1.3 Mục đích và yêu cầu 1.3.1 Mục đích Khảo sát ảnh hưởng của cấu trúc chuồng trại, vệ sinh và tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần ăn đến bệnh viêm móng và ảnh hưởng của bệnh viêm móng đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI VỚI BỆNH VIÊM MÓNG
VÀ VIÊM VÚ TRÊN BÒ SỮA Ở CỦ CHI,
Trang 2i
BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư chăn nuôi
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS LÊ ĐĂNG ĐẢNH
ThS PHẠM HỒ HẢI
Tháng 08/2010
Trang 3ii
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: Lê Văn Thật
Tên luận văn: “Khảo sát ảnh hưởng của phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng
đối với bệnh viêm móng và viêm vú trên bò sữa ở Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến
nhận xét đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày 31/08/2010
Giáo viên hướng dẫn (ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 4iii
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ, Người đã tận tụy, hy sinh cả đời vì tương lai chúng con
Chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Đăng Đảnh - Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí
Minh, Ths Phạm Hồ Hải – Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam đã hết lòng
hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quí báu cho tôi trong suốt thời gian học tập,
thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí
Minh, ban chủ nhiệm Khoa chăn nuôi – thú y, bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa và
toàn thể quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm Tp HCM đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học
tập
Chân thành cảm tạ Ban giám đốc Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam, KS
Võ Phước Quí, KS Hoành Văn Thắng - nhân viên của Viện, các cô chú, anh chị
cùng gia nông hộ tại xã Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Củ Chi, Tp HCM đã tận
tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Cảm ơn tập thể lớp chăn nuôi 32 đã hỗ trợ, chia sẽ kiến thức cùng tôi trong
quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn
Lê Văn Thật
Trang 5iv
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát ảnh hưởng của phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng đối với bệnh viêm móng và viêm vú trên bò sữa ở Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh” được tiến hành tại hai xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây, Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh thời gian từ 05/01/2010 đến 30/04/2010 Đề tài đã được khảo sát 488 bò sinh sản của 28 hộ chăn nuôi
Phương pháp thực hiện: Quan sát, phỏng vấn nông hộ, cân thức ăn và ghi chép lại đầy đủ
Kết quả thu được:
Khi THI cao bò bị stress nhiệt và tỷ lệ bệnh viêm móng có xu hướng tăng, THI: <82, 82 – 83, >83, tỷ lệ bệnh viêm móng: 6,85 %,10,65 %, 15,00 % (P>0,05) Nền chuồng ẩm ướt và không được sát trùng có ảnh hưởng đến bệnh viêm móng trong đàn: nền khô thoáng (tỷ lệ bệnh 4,76 %), ẩm ướt (tỷ lệ bệnh 12,02 %) (P<0,05) Nền chuồng có sát trùng (tỷ lệ bệnh 7,94 %), không được sát trùng (tỷ lệ bệnh 18,82 %) (P<0,05)
Quy mô nuôi có ảnh hưởng đến bệnh viêm móng: quy mô nhỏ (tỷ lệ bệnh 16,95 %), quy mô vừa (tỷ lệ bệnh 11,76 %), quy mô lớn (tỷ lệ bệnh 6,22 %) (P<0,05)
Tỷ lệ thô thấp trong khẩu phần có ảnh hưởng đến bệnh viêm móng (Tỷ lệ thô 48,00 %, tỷ lệ bệnh 6,22 %), (tỷ lệ thô 45,63 %, tỷ lệ bệnh 11,76 %), (tỷ lệ thô 35,81 %, tỷ lệ bệnh 45,63 %) (P<0,05)
Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn ở những bò bệnh viêm móng cao hơn so với tỷ lệ viêm
vú tiềm ẩn ở những bò không bị viêm móng (86,67% so với 81,36%) (P > 0,05)
Trang 6v
SUMMARY
Study the effects of the care and rear procedures on the laminitis and mastitis were investigated on the dairy cows herd in Cu Chi district, Ho Chi Minh city In order to investigate, we choose 488 reproductive cows of 28 dairy household farms
in Tan Thanh Dong and Tan Thanh Tay villages They were carried out from 5thJanuary to 30th May, 2010
Method: We were survey and farmer interviewee Food was weighed and rewritten
The results showed as below:
When THI is high, the heat stress will be appeared on cows: <82, 82 – 83,
>83, and the rate of laminitis will be tended to increase respectively: 6,85 %, 10,65
The farm scale is effected on laminitis: in small scale laminitis rate is16,95
%, in medium scale laminitis rate is 11,76 % and large scalelaminitis rate is 6,22
% (P<0,05)
The forage to concentrate ration is effected on laminitis: When forage rate in the ration is 48,00 %, laminitis rate is 6,22 % When forage in the ration is 45,63 %, laminitis rate is 11,76 % and forage rate in the ration is 35,81 %, laminitis rate is 16,95 % (P<0,05)
The mastitis effected more easily on the laminitis cows than that at the cows free from laminitis: 86,67% in comparing with 81,36% (P>0,05)
Trang 7vi
MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh mục các chữ viết tắt x
Danh sách các bảng xi
Danh sách các hình và đồ thị xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.3 Mục đích và yêu cầu 2
1.3.1 Mục đích 2
1.3.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỒNG QUAN 3
2.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi tại địa phương 3
2.1.1 Cơ cấu đàn bò ở Tân Thạnh Đông 3
2.1.2 Tình hình trồng cỏ cho bò 3
2.1.3 Cách xử lý nước thải 3
2.2 Cơ sở lý luận 4
2.2.1 Chuồng trại 4
2.2.1.1 Một số yêu cầu kỹ thuật chuồng nuôi cho bò HF 4
2.2.1.2 Nguyên tắc xây dựng các chi tiết chuồng trại 4
2.2.1.3 Stress nhiệt ở bò sữa 5
2.2.2 Điều kiện vệ sinh 6
Trang 8vii
2.2.2.1 Vệ sinh chuồng nuôi 6
2.2.2.2 Vệ sinh môi trường xung quanh chuồng nuôi 7
2.2.2.3 Hệ thống vệ sinh và xử lý chất thải 7
2.2.3 Các phương thức quản lý bò sữa 7
2.2.3.1 Phương thức nuôi nhốt 7
2.2.3.2 Phương thức chăn thả 8
2.2.3.3 Phương thức kết hợp giữa chăn thả và nuôi nhốt 8
2.2.4 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa 9
2.2.4.1 Sơ lược dạ cỏ 9
2.2.4.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ và vai trò của vi sinh vật với vật chủ 10
2.2.4.3 Vai trò tiêu hóa chất dinh dưỡng của hệ VSV dạ cỏ 11
