1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHIM TRẮNG (Colossoma brachypomum Cuvier, 1818) TẠI TRẠI CÁ GIỐNG BÀU CÁ, ĐỒNG NAI

46 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 763,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHIM TRẮNG Colossoma brachypomum Cuvier, 1818 TẠI TRẠI CÁ GIỐNG BÀU CÁ, ĐỒNG NAI Thực hiện bởi MAI HIỀN ĐỆ Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHIM

TRẮNG (Colossoma brachypomum Cuvier, 1818) TẠI TRẠI CÁ

GIỐNG BÀU CÁ, ĐỒNG NAI

Họ và tên sinh viên: MAI HIỀN ĐỆ Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khóa: 2006-2010

Tháng 08/2010

Trang 2

KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHIM TRẮNG

(Colossoma brachypomum Cuvier, 1818) TẠI TRẠI CÁ GIỐNG BÀU CÁ,

ĐỒNG NAI

Thực hiện bởi

MAI HIỀN ĐỆ

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư ngành Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

ThS NGÔ VĂN NGỌC

Trang 3

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản

Cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Khoa Học, Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt khóa học

Đặc biệt với lòng biết ơn sâu sắc xin gởi đến thầy Ngô Văn Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện tốt đề tài tốt nghiệp

Đồng thời, xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến kỹ sư Huỳnh Hữu Đức và các anh em công nhân của Trại Cá Giống Bàu Cá, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên Thủy Sản khóa 32 đã động viên giúp

đỡ chúng tôi trong những năm học tập và thời gian thực hiện đề tài

Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên quyển luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

Ương nuôi cá bột từ khi thả (3 ngày tuổi) đến khi kết thúc đợt ương (45 ngày) với mật độ 300 cá bột/m2 đạt chiều dài 6,04 – 6,33 cm, trọng lượng 3,28 – 3,31 g và tỷ

lệ sống 49 – 54%

Trang 5

MỤC LỤC

Đề mục Trang Trang tựa i Cảm tạ ii Tóm tắt iii

2.8 Sự Phát Triển Tuyến Sinh Dục của Cá Chim Trắng 6

2.9 Chất Kích Thích Sinh Sản Sử Dụng trong Sinh Sản Nhân Tạo 7

2.9.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropin) 7

2.9.2 GnRH (Gonadotropin Realeasing Hormone) 7

2.10 Vai Trò của Cá Chim Trắng trong Nghề Nuôi Thủy Sản 8

Trang 6

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

3.1 Vật Liệu 10 3.1.1 Thời gian và địa điểm 10

3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 10

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

4.1 Kỹ Thuật Sinh Sản Nhân Tạo Cá Chim Trắng 15

4.1.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ 15

4.1.2 Các chỉ tiêu sinh học sinh sản 16

4.2 Thực Nghiệm Sinh Sản Cá Chim Trắng 18

4.2.1 Chuẩn bị bể đẻ 18 4.2.2 Chọn cá bố mẹ 19 4.2.3 Tiêm chất kích thích sinh sản 21

4.2.4 Kích thích sinh sản 21

4.2.5 Ấp trứng 22 4.3 Kết Quả Sinh Sản Cá Chim Trắng 22

4.3.1 Liều tiêm chất kích thích sinh sản 23

4.3.2 Thời gian hiệu ứng 23

Trang 7

4.4.2 Sự tăng trưởng chiều dài và trọng lượng 27

4.4.3 Tỷ lệ sống 27

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29

5.1 Kết Luận 29 5.2 Đề Nghị 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Đợt SS: Đợt sinh sản

TGHU: Thời gian hiệu ứng

Số cá SS/số cá tiêm: Số cá sinh sản/số cá tiêm

TG phát triển phôi: Thời gian phát triển phôi

DO: Hàm lượng oxy hòa tan

Lỗ SD: Lỗ sinh dục

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Các yếu tố chất lượng nước trong ao nuôi cá bố mẹ 16

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu sinh học các loài cá bản địa 18 Bảng 4.3 Kết quả kích thích sinh sản bằng LH-RHa 24

Bảng 4.4 Các yếu tố chất lượng nước trong ao ương 26 Bảng 4.5 Chiều dài và trọng lượng trung bình của cá ương nuôi 27

