổi, nhưng nếu được nuôi dưỡng tốt có cá 9 – 10 tháng tuổi có thể bắt cặp và tham gia sinh sản

Trang 19

b Sức sinh sản

Cá dĩa đẻ biến động từ 150 – 250 trứng Thời gian tái thành thục: cá giữ con 1

tháng tuổi, cá không giữ con 7 ngày

c Phân biệt đực cái

Cá dĩa rất khó phân biệt đực cái Chỉ khi cá thành thục sinh dục xong thì mới phân

vây vương rộng và dài hơn

- Đầu thuôn hơn

- Dáng điệu động hớn mềm dẻo hơn

Dấu hiệu sinh dục thứ cấp

- Gai sinh dục lồi ra, ngắn, chia thành

2 thùy nhọn và hơi cong về phía sau

- Gai sinh dục lồi ra khoảng 3 mm, dạng

tù, thẳng (Lê Thị Bình, 2006)

d Mùa vụ sinh sản

Cá dĩa có thể sinh sản quanh năm Tuy nhiên, cá tập trung sinh sản vào mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 10 Vào những tháng mùa lạnh, khi nhiệt độ < 270C, chu kỳ tái phát

dục dài, tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ nở rất kém

2.1.8 Tập tính sinh sản

a Tập tính bắt cặp

Cá dĩa thành thục sinh dục sẽ tự bắt cặp, giai đoạn bắt cặp xảy ra trong vòng 7 – 10

ngày, cặp cá sẽ tự tách ra một góc bể, dùng miệng làm sạch giá thể Cá thường kề sát

miệng, quẫy mạnh đuôi, đuổi bắt nhau, xua đuổi những con khác lại gần chúng, chúng bơi

sóng đôi quấn quýt bên nhau

Trước khi đẻ một vài ngày cá có hiện tượng rùng mình, rùng toàn thân, xếp vây lại,

đôi lúc đứng yên tại chỗ, ít bắt mồi

Trang 20

b Tập tính vệ sinh tổ

Cá sẽ tự cạp ổ, làm sạch giá thể Giá thể có thể là mặt kiếng, gạch hay bề mặt là thủy sinh

c Hiện tượng sinh sản

Cá sắp đẻ có màu sắc rất sặc sỡ, cặp cá bơi lượn, ve vãn bên nhau có hiện tượng rùng mình liên tục Cá tăng cường cạp ổ Lúc này gai sinh dục dài ra hơn có thể phân biệt được cá đực cá cái

Trước khi bắt đầu đẻ trứng, cá cái sẽ đi thử vài đường từ dưới lên, cá đực đi tiếp theo sau Sau khi thấy thích hợp, chúng tiến hành đẻ trứng

Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá thể, từ dưới lên Cá đực cũng theo lộ trình đó tiết tinh để thụ tinh cho trứng Thời gian đẻ trứng kéo dài 1 – 1,5 giờ

d Chăm sóc trứng

Trứng được đẻ tập trung thành cụm Lúc này cá bố mẹ dùng vây ngực quạt nước

và dùng miệng phun nước cung cấp oxy cho trứng và loại bỏ những trứng hư

Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám Ở 300C trứng nở trong vòng 55 – 57 giờ Ở điều kiện nhiệt độ bình thường 26 – 280C, trứng sẽ nở trong khoảng

65 – 75 giờ (Axerod, 1972, trích bởi Nguyễn Ngọc Hân, 1984, trích bởi Huỳnh Thanh Vân, 2006) Trong thời gian này, bể đẻ cá nên đặt ở nơi yên tĩnh, tránh để cá hoảng sợ như tiếng động, người lạ, thay đổi điều kiện sinh thái đột ngột, cá bố mẹ có thể ăn trứng

Tỉ lệ nở đạt khoảng 60 – 90%

e Chăm sóc cá con

Cá mới nở chưa bơi lội được, bám vào giá thể và dinh dưỡng bằng noãn hoàng Cá

bố mẹ sẽ dùng miệng ngậm con đến một vị trí sạch khác trên giá thể Khi cá con rơi khỏi giá thể, cá bố mẹ sẽ dùng miệng ngậm con và phun trở lại giá thể Cá bố mẹ luôn bơi bên cạnh chăm sóc và bảo vệ cá con

Sau khoảng 3 – 4 ngày cá con nở ra, có thể bơi lội tự do Lúc này, cá con bám trên mình cá bố mẹ, dinh dưỡng nhờ chất nhầy tiết ra từ mình cá bố mẹ Chất nhầy này rất quan trọng, là một loại chất dinh dưỡng cho cá con như sữa Thời kỳ nuôi con kéo dài 14 – 18 ngày, trong thời nuôi con cá bố mẹ có màu sắc sậm, chúng không ăn hoặc ăn rất ít

Trang 21

2.2 Tổng quan về qui trình sản xuất giống cá dĩa

Nên sử dụng máy lọc nước để đảm bảo môi trường nước có chất lượng tốt cho cá

đẻ, ngoài ra còn trang bị máy sục khí oxy, máy điều hòa nhiệt độ Nhiệt độ môi trường nước cho cá đẻ phải ổn định từ 27 – 300C, độ pH = 6 là thích hợp (Đoàn Khắc Độ, 2006)

2.2.3 Thức ăn cho cá đẻ

Vào mùa sinh sản, trước khi cá đẻ, cá ăn nhiều hơn bình thường Thời gian này cho

cá ăn thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng đặc biệt là giàu chất đạm và vitamin E Các loại thức ăn giàu chất đạm như trùn chỉ, lăng quăng, tim bò, các loại hạt như mộng bắp, mộng lúa thường giàu vitamin E Nếu thức ăn cho cá đẻ không cân bằng thiếu chất đạm, thiếu lượng vitamin E thì có thể cá sẽ ăn trứng sau khi đẻ và thậm chí ăn cả cá con (Đoàn Khắc

Độ, 2006)

2.2.4 Chọn cá bố mẹ

Cá dĩa nuôi tốt sau 10 – 12 tháng tuổi thì có thể bắt cặp sinh sản Nhưng các nhà chuyên môn thường chọn cá cái 12 tháng tuổi trở lên và cá đực phải được 15 tháng tuổi trở lên mới cho chúng sinh sản (Vĩnh Khang, 1996; Chan Kok Eng, 1991)

2.2.5 Giai đoạn bắt cặp

Thời gian từ khi chúng bắt đầu bắt cặp đến khi đẻ, trung bình kéo dài từ 1 đến 2 tuần lễ Trước khi cá đẻ một hoặc hai ngày, cá sẽ có hiện tượng rùng mình, bơi lội chậm chạp, đôi khi đứng yên một chỗ, màu sắc cũng tươi đẹp hẳn lên (Vĩnh Khang, 1996) Đến giai đoạn phát dục và chuẩn bị sinh sản cá trống, cá mái rất giống nhau nên để cho cá tự bắt cặp tự nhiên quá trình này diễn ra trong vài ngày (Đoàn Khắc Độ, 2006; Chan Kok Eng, 1991)

Trang 22

2.2.6 Giai đoạn cá đẻ

- Khi đã chọn đúng một cặp cá trống và cá mái khỏe mạnh, cá sẽ đẻ đều đặn trong vòng 10 – 15 ngày (nếu không nuôi con), hoặc 30 – 40 ngày (nếu phải nuôi con) Cá thường đẻ vào buổi chiều lúc nhiệt độ trong hồ tăng, quá trình cá đẻ kéo dài khoảng 1 – 2 giờ Nhiệt độ khoảng 280C, trứng sẽ nở sau 48 tiếng hoặc nở sau 45 tiếng ở nhiệt độ 300C (Đoàn Khắc Độ, 2006)

- Cá dĩa thường hay đẻ sau khi mới thay nước cho hồ Cá dĩa thường đẻ trứng vào buổi chiều, thời gian đẻ có thể kéo dài từ 1,5 giờ đến 3 giờ tùy theo số lượng trứng nhiều hay ít Trong thời gian cá đang đẻ, không nên bơm oxy gần nơi giá thể chỗ cá đẻ và tạm ngưng máy lọc nước để tránh hơi nước phun quá mạnh làm trôi tinh của cá đực có thể làm trứng không thụ tinh Tùy theo chất lượng cá bố mẹ, số lượng trứng có thể nhiều hay ít, nhưng trung bình từ 150 trứng trở lại, nếu đậu tốt có thể lên đến 200 trứng hoặc hơn nữa Nên dán giấy màu rong biển bên ngoài hồ để hạn chế tối đa người đến xem và tránh những tiếng động lớn có thể làm cá bố mẹ hốt hoảng dẫn đến tình trạng chúng sẽ tự ăn trứng của chúng Sau 24 giờ, những trứng thụ tinh tốt sẽ chuyển sang màu trắng xám, trứng bị hư có màu đục Nhiệt độ 28 – 300C, trứng sẽ nở sau 60 giờ, nhiệt độ thấp hơn trứng nở chậm hơn khoảng 65 giờ đến 75 giờ Trứng sẽ nở từ 60 – 90% tổng số lượng tùy theo tốt hay xấu (Vĩnh Khang, 1996)

- Nước trong bể cá đẻ phải sạch và đảm bảo pH nước cho cá đẻ từ 6,5 – 7,0 với độ cứng nước < 100ppm CaCO3, nhiệt độ nước 280C, tập tính đẻ trứng của cá diễn ra trong vòng 1 – 2 tuần lễ, nếu như trong khoảng thời gian này cặp cá không đẻ thì ta tiến hành thay 50% - 70% nước trong bể tạo môi trường giống như điều kiện ngoài tự nhiên ở dòng sông Amazon, để kích thích cặp cá đẻ trứng Cá thường đẻ trứng vào buổi chiều hoặc buổi tối, số lượng trứng phụ thuộc vào chất lượng cá bố mẹ trung bình số lượng trứng từ 150 –

200 trứng Trứng sẽ nở sau 50 – 60 giờ phụ thuộc vào nhiệt độ nước, trứng sẽ nở sớm hơn nếu nhiệt độ nước trong bể cá đẻ cao hơn Trường hợp trứng không thụ tinh có thể do trứng cá bị nấm, do cá trống yếu tinh hoặc hai con cá mái bắt cặp với nhau Để hạn chế trứng cá bị nấm thì sau khi cá đẻ xong ta bơm xanh methylene vào trong giá thể trứng (Chan Kok Eng, 1991)

Trang 23

2.2.7 Giai đoạn cá con sau khi nở

Cá con mới nở sống bằng nguồn dinh dưỡng chính là chất nhờn tiết ra từ mình cá

bố mẹ Nếu cá con không bám vào người cá bố mẹ để ăn chất nhờn thì chúng sẽ dần kiệt sức, từ từ chìm xuống đáy hồ và chết Thời gian ăn chất nhờn khoảng 12 – 14 ngày, tuy

nhiên khi cá được 1 tuần tuổi nên tập dần cho ăn Artemia mới nở và bo bo để khi tách bày

cá quen thuộc ngay với những loại thức ăn này (Đoàn Khắc Độ, 2006; Vĩnh Khang, 1996)

Theo Chan Kok Eng (1991), khoảng ba ngày cá sẽ nở và bám vào giá thể, trong suốt thời gian này cá bố mẹ thay nhau chăm sóc cá con Khi cá con bơi tự do được thì theo ông lập trình chăm sóc cá con như sau:

- Ngày thứ 5 kể từ khi cá bơi tự do được bắt đầu cho cá ăn Artemia nhỏ, một

lần/ngày, 2 – 3 ngày thay 50% nước

- Ngày thứ 12 tăng lượng Artemia lên hai lần/ngày, từ 2 – 3 ngày tiếp tục thay 50%

nước mỗi lần

- Ngày thứ 12 – 14 tăng lượng Artemia cho ăn lên ba lần/ngày, lúc này thay 30%

nước mỗi ngày

- Ngày thứ 19 – 20 bắt đầu cho cá con ăn tim bò một lần/ngày, tiếp tục cho ăn

Artemia ba lần/ngày, thay 60 – 70% nước mỗi ngày

- Ngày thứ 25 dừng cho cá con ăn Artemia và cho ăn tim bò hai lần/ngày, thay

90% nước mỗi ngày

- Ngày thứ 40 – 45 cho cá con ăn tim bò từ ba đến năm lần mỗi ngày, thay 100% nước mỗi ngày

2.2.8 Giai đoạn tách cá con

Theo đoàn Khắc Độ (2006), khi cá con đuợc trên 15 ngày tuổi thì chúng ta tách cá

con ra hồ khác để nuôi Lúc này có thể cho cá con ăn các loại thức ăn như Moina, Artemia

và Dapnhia khi chuyển sang ăn trùn chỉ cần cho cá thích nghi dần dần bằng cách giảm

lượng thức ăn đang sử dụng và thay bằng trùn chỉ, thay từ từ với lượng tăng dần Thay nước cho cá ngày 2 lần, mỗi lần thay khoảng 50% - 70% để đảm bảo nguồn nước trong sạch cho cá phát triển tốt, cần phải giữ ổn định pH và nhiệt độ nước Theo Vĩnh Khang

Trang 24

(1996); Chan Kok Eng (1991) khi cá con được từ 2 – 3 tuần thì tách cá con ra bể khác để nuôi riêng

2.3 Tổng quan về các chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi cá cảnh

2.3.1 Chỉ số pH nước

Chỉ số pH nước biểu thị độ axit, trung tính hay độ kiềm của nước Chỉ số pH nước

có giá trị từ 0 đến 14, trong đó nước trung tính có pH là 7, nước có tính axit có pH dưới 7

và nước có tính kiềm có pH trên 7 Mỗi loài cá cảnh đều cần khoảng pH nước thích hợp

để phát triển, nếu pH không thích hợp sẽ ảnh hưởng lên khả năng sinh trưởng, đề kháng bệnh, thậm chí gây sốc pH và làm chết cá pH tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến sự phân hủy và hàm lượng độc chất ammonia, nitrit trong bể Tuy nhiên ảnh hưởng quan trọng hơn là ảnh hưởng gián tiếp của pH thông qua môi trường nước Độ pH ảnh hưởng đến nồng độ hòa tan các muối dinh dưỡng, đến độ cứng của nước, thành phần các độc tố Khi

pH càng cao, hàm lượng ammonia dạng không phân ly (NH3) càng nhiều và rất có hại cho

cá, ngược lại khi pH càng giảm, thì độc tính khí H2S càng tăng (Tạp chí cá cảnh Việt Nam, 08/01/2009) pH thích hợp cho cá dĩa sinh sản phát triển từ 6,5 – 7,5 Cần định kỳ thường xuyên kiểm tra pH bằng các phương pháp dùng máy đo pH, giấy quỳ kiểm tra pH hoặc có thể dùng thuốc thử pH chuyên dùng để giữ độ pH ổn định trong khoảng thích hợp

Nếu pH nước quá thấp, có thể làm tăng pH lên bằng các phương pháp sau: độ pH nước trong bể nuôi sẽ giảm dần theo thời gian nuôi, cần thay nước thường xuyên, tăng cường sục khí (để giảm lượng khí CO2 gây hạ pH) và định kỳ hút các chất thải và mùn bã

ở đáy bể (để ngăn sự phân hủy chất hữu cơ làm hạ pH) Thêm bột sôđa (1 muỗng càphê/

20 lít nước bể) hay vỏ sò để tăng độ pH Tránh lạm dụng các hóa chất chỉ làm tăng độ pH tức thời nhưng không giữ pH ổn định (Vũ Cẩm Lương , 2008)

Nếu pH nước quá cao thì giảm độ pH như sau: có thể dùng nguồn nước có pH thấp (như nước giếng ngầm) để pha thêm và sục thêm khí CO2 (Vũ Cẩm Lương , 2008)

Trang 25

2.3.2 Độ cứng của nước

Độ cứng của nước được quyết định bởi hàm lượng chất khoáng hòa tan trong nước, chủ yếu là do các muối có chứa ion Ca2+ và Mg2+ Độ cứng của nước được chia làm hai loại:

- Độ cứng tạm thời hay độ cứng carbonat: tạo bởi các muối Ca và Mg carbonat và bicarbonate, trong đó chủ yếu là muối bicarbonate vì muối carbonat Ca và Mg hầu như không tan trong nước

- Độ cứng vĩnh viễn: tạo bởi các muối khác của Ca và Mg như sulphat, clorua

Cá dĩa nói riêng và các loài cá cảnh nói chung, thông thường chỉ quan tâm đến độ cứng tạm thời của nước vì nó ảnh hưởng nhiều hơn độ cứng vĩnh viễn Có nhiều đơn vị

độ cứng khác nhau có nguồn gốc từ Mỹ, Đức, Anh, Pháp hay Nga, tuy nhiên độ cứng Đức (0dH) thường được dùng phổ biến nhất trong lĩnh vực cá cảnh (Lloyd, 2001, trích bởi Vũ Cẩm Lương, 2008) Độ cứng tạm thời của cá dĩa trong khoảng 1 – 6 0dH (17,9 - 107 ppm) (Chan Kok Eng, 1991)

Độ cứng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu của cá, mỗi loài cá thích ứng với một độ cứng khác nhau và khả năng thích ứng với sự biến đổi độ cứng cũng khác nhau Độ cứng của nước còn ảnh hưởng đến hàm lượng oxy trong máu cá, quá trình nở của trứng ( Trần Viết Mỹ, 2007trích bởi Phan Minh Thành, 2008)

Các phương pháp điều chỉnh độ cứng của nước: muốn tăng độ cứng cho nước có thể cho vào bể một số vỏ sò hay thạch cao, nếu nước có độ cứng quá cao có thể trung hòa với nước mưa, nước cất hay nước đun sôi để hạ độ cứng (Vũ Cẩm Lương , 2008)

2.3.3 Amonia và Nitrite

Ammonia hình thành từ chất bài tiết của cá và sự phân hủy chất hữu cơ trong bể, tùy theo điều kiện nhiệt độ và pH nước mà ammonia sẽ tồn tại ở dạng ion hóa (NH4+) hay không ion hóa (NH3), trong đó độc tính NH3 cao hơn NH4 từ 300 đến 400 lần Nồng độ gây chết đối với cá cảnh của NH3 là 0,2 – 0,5 mg/l (Lloyd, 2001, trích bởi Vũ Cẩm Lương, 2008), nồng độ (NH3) thích hợp trong bể phải nhỏ hơn 0,1 mg/l

Trang 26

Ammonium (NH4+) sẽ chuyển sang nitrite (NO2-) thông qua vi khuẩn nitrosomonas Nitrite (NO2-) không bền và sẽ chuyển tiếp thành nitrate (NO3-) thông qua

vi khuẩn nitrobacter Nitrate không gây độc cho cá, hàm lượng thích hợp cho cá từ 2 – 3 mg/l Riêng nitrite gây độc đối với cá và cần kiểm soát hàm lượng nitrite trong bể nhỏ hơn 0,4 mg/l (Vũ Cẩm Lương , 2008)

Tác dụng độc hại của nitrite đối với cá là chúng kết hợp với Hemoglobin của máu

để hình thành Methemoglobine ngăn cản việc oxy kết hợp với hemoglobin tạo Oxyhemoglobine (Nguyễn Phú Hòa, 2000)

Quản lý ammonia và nitrite: có thể kiểm tra NH3 và NO2- bằng bộ thuốc thử ammonia và nitrite Cần tiến hành thay nước và làm sạch bộ lọc khi nồng độ ammonia và nitrite lần lượt vượt quá 0,1 và 0,4 mg/l (Vũ Cẩm Lương , 2008)

2.3.4 DO

Khí oxy trong bể cá là do oxy hòa tan trực tiếp từ khí quyển vào, hàm lượng oxy thích hợp cho cá cảnh cần trên 5 mg/l Do oxy bị tiêu hao nhiều bởi hoạt động hô hấp và phân hủy chất hữu cơ nên cần thường xuyên sục khí thêm cho bể, thay nước hay lọc nước cũng là biện pháp làm giàu oxy cho bể

2.3.5 Nhiệt độ nước

Mỗi loài cá cảnh đều có khoảng nhiệt độ nước tối ưu cho hoạt động trao đổi chất

và sinh trưởng Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh sản và phát triển của cá dĩa từ 28 – 300C, nếu nhiệt độ nước thay đổi nhanh và đột ngột thì cá dễ dàng bị sốc và giảm sức đề kháng Thường xuyên theo dõi nhiệt kế, tránh thay nước mới có chênh lệch nhiệt độ lớn với nước

cũ cần thay Sử dụng sưởi để nâng nhiệt độ nước vào các tháng mùa lạnh

Trang 27

Chương 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

Đề tài đã được thực hiện từ 01/02/2010 đến 30/07/2010, tại Trung tâm Nghiên cứu

& Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM

3.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM bao gồm các thông tin về ngày tháng thành lập, chức năng, nhiệm vụ hoạt động của Trung tâm và kết quả sản xuất giống cá dĩa giai đoạn 2008 – 2009 Bên cạnh đó là các thông tin về qui trình sản xuất giống cá dĩa được thu thập từ các nguồn sách báo, tạp chí, internet

3.2.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được dùng cho đề tài được thu thập trực tiếp thông qua khảo sát qui trình sản xuất giống cá dĩa đã thực hiện được tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM bằng cách sử dụng phương pháp lập bảng câu hỏi (Phụ Lục 1)

Nội dung khảo sát bao gồm:

a.Thông tin về nuôi vỗ cá bố mẹ

- Số cặp cá bố mẹ nuôi vỗ

- Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ

- Thời gian nuôi vỗ cá bố mẹ

Trang 28

- Tần số cho ăn

- Quản lý chất lượng nước nuôi vỗ cá bố mẹ

- Tần số thay nuớc

- Quản lý bệnh xảy ra trong quá trình nuôi

b.Thông tin về cá sinh sản

- Số cặp cá tham gia sinh sản

- Chiều dài thân và tuổi cá tham gia sinh sản

- Tỉ lệ thụ tinh trung bình của trứng

d Thông tin về cá hương (từ lúc tách đến 1 tháng tuổi)

- Số ngày tuổi tách cá con

- Tỉ lệ sống của cá hương

- Thức ăn nuôi cá hương

- Quản lý chất lượng nước nuôi cá hương

- Tần số thay nước

- Tần số cho ăn

- Quản lý bệnh

Trang 29

3.3 Đánh giá những ưu điểm, nhược điểm trong quá trình sản xuất

Ưu và nhược điểm được rút ra từ:

- Quan sát trực tiếp và phân tích số liệu kỹ thuật

- Đánh giá của kỹ thuật viên tại trung tâm

- Ý kiến chuyên gia

3.4 Đề xuất và thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống

cá dĩa tại Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM

Hai giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và khắc phục những ưu và nhược điểm, trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm bao gồm: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ, theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

3.4.1 Giải pháp 1: Điều chỉnh lại thời điểm tách cá con khỏi cá bố mẹ

phải thực hiện khi cá con được 18 ngày tuổi sau khi cá nở Theo Lê Thị Bình (2006);

Chan Kok Eng (1991); Vĩnh Khang (1996) thì việc tách cá con ra khỏi cá bố mẹ khi chúng được từ 2 – 3 tuần tuổi Vì vậy, chúng tôi tiến hành thí nghiệm tách cá con khỏi cá

bố mẹ sau 18, 20 và 23 ngày tuổi

Trang 30

- Mỗi đợt theo dõi 10 cặp cá sinh sản, sau khi cá đẻ xong chọn ngẫu nhiên ba cặp nào có số lượng trứng tương đương nhau để bố trí thành 3 nghiệm thức:

- Nghiệm thức 1: tách cá con khi được 18 ngày tuổi sau khi nở

- Nghiệm thức 2: tách cá con khi được 20 ngày tuổi sau khi nở

- Nghiệm thức 3: tách cá con khi được 23 ngày tuổi sau khi nở

c Chỉ tiêu theo dõi

- Chỉ tiêu chất lượng nước bao gồm: pH, nhiệt độ, NO2, độ cứng, DO cho cá sinh sản, cá đẻ, cá con

- Tỉ lệ thụ tinh (%): là tỉ lệ % giữa số trứng thụ tinh so với số trứng cá đẻ ra

- Tỉ lệ nở (%): là tỉ lệ % giữa số cá mới nở so với số trứng thụ tinh

- Tỉ lệ sống (%): là tỉ lệ % giữa số cá sống so với số cá nở ra

3.4.2 Giải pháp hai: Theo dõi và điều chỉnh lại một số biện pháp kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

3.4.2.1 Theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước

a Đặt vấn đề

Theo Chan Kok Eng (1991) thì chìa khóa để nuôi cá dĩa thành công chính là cung cấp cho chúng một nguồn nước tốt để chúng sinh sống Cá dĩa đang nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước chúng ta cung cấp nếu như chất lượng nước cấp vào bể nuôi không tốt thì đây chính là nguyên nhân gây bệnh cho cá Theo ông thì các thông số chất lượng nước sau đây rất quan trọng và luôn điều chỉnh chúng để phù hợp nuôi cá dĩa đó là pH, độ cứng, nitrogen và nhiệt độ nước Tuy nhiên việc kiểm tra chất lượng nước hiện nay trong quá trình nuôi cá dĩa tại Trung tâm thì một số chỉ tiêu cần thiết chưa được theo dõi như kiểm tra nitrogen, độ cứng, DO Do đó chúng tôi tiến hành bố trí thực hiện theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước trong sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

b Bố trí thực hiện

Tiến hành đo định kỳ các chỉ tiêu về chất lượng nước cho cá nuôi vỗ, cá sinh sản,

cá bột, cá hương Trong đó nhiệt độ, pH nước mỗi ngày đo hai lần (sáng, chiều), DO, độ cứng nước, NO2 một tuần đo một lần

Trang 31

c Chỉ tiêu theo dõi

3.4.2.2 Điều chỉnh lại chế độ thay nước cho cá nuôi

Thay nước cho cá là điều cần thiết trong quá trình sản xuất giống cá dĩa nhằm mục đích làm giảm độ đục của nước, tăng cường oxy, loại bỏ chất độc hại trong bể nuôi, làm

ổn định pH Tuy nhiên, hiện nay lượng nước thay cho cá dĩa tại Trung tâm hầu hết từ 80%

- 100%/lần với lượng nước thay như vậy thì chưa phải là giải pháp tốt và hữu hiệu về yếu

tố kỹ thuật và kinh tế cho cả qui trình sản xuất giống cá dĩa Do vậy, chúng tôi đã đề xuất điều chỉnh lại lượng nước thay cho các giai đoạn của cá như sau: nuôi vỗ cá bố mẹ và cá

bố mẹ sinh sản lượng nước thay 50%/lần; cá bột lượng nước thay từ 30 – 50%/lần; cá hương lượng nước thay từ 25 – 70%/lần Tần số thay nước từ 1 – 2 lần/ngày

3.4.2.3 Hệ thống hóa các thông số kỹ thuật trong qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

a Đặt vấn đề

Qua quá trình đánh giá, khảo sát kết quả sản xuất cá dĩa đã và đang thực hiện tại Trung tâm thì các thông số kỹ thuật sản xuất giống trong qui trình sản xuất không đựơc ghi chép lại Cá dĩa là một trong những loài cá khó cho sinh sản nhân tạo, kết quả sản xuất giữa các đợt thường không giống nhau Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần phải theo dõi và ghi chép chính xác tất cả các chỉ tiêu có liên quan

b Bố trí thực hiện

Hằng ngày phải theo dõi và ghi chép đầy đủ các thông số kỹ thuật sản xuất giống

cá dĩa được trình bày rõ trong Phụ lục 5

c Chỉ tiêu theo dõi

Tất cả các chỉ tiêu theo dõi được thiết kế trong Phụ lục 5

Trang 32

3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu được thu thập, tổng hợp và xử lý thống kê bằng Microsoft excel, MSTATC, kết hợp phân tích, so sánh và đánh giá qui trình sản xuất giống cá dĩa tại Trung tâm

Trang 33

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả sản xuất cá dĩa đã thực hiện giai đoạn 2008

Chúng tôi tiến hành phân tích dựa theo kết quả khảo sát bốn đợt trong năm 2008: đợt I từ 20/05/2008 đến 17/06/2008, đợt II từ 02/07/2008 đến 30/08/2008, đợt III từ 17/09/2008 đến 28/10/2008, đợt IV từ 06/11/2008 đến 23/12/2008

4.1.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

a Thông tin chung về nuôi vỗ cá bố mẹ

Kết quả khảo sát của chúng tôi qua bốn đợt nuôi vỗ cá bố mẹ được trình bày qua bảng 4.1

Bảng 4.1 Thông tin chung về nuôi vỗ cá bố mẹ

Đợt nuôi vỗ Chỉ tiêu theo dõi

Qua bảng 4.1 cho thấy, cá bố mẹ được nuôi vỗ trong từng bể riêng biệt với số cặp

cá nuôi vỗ qua bốn đợt tại Trung tâm còn ít Kích thước cá không có sự sai khác qua bốn đợt nuôi vỗ, tuổi cá bố mẹ nuôi vỗ trung bình từ 29 – 33 tháng tuổi

Trang 34

Tuổi cá bố mẹ nuôi vỗ qua bốn đợt là trên 2 năm tuổi với độ tuổi này thì kích thước cơ thể đạt tối đa nên dinh dưỡng của cá không dùng để sinh trưởng mà dùng để chuyển hóa thành buồng trứng Do đó thời điểm này, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở, tỉ lệ sống của

cá con ổn định do chúng đã quen với việc chăm sóc trứng và nuôi con

Hình 4.1 Cá bố mẹ nuôi vỗ trong từng bể riêng

b Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ và cách cho ăn

Cá dĩa sinh sản đòi hỏi phải có chế độ dinh dưỡng cao để đảm bảo sự thành thục sinh dục, sức khỏe trong quá trình sinh sản và để tích lũy noãn hoàng

Nguồn thức ăn sử dụng cho cá dĩa qua bốn đợt nuôi vỗ là trùn chỉ và tim bò xay

nhuyễn có bổ sung thêm tảo Spirullina, vitamin, chất kết dính

Với mỗi loại thức ăn trước khi cho cá ăn đều phải được chuẩn bị trước

- Trùn chỉ: Trước khi cho ăn rửa sạch và sát trùng bằng NaCl 0,1% ngâm trùn trong vòng 5 phút Bằng phương pháp này đã loại bớt các mầm bệnh gây bệnh cho cá, với thức ăn trùn chỉ thì không gây đục nước, nên chúng tôi luôn giữ trong bể cá một lượng trùn chỉ nhỏ Cho cá ăn trùn chỉ một lần/ngày vào 8 giờ sáng

- Tim bò: Chọn phần thịt mềm không có gân hay mao mạch, nếu có thì phải loại bỏ

vì chúng không chỉ là phần thô sẽ làm cho quá trình xay khó khăn mà còn không thể xay nhuyễn được, sẽ tạo thành những sợi dài và dai cá không ăn được, gây bẩn nước trong bể

Trang 35

nuôi Với thức ăn tim bò xay nhuyễn dễ gây đục nước do đó mỗi lần cho ăn chúng tôi cho

ăn với lượng vừa đủ hoặc hơi thiếu Cho cá ăn tim bò một lần/ngày vào lúc 11h30

c Quản lý chất lượng nước nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá dĩa đặc biệt nhạy cảm với các thay đổi của môi trường nên trong sản xuất cần phải đảm bảo các yếu tố chất lượng nước

Bảng 4.2 Quản lý chất lượng nước nuôi vỗ cá bố mẹ

Đợt nuôi vỗ Chỉ tiêu theo dõi

Kết quả ở bảng 4.2, cho thấy tại Trung tâm chỉ đo định kỳ pH và nhiệt độ nước còn các yếu tố DO, độ cứng, nitrit không đo qua bốn đợt nuôi vỗ cá bố mẹ pH nước luôn ổn định qua bốn đợt nuôi vỗ, nhiệt độ nước ở đợt IV thấp hơn so với ba đợt còn lại do đợt IV chúng tôi khảo sát vào tháng 11, 12 thời tiết lạnh Tuy nhiên, do Trung tâm có sử dụng thiết bị sưởi vào buổi tối nên nhiệt độ nước chưa xuống thấp dưới mức cho phép sự thích nghi của cá dĩa

d Thay nước cho cá nuôi vỗ

Thay nước cho cá là một việc làm quan trọng và có nhiều tác dụng: làm nước trong sạch hơn; pha loãng và làm giảm hàm lượng chất độc, mầm bệnh trong bể; điều chỉnh và cân bằng một số chỉ tiêu chất lượng nước

Trang 36

Bảng 4.3 Chế độ thay nước cá nuôi vỗ

Đợt nuôi vỗ Lượng nước thay

I II III IV

Qua bảng 4.3, chúng tôi nhận thấy Trung tâm do không sử dụng máy lọc nước cho

từng bể, các bể nuôi thay nước liên tục một lần mỗi ngày qua các đợt I, II và III riêng đợt

IV do thời tiết lạnh nên chỉ thay nước 50% một lần mỗi ngày Với đợt IV do sử dụng thiết

bị sưởi nên trước khi thay nước chúng tôi phải rút cây sưởi ra và để nhiệt độ nước trong

bể cân bằng với nhiệt độ nguồn nước cho vào rồi mới thay

e Quản lý bệnh trong quá trình nuôi vỗ

Bệnh cá là một trong những vấn đề khó khăn hiện nay của Trung tâm, cá dễ bệnh

vào những tháng mùa lạnh, khi thời tiết chuyển mùa và có thể bị nhiễm bệnh từ nguồn

thức ăn là trùn chỉ Nhìn chung, qua bốn đợi khảo sát nuôi vỗ cá bố mẹ thì đợt IV cá bị

bệnh nấm, với bệnh này thì hầu như cán bộ kỹ thuật tại Trung tâm có khả năng chữa trị

được Tuy nhiên khi cá bố mẹ bệnh sẽ gây gián đoạn sản xuất và sau khi cá khỏi bệnh khả

năng sinh sản có thể kém đi, gây ảnh hưởng đến hoạt động tại Trung tâm

4.1.2 Quản lý cá sinh sản

a Thông tin về các cặp cá bố mẹ sinh sản

Cá bố mẹ sau khi nuôi vỗ khoảng 3 – 4 ngày thì chúng sẽ có dấu hiệu sinh sản, thế

nhưng cá dĩa là một trong những loài cá cảnh nước ngọt khó cho sinh sản nhân tạo vì lẽ

đó mà không phải tất cả các cặp cá tham gia sinh sản đều có thể đẻ thành công

Trang 37

Bảng 4.4 Thông tin về các cặp cá bố mẹ sinh sản

Đợt sinh sản Chỉ tiêu theo dõi

Qua quá trình khảo sát kết quả sản xuất tại Trung tâm chúng tôi nhận thấy đợt I có

10 cặp cá tham gia sinh sản thì có 5 cặp đẻ thành công, đợt II có 15 cặp trong đó có 7 cặp

đẻ thành công, đợt III có 13 cặp thì có 6 cặp đẻ thành công, đợt IV có 14 cặp có 4 cặp đẻ thành công Số cặp cá đẻ 2 đợt liên tiếp như sau: đợt II có 5 cặp, đợt III có 3 cặp, đợt IV

có 4 cặp Số cặp cá đẻ 3 đợt liên tiếp: đợt III có 2 cặp và đợt IV có 1 cặp Số cặp cá đẻ 4 đợt liên tiếp chỉ có ở đợt IV là 1 cặp

Hình 4.2 Cá bố mẹ chuẩn bị đẻ trứng

b Sức sinh sản thực tế

Sức sinh sản thực tế của cá cái phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó chế độ dinh dưỡng có vai trò rất lớn Cá mẹ được nuôi vỗ trong điều kiện môi trường tốt và chế

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w