2.2.4.4 Tương tác giữa các vi sinh vật trong dạ cỏ 13
2.2.5 Thức ăn trong chăn nuôi bò sữa 15
2.2.5.1 Thức ăn thô 15
2.2.5.2 Thức ăn tinh 15
2.2.5.3 Thức ăn bổ sung 16
2.2.6 Bệnh viêm móng bò sữa 16
2.2.6.1 Cấu trúc móng bò sữa 16
2.2.6.2 Nguyên nhân gây bệnh viêm móng 17
2.2.6.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về bệnh viêm móng 19
2.2.6.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh viêm móng 19
2.2.7 Bệnh viêm vú 20
2.2.7.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về bệnh viêm vú 20
2.2.7.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh viêm vú 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành 21
3.1.1 Địa điểm thực hiện đề tài 21
3.1.2 Thời gian thực hiện đề tài 21
3.2 Đối tượng khảo sát 21
Trang 9viii
3.3 Nội dung khảo sát 21
3.4 Phương pháp khảo sát 21
3.4.1 Nội dung (1) 22
3.4.1.1 Dụng cụ khảo sát 22
3.4.1.2 Phương pháp tiến hành 22
3.4.1.3 Các chỉ tiêu khảo sát 22
3.4.2 Nội dung (2) 22
3.4.2.1 Dụng cụ khảo sát 22
3.4.2.2 Phương pháp tiến hành 23
3.4.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 23
3.4.3 Nội dung (3) 23
3.4.3.1 Dụng cụ 23
3.4.3.2 Phương pháp tiến hành 23
3.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.4 Nội dung (4) 25
3.4.4.1 Dụng cụ thử viêm vú và hóa chất 25
3.4.4.2 Phương pháp tiến hành 25
3.4.4.3 Các chỉ tiêu và công thức tính 26
3.5 Xử lý số liệu 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Cơ cấu đàn bò 27
4.2 Chuồng trại 29
4.2.1 Đặc điểm chuồng trại 29
4.2.2 Mật độ nuôi 31
4.2.3 Chỉ số nhiệt-ẩm (THI) 32
4.2.3.1 So sánh THI chuồng nuôi giữa các hộ khảo sát 33
4.2.2.2 THI chuồng nuôi 33
4.2.2.3 Kiểu chuồng chăn nuôi 34
4.3 Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng 36
Trang 10ix
4.3.1 Phương thức nuôi dưỡng 36
4.3.2 Điều kiện vệ sinh 37
4.3.2.1 Xử lý phân và gọt móng 37
4.3.2.2 Mức độ khô thoáng của nền chuồng 39
4.3.2.3 Sát trùng chuồng trại 39
4.3.2.4 Số lần cho ăn/ngày 40
4.3.3 Thức ăn 41
4.3.3.1 Thành phần dinh dưỡng của một số loại thực liệu đang sử dụng tại nông hộ 41
4.3.3.2 Tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần 41
4.3.3.3 Tình trạng viêm móng trên quy mô hộ khảo sát 42
4.3.4 Ảnh hưởng của giai đoạn cho sữa 43
4.4 Ảnh hưởng của bệnh viêm móng đến bệnh viêm vú 45
4.5 Vi sinh nền chuồng 46
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.1.1 Đối với bệnh viêm móng 48
5.1.2 Ảnh hưởng của viêm móng đến viêm vú 48
5.2 Tồn tại và đề nghị 48
5.2.1 Tồn tại 48
5.2.3 Đề nghị 49
Tài liệu tham khảo 50
Phụ lục 53
Trang 11x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮC
C.M.T : California Mastitis Test
IDRC : International Development Research Centre, Canada
Trang 12xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn bò ở Tân Thạnh Đông 3
Bảng 3.1 Giải thích kết quả C.M.T 26
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò ở Tân Thạnh Đông 27
Bảng 4.2 Tình trạng phối giống ở Tân Thạnh Đông 28
Bảng 4.3 Cơ cấu đàn bò sữa ở nông hộ khảo sát 28
Bảng 4.4 Kết quả điều tra chung về cấu trúc chuồng trại 30
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đối với bệnh viêm móng 31
Bảng 4.6 Mối tương quan giữa nhiệt độ và ẩm độ với chỉ số THI 32
Bảng 4.7 Tiểu khí hậu trung bình của các hộ 33
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của THI đối với bệnh viêm móng 34
Bảng 4.9 Ảnh hường của các kiểu chuồng với bệnh viêm móng 36
Bảng 4.10 Phương thức nuôi dưỡng của các nông hộ 36
Bảng 4.11 Xử lý phân và gọt móng 38
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mức độ khô thoáng nền chuồng đối với bệnh viêm móng 39
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của việc sát trùng chuồng trại đối với bệnh viêm móng 40
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của số lần cho ăn/ngày đối với bệnh viêm móng 40
Bảng 4.15 Thành phần dinh dưỡng một số thực liệu 41
Bảng 4.16 Tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần bò sữa theo quy mô hộ 42
Bàng 4.17 Tỷ lệ viêm móng theo quy mô hộ 43
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của bệnh viêm móng đối với viêm vú theo số bò bệnh viêm vú 45
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của bệnh viêm móng đối với viêm vú theo số vú viêm 45
Bảng 4.20 Kết quả phân tích vi sinh nền chuồng của 3 quy mô 46
Trang 13xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Cấu tạo dạ dày thú nhai lại 9
Hình 2.2 Cấu trúc móng bò 16
Hình 3.1 Các vị trí lấy mẫu 24
Hình 3.2 Cách lấy mẫu vi sinh nền chuồng 24
Hình 3.3 Bảo quản mẫu vi sinh nền chuồng 24
Hình 4.1 Các kiểu chuồng khảo sát 35
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của giai đoạn cho sữa đến viêm móng 41
Trang 14
1
Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển đất nước, đời sống của người dân Việt Nam được dần cải thiện, nhu cầu về sữa ngày càng được nâng cao Xuất phát từ thực tế đó, trong những năm gần đây, chăn nuôi bò sữa ở TP HCM phát triển khá mạnh Với khí hậu nóng ẩm như nước ta hiện nay là một môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển Vì vậy vấn đề về bệnh đối với bò sữa đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với nhà chăn nuôi nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng sữa cho người tiêu dùng Trong đó có bệnh viêm móng và viêm vú
Trong thực tế chăn nuôi bò sữa tại các tỉnh phía Nam, hiện tượng viêm móng trên bò sữa vẫn là vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Như chúng ta đã biết, bệnh viêm vú và viêm móng là hai bệnh phổ biến hiện nay đối với bò sữa Hai bệnh này rất quan trọng và phổ biến trên bò sữa, đặc biệt là những bò có máu lai HF cao, cho sản lượng sữa lớn Hơn nữa, trong chăn nuôi, vấn đề chuồng trại, vệ sinh là hết sức quan trọng Tuy nhiên, thực tế, nhiều người vẫn chưa quan tâm đúng mức, bò chủ yếu được nuôi nhốt nên ít vận động, đã góp phần làm gia tăng trường hợp bò bị bệnh về móng khi phải thường
xuyên tiếp xúc với nền chuồng cứng
Từ những thực tế nêu trên, được sự chấp nhận của Bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa, khoa Chăn Nuôi – Thú Y trường Đại học Nông Lâm TP HCM kết hợp với đề tài của Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam, dưới sự hướng dẫn của
PGS TS Lê Đăng Đảnh đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát ảnh
hưởng của phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng đối với bệnh viêm móng và viêm vú
trên bò sữa ở Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh”
Trang 152
1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng đối với với bệnh viêm móng và ảnh hưởng của bệnh viêm móng đến bệnh viêm vú Xác định được nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm móng trên bò sữa
Kết quả của đề tài là cơ sở để hiểu rõ hiện trạng và nguyên nhân của bệnh, từ
đó xây dựng những quy trình chẩn đoán, phòng bệnh hiệu quả Đồng thời sẽ có những giải pháp cải tạo kết cấu chuồng nuôi, vệ sinh, phương pháp quản lý, chăm sóc và khẩu phần ăn hợp lý để giảm thiểu nguy cơ gây bệnh, làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra, tăng hiệu quả chăn nuôi bò sữa Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên nói riêng và những nhà nghiên cứu sau này nói chung vấn đề viêm móng
1.3 Mục đích và yêu cầu
1.3.1 Mục đích
Khảo sát ảnh hưởng của cấu trúc chuồng trại, vệ sinh và tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần ăn đến bệnh viêm móng và ảnh hưởng của bệnh viêm móng đến bệnh viêm vú bò sữa Từ đó rút ra một số kết luận giúp ích cho các nhà chăn nuôi
bò sữa địa phương
1.3.2 Yêu cầu
Theo dõi và thu thập số liệu liên quan đến:
Cấu trúc chuồng trại, nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi, chỉ số THI
Quy trình chăm sóc, vệ sinh
Số cá thể bò bệnh viêm móng
Tỷ lệ viêm vú và số vú viêm của những bò có bệnh viêm móng
Tỷ lệ viêm vú và số vú viêm của những bò không có bệnh viêm móng
Tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần
Số lượng vi sinh trên nền chuồng
Cách tính và đánh giá chỉ tiêu theo dõi
Trang 163
Chương 2
TỒNG QUAN 2.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi tại địa phương
2.1.1 Cơ cấu đàn bò ở Tân Thạnh Đông
Cơ cấu đàn qua điều tra của Trung tâm quản lý kiểm định (TTQLKĐ) Giống
Cây trồng-vật nuôi (2006), ở Tân Thạnh Đông (TTĐ) được trình bày ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn bò ở Tân Thạnh Đông
Qua Bảng 2.1 cho thấy:
Hộ nuôi trên 30 con chỉ có 9 hộ chiếm 0,75 %
Hộ nuôi 11 - 30 con có 181 hộ chiếm 15,24 %
Hộ nuôi 01 - 10 con có 998 hộ chiếm 84,01 % Chăn nuôi qui mô dưới 10 con chiếm đại đa số tại xã
2.1.2 Tình hình trồng cỏ cho bò:
Qua điều tra của TTQLKĐ (2006), tình hình trồng cỏ ở TTĐ như sau
Diện tích đất nông nghiệp bình quân 1 hộ là 3.500 m2, diện tích đất trồng cỏ chiếm 48,97 % và tổng diện tích trồng cỏ là 158,31 ha
Bò khác Ghi chú
1 1-10 998 84,01 4.716 4.646 70 Bò khác
có:61 con bò laisind,
Trang 174
Thải ra cống rãnh chiếm 39,31 %; ra sông chiếm 1,09 %
Bơm lên tưới vườn chiếm 51,85 %
Biogas: 37 hộ, chiếm 3,11 %
2.2 Cơ sở lý luận
2.2.1 Chuồng trại
2.2.1.1 Một số yêu cầu kỹ thuật chuồng nuôi cho bò HF
Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi bò sữa là rất quan trọng vì bò lai từ ¾ máu HF trở lên chịu nhiệt kém Chuổng trại chăn nuôi bò sữa phải thông gió để loại trừ bụi, khí độc và mùi hôi thối khỏi chuồng, cung cấp đủ không khí sạch trong chuồng Ngoài ra còn phải điều hòa được nhiệt độ, ẩm độ không khí trong chuồng nuôi
Mật độ nuôi thường được tính bằng diện tích chuồng bình quân cho mỗi con Nó có ảnh hưởng đến sức sản xuất và sức khoẻ của gia súc cũng như hiệu quả chăn nuôi nói chung Mật độ nuôi có ảnh hưởng lớn đến tiểu khí hậu chuồng nuôi vì nó ảnh hưởng đến độ ẩm, mùi và bụi trong chuồng Khi thiết kế mật độ nuôi phải căn cứ vào điều kiện khí hậu, độ lớn của gia súc Theo Nguyễn Xuân Trạch (2004), thì mật độ nuôi trung bình là 6 – 8 m2/con
2.2.1.2 Nguyên tắc xây dựng các chi tiết chuồng trại
Mục tiêu chính của chuồng trại là bảo vệ cho gia súc không bị tác động xấu của điều kiện thời tiết khí hậu Do vậy, cần bố trí hướng chuồng phù hợp để tránh mưa tạt, gió lùa, đảm bảo che nắng, thoáng mát và thoát nước tốt Thông thường nên để chuồng mở (không tường) về phía nam hoặc đông - nam để đảm bảo có ánh sáng và thông thoáng tốt
Nền chuồng phải cao hơn mặt đất bên ngoài khoảng 40 - 50 cm để nước mưa không thể tràn vào chuồng Trong chuồng có thể bố trí khu đi lại tự do và nghỉ ngơi chung Kích thước chỗ nằm cho bò phải tuỳ theo chiều dài của cơ thể sao cho khi con vật đứng dậy thì chân sau sát rãnh phân và nước đái rơi thẳng xuống rãnh không làm bẩn chỗ nằm Nền chuồng có thể được lát bằng gạch hoặc láng bê tông Mặt nền chuồng không gồ ghề (khó vệ sinh), nhưng cũng
Trang 185
không trơn trượt, có độ dốc hợp lý 2 - 3 % (Nguyễn Xuân Trạch, 2006), xuôi về phía rãnh thoát nước để bảo đảm thoát nước dễ dàng khi dội rửa Trên nền chuồng nơi cho bò nghỉ có thể sử dụng cát hoặc rơm rạ băm nhỏ, mạt cưa, lõi
ngô băm vụn làm vật liệu lót nền giúp cho bò thoải mái Hiện nay chuồng nuôi ở
nước ta, đặc biệt là ở các nông hộ chăn nuôi bò sữa có hiện tượng láng nền chuồng bằng xi măng rất trơn (càng ngày càng mòn nên càng trơn) làm cho bò lúc nào cũng sợ bị trượt ngã, do đó bị stress rất lớn và thường bị các bệnh về
chân móng, nhất là bò nhập nội Tốt nhất là trải nền chỗ bò đứng ăn và chỗ nghỉ
ngơi bằng các tấm lót cao su rất tiện lợi cho vệ sinh và bò được thoải mái
Mái chuồng không nên làm mái quá thấp vì sẽ không thoáng khí, ít ánh sáng và làm cho không khí trong chuồng nóng và ẩm Vật liệu làm mái có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ trong chuồng Mái chuồng lợp ngói hay tranh, tre, nứa,
lá sẽ giữ mát được tốt Trong trường hợp chuồng quy mô nhỏ không nên lợp mái tôn hay fibroximăng vì sẽ rất nóng Tuy nhiên, đối với những chuồng lớn thì có
thể phải dùng mái tôn, nhưng cần làm mái cao và thoáng
Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ cần phải có máng ăn trong chuồng cho bò để đảm bảo vệ sinh Máng ăn nên xây bằng gạch láng xi măng Không xây máng ăn quá sâu, dễ gây tồn đọng thức ăn và khó vệ sinh Các góc của máng ăn phải lượn tròn và trơn nhẵn, đáy máng phải dốc và có lỗ thoát nước ở cuối để thuận tiện cho việc rửa máng Thành máng phía trong (phía bò ăn) phải thấp hơn thành máng ngoài để thức ăn không rơi vãi ra lối đi