Bảng 4.6 Kết quả ương nuôi từ cá bột lên cá giống cá chim trắng 27

Trang 11

để cung cấp giống cho người nuôi là rất cần thiết

Ở miền Nam, 4/2003 Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu để thiết lập quy trình sản xuất giống cá chim

trắng (Colossoma brachypomum Cuvier, 1818) và mãi đến tháng 5/2005 kỹ thuật sản

xuất giống cá chim trắng mới thành công Hiện nay, việc sản xuất giống đã được người dân thực hiện tại nhiều địa phương như Đồng Tháp, Tiền Giang… nhưng các thông số

kỹ thuật trong quá trình sản xuất giống vẫn còn chưa ổn định, hiệu quả sản xuất chưa cao và chưa có một sự ghi chép và tổng kết kinh nghiệm cụ thể nào về các chỉ tiêu kỹ thuật trong quá trình sản xuất giống cá chim trắng

Trước thực tế đó, chúng tôi được sự phân công của Khoa Thủy Sản, Trường

Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo Sát

Quy Trình Sản Xuất Giống Cá Chim Trắng (Colossoma brachypomum Cuvier,

1818)” Tại Trại Cá Giống Bàu Cá, Đồng Nai

Trang 12

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Khảo sát quy trình sản xuất giống cá chim trắng tại Trại Cá Giống Bàu Cá, Đồng Nai

Trang 13

Loài Colossoma brachypomum (Cuvier, 1818)

Tên Việt Nam: Cá chim trắng

Tên tiếng Anh: Red Belly Pacu

Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá chim trắng

2.2 Phân Bố Địa Lí và Điều Kiện Môi Trường Sống

Ngoài tự nhiên, cá chim trắng sống ở các lưu vực của sông Amazon và Orinoco thuộc vùng Nam Mỹ Cá chim trắng sống trong những vùng nước chảy hoặc cửa sông

có độ đục cao; chúng thường sống ở những vùng nước sâu, ít khi bắt gặp chúng ở vùng cạn (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Cá chim trắng sống chủ yếu ở tầng đáy và sống thành đàn nên rất dễ đánh bắt (Ngụy Như Sinh, 1992; trích bởi Nguyễn Công Thắng và ctv., 2003) Theo Thái Bá

Hồ và Ngô Trọng Lư (2002), cá chim trắng sống và phát triển tốt trong môi trường

Trang 14

nước có: Độ mặn dưới 10‰, độ pH dao động từ 5,6 – 7,4, nhiệt độ 21 – 320C (tối ưu

từ 28 – 320C) Khi nhiệt độ nước xuống 120C thì cá hoạt động không bình thường, mất thăng bằng Khi nhiệt độ từ 160C trở lên thì cá hoạt động bình thường trở lại Theo Ngụy Như Sinh, 1992 (trích bởi Nguyễn Công Thắng và ctv., 2003) vì cá chim trắng là loài cá nhiệt đới nên khả năng chịu lạnh kém, cá sẽ chết khi nhiệt độ nước xuống còn

80C và chúng phát triển bình thường ở độ mặn dưới 14‰ Cá chim trắng sống và phát triển tốt ở những vùng nước có độ pH khoảng 6,5 (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Cá chim trắng rất nhạy cảm với các loại hóa chất như CuSO4, Melachite green, Dipterex (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2002)

2.3 Hình Dạng Ngoài

Cá chim trắng là loài có kích thước lớn nhất trong họ Characidae Ở các thủy vực tự nhiên thuôc khu vực Amazon, cá chim trắng trưởng thành có thể dài đến 1m, nặng 30kg (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Cá có thân dẹp đứng, hình dạng dĩa tương tự như cá chim biển Cá có lưng dày, đầu nhỏ, miệng trên và có một vây mỡ nằm gần cuống đuôi và đối diện với vây hậu môn Trên lưng có màu hơi xám, rìa các vây và phần bụng có màu đỏ trông rất đẹp Khi còn nhỏ, trên thân có màu xám bạc, điểm những đốm hoặc sọc ngắn màu đen

Cá có răng sắc, nhọn, nhưng không phải thuộc nhóm cá dữ (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007) Răng hàm trên và hàm dưới của cá chim trắng đối xứng với nhau, to và sắc khỏe Hàm trên có hai hàng răng: Hàng trong có 14 răng (6 răng lớn, khỏe và 8 răng nhỏ hơn); hàm trong có hai răng (Nguyễn Mạnh Hùng, 2003; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007); từ vây ngực tới vây hậu môn có một vây hậu môn có vẩy gai nổi lên sắc nhọn như răng cưa; các vây đều không có tia cứng, cuống đuôi phía lưng có một vây cỡ nhỏ, chiều dài thân gấp đôi chiều cao thân, gấp 4 chiều dài đầu, gấp 6,5 lần chiều dài thân, gấp 13,5 lần chiều dài cuống đuôi; chiều dài đầu gấp 5 lần đường kính mắt; toàn thân có vẩy nhỏ, khó rụng; màu sắc cá thay đổi tùy theo môi trường sống, ở môi trường kiềm tính hay ở trong phòng thiếu ánh sáng thì cá

có màu tro đến màu đen, còn ở trong ao nuôi nước hơi chua thì vẩy cá sáng màu ánh bạc rất đẹp (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2002)

Trang 15

2.4 Tập Tính Ăn

Cá chim trắng là loài ăn tạp thiên về động vật Thức ăn của chúng là trái cây, cỏ dại và động vật phù du Khi còn nhỏ, chúng có thể ăn được thực vật phù du nhờ có hệ thống lược mang dài và mịn Ngoài tự nhiên, cá trưởng thành rất thích ăn các loại trái cây và hạt cỏ dại khi lưu vực các sông Amazon bị ngập nước Thức ăn phổ biến của chúng là hạt cao su, trái của cây cọ dầu (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007) Bên cạnh đó, cá chim trắng thích ăn xác chết động vật (còn tươi) hơn là động vật di động Chúng ăn bằng cách dùng răng của hai hàm rất khỏe và răng để cắn

xé con mồi (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Theo Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2002), cá chim trắng là loài cá ăn tạp, có phổ thức ăn rộng Ở giai đoạn còn nhỏ (cá bột đến cá giống), chúng ăn các loài sinh vật phù du như phiêu sinh động, tảo đơn bào và ấu trùng côn trùng sống trong nước Khi trưởng thành, cá chim trắng có tính ăn tạp, thức ăn là rau, củ, ngũ cốc và động vật tươi sống Trong điều kiện nuôi, cá chim trắng ăn được các loài thức ăn tự chế hoặc thức ăn viên và đặc biệt chúng rất thích ăn rau muống, rau lang (Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Dạ dày của cá chim trắng to, dạng hình chữ U Ruột khá dài, chiều dài ruột bằng 2,5 lần chiều dài thân Khi khảo sát thành phần thức ăn trong dạ dày cá nuôi trong ao thì thấy chủ yếu là chất xơ thực vật, ngũ cốc, lúa (Nguyễn Mạnh Hùng, 2003; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

2.5 Sinh Trưởng

Cá ở từng vùng địa lý với điều kiện dinh dưỡng, môi trường khác nhau thì có sự tăng trưởng khác nhau:

- Ở vùng Amazon: Cá chim trắng có thể đạt đến 30 kg

- Ở Trung Quốc: Cá chim trắng đạt 0,4 – 1 kg/con sau 5 tháng nuôi

- Ở Việt Nam: Cỡ cá giống 7 – 10 g/con nuôi ghép với cá Mè, cá Trôi, cá Trắm trong 4 tháng đạt 1,2 – 1,5 kg/con

Bình thường ở nhiệt độ môi trường nước trên 200C, với chế độ cho ăn đầy đủ thì sau 20 tháng nuôi, cá chim trắng cá thể đạt trọng lượng 1,5 – 2,2 kg/con

Bên cạnh đó, theo một số thí nghiệm ở Hồ Bắc, Trung Quốc thấy cá chim trắng lớn nhanh hơn so với các loài cá khác như cá mè, cá trắm cỏ Nếu nuôi cá mè, cá trắm

Trang 16

cỏ trong vòng 120 – 130 ngày chỉ đạt chiều dài thân từ 10 – 12 cm/con, trọng lượng 25 – 30g/con; trong khi đó, với cùng khoảng thời gian nuôi và điều kiện dinh dưỡng, môi trường thì cá chim trắng đạt chiều dài thân 13 – 15 cm/con, trọng lượng thân đạt 80 –

100 g/con

2.6 Phân Biệt Đực Cái

Ở cá chim trắng, việc phân biệt đực cái là rất khó khăn, dấu hiệu sinh dục thứ cấp không thể hiện rõ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nuôi để phân biệt:

- Cá cái: Lỗ sinh dục có phần cơ thịt nhỏ hơi lồi ra

- Cá đực: Lỗ sinh dục lõm sâu

- Vào mùa sinh sản, bụng cá cái to hơn cá đực, lỗ sinh dục cá cái lồi và có màu ửng hồng

2.7 Tập Tính Sinh Sản

Vào mùa sinh sản, cá chim trắng di cư lên thượng nguồn để đẻ trứng Cá chim

trắng thuộc loài đẻ trứng trôi nổi như cá mè trắng (Hypophthalmichthys miolitrix), mè hoa (Aristichthys nobilis), trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus), trôi Ấn Độ (Labeo rohita, Cirrhinus mrigala, Catla catla),…

Theo Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư (2002) thì cá chim trắng thành thục sinh dục vào 3 năm tuổi, đạt trọng lượng từ 2,5 kg trở lên Mùa vụ sinh sản diễn ra từ tháng

4 đến tháng 9, tập trung từ tháng 5 đến tháng 6 Ở nhiệt độ nước 27 – 290C, thời gian phát triển của phôi cá chim trắng là 22 giờ Thời gian tái phát dục từ 35 đến 40 ngày

Theo Nguyễn Công Thắng và ctv (2003) thì cá chim trắng hoàn toàn có khả năng phát triển, phát dục và sinh sản trong điều kiện khí hậu và môi trường ở miền Bắc nước ta Có khả năng sinh sản ba lần trong một vụ sinh sản Mùa vụ sinh sản kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 nhưng khoảng thời gian cho cá sinh sản đạt hiệu quả cao là

từ tháng 5 đến tháng 9

2.8 Sự Phát Triển Tuyến Sinh Dục của Cá Chim Trắng

Theo Trương Trung Anh (1992) (trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007), vào tháng 2 – 3 thì tế bào sinh dục chỉ là những sợi chỉ màu hồng nhạt, hầu hết tế bào sinh dục ở giai đoạn II

Trang 17

Đến tháng 4 thì tế bào sinh dục bắt đầu chuyển sang giai đoạn III và IV Trứng

ở giai đoạn bắt đầu tăng thể tích, màng trứng dày lên, có hai lớp bao bọc nhân tế bào

và trứng bắt đầu xuất hiện noãn hoàng

Nhìn chung cá phát dục không đồng bộ, cá đực thường phát triển chậm hơn cá cái Hệ số thành thục của cá ở tuổi đầu tiên sinh sản thường 3 – 7%, năm thứ hai sinh sản thường 6 – 12%

Theo Trương Trung Anh (1987) (trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007) thì tuyến sinh dục của cá cái phát triển không đồng nhất Trong buồng trứng của một cá thể cá cái thì có thể có trứng ở nhiều phase Nhưng nếu cá đang trong mùa vụ sinh sản thì buồng trứng thường có hai phase chủ yếu là phase 2 và phase 4 Do đó, nếu có chế

độ dinh dưỡng thích hợp cùng với điều kiện môi trường thích hợp thì thời gian tái phát dục của cá tương đối nhanh

2.9 Chất Kích Thích Sinh Sản Sử Dụng trong Sinh Sản Nhân Tạo

2.9.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropin)

HCG được phát hiện bởi Zondec và Ascheis vào năm 1927 HCG là kích dục tố màng đệm hay kích dục tố nhau thai, chiết xuất từ nước tiểu hoặc nhau thai của người phụ nữ mang thai vào thời kì đầu

HCG có tác dụng duy trì thể vàng, mang bản chất là một glycoprotein vì thế việc chiếc xuất HCG dựa vào nguyên lý tách protein tan trong nước

HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá Đơn vị tính của HCG khi sử dụng là IU/kg (International Unit)

2.9.2 GnRH (Gonadotropin Realeasing Hormone)

GnRH là hormone phóng thích kích dục tố từ tuyến yên, nó còn có các tên khác như GRH, LH-RHa, LH-RH (Luteinizing hormone-releasing hormone), LRH, FSH-

RH Là một hoạt chất tổng hợp tương tự một loại hormone nội sinh, GnRH không có tác dụng trực tiếp lên tuyến sinh dục (buồng trứng, buồng tinh) mà thông qua não thùy (tuyến yên) để kích thích sự phát triển của tuyến sinh dục, cũng như gây chín và rụng trứng Khi tiêm GnRH cho cá, não thùy của cá tiết ra kích dục tố nội sinh, kích thích

cá đẻ Do tác dụng gián tiếp này mà GnRH có thời gian hiệu ứng dài hơn so với các loại kích dục tố khác

Trang 18

Từ việc xác định được trình tự aminoacid (aa) trong cấu tạo của các GnRH, người ta đã tạo ra những chất tương đồng gọi là GnRHa (a: Analog) có hoạt tính đặc biệt cao được dùng trong thực tiễn sản xuất

GnRHa trên cơ bản giống với các GnRH tự nhiên nhưng có một số mắt xích aminoacid trên chuỗi peptid được thay đổi Các chất tổng hợp này thường chỉ có 99aa Chính nhờ sự thay thế các aa tại một số vị trí mà phân tử GnRH ít bị phân giải bởi các enzym, cho nên hoạt tính được tