BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THử NGHIệM ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii BẰNG CÁC NGUỒN NƯỚC MẶN... THử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THử NGHIệM ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii) BẰNG CÁC NGUỒN NƯỚC MẶN
Trang 2THử NGHIệM ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii) BẰNG CÁC NGUỒN NƯỚC MẶN
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản, cùng quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt khóa học (2006 - 2010)
Đặc biệt, tỏ lòng biết ơn sâu sắc gởi đến thầy Đinh Thế Nhân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài tốt nghiệp
Lời cảm ơn xin được gửi đến các bạn sinh viên Thủy Sản 32 đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài
Cuối cùng lòng biết ơn chân thành con xin được gửi tới bố mẹ và gia đình đã tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất để con hoàn thành tốt luận văn và trong những năm học vừa qua
Mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng để thực hiện đề tài nhưng khả năng bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi sự thiếu sót, chúng tôi rất mong sự đóng góp ý kiến quý báu của quí Thầy, Cô và bạn bè để bài viết này hoàn thiện hơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “ Thử nghiệm ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) bằng các nguồn nước mặn khác nhau” được tiến
hành tại Trại thực nghiệm khoa Thủy Sản, trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ chí Minh, thời gian từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2010
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức với 6 lần lần lập lại:
1 Nước ót bổ sung 10 ppm EDTA (NO-ED)
Chỉ số LSI ngày thứ 10 của nghiệm thức NB là cao nhất 5,63
Chỉ số LSI ngày thứ 15 của nghiệm thức NO-ED là cao nhất 9,10
Nghiệm thức NO-ED có chu kỳ ương nuôi ngắn nhất 27,3 ngày
Nghiệm thức NN đạt tỉ lệ sống cao nhất 40% (40 PL/L)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa iiLời cảm tạ iiiTóm tắt ivMục lục vDanh sách các chữ viết tắt ixDanh sách các bảng x
2.2.4 Chu kỳ sống 72.2.5 Tập tính dinh dưỡng 82.2.6 Đặc điểm về sinh trưởng 82.3 Đặc Điểm Sinh Học Của Ấu Trùng Tôm Càng Xanh 8
Trang 62.4.2 Phương pháp làm giàu Artemia 13
2.4.3 Khả năng tiêu thụ Artemia của tôm càng xanh 132.5 Các Mô Hình Ương Nuôi Tôm Càng Xanh 142.5.1 Hệ thống nước trong hở (Clear open water system) 14
2.5.4 Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified Static green water
3.4 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 293.4.1 Các chỉ tiêu môi trường nước 293.4.2 Chỉ số giai đoạn ấu trùng (LSI – Larval Stage Index) 293.4.3 Các chỉ tiêu về thời gian biến thái 30
Trang 73.4.4 Tỉ lệ sống 303.5 Phương Pháp Phân Tích và Xử Lý Số Liệu 30
4.1 Các Yếu Tố Môi Trường Thí Nghiệm 324.2 Chỉ Số Giai Đoạn Ấu Trùng (LSI –Larval Stage Index) 33
4.3 Thời điểm xuất hiện PL (Tp); 10% PL; 90% PL (T90) và thời
gian chuyển PL đồng loạt 374.4 Tỉ Lệ Sống Của Ấu Trùng Tôm Càng Xanh Thí Nghiệm 394.5 So Sánh Giá Thành Của Nước Biển, Nước Biển Nhân Tạo Và
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EDTA: Ethylene diaminotetra acetic acid
FAO: Food and Agriculture Organization
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Quan hệ trọng lượng và thời gian lột xác của tôm càng xanh 5
Bảng 2.4: Công thức pha chế 1m3 nước biển nhân tạo 60‰ 17
Bảng 2.5: Công thức pha chế 2m3 nước biển nhân tạo (độ mặn 30‰) 17
Bảng 2.6: Công thức nước biển nhân tạo (1m3) ứng dụng vào ương ấu
Bảng 2.7: Một số công thức nước biển nhân tạo dùng ương nuôi ấu
Bảng 2.8: Thành phần hoá học trung bình các ion của nước biển theo
Bảng 2.9: Thành phần hoá học các ion chính (tính theo ‰) trong nước
biển khi độ mặn 35‰ (Từ Vọng Nghi và ctv, 1986) 22
Bảng 2.10: Thành phần trung bình của các nguyên tố hoá học trong
nước biển theo % khối lượng (Từ Vọng Nghi & ctv, 1986 23
Bảng 3.1: Công thức nước biển nhân tạo độ mặn 12‰ (Valenti và
Bảng 3.2: Các nghiệm thức trong thí nghiệm 28 Bảng 4.1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm 32 Bảng 4.2: So sánh các ion chủ yếu trong Nước biển tự nhiên (NBTN)
với Nước biển nhân tạo (NBNT) (Đơn vị: ‰) 32
Bảng 4.3: Chỉ số LSI ngày thứ 10 (TB ± SE) và tỉ lệ % giai đoạn của
ấu trùng nuôi tôm càng xanh thí nghiệm 33
Bảng 4.4: Chỉ số LSI ngày thứ 15 (TB ± SE) và tỉ lệ % của ấu trùng
tôm càng xanh thí nghiệm 35
Bảng 4.5: Tp,T10, T90, và Ts của ấu trùng tôm càng xanh thí nghiệm 37
Trang 10Bảng 4.6: Tỉ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh thí nghiệm 39
Bảng 4.7: Một số kết quả ương ấu trùng tôm càng xanh bằng nước
biển nhân tạo 40