Đường đi cho ăn trong chuồng được bố trí tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại (vị trí, kiểu chuồng ), phương thức chăn nuôi, phương tiện vận chuyển thức
ăn Phía ngoài chuồng cũng phải có hệ thống đường đi chắc chắn để vận chuyển thức ăn, chất thải và đi lại theo dõi quản lý chung Dọc hai bên đường đi ngoài chuồng cần có cây bóng mát
2.2.1.3 Stress nhiệt ở bò sữa
Nhiệt luôn sinh ra trong cơ thể bò do trao đổi chất và sự lên men thức ăn trong dạ cỏ Bò càng cao sản thì nhiệt sinh ra càng nhiều Đối với đàn bò sống ở
Trang 196
vùng ôn đới thì lượng nhiệt này sẽ giúp ổn định thân nhiệt Tuy nhiên đối với đàn
bò sống ở vùng nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam thì lượng nhiệt cần phải được thải ra môi trường
Nhiệt độ môi trường luôn thay đổi, tuy vậy nhiệt độ cơ thể luôn duy trì ổn định ở 38,4 đến 390C vì cơ thể có cơ chế điều tiết nhiệt Tuy nhiên, bò đang cho sữa sự sinh nhiệt hơn gấp đôi bò không cho sữa nên dễ chịu ảnh hưởng của nhiệt
độ môi trường, bò càng cao sản càng chịu ảnh hưởng nhiều, đặc biệt tác hại trong giai đoạn đỉnh cao của chu kỳ sữa Khi nhiệt độ môi trường kết hợp với nhiệt sinh
ra trong cơ thể lớn hơn sự thài nhiệt từ cơ thể vào môi trường thì thân nhiệt tăng vượt quá 390C xuất hiện stress nhiệt
Khả năng thải nhiệt ở bò sữa phụ thuộc vào cả 2 yếu tố nhiệt độ và ẩm độ được biểu hiện qua chỉ số nhiệt ẩm (THI)
THI (Temperature-humididy index) theo công thức:
(nguồn: Dr Frank Wersma, 1990)
2.2.2 Điều kiện vệ sinh
2.2.2.1 Vệ sinh chuồng nuôi
Vệ sinh chuồng nuôi có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi Một môi trường sạch sẽ hạn chế tối đa sự phát triển của các mầm bệnh và tạo được tiểu khí hậu tốt cho sức khoẻ của gia súc Vì vậy, cần có nội quy vệ sinh chuồng nuôi Hàng ngày chuồng trại phải quét dọn sạch sẽ nền chuồng, lối đi, khơi thông rãnh thoát phân và nước thải Nếu có độn chuồng, không nên để phân lâu quá trong
Trang 207
chuồng Vào mùa mưa phải dọn mỗi tuần một lần, mùa khô có thể kéo dài hơn, nhưng hàng ngày phải độn thêm để chuồng luôn luôn khô ráo Hàng năm định kỳ quét vôi, tẩy uế, kiểm tra toàn bộ chuồng để tu sửa những nơi bị hư hỏng Chuồng nuôi cần cung cấp đầy đủ nước sạch kết hợp với các loại hoá chất tẩy rửa và sát trùng và sử dụng các loại bàn chải thích hợp khi làm vệ sinh
2.2.2.2 Vệ sinh môi trường xung quanh chuồng nuôi
Tuỳ theo hoàn cảnh mà áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm làm cho mỗi khu chăn nuôi thành một khu an toàn dịch bệnh Ngoài các biện pháp thú y như tiêm phòng, cho uống thuốc phòng, tẩy trùng chuồng nuôi, cần chú ý vệ sinh khu vực xung quanh chuồng nuôi để đảm bảo cho đất và không khí trong khu chuồng trại không bị nhiễm bẩn, không bị gió lùa mạnh, không bị ngập nước, không bị ồn ào, không bị chướng ngại vật cản trở thoáng khí và làm thiếu ánh sáng Hơn nữa, hộ nuôi cần phải có điều kiện xử lý phân và nước thải để hạn chế đến mức thấp nhất mọi khả năng lây nhiễm nguồn bệnh từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi
2.2.2.3 Hệ thống vệ sinh và xử lý chất thải
Hệ thống xử lý chất thải phải được thiết kế cẩn thận ngay từ đầu để tránh ô nhiễm môi trường vì lượng phân, nước tiểu, nước rửa chuồng hàng ngày thải ra rất lớn Trước hết cần có hệ thống cỗng rãnh thoát nước để cho nước bẩn chảy thoát khỏi nền chuồng Hố chứa phân phải cách chuồng ít nhất là 5 m và cách
giếng nước uống ít nhất là 100 m C ần bố trí hố ủ phân phù hợp để tận dụng
toàn bộ phân và cỏ ăn thừa cũng như chất độn đưa vào hố ủ phân nhằm tăng khối lượng phân bón ruộng, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, nhưng vẫn đảm bảo vệ sinh Nếu có điều kiện, tốt nhất là xây bể biogas để sản xuất khí cho đun nấu, kết hợp tiệt trùng, nâng cao chất lượng phân và vệ sinh môi trường
2.2.3 Các phương thức quản lý bò sữa
2.2.3.1 Phương thức nuôi nhốt
Theo hình thức cột buộc tại chuồng, hình thức này mỗi con được cột (thường bằng dây xích khoá vòng cổ) vào chuồng nên không thể đi lại tự do trong
Trang 218
chuồng Thuận lợi chủ yếu của phương thức này là cần diện tích chuồng ít hơn
so với phương thức tự do trong chuồng Tuy nhiên, cần có vật liệu lót chuồng tốt (đệm cao su, rơm chẳng hạn) cho bò nằm mới có thể giữ bò ở thể trạng tốt Đệm lót chuồng cần phải khô sạch nhằm giảm các yếu tố gây viêm nhiễm bầu
vú (bò sữa) Máng nước uống cần được đặt gần nơi bò (1 máng nước uống có thể dùng chung cho 2 bò cạnh nhau) Bất lợi của phương thức này là có thể làm
cho bò bị vấn đề về móng (Nguyễn Xuân Trạch, 2006)
Theo hình thức tự do đi lại trong chuồng, bò được đi lại trong chuồng nuôi (trừ khi vắt sữa) Hình thức này tạo sự thoải mái nhất cho bò Trong một diện tích giới hạn bò có thể đi lại tự do Vùng giới hạn này thường nằm ở giữa máng
ăn và các ô cho bò nằm nghỉ Trong các ô bò nằm nghỉ cát thường được sử dụng làm vật liệu đệm lót Tuy nhiên, rơm rạ băm nhỏ, mạt cưa hoặc lõi ngô băm vụn cũng có thể dùng làm lót chuồng
2.2.3.2 Phương thức chăn thả
Phương thức này dựa vào sự chăn thả cho gặm cỏ ngoài bãi chăn là chính Điều kiện tiên quyết là phải có đủ diện tích đồng cỏ có chất lượng Đồng cỏ thường được thiết kế theo lô và các nhóm bò được chăn thả luân phiên trên đó Trong phương thức này vai trò của chuồng không lớn và có thể thiết kế chuồng đơn giản hơn Tuy nhiên, cũng như phương thức nuôi nhốt trong chuồng cần có máng ăn và máng uống để bổ sung thức ăn và nước uống cho bò vào những thời gian bò về chuồng (thời gian vắt sữa chẳng hạn)
2.2.3.3 Phương thức kết hợp giữa chăn thả và nuôi nhốt
Phương thức này áp dụng ở những nơi có cả đồng cỏ chăn thả và đồng
cỏ thu cắt Phương thức này được áp dụng khá rộng rãi trong chăn nuôi nông
hộ nhỏ hiện nay Hàng ngày bò được gặm cỏ (kết hợp vận động và tắm nắng) ngoài đồng trong một khoảng thời gian nhất định và khi về chuồng mỗi con được nhốt cố định một chỗ nào đó Trong thời gian nhốt trong chuồng bò được cho ăn cỏ tươi, thức ăn ủ xanh hoặc cỏ khô, rơm khô và thức ăn tinh
Trang 229
2.2.4 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa
Bò sữa thuộc loài nhai lại có dạ dày chia làm 4 túi, trong đó ba túi gồm dạ
cỏ, tổ ong và lá sách gọi chung là dạ dày trước, không có các tuyến tiết dịch tiêu hóa mà vai trò chủ yếu của các túi là tiếp nhận thức ăn, ợ lên miệng để nhai lại và nghiền nát thức ăn nhờ quá trình lên men tiêu hóa bởi vi sinh vật Túi thứ 4 là dạ múi khế gọi là dạ dày thực, có hệ thống tuyến tiêu hóa phát triển mạnh (Nguyễn
Xuân Trạch, 2003)
Đặc điểm nổi bật về tiêu hóa của thú nhai lại là sự lên men ở dạ cỏ nhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Thức ăn được lên men ở dạ cỏ tạo thành các acid béo bay hơi (ABBH), CH4, CO2, đồng thời còn sản sinh ra một lượng năng lượng đáng kể dưới dạng ATP Nhờ nguồn năng lượng này giúp vi sinh vật dạ cỏ sinh trưởng và phát triển Ngoài ra, trong quá trình lên men còn tạo ra năng lượng dưới dạng nhiệt không có lợi cho quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ
Hình 2.1 Cấu tạo dạ dày thú nhai lại (DeLaval, 2002) (Trích dẫn bởi Nguyễn
Xuân Trạch 2003)
2.2.4.1 Sơ lược dạ cỏ
Dạ cỏ chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu, chiếm 85 – 90 % dung tích dạ dày, 70 – 75 % dung tích đường tiêu hóa Dạ cỏ chia làm 2 phần: túi nang lưng và nang bụng; chia 3 lớp: lớp trên chứa đầy hơi, lớp giữa chứa thức ăn thô, lớp dưới cùng chứa chất lỏng Khi thức ăn vào dạ cỏ, tùy thuộc vào thành phần (chất xơ, chất lỏng) mà thức ăn đi vào nơi cố định Nhờ hoạt động của dạ cỏ, thức ăn sẽ được trộn đều và tạo thành môi trường lý tưởng cho hoạt động
Trang 2310
của vi sinh vật dạ cỏ, đặc biệt là vi khuẩn tiêu hóa chất xơ. Theo Đinh Văn Cải và ctv (1995), dạ cỏ là trung tâm tiêu hóa quan trọng nhất của loài nhai lại Dạ cỏ chứa thức thô và không có enzym tiêu hóa, sự tiêu hóa thức ăn ở dạ cỏ chủ yếu nhờ hệ vi sinh vật dạ cỏ bao gồm: vi khuẩn, protozoa và vi nấm
2.2.4.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ và vai trò của vi sinh vật với vật chủ
Hệ vi sinh vật dạ cỏ cung cấp 60 – 70 % chất dinh dưỡng cho bò Chủng loại
vi sinh vật dạ cỏ rất phong phú và thuộc về 3 nhóm chính: vi khuẩn, protozoa và nấm. Theo Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch (2003), hệ vi sinh vật sống
và phát triển mạnh trong dạ cỏ khi nhiệt độ luôn duy trì ở 38 - 42oC, ẩm độ 80 – 90
% Tuyến mang tai luôn tiết nước bọt, đảm bảo cho chất chứa dạ cỏ được thấm ướt
và giữ cho pH ổn định (pH dạ cỏ = 6,5 – 7,1), thích hợp cho vi sinh vật hoạt động
Vi khuẩn:
Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ 109 - 1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ (Nguyễn Xuân Trạch, 2003), vi khuẩn sinh sản thêm 7%/mỗi giờ Số lượng vi khuẩn tăng theo nồng độ dưỡng chất khẩu phần và khối lượng thức ăn ăn vào của thú Trong dạ
cỏ, vi khuẩn ở thể tự do chiếm 30 % và 70 % vi khuẩn sống bám vào các mảnh thức
ăn, nếp gấp biểu mô, cơ thể protozoa Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ nên phần lớn vi khuẩn sẽ bị cuống đi và tiêu hóa khi vào ruột non Vì vậy, số lượng vi khuẩn
ở dạng tự do trong dịch dạ cỏ rất quan trọng để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn Vi khuẩn dạng tự do này thay đổi theo khẩu phần, cách nuôi dưỡng, thời gian sau khi cho ăn
Trong dạ cỏ có khoảng 100 loài vi khuẩn, được chia thành các nhóm:
Vi khuẩn phân giải cellulose
Vi khuẩn phân giải tinh bột, glucid hòa tan
Vi khuẩn phân giải các chất chứa nitơ
Nguyên sinh động vật (protozoa):
Tổng số protozoa trong dạ cỏ là 105 - 106/ml dịch dạ cỏ (Preston và Leng, 1987)
Khi khẩu phần thức ăn nhiều xơ và ít đường hòa tan thì mật độ nguyên sinh
Trang 2411
động vật thấp (< 105/ml dịch dạ cỏ); ngược lại khẩu phần giàu tinh bột và đường hòa tan thì số lượng protozoa lên đến 4.106/ml dịch dạ cỏ (Preston và Leng, 1987)
Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ Phần lớn protozoa ở dạ cỏ thuộc
lớp trùng tơ, được chia thành hai nhóm chính: Entodiniomorphs (chủ yếu là Entodinia spp.) và Holotrichs (chủ yếu là Isotricha spp hoặc Dasytricha spp.) Trong đó, Entodiniomorphs có mặt trong dạ cỏ động vật ăn tinh bột hoặc khẩu phần chủ yếu là xơ; loài Holotrichs có mặt trong khẩu phần nhiều xơ, đường hòa tan
Mỗi protozoa có thể thực bào 600 - 700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ Ngoài ra, protozoa cũng không tổng hợp được vitamin mà
sử dụng vitamin từ thức ăn hay do vi khuẩn tạo nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ
cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải cellulose
2.2.4.3 Vai trò tiêu hóa chất dinh dưỡng của hệ VSV dạ cỏ
Chất xơ (cellulose):
Bò sữa là động vật nhai lại nên thức ăn thực vật chủ yếu là cỏ, rơm Cellulose và hemicellulose là thành phần cấu tạo của tế bào thực vật, rất khó tiêu hóa do có sự liên kết giữa cellulose, hemicellulose và lignin Dưới tác động của vi nấm, phá vỡ màng cellulose và để lộ những thành phần bên trong của tế bào như tinh bột, đường, protein, tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men hoạt động
Theo Durand (1989), 80 % cellulose và hemicellulose được phá vỡ bởi protozoa sẽ được vi khuẩn lên men tạo thành các acid béo bay hơi gồm acid acetic, propionic, butyric và một ít acid valeric Các acid béo này được chuyển hóa thành năng lượng cho bò và tổng hợp nên mỡ (cho cơ thể và sữa) Tỷ lệ giữa các acid béo
Trang 2512
bay hơi tùy vào khẩu phần ăn của thú, khẩu phần nhiều xơ thì acid acetic nhiều, khẩu phần nhiều đường hòa tan hay tinh bột thì nồng độ propionic cao
Khi bổ sung tinh bột, rỉ đường vào khẩu phần sẽ ức chế tiêu hóa xơ trong dạ
cỏ vì đường là nguồn năng lượng dễ sử dụng hơn cellulose, hơn nữa chúng dễ dàng
bị lên men bởi vi khuẩn và tạo ra nhiều acid lactic làm giảm pH dạ cỏ, từ đó ức chế hoạt động vi sinh vật lên men chất xơ ở dạ cỏ
Chất bột đường:
Chất bột đường trong thức ăn chủ yếu là tinh bột và đường đa Vi khuẩn và protozoa phân giải tinh bột thành polysaccharid, glycogen và amilopectin Những đường đa này sẽ tiếp tục được lên men để tạo thành các acid béo bay hơi, trong đó
sự lên men dần của amilopectin có ý nghĩa trong sự ngăn ngừa lên men quá mạnh, hình thành quá nhiều thể khí có thể gây chướng bụng, đầy hơi sau khi bò ăn nhiều thức ăn tươi xanh non vào dạ cỏ Các đường dễ tan như: disaccharid, monosacchrid
từ thức ăn và quá trình phân giải cellulose và hemicellulose sẽ được lên men tạo thành các acid béo bay hơi và một lượng lớn là acid lactic
Chất đạm (protein):
Vi sinh vật trong dạ cỏ có khả năng tổng hợp được các acid amin thiết yếu qua nhiều giai đoạn Khi protein trong thức ăn vào dạ cỏ sẽ bị men protease của nhóm vi khuẩn protozoa cắt các nối peptid của các đại phân tử thành các polypeptid, men polypeptidase của hệ vi sinh vật tiếp tục cắt polypeptid thành acid amin và qua phản ứng khử amin tạo ra NH3, CO2 Vi khuẩn sẽ sử dụng nitrogen trong NH3 kết hợp với C, H, O trong thức ăn tạo thành đạm của vi khuẩn; protozoa
ăn vi khuẩn và khi protozoa chết sẽ tạo thành đạm cho cơ thể bò sữa
Ngoài ra, có thể sử dụng các hợp chất nitơ phi protein để cung cấp nitrogen cho bò sữa, giúp tiết kiệm chi phí thức ăn Loại nitơ phi protein thường được sử dụng là urê, nhưng nếu cho bò ăn quá nhiều sẽ gây ngộ độc và có thể dẫn đến tử vong, chỉ nên cung cấp tối đa 75 g/con/ngày (Đinh Văn Cải và ctv, 1995)
Trang 2613
Chất béo (lipid):
Lipid của thức ăn đi vào dạ cỏ cũng được thủy phân bởi vi sinh vật tạo thành glycerin và acid béo Glycerin được vi sinh vật lên men tạo thành acid propionic Các acid béo chưa bão hòa được chuyển thành acid béo bão hòa bằng cách gắn thêm hydro nhờ vi sinh vật Cường độ hình thành các acid béo bay hơi trong dạ cỏ rất nhanh và mạnh, trung bình khoảng 4 lít/ ngày
Các acid béo bay hơi chủ yếu gồm: acetic chiếm 60 – 70 %, propionic 15 –
20 %, butyric 10 – 15 % Tỷ lệ các acid béo bay hơi thay đổi khá lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, quan trọng nhất là tỷ lệ giữa thức ăn tinh và thô trong khẩu phần Khi tỷ lệ này tăng sẽ làm giảm lượng acid acetic đồng thời tăng acid propionic và ngược lại khi tỷ lệ này giảm sẽ làm tăng hàm lượng acid acetic Lượng propionic tăng sẽ làm tăng glucose và năng suất sữa, khi hàm lượng acetic tăng thì tăng độ béo trong sữa
Chất khoáng và vitamin:
Hệ vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B như: B1, B2,
B6, B12, biotin, acid foloic, acid nicotinic, đủ cho nhu cầu của bò
2.2.4.4 Tương tác giữa các vi sinh vật trong dạ cỏ
Vi khuẩn - vi khuẩn:
Nhiều loài vi khuẩn tham gia phân giải chất xơ thành acid béo bay hơi, trong suốt quá trình này chúng tương hỗ nhau như mối “kết giao”: vi khuẩn này phát triển trên sản phẩm trao đổi chất cuối cùng của vi khuẩn khác Tuy nhiên, giữa các nhóm
vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn Trong trường hợp gia súc ăn khẩu phần giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải
xơ giảm, do đó tỷ lệ tiêu hóa xơ thấp Nguyên nhân là sự có mặt của một lượng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh, nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng như khoáng, NH3, acid amin, isoacid, là những yếu tố cần thiết cho vi khuẩn phân giải chất xơ vốn phát triển chậm hơn
Trang 27những loại thức ăn dễ tiêu hóa thì điều này không có nghĩa lớn, song với thức ăn
khó tiêu hóa sẽ làm tăng thời gian tiêu hóa thức ăn
Khẩu phần nhiều đường thì khối lượng protozoa lớn hơn nhiều so với vi khuẩn Protozoa làm giảm số lượng vi khuẩn và nấm trong dạ cỏ khi cho thú ăn thức ăn nhiều xơ và do vậy làm giảm tốc độ tiêu hóa thức ăn thô
Chính những tác động trên mà một vấn đề được đặt ra là có nên hay không loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ Theo Viera (1986), tổng hợp tài liệu về ảnh hưởng của trạng thái có protozoa đối với khả năng tiêu hóa vật chất khô của nhiều khẩu phần ở động vật nhai lại, ông nhận thấy khả năng tiêu hóa cao hơn ở bò sữa có protozoa so với con khác khi ăn khẩu phần tương tự, tuy nhiên điều này chỉ xảy ra ở những thức
ăn có tỷ lệ tiêu hóa cao (lớn hơn 60 %) và ngược lại đối với thức ăn có tỷ lệ tiêu hóa 45 – 50 % và không có tinh bột
Như vậy, thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần của bò có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của khu hệ vi sinh vật dạ cỏ và mối tương tác giữa chúng Khẩu phần giàu dinh dưỡng và cân đối là tiền đề cho các nhóm vi sinh vật phát triển, không gây sự cạnh tranh giữa chúng, mặt cộng sinh có lợi có xu thế thể hiện rõ Nhưng khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gay gắt, ức chế lẫn nhau và làm cho quá trình lên men nói chung có khuynh hướng bất lợi Một khi nhóm vi sinh vật nào đó không có được những điều kiện thích hợp để phát triển thì chúng sẽ bị chết dần đồng thời làm thay đổi thành phần của nhiều nhóm vi sinh vật khác Kết quả là các quá trình tiêu hóa thức ăn bị rối loạn và chắc chắn ảnh hưởng
Trang 2815
xấu đến tình trạng sức khỏe cũng như năng suất của gia súc nhai lại
Tóm lại: Thực chất nuôi dưỡng gia súc nhai lại là nuôi dưỡng các khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, là cung cấp và tạo cho chúng những điều kiện tối ưu để phát triển và sinh sôi, nảy nở Như vậy đối với bò sữa, tiêu hóa dạ cỏ có liên quan chặt chẽ đến vấn đề dinh dưỡng, điều này rất quan trọng và cần được mỗi nhà chăn nuôi phải quan tâm vì từ những nghiên cứu trên cho thấy nếu cho bò sữa ăn khẩu phần nhiều thức ăn tinh sẽ làm tăng acid lactic, từ đó dẫn tới tình trạng acidosis dạ cỏ rồi acidosis máu gây ra tình trạng viêm móng
2.2.5 Thức ăn trong chăn nuôi bò sữa
2.2.5.2 Thức ăn tinh
Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng các chất dinh dưỡng và
tỷ lệ tiêu hóa cao Các chất dinh dưỡng quan trọng như: đạm, bột, đường, béo,
Trang 29ăn bổ sung dưới dạng premix khoáng, premix sinh tố hoặc đá liếm
2.2.6 Bệnh viêm móng bò sữa
2.2.6.1 Cấu trúc móng bò sữa
Cấu trúc sơ bộ móng của bò sữa thể hiện qua Hình 2.2
Hình 2.2: Cấu trúc móng bò (Nguồn: M Ridha Frikha, 2010)
Theo bài giảng của M Ridha Frikha, 2010 Đối với bò sữa, đường trắng là nơi chạm đất và chịu toàn bộ trọng lượng của bò, khi bò đi đứng đều trên đường trắng này, cần định kỳ gọt móng để cho phần đế móng hơi lõm vào để bò di chuyển trên đường trắng và trọng lượng bò được phân bố đều ở hai ngón chân, như vậy sẽ hạn chế được tình trạng đau chân
Trang 3017
2.2.6.2 Nguyên nhân gây bệnh viêm móng
Khẩu phần ăn không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men ở
dạ cỏ, từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sữa (% mỡ sữa thấp hơn 3,5 %, độ axit sữa cao) và kèm theo là hàng loạt bệnh do sự mất cân đối dinh dưỡng (viêm hà móng, sưng khớp, tiêu chảy, chướng hơi,…) (Lê Đăng Đảnh, 2004)
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2004), không cho ăn thức ăn tinh quá nhiều để tránh ảnh hưởng đến tiêu hóa xơ Cho ăn quá nhiều thức ăn tinh không những không kinh tế mà có thể làm cho bò rối loạn tiêu hóa, bị các bệnh về trao đổi chất và chân móng
Theo Đinh Văn Cải và ctv (1995), khi cho bò sữa ăn nhiều thức ăn tinh (chất bột đường) thì vi sinh vật phân giải bột đường nhận được nguồn thức ăn dồi dào nên phát triển rất mạnh, nó dành nitơ của vi sinh vật phân giải chất xơ Mặt khác, các sản phẩm phân giải từ tinh bột làm cho pH dạ cỏ thấp (pH = 5) gây chứng acid hóa
dạ cỏ, bất lợi cho vi sinh vật phân giải chất xơ Vì vậy, chất xơ không được tiêu hóa tốt Ngoài ra, còn làm tăng lượng acid lactic ngấm vào máu gây độc là một nguyên nhân gây ra bệnh đau móng, què chân ở bò sữa
Khi khẩu phần ăn của bò sữa chứa quá nhiều chất bột đường (thức ăn tinh, củ quả, rỉ mật đường) không những gây tốn kém mà còn gây hiện tượng trúng độc acid lactic vì làm mất cân bằng giữa nhóm vi sinh vật phân giải chất xơ với nhóm phân giải chất bột đường, tạo ra nhiều acid lactic làm giảm pH gây ức chế hoạt động của
vi sinh vật phân giải chất xơ và gây ra các căn bệnh về chân, móng (Phùng Quốc Quảng, Nguyễn Xuân Trạch, 2003)
Khi khẩu phần ăn quá nhiều tinh bột và xơ thấp sẽ giảm tiết nước bọt dẫn tới tạo thành acid lactic nhiều vượt quá khả năng chuyền hóa của vi khuẩn, nồng độ acid lactic cao làm giảm pH dạ cỏ (McNamara và Gay, 2002) Người ta cho rằng lượng acid lactic tăng lên đã trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến lưu lượng mạch máu Điều này có thể dẫn đến tăng sinh quá mức làm tăng áp lực các mô dẫn đến tổn thương, đặc biệt với các vùng chịu áp lực cao như móng chân Bên cạnh ảnh hưởng của việc sản sinh nhiều acid, khẩu phần ăn nhiều tinh bột còn có thể làm tăng lượng
Trang 3118
độc tố vi khuẩn được hấp thụ vào máu, và điều này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng của các mô vùng móng Chứng acid dạ cỏ gây nên sự rối loạn tiểu tuần hoàn trong lớp màng đệm phá vỡ liên kết da-biểu bì giữa móng chân và xương ngón thứ 3 (Blowey, 1996) gây nên sưng phù, xuất huyết, chết mô màng đệm của móng (Shearer và Amstel, 2001), kết quả là sự lở loét và hoại tử lớp đệm của chân móng và làm cho bò nhạy cảm với nấm gây bệnh chân móng
Onychomycosis (white line disease; Shearer và Van Amstel, 2003)
Nuôi bò theo phương thức cầm cột hoàn toàn bò không được thoải mái, nền chuồng cứng có tác động cơ học đến sự phát triển cảu móng, bò dễ bị bệnh về chân móng ( Nguyễn Xuân Trạch, 2006)
Nền chuồng ẩm ướt và dơ bẩn tạo điều kiện cho vi sinh vật tồn tại trong nền chuồng trại (Shearer và Van Amstel, 2003) gây nên chứng viêm da quanh móng
(digital dermatitis) do Treponema sp 25%, chứng viêm da kẽ móng (interdigital dermatitis) do Fusobacterium necrophorum và Dichelobacter nodosus Chứng thối
móng (footrot) là bệnh truyền nhiễm gây sốt trên bò và thiệt hại rất lớn cho ngành
bò sữa Móng bò ngấm nước rất nhanh làm chúng trở nên mềm, dễ bị mòn và tổn thương hơn (Rushen, 2004)
Khi phải đứng nhiều giờ trên mặt sàn xi măng thô cứng, ẩm thấp, đọng phân
và nước tiểu sức nặng của bò sữa áp đặt trên chân với móng không được cắt gọt sẽ gây áp lực nặng lên phần mềm của móng gây tổn thương (Raven, 1989) Do đó các biện pháp đối lưu, thông gió tốt có thể hỗ trợ tốt hơn cho bò trong việc thải nhiệt trong trường hợp này
Các hoạt động và chỉ số sinh lý bò ở mức bình thường khi nhiệt độ không quá 250C Khi nhiệt độ và ẩm độ tăng gây hiện tượng stress nhiệt thì dù chỉ ở mức nhẹ, bò vẫn thở gấp để thải nhiệt, và khi đó bò có hiện tượng kiềm hô hấp (do lượng
CO2 cao trong hơi thở) Lúc này bò bắt đầu giảm nhai lại và tăng hiện tượng chảy nước dãi Yếu tố này càng làm giảm lượng bicarbonate (HCO3-) nước bọt được sinh
ra để cân bằng pH trong dạ cỏ Hơn nữa bò sản sinh ra lượng CO2 lớn hơn khi chúng thở gấp và điều đó đã làm tăng pH máu Để duy trì sự cân bằng axit-bazơ, bò
Trang 3219
phải tăng cường thải bicarbonate qua nước tiểu Điều này góp phần gây nên hiện tượng toan huyết dù bò được cung cấp một khẩu phần ăn cân đối Bò có xu hướng đứng nhiều hơn khi bị stress nhiệt do chúng có thể hô hấp một cách dễ dàng hơn trong khi đứng, do đó chúng có thể thải được một lượng khí lớn hơn tức là thải được nhiều nhiệt hơn so với khi nằm Nhưng tăng thời gian đứng cũng dẫn đến nhiều vấn đề về chân móng hơn
2.2.6.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về bệnh viêm móng
Nhà khoa học về bò sữa ở đại học bang South Dakota cho biết Theo hệ thống giám sát sức khoẻ động vật quốc gia, viêm chân móng trên bò chịu trách nhiệm cho 20 % thất thoát bò sữa, trong khi viêm vú chịu trách nhiệm 16,50 %
Bệnh chân móng trên bò sữa xảy ra thường xuyên và trên hầu hết các đàn bò, thậm chí có những kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bò bị bệnh trong đàn lên tới 50
% tại một số trại (Whay và cộng sự, 2003) Tuy nhiên các chủ gia súc thường không quan tâm để ý đến bệnh này và chỉ 1/3 số ca bệnh được phát hiện bởi các chủ trại (Whey và cộng sự, 2003)
Theo nghiên cứu của Haskell và cộng sự (2006), tại Anh trên 37 đàn bò, tỷ lệ
bò bị bệnh chân móng trên những đàn không được chăn thả là rất cao, chiếm 39 %,
so với đàn được chăn thả với 15 % Điều này xảy ra một phần vì độ cứng của nền khi móng bò có đặc điểm cấu tạo phù hợp với sự vận động trên mặt nền mềm và đàn hồi của bãi cỏ
2.2.6.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh viêm móng
Theo kết quả điều tra về hiện trạng nuôi dưỡng bò sữa tại Tp Hồ Chí Minh
và các tỉnh lân cận Lã Văn Kính và cộng tác viên (2002), lượng Ca, P trong khẩu phần là không thiếu nhưng hiện tượng bò bị yếu chân khá phổ biến Các tác giả cho rằng nguyên nhân có thể do bò được nuôi nhốt là chính nên không có cơ hội tiếp xúc với ánh sáng làm khả năng hấp thụ khoáng bị hạn chế
Theo Đoàn Đức Vũ và cộng tác viên (2001), về tỷ lệ tinh/thô khẩu phần cho thấy với tỷ lệ thức ăn tinh/thô là 25/75, 40/60, 60/40 và 77/23 thì pH dịch dạ cỏ đo được giảm dần tương ứng với 6,58; 6,42; 6,25 và 5,98 Đây chính có thể là yếu tố
Trang 332.2.7.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú tiềm ẩn là một bệnh rất phổ biền ở bò sữa Theo các chuyên gia ước tính, đối với đàn bò chưa có chương trình kiểm soát bệnh viêm vú hữu hiệu thì có khoảng 40 % đàn bò mắc bệnh viêm vú trên 2 thùy vú (McGill University), khoảng 50 % đàn bò ở Bắc Mỹ bị viêm vú tiềm ẩn ở các mức dộ khác nhau
Tình trạng viêm vú tiềm ẩn gây tổn thất kinh tế nặng nề hơn so với tình trạng viêm vú lâm sàng, chủ yếu do làm giảm sản lượng sữa mà người chăn nuôi không biết chính xác nguyên nhân để điều trị dứt điểm Theo tính toán từ 15 – 40 trường hợp viêm vú tiềm ẩn mới có 1 trường hợp viêm vú lâm sàng (Morin, 1997) (trích từ Chung Anh Dũng, 2006) Bò đang vắt sữa dễ mắc bệnh viêm vú hơn bò cạn sữa
2.2.7.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước về bệnh viêm vú
Ở Việt Nam, bệnh viêm vú còn ít được quan tâm nghiên cứu Theo một số tác giả, có khoảng 20 - 45 % số bò sữa bị mắc bệnh này Nguyễn Ngọc Nhiên và Ctv (1999), kiểm tra bằng CMT (California Mastitis Test) 1.679 mẫu sữa của 518 đàn bò nuôi tại Ba Vì (Hà Tây) và ngoại thành Hà Nội đã phát hiện thấy 771 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 45,92 %
Bệnh viêm vú gây tổn thất kinh tế rất lớn cho ngành chăn nuôi bò sữa Các thiệt hại liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau:
Làm giảm 10 % sản lượng sữa do tuyến vú bị tổn thương
Sữa bị giảm chất lượng hoặc bị hỏng, chỉ bán được giá thấp hoặc phải bỏ Chi phí điều trị tốn kém
Trang 3421
Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành
3.1.1 Địa điểm thực hiện đề tài
Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã chọn 2 xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh
3.1.2 Thời gian thực hiện đề tài
Khảo sát đã được tiến hành trong thời gian từ 05/01/2010 đến 30/04/2010
3.2 Đối tượng khảo sát:
Khảo sát đã được tiến hành trên bò cái sinh sản lai từ 3/4 máu Holstein Friesian trở lên
3.3 Nội dung khảo sát
Ảnh hưởng của phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng đối với bệnh viêm móng
và ảnh hưởng của bệnh viêm móng đến bệnh viêm vú trên bò sữa
3.4 Phương pháp khảo sát
Khảo sát đã được tiến hành trên 28 hộ chăn nuôi tại 2 xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây, Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh Bò sữa ở địa phương đã được khảo sát theo 3 quy mô hộ: nhỏ (<10 bò sinh sản), vừa (từ 10 – 30 bò sinh sản) và lớn (>30
bò sinh sản) theo 2 phương pháp sau:
Gián tiếp: Tham khảo các số liệu của trạm khuyến nông và trạm thú y trên địa bàn khảo sát, phỏng vấn nông hộ, quan sát và ghi chép lại đầy đủ
Trực tiếp: Khảo sát trực tiếp trên đàn bò sinh sản, cân đong thức ăn cho bò
ăn một cách chính sát và ghi chép lại theo biểu mẫu có sẵn
Trang 35Khảo sát thực tế tại nông hộ
Dựa vào kết quả khảo sát về cấu trúc chuồng trại, chia ra 3 nhóm kiểu chuồng: Kiểu chuồng 1: Kết cấu 1 mái
Kiểu chuồng 2: Kết cấu 2 mái bằng tôn có chiều cao nóc và cao mái thấp Kiểu chuồng 3: Kết cấu 2 mái bằng tôn có chiều cao nóc và cao mái cao Đối với tiểu khí hậu đo trong khoảng từ 11 – 13 giờ tại giữa chuồng, đo cao hơn lưng bò 0,50 m từ đó tính ra chỉ số THI
3.4.1.3 Các chỉ tiêu khảo sát
Mật độ nuôi
Kết cấu và kiểu chuồng nuôi
Sát trùng chuồng trại, phương thức nuôi dưỡng
Mức độ khô thoáng nền chuồng, sử dụng thảm lót
Tiểu khí hậu chuồng nuôi: chỉ số nhiệt ẩm (THI)
Trang 3623
3.4.2.2 Phương pháp tiến hành
Quan sát và ghi nhận khẩu phần ăn cho bò ở các nông hộ
Các loại thức ăn đã khảo sát được như cỏ tự nhiên, cỏ trồng, rơm khô, hèm bia, xác mì ở nông hộ được ghi nhận và tra bảng thành phần hóa học và dinh dưỡng của thức ăn cho bò của Viện chăn nuôi, 2001 để biết được hàm lượng vật chất khô, đạm thô, xơ thô và năng lượng, đối với cám hỗn hợp thì dựa vào thành phần ghi trên bao bì sản phẩm
3.4.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và công thức tính
Tỷ lệ thức ăn thô trong khẩu phần
Tỷ lệ thức ăn thô=(VCK của thức ăn thô/VCK của khẩu phần)x100
3.4.3 Nội dung (3)
Lấy mẫu vi sinh nền chuồng
3.4.3.1 Dụng cụ
Khung lấy mẫu vô trùng kích thước 5x5 cm của Chi cục Thú y
Kẹp lấy mẫu vô trùng của Chi cục Thú y
Gạc vô trùng được thấm ướt bằng nước muối sinh lý và bọc nilon đựng mẫu Thùng xốp bảo quản bên trong có đá để giữ lạnh
3.4.3.2 Phương pháp tiến hành
• Cách lấy mẫu: theo phương pháp được cung cấp bởi Trung tâm chẩn đoán – Chi cục Thú y, Tp Hồ Chí Minh như sau:
Dùng khung lấy mẫu đặt lên bề mặt vị trí cần lấy mẫu, sau đó dùng gạc lau
bề mặt vị trí lấy mẫu đã được cố định bằng khung lấy mẫu (Hình 3.2) Cho các miếng gạc đã lau bề mặt vào bao nilon hàn kín miệng bao, bảo quản lạnh trong thùng chứa đá (Hình 3.3) và chuyển về phòng thí nghiệm Mỗi mẫu là mẫu gợp lấy
từ 5 vị trí theo (Hình 3.1)
Trang 3724
Vị trí lấy mẫu
Hình 3.1 Các vị trí lấy mẫu
Hình 3.2 Cách lấy mẫu vi sinh trên nền chuồng
Hình 3.3 Bảo quản mẫu vi sinh nền chuồng
Khung lấu mẫu
Trang 3825
• Ghi nhãn
Ghi địa điểm lấy mẫu, số vị trí lấy mẫu, tên người lấy mẫu, ngày lấy mẫu
• Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ 40C và chuyển ngay về phòng thí nghiệm
3.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi
Số lượng vi khuẩn nền chuồng trung bình theo 3 quy mô:
3.4.4 Nội dung (4)
Khảo sát bệnh viêm móng, ảnh hưởng của bệnh viêm móng đến bệnh viêm
vú tiềm ẩn trên đàn bò sinh sản
Quan sát đi, đứng, của bò để xác định viêm móng:
Đứng trên 3 chân, khi đứng lưng cong
Di chuyển khó khăn, bước chân ngắn Khi di chuyển đầu bò sẽ hạ thấp xuống khi đặt chân đau là chân sau chạm đất và cao đầu lên đối với chân bình thường Đối với chân trước thì ngược lại
Viêm vú tiềm ẩn:
Xác định theo phương pháp C.M.T (California Mastitis Test) như sau:
Cho 2 ml thuốc thử vào mỗi khay chứa sữa, xoay cho hỗn hợp trộn đều, rồi quan sát sự đồng đều và thay đổi màu sắc của hỗn hợp