Bảng 4.8: Giá thành của nước biển nhân tạo 12‰ 41
Bảng 4.9: Phân tích giá thành của nước ót, nước biển và so sánh với
nước biển nhân tạo 41
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh 9
Trang 12Biểu đồ 4.5: Tp; T10 và T90 của ấu trùng tôm càng xanh thí nghiệm 37
Biểu đồ 4.6: Tỉ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh thí nghiệm 39
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879) là một trong những
đối tượng quan trọng trong nghề nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản Theo thống
kê của FAO Fishery Statistic (2007), tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới năm
2005 đạt 205.033 tấn, đạt giá trị là 896.263.000 USD (trong thống kê trên không bao gồm Việt Nam là một trong những nước có sản lượng tôm càng xanh lớn) Trong đó Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất chiếm tới 52% tổng sản lượng thế giới năm
2002
Ở nước ta, Đồng bằng Sông Cửu Long có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi thủy sản nói chung và tôm càng xanh nói riêng Theo thống kê của Bộ Thủy sản năm 2002, cả nước đạt khoảng 10.000 tấn, chủ yếu là các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Thanh Phương, 2003) Hiện nay nghề nuôi tôm càng xanh cũng đã được phát triển ở miền Bắc như là Thái Bình, Nam Định
Tuy nhiên nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay đang gặp trở ngại lớn về nguồn tôm giống, trước đây phần lớn nguồn tôm giống dựa vào khai thác tự nhiên Tuy nhiên nguồn tôm này ngày càng hiếm, hiện nay phải dựa vào nguồn tôm giống nhân tạo trong nước và nhập khẩu Ở nước ta việc nghiên cứu và sản xuất giống tôm càng xanh
đã bắt đầu từ những năm 1980 với quy trình nước trong hở và tuần hoàn (Nguyễn Việt Thắng, 1995) Tuy nhiên nghề sản xuất giống tôm càng xanh chỉ phát triển mạnh từ năm 1999 khi nhu cầu phát triển ngày càng cao và nhất là thành công trong việc nghiên cứu và phát triển mô hình nước xanh cải tiến mà Đồng bằng Sông Cửu Long từ chỉ có một vài trại giống năm 1999, đến năm 2003 đã có 91 trại giống với sản lượng
76 triệu tôm bột một năm (Trần Ngọc Hải và ctv, 2003)
Hiện nay nghề nuôi tôm càng xanh đã phát triển rất mạnh, nhu cầu con giống càng cao Trong sản xuất giống tôm càng xanh thì nguồn nước ương là rất quan trọng vì cần
cả nước ngọt và nước mặn Nguồn nước mặn thường dùng ở trong nước ta là nước
Trang 14biển hay nước ót (nước trong ruộng muối) Hầu hết các trại sản xuất giống tôm càng xanh ở nước ta được xây dựng ở những vùng cách xa nguồn nước mặn Vì vậy việc vận chuyển nước mặn chiếm một chi phí khá cao trong sản xuất và không chủ động Hiện nay ở nước ta phần lớn các trại sản xuất giống tôm càng xanh ở xa biển đều sử dụng nước ót là nguồn nước mặn để pha thành nước ương ấu trùng tôm càng xanh Tuy nhiên việc sử dụng nước ót đôi khi không thành công do trong nguồn nước này có thể bị nhiễm độc hay ion kim loại nặng… Theo kinh nghiệm sản xuất từ các trại giống thủy sản, người ta hay sử dụng EDTA bổ sung vào các nguồn nước với mục đích trung hòa các kim loại nặng hay giảm độ cứng trong nước (Tabbing và ctv, 1994) Trên thế giới nước biển nhân tạo thương phẩm (dạng muối rắn) có thể được dùng để thay thế nước biển tự nhiên trong những trường hợp cần thiết
Tuy nhiên, nước biển nhân tạo thương phẩm hiện nay có giá thành khá cao, không phù hợp để thay thế nước biển tự nhiên trong sản xuất giống thủy sản vốn sử dụng một
số lượng rất lớn Vì vậy, việc nghiên cứu thử nghiệm một số công thức nước biển nhân tạo có giá thành thấp có khả năng thay thế nước biển tự nhiên trong sản xuất giống thủy sản mang một ý nghĩa thiết thực
Từ thực tế trên và được sự phân công của Khoa Thủy Sản, trường Đại Học
Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài : “ Thử nghiệm ương
nuôi ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii, De Man, 1879) bằng
các nguồn nước mặn khác nhau”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Thử nghiệm ương ấu trùng tôm càng xanh bằng nước biển nhân tạo
So sánh hiệu quả sử dụng nước biển, nước ót, nước ót bổ sung EDTA và nước biển nhân tạo trong ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh
Đánh giá khả năng sử dụng nước biển nhân tạo trong sản xuất giống tôm càng xanh
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Phân loại
Tôm càng xanh thuộc giống Macrobrachium có khoảng 200 loài Trong đó, M
rosenbergii, M americanum và M carcinus có lẽ là những loài lớn nhất được biết
Tôm càng xanh, con đực có thể đạt chiều dài (từ đầu telson đến cuối ngọn chủy) 320
mm, con cái 250 mm (Holthuis, 2000)
Theo Holthuis, 1980, tôm càng xanh có vị trí phân loại như sau:
Ngành tiết túc: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân họ: Palaemoninae
Loài: Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879)
2.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Tôm càng xanh
2.2.1 Vùng phân bố
Tôm càng xanh có nguồn gốc ở Đông Nam Á sau đó được du nhập vào các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới trên thế giới và trở thành một đối tượng nuôi quan trọng của ngành thủy sản (New và Singholka, 1985) Đây là một loài tôm dễ nuôi và
có giá trị kinh tế cao nên chúng đã được di giống qua nhiều nước trên thế giới Do đó
có những nước không có tôm càng xanh phân bố tự nhiên nay cũng đã phát triển mạnh
về nuôi tôm càng xanh như Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, Mỹ (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
Trang 16Tôm càng xanh phân bố trong các thủy vực nước ngọt như sông, hồ, ruộng, đầm lầy và một số vùng nước lợ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, nhưng tập trung nhất ở vùng Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương (Trần Thanh Phương và ctv, 2003)
Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ Nha Trang vào tới Đồng bằng Nam Bộ và tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Động vật chỉ Việt Nam, tôm nước ngọt, 2001) Theo Nguyễn Việt Thắng (1995), phạm vi phân bố, mật độ quần đàn tự nhiên của phụ thuộc vào một số yếu tố môi trường mà trước hết là nhiệt
độ, độ mặn và độ pH
2.2.2 Hình thái
Tôm càng xanh có thân tròn khác so với những loài tôm biển, tôm trưởng thành
có màu xanh dương đậm và đặc biệt là đôi càng (cặp chân ngực thứ 2) lớn màu xanh,
có nhiều gai dùng để phòng thủ và bắt mồi
Cơ thể tôm càng xanh có thể chia làm 2 phần: phần đầu ngực (carapace) và phần bụng
Phần đầu ngực lớn có dạng hơi giống hình trụ bao gồm phần đầu với 5 đốt liền nhau mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ Phần đầu ngực có chủy phát triển nhọn và cong lên ½ bề dài tận cùng của chủy, trên mắt chủy có từ 11 - 16 gai (2 - 3 gai sau mặt), phía dưới chủy có từ 10 - 15 gai Chiều dài chuỷ của cá thể khi trưởng thành con cái thường bằng hoặc ngắn hơn ở đầu ngực, còn chủy con đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực Trên phần đầu ngực có 2 đôi râu làm chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi Phía dưới phần đầu ngực là 5 đôi chân ngực, trong đó có 2 đôi chân mang kẹp, mà đôi chân ngực mang kẹp thứ hai luôn phát triển hơn, nhất là ở tôm đực trưởng thành
Phần bụng tôm càng xanh có 7 đốt Năm đốt đầu tiên có mang đôi chân bụng gọi là chân bơi, đốt thứ 6 gọi là đốt đuôi có đôi chân đuôi có chức năng như là bánh lái, đốt cuối cùng nhọn và cứng, không thể cử động được gọi là telson
Đặc điểm về kích cỡ, hình dạng, màu sắc và các gai trên đôi càng sẽ phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của tôm Ở tôm đực, khi tôm còn nhỏ, đôi càng có màu trong,
Trang 17càng, chưa có hay rất ít lông tơ Khi tôm lớn, đôi càng có màu xanh đậm, xuất hiện nhiều gai nhọn và lông tơ trên càng Quá trình thay đổi trên được thể hiện qua các giai đoạn khác nhau bao gồm: tôm nhỏ, tôm càng lửa nhạt, tôm càng lửa đậm, tôm càng lửa đậm chuyển tiếp càng xanh, tôm càng xanh nhạt, tôm càng đậm và tôm già
2.2.3 Vòng đời tôm càng xanh
Quá trình tăng trưởng và phát triển, tất cả các loài tôm (cũng như các loài giáp xác khác) đều phải lột bỏ lớp vỏ cứng bền ngoài theo một thời gian nhất định, quá trình này gọi là lột xác, cùng với quá trình lột xác là sự lớn lên về kích thước và trọng lượng, thời gian lột xác phụ thuộc vào tuổi và dinh dưỡng
Bảng 2.1: Quan hệ trọng lượng và thời gian lột xác của tôm càng xanh
Trọng lượng cá thể (gam) Thời gian lột xác (ngày)
Vòng đời của tôm càng có 4 giai đoạn bao gồm: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng
và tôm trưởng thành Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt Khi thành thục, tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ Tôm trứng di cư ra vùng cửa sông nước lợ (có độ mặn 6 - 18‰) để nở Đặc điểm các giai đoạn như sau:
Giai đoạn trứng:
Khi tôm cái đã thành thục và lột xác, tôm đực sẽ gắn tinh nang vào phần dưới carapace của con cái, giữa các đôi chân ngực và gần lỗ sinh dục cái Khi con cái đẻ thì trứng được thụ tinh ngay và được tôm cái ấp ở các chân bụng Khi trứng mới đẻ, có đường kính khoảng 1/4 mm, có màu vàng sáng chuyển dần sang màu vàng cam, đến ngày thứ 12 màu da cam của trứng nhạt dần và ngả màu xám xanh nhạt, từ màu xám
Trang 18xanh nhạt chuyển dần sang xanh đậm, trước khi nở khoảng 2, 3 ngày thì trứng ngả sang màu xám đen (màu đen là mắt của ấu trùng còn nằm trong trứng) Nhờ đó dựa vào màu sắc của trứng có thể dự đoán được ngày ấu trùng nở Sau khoảng 20 ngày từ khi đẻ thì trứng sẽ nở ra ấu trùng
Giai đoạn ấu trùng:
Trứng nở ra ấu trùng ở dạng sống trôi nổi trong môi trường nước Theo Uno và Soo (1969) ấu trùng trải qua 11 lần lột xác tương đương với 11 giai đoạn biến thái khác nhau trong khoảng thời gian 25 - 30 ngày trước khi biến thái trở thành dạng PL Mỗi giai đoạn có hình thái và kích thước khác nhau Do ấu trùng của tôm càng xanh cần phải sống trong môi trường nước lợ, có độ mặn từ 8 - 15‰ Vì vậy, khi tôm cái mang trứng, đang sống trong môi trường nước ngọt, chúng di cư xuôi dòng theo sông đến các vùng nước lợ để cho trứng nở và ấu trùng phát triển Nếu tôm không ra được vùng nước lợ thì ấu trùng mới nở sẽ chết sau 1 - 2 ngày Ấu trùng tôm càng xanh sống
lơ lửng trong môi trường nước và tìm ăn các loại động vật phiêu sinh trong nước Giai đoạn hậu ấu trùng - Postlarvae (tôm bột, PL):
Đến giai đoạn này, PL có hình dạng và tập tính sống giống tôm trưởng thành Chúng bắt đầu sống đáy, di chuyển chủ yếu bằng cách bò hơn là bơi lội tự do, khi chúng bơi thường theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến về phía trước Chúng có thể lẩn tránh nhanh nhẹn bằng cách co các cơ bụng lại Các PL có khả năng chịu đựng được sự dao động lớn của nồng độ muối và chúng có khả năng bơi ngược dòng nước Lúc này, từ vùng nước lợ, tôm bơi ngược dòng sông để kiếm ăn và dần dần di cư lên vùng nước ngọt Tôm con trong giai đoạn này có thể được bắt để nuôi trong ao hồ, ruộng lúa và được gọi là tôm long hay tôm chấu
Giai đoạn trưởng thành:
Tôm thích nơi có nền đáy sạch, ít bùn, có nước chảy và thay đổi thưởng xuyên
Ở các sông rạch có nước chảy mạnh, tôm thường bám vào cây cỏ, bụi rậm để nghỉ hoặc kiếm ăn
Sống trong vùng nước ngọt sau 7 - 8 tháng, tôm bắt đầu thành thục, chúng sẽ giao vĩ và đẻ trứng, cứ như thế, vòng đời được tiếp tục
Trang 19ở phạm vi nhiệt độ từ 25 - 300C, thời gian ấp trứng là 19 - 23 ngày Theo Nguyễn Việt Thắng và ctv (1995), với nhiệt độ 26 - 300C, thời gian ấp trứng là 17 - 23 ngày Quá trình nở của trứng thường hoàn tất trong vòng một hoặc hai đêm Ấu trùng sống phù
du, bơi lội tích cực, đuôi hướng về phía trước, bụng ngửa lên trên Sau 11 lần lột xác
và qua 12 giai đoạn biến thái, ấu trùng chuyển thành hậu ấu trùng Thời gian cho các giai đoạn biến thái từ 17 - 35 ngày phụ thuộc vào các yếu tố như chất lượng nước, nhiệt độ, dinh dưỡng Kể từ lúc này trở đi, chúng có hình dạng giống tôm càng xanh trưởng thành thu nhỏ và chủ yếu di chuyển bằng cách bò nhiều hơn là bơi lội tự do Sau đó, tôm con di cư ngược dòng vào vùng nước ngọt và sống ở đó (FAO, 1985) Theo Stephenson và Knight (1980, 1982), nhiệt độ thấp có thể làm cho tôm di cư sớm hơn Nhiệt độ thích hợp cho hậu ấu trùng và tôm giống là 29 - 320C (Diaz - Herrara và Buckle - Ramizer, 1990)
2.2.5 Tập tính dinh dưỡng
Tôm càng xanh trưởng thành là loài ăn tầng đáy và ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ
Tôm càng xanh xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc Tôm tìm thức ăn bằng
cơ quan xúc giác (râu), khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng Chúng rất háu ăn và ăn liên tục
Tôm thường bắt mồi nhiều vào buổi chiều tối và sáng sớm, tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng Đặc tính của tôm càng xanh có tính tranh giành thức ăn cao nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, con vỏ cứng sẽ ăn thịt con vỏ mềm mới lột, nếu thức ăn và dinh dưỡng không đầy đủ thì tỷ lệ hao hụt rất cao do hiện tượng này, đây là đặc tính cố hữu của loài
Trang 202.2.6 Đặc điểm về sinh trưởng
Giống như các loài giáp xác khác, tôm càng xanh không sinh trưởng liên tục mà kích thước chỉ tăng nhanh sau mỗi lần lột xác Sinh trưởng của tôm đực và tôm cái gần như tương đương nhau cho tới khi đạt kích cỡ 35 - 40 g, sau đó chúng khác nhau rõ theo giới tính, tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái và đạt khối lượng có thể gấp đôi con cái trong cùng một thời gian nuôi Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái đặc biệt là giai đoạn sau, do tôm cái có mang trứng làm nhiệm vụ duy trì nòi giống (New, 2000) Chu
kỳ lột xác tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng Sự tăng trưởng còn phụ thuộc vào giai đoạn của tôm, tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn Tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn Theo Nguyễn Thanh Phương (2003) trong điều kiện nuôi, tôm có thể đạt 35 - 40 g sau 6 tháng nuôi và 70 - 100 g sau 8 tháng nuôi
2.3 Đặc Điểm Sinh Học Của Ấu Trùng Tôm Càng Xanh
2.3.1 Hình thái
Ấu trùng mới nở ra sống phù du, có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ (6 - 16‰) để sống và phát triển (George, 1969) Ấu trùng sẽ chết sau 3 - 4 ngày nếu không được sống trong nước lợ Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước
Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám
Ấu trùng ăn liên tục thức ăn bao gồm các loại động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các động vật thủy sinh Sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác và biến thái thành hậu ấu trùng Đặc điểm các giai đoạn tôm càng xanh được trình bày như Hình 2.3, theo Uno và Soo (1969; trích bởi Nguyễn Thanh Phương (2003)
Trang 21Hình 2.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh
Giai đoạn 1: Mắt chưa có
Giai đoạn 4: Có hai răng
trên chuỷ, chân đuôi có 2
răng trên chủy
Giai đoạn 11: Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
Postlarvae: Răng xuất
hiện cả trên và dưới chủy,
có tập tính như tôm lớn
Trang 222.3.2 Yêu cầu về môi trường nuôi ấu trùng
Một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất trong ương nuôi ấu trùng là
độ mặn Để sản xuất giống nhân tạo nhiều tác giả đã chọn vị trí có độ mặn ít biến động, thông thường trong khoảng 12 - 15‰ (Ling, 1969; Fujimura, 1974; New và Singholka, 1985) Độ mặn 12‰ sẽ được duy trì trong suốt quá trình nuôi ấu trùng (Aquacop, 1984; New và Singholka, 1985; Nguyễn Việt Thắng, 1991)
Đối với các chỉ tiêu khác như nhiệt độ, pH, ôxygen hòa tan nhiều tác giả cũng thống nhất với nhau như sau:
Độ mặn: 12‰
Nhiệt độ: 26 - 310C
pH: 7 - 8,5
Hàm lượng ôxygen hòa tan: 6 - 9 mg/L
(Ling, 1969; Fujimura, 1974; Liao và Chao, Sandifer và ctv, 1977; Suharto và ctv, 1982; New, 1982; Aquacop, 1984; Melecha, 1983)
Đối với một số sản phẩm có nguồn gốc từ nitrogen như ammonia (NH3), ammonium (NH4 -
- N), nitrite (NO2 - -N), nitrate (NO3 - - N) trong đó NH3, NH4- - N
và NO2 - - N là một trong những sản phẩm tồn tại chính trong bể ương ấu trùng do sự phân hủy từ các loại thức ăn cho ấu trùng nên < 0,1 ppm và 1 ppm
2.3.3 Mật độ nuôi ấu trùng
Mỗi điều kiện môi trường nước chỉ đáp ứng một sinh khối sinh vật sống nhất định Nếu lượng sinh vật phát triển quá nhiều thì sẽ vượt ra ngoài sự đáp ứng của thủy vực nên sự phát triển của sinh vật sẽ không được tối ưu, giảm dần và tỷ lệ sống của sinh vật sẽ bị giảm Trong sản xuất giống tôm càng xanh cũng vậy tùy theo từng hình thức ương khác nhau mà mật độ ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh phải khác nhau để đảm bảo sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), quy trình nước trong hở đạt tỷ lệ sống từ 10,5
- 66,6% với mật độ từ 50 - 250 ấu trùng/lít Đây là quy trình có thể ương với mật độ cao nhất nhờ sự ổn định của chất lượng nước do thay nước thường xuyên
Quy trình nước trong kín thì mật độ ương của ấu trùng thông thường là từ 50 -
150 ấu trùng/lít Tỷ lệ sống của mô hình này có thể đạt từ 15,2 - 66,2%
Trang 23Quy trình nước trong kín thì mật độ ương nuôi ấu trùng thấp nhất đặc biệt là mô hình nước xanh cải tiến Mật độ ương thông thường của hình thức nuôi này là từ 30 -
100 ấu trùng/lít
Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), quy trình nước trong kín đạt tỷ lệ sống từ 27,4 - 52,5% với mật độ từ 30 - 120 ấu trùng/lít, quy trình nước xanh cải tiến đạt tỷ lệ sống từ 32,3 - 92,3 với mật độ từ 30 - 120 ấu trùng/lít
Thông thường số postlarvae có thể sản xuất được khác nhau từ 19 PL/lít (Ling, 1969), 11 PL/lít (Fujimura, 1970), tại Malaysia là 30 PL/lít (Malecha, 1983) tại Hawai
là 10 - 20 PL/lít (Singholka, 1995) Tại Thái Lan, các trại sản xuất giống thành công có thể đạt từ 17 - 50 PL/lít (Ang, 1996; trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Hưng, 2002)
2.3.4 Tập tính dinh dưỡng ấu trùng tôm càng xanh
Đối với ấu trùng giáp xác, thức ăn tự nhiên ban đầu của chúng chủ yếu là thực vật phiêu sinh hoặc thực vật phiêu sinh kết hợp với động vật phiêu sinh Tuy nhiên giai đoạn đầu của ấu trùng tôm càng xanh không sử dụng thực vật phiêu sinh mà sử dụng động vật phiêu sinh là chủ yếu Ưu điểm của chúng là có kích thước nhỏ, sống môi trường nước, phù hợp cho tập tính bắt mồi thụ động của ấu trùng và không làm ô nhiễm môi trường nước Muốn sản xuất với quy mô lớn thì việc nghiên cứu, sử dụng thức ăn tươi sống vẫn còn là chiếm lược quan trọng Bên cạnh đó cũng từng bước nghiên cứu việc áp dụng thức ăn nhân tạo vào quá trình sản xuất giống Đến giai đoạn VII, tôm chuyển sang ăn tạp Từ giai đoạn này ta có thể bổ sung thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế do sự bắt mồi của tôm không có sự chọn lọc nhưng trong quá trình tiêu hóa thì có sự chọn lọc (Nguyễn Việt Thắng, 1993)
Ở giai đoạn đầu, ấu trùng tôm không bắt mồi chủ động mặc dù thị giác của chúng tốt (Daniel W.H, D’ Abramo L.R và Paserval L.D, 1992) mà chúng hầu như bắt mồi do sự ngẫu nhiên Thức ăn tươi sống di chuyển liên tục trong cột nước nên tạo
cơ hội tốt cho ấu trùng bắt gặp thức ăn Kích thước thức ăn tươi sống cũng là vấn đề
rất quan trọng Từ giai đoạn I - III ấu trùng chỉ có thể ăn ấu trùng Artemia mới nở có
kích thước khoảng 500 µm Moina cũng có thể bổ sung vào nhưng phải sau giai đoạn
IV (Ang và Alam, 1995) Sau giai đoạn VII, ấu trùng có khả năng sử dụng thức ăn
ngoài Do đó, ngoài Artemia cần cung cấp thêm những nhân tố vi lượng cần thiết cho
ấu trùng (Ling, 1969) thông qua con đường thức ăn thay thế Tuy nhiên, thành phần
Trang 24thức ăn chế biến rất khác nhau tùy tác giả, đa số các thức ăn chế biến gồm có trứng, mực tươi, cá, thịt nhuyễn thể, dầu mực, vitamin C,… Thức ăn chế biến thường được
sử dụng vào ban ngày nhằm dễ quản lý
2.4 Artemia
Artemia được sử dụng trong thủy sản như là một nguồn thức ăn tự nhiên quan
trọng trong sản xuất giống, nhất là trong sản xuất giống tôm càng xanh Theo Alam và
Ang (1995), Artemia được xem là nguồn thức ăn duy nhất trong những ngày đầu của
ấu trùng tôm càng xanh (từ giai đoạn II - III) Mặc dù Artemia được biết đến hàng thế
kỉ nay nhưng vai trò của chúng đối với ngành nuôi trồng thủy sản đặc biệt là ương ấu trùng tôm cá chỉ được biết rõ từ những năm 1930 do Seale (1933) và Rollefen (1939) công bố
2.4.1 Giá trị dinh dưỡng
Thời điểm giàu dinh dưỡng nhất là lúc mới nở (giai đoạn Instar I) Lúc này chúng có màu cam, kích thước nhỏ (khoảng 400 - 500 µm), kém bơi lội, năng lượng
dự trữ nhiều nên sử dụng rất thích hợp cho tính bắt mồi của ấu trùng tôm trong những
ngày đầu Giá trị dinh dưỡng của nauplius Artemia sẽ bị giảm dần theo thời gian
Artemia giai đoạn Instar II năng lượng bị giảm 20 - 30%, ít acid amine tự do hơn và
trọng lượng khô cá thể ít hơn so với lúc Artemia mới nở Ngoài ra Artemia ở Instar II
trong suốt khó thấy hơn, bơi nhanh hơn và làm giảm sự thu nạp năng lượng của ấu trùng tôm càng xanh ở nỗ lực săn mồi Vì vậy cần phải thu hoạch càng sớm càng tốt sau khi chúng nở (Leger và ctv, 1986; trích bởi FAO 1996)
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của Artemia (Nguồn: Léger và ctv, 1986)
Thành phần Nauplius Con trưởng thành
Carbonhydrate 14,8 ± 4,8 12,1 ± 4,4
Ấu trùng Artemia có hàm lượng protein cao (45% trọng lượng khô), thành phần
các acid amin khá cân đối cho giáp xác cũng như có hàm lượng lipid cao Tuy nhiên,
Trang 25khi EPA chiếm đến 10,5% trọng lượng khô của ấu trùng Artemia (Nguyễn Thị Thanh
Hiền, 2004)
2.4.2 Phương pháp làm giàu Artemia
Như đã nói ở trên mặc dù ấu trùng Artemia có hàm lượng protein cao, thành
phần các acid amine khá cân đối cho giáp xác Nhưng hàm lượng lipid, acid béo lại thiếu cân đối với hàm lượng DHA (docosahexaenoic acid, 22:6n:3) chỉ chiếm 0,1% trong khi EPA (eicosapentaenoic acid, 22:5n:3) chiếm đến 10,5% trọng lượng khô của
ấu trùng Artemia (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2004) Điều này gợi ý cho ta nên làm giàu hóa ấu trùng Artemia với DHA trước khi cho ấu trùng ăn
Nguyên tắc chung được áp dụng là khi Artemia lột xác sang giai đoạn Instar II
(khoảng 8 giờ sau khi nở) chúng có tính ăn không chọn lọc khi nhặt những chất có dạng hạt (FAO, 1996) Tập tính này đã tạo điều kiện rất lớn trong việc bổ sung chất dinh dưỡng (như DHA, Vitamin C …) hay các chất cần thiết khác (kháng sinh, chất
tăng cường miễn dịch…) vào ấu trùng tôm cá qua làm giàu Artemia
Theo Léger và ctv (1996), các nhà nghiên cứu Anh, Pháp, Nhật và Bỉ đã phát triển các sản phẩm làm giàu khác gồm có các tảo đơn bào, nấm men và các chất nhũ tương (trích bởi FAO, 1996)
Ưu điểm của Artemia làm giàu dinh dưỡng là thành phần dinh dưỡng trong cơ
thể chúng đã được cải thiện Chẳng hạn, sau khi làm giàu dinh dưỡng trong môi trường
thức ăn dầu cá, Artemia không những chứa cao hơn về acid béo cần thiết EPA mà còn
cả DHA Các loại này thường không thấy nhiều trong nauplius Artemia
2.4.3 Khả năng tiêu thụ Artemia của tôm càng xanh
Barros và Valenti (2003) (trích bởi Hoàng Thị Thủy Tiên, 2004) có nghiên cứu
về sự tiêu thụ Artemia của ấu trùng tôm càng xanh ở các giai đoạn khác nhau Kết quả cho thấy ấu trùng tôm càng xanh có mức tiêu thụ Artemia ở 4 mức độ khác nhau tùy
thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu trùng
Trang 262.5 Các Mô Hình Ương Nuôi Tôm Càng Xanh
Trên thế giới, sản xuất giống tôm càng xanh có bốn mô hình thường được áp
dụng: hệ thống nước trong hở, hệ thống nước trong kín, hệ thống nước xanh (Trần Thị
Thanh Hiền, 2004) Sự khác nhau cơ bản cuả các quy trình này là chế độ quản lý nước
trong quá trình ương nuôi Mỗi mô hình đều có ưu điểm và nhược điểm riêng biệt khác
nhau
2.5.1 Hệ thống nước trong hở (Clear open water system)
Quy trình này đầu tiên được khởi xướng bởi Ling (1969) và được hoàn thiện
bởi Aquacop năm 1984 và đưa vào sản xuất Năm 1987, lần đầu tiên quy trình này
được đưa vào thử nghiệm tại Việt Nam bởi Nguyễn Việt Thắng và Bùi Lai Đây là quy
trình ứng dụng chủ yếu ở nước ta từ trước đến nay Nguyên tắc của quy trình này là
đảm bảo môi trường nước được trong sạch bằng cách thay nước hằng ngày
Ưu điểm của quy trình này là có thể ương ấu trùng ở mật độ cao, đơn giản dễ
thao tác phù hợp với trại có sẵn nguồn nước ngọt và nước mặn
Tuy nhiên, quy trình này cần sử dụng nhiều nước, do đó trại phải đặt gần biển
để giảm chi phí sản xuất nhưng lại khó khăn trong nguồn cung cấp nước ngọt và cần
nhiều lao động (Trần Thanh Phục, 2001)
2.5.2 Hệ thống nước trong kín (Clear closed water system)
Quy trình do Sandfier (1977), Menasveta (1980) và Singholka (1980) (trích bởi
Hoàng Thị Thủy Tiên, 2004) nghiên cứu và được căn bản hóa để được đưa vào sản
xuất quy mô lớn từ năm 1984 Nguyên tắc hoạt động của quy trình này là ổn định môi
Trang 27trường nước nhờ hệ thống lọc sinh học chuyển hóa NH4+ và NO2 - có tính độc thành
NO3- không độc
Ưu điểm của quy tình này là ít sử dụng nước biển nhất so với các quy trình khác, hầu như suốt quá trình không thay nước chỉ bổ sung thêm nước thuận tiện cho những vùng xa nguồn nước mặn và chất lượng nước kém
Tuy nhiên, quy trình đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, trang thiết bị đồng bộ phức tạp tốn kém và khi xảy ra sự cố thì khó xử lý
2.5.3 Hệ thống nước xanh (Green water system)
Quy trình nước xanh được nghiên cứu từ năm 1966 do Fujimura khởi xướng và được hoàn thiện vào năm 1974 Quy trình đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Nguyên tắc của quy trình này là dùng tảo để ổn định môi trường nước ương Đặc điểm
chính của quy trình này là thường xuyên bổ sung thêm tảo Chlorella thuần vào hệ
thống ương để duy trì màu nước xanh liên tục
Quy trình có ưu điểm là hạn chế thay nước so với quy trình nước trong hở, môi trường ổn định hơn do tảo đã tạo sự cân bằng cho các yếu tố môi trường và hấp thụ các sản phẩm Nitơ trong nước
Tuy nhiên, hạn chế của quy trình chỉ có thể ương nuôi ở mật độ thấp Bên cạnh
đó còn có một số trở ngại nữa như tảo khó phát triển trong môi trường nước lợ, vì vậy cần bổ sung tảo thuần liên tục; kỹ thuật ương nuôi tảo thuần rất phức tạp và tốn kém ương nuôi, giữ giống tảo và thay nước
2.5.4 Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified Static green water system)
Quy trình nước xanh cải tiến được Ang khởi xướng năm 1986 trên cơ sở cải tiến mô hình nước xanh trước đó là không siphon và không thay nước để giảm chi phí sản xuất Nguyên tắc của quy trình này là cho phép vi sinh vật và tảo phát triển tự
nhiên trong bể ương để tự ổn định môi trường nước Vỏ Artemia được cho trực tiếp
vào bể để làm giá thể
Hệ thống này có nhiều ưu điểm là căn bản không phải thay nước, không siphon, không bổ sung thêm tảo trong quá trình ương (tảo chỉ bổ sung lần đầu khi chuẩn bị bố trí ấu trùng) Hệ thống đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, nhiều nơi khác nhau
Trang 28Ở Việt Nam, cả ba quy trình nước xanh, nước trong hở và nước trong kín đã được thí nghiệm bởi Nguyễn Việt Thắng (1993) Qua kết quả nghiên cứu, các tác giả
đã kết luận quy trình nước trong hở là quy trình thích hợp nhất cho điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam Quy trình này đã được ứng dụng cho các trại sản xuất giống
ở Nam bộ Kết quả cho thấy: tỉ lệ sống đạt khoảng 40% với quy trình nước xanh, 35% với quy trình nước trong hở và 38,8% đối với quy trình nước trong kín
Đối với mô hình nước xanh cải tiến thì từ năm 1998 khoa Thủy sản trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh dựa theo quy trình nước xanh cải tiến Từ thành công của mô hình này thì Đồng bằng Sông Cửu Long từ chỉ có một vài trại giống năm 1999, đến 2003 đã có 91 trại giống với sản lượng 76 triệu tôm bột/năm (Trần Ngọc Hải và ctv, 2003) Để phát triển hơn mô hình này cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu về mật độ ương, môi trường và đặc biệt là về dinh dưỡng
2.6 Tình Hình Nghiên Cứu Trong Và Ngoài Nước Về Nước Biển Nhân Tạo
2.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Brock và ctv (1994) (trích bởi Thạnh Thanh, 2005) nhu cầu và thích nghi độ mặn cho sinh trưởng và phát triển của tôm thay đổi tuỳ loài Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sự tăng trưởng của tôm vẫn chưa được hiểu rõ, song có lẽ do sự điều hoà của
áp suất thẩm thấu và trao đổi ion trong môi trường cần đến năng lượng, do đó ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm (Lester và ctv, 1992, được trích dẫn bởi Dương Thúy Yên và ctv, 2004)
Sự gia tăng độ mặn thường đi đôi với việc giảm hàm lượng ôxy hoà tan và cũng đồng nghĩa với sự gia tăng NH3 và NH4, nhưng sự gia tăng này thường không đáng kể (Boyd, 1995)
Damronphol (1990) và Samuel (1997) (trích dẫn bởi Thạch Thanh, 2005) đưa
ra công thức nước biển nhân tạo gồm: NaCl, MgCl2, CaCl2, MgSO4, KCl, NaHCO3 để ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh tuy nhiên 100% ấu trùng chết ở giai đoạn sớm Nhưng khi bổ sung thêm KBr thì ấu trùng tôm càng xanh phát triển tốt đến giai đoạn
PL (Silva, 1995; Mallasen và Valenti, 1998)
Trang 29Dietrich, G.,K Kalle (1963) (trích dẫn bởi Thạch Thanh, 2005) đưa ra công
thức tạo nước biển từ hóa chất gần giống với nước biển tự nhiên và được Thạch Thanh
(1997) ứng dụng nuôi ấu trùng Artemia thành công
Bảng 2.4: Công thức pha chế 1m3 nước biển nhân tạo 60‰
Dung dịch Hoá chất Công thức Dietrich &
Chandra Prakash và Reddy (2000) (trích dẫn bởi Trần Văn Bùi, 2002) đã đưa ra
công thức pha chế nước biển nhân tạo đã được ứng dụng nuôi nhiều đối tượng đặc biệt
là cá cảnh
Bảng 2.5 Công thức pha chế 2m3 nước biển nhân tạo (độ muối 30‰) theo
(Chandra Prakash và Reddy, 2000)
Muối đa lượng
Tên hóa chất Khối lượng (g) NaCl 47269
Trang 30Yambot và Cruz (1986), trích dẫn bởi Trần Văn Bùi (2002), ương ấu trùng tôm
càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) bằng nước biển nhân tạo, nước muối pha và
nước biển thường Kết quả tỉ lệ sống thu được là 17,95%, 6,71%, 25,70% Tác giả
khẳng định rằng, nước biển nhân tạo có thể ương tôm càng xanh một cách có hiệu quả
Reddy (1991, trích dẫn bởi Trần Văn Bùi, 2002), đã sử dụng nước biển nhân
tạo ương tôm càng xanh với tỉ lệ sống đạt 5 - 52%
Theo Thái Bá Hồ (2001) ở Trung Quốc cũng đã thành công trong ứng dụng
nước biển nhân tạo vào ương ấu trùng và nuôi tôm càng xanh với 3 công thức pha
khác nhau được trình bày ở Bảng 2.7 Trong 3 công thức này thì công thức 1 và 2 được
phổ biến ở nhiều nơi, riêng công thức 3 được áp dụng phổ biến ở tỉnh Quảng Đông,
Trung Quốc
Trang 31Bảng 2.6: Công thức nước biển nhân tạo (1m3) ứng dụng vào ương ấu trùng tôm ở Trung Quốc (Thái Bá Hồ, 2001)
Hoá chất Số lượng (kg)
Công thức 1
Số lượng (kg) Công thức 2
Số lượng (kg) Công thức 3 NaCl 9,50 9,50 10,00
Trang 32Bảng 2.7: Một số công thức nước biển nhân tạo dùng ương nuôi ấu trùng tôm càng
xanh
2.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Độ muối là tổng số gam muối các loại có trong 1.000 g nước biển, đơn vị tính
là phần ngàn (ký hiệu ppt hay ‰) Độ mặn là tổng số gram muối NaCl có trong 1.000
g nước biển, đơn vị tính là phần ngàn, giữa độ muối và độ mặn của nước biển tự nhiên
có mối liên hệ theo công thức kinh nghiệm sau, độ mặn nhỏ hơn độ muối khoảng 8,6% (Nguyễn Văn Bé, 1995)
Độ mặn (‰) = (100% - 8,6%) x Độ muối (‰)
Công thức nước biển nhân tạo Muối
Bidwell và Spotte (1985) (g/L)
Diettrich và Kalle (g/L)
Marinium® (Mariscience International Co Ltd.) (% trong hỗn hợp)
Trang 33Theo Nguyễn Anh Tuấn và ctv (1994) thì ảnh hưởng lên các hoạt động sống của tôm thường do sự kết hợp của độ mặn và nhiệt độ và mức độ ảnh hưởng của chúng
có sự sai khác theo loài
Theo Vũ Đăng Độ (1999), trong nước biển tổng hàm lượng của 11 thành phần chính (gồm các ion và phân tử là Cl-, SO42 -
, HCO3
, CO32 - , Br - , F - , H3BO3, Na+,
Mg2+, Ca2+, K+, Sr2+) chiếm tới 99,99% tổng lượng khoáng chất hoà tan Điều đó có nghĩa là trị số độ muối nước biển được quyết định bởi tổng hàm lượng của 11 thành phần này Trong đó đáng kể nhất là 4 ion cơ bản chiếm 97,19% tổng lượng khoáng chất hoà tan, đó là các ion Cl- (55,04%), Na+ (30,61%), tiếp đó là SO42- (7,86%) và
Mg2+ (3,69%)
Theo Vũ Đăng Độ (1999) nước sông đổ ra biển nhiều triệu năm, đã mang các muối hòa tan tích lũy dần vào biển Hàm lượng các muối hòa tan của nước đại dương giao động từ 30 - 37‰ Sự giao động này phản ánh ảnh hưởng của sự pha loãng của nước mưa và sự cô đặc do bay hơi Các ion Clorua, Natri, Kali, Magiê chiếm vị trí chủ yếu trong nước biển và luôn luôn có mặt theo những tỉ lệ nhất định ở các đại dương (trừ Canxi) Các yếu tố như Bo, Brom, Flo cũng thể hiện như tỉ lệ ổn định đối với Clo, những tỉ lệ các clorua của các yếu tố thì thay đổi rõ rệt
Bảng 2.8: Thành phần hoá học trung bình các ion của nước biển theo ppm (Vũ Đăng
Theo Từ Vọng Nghi và ctv (1986) thành phần hoá học các ion chính trong nước biển ở độ mặn 35‰ có các anion và canion chính được thể hiện qua Bảng 2.9
Trang 34Theo Từ Vọng Nghi & ctv (1986), định lượng các thành phần nguyên tố hoá
học có trong nước biển được trình bày qua Bảng 2.10
Bảng 2.9: Thành phần hoá học các ion chính (tính theo ‰) trong nước biển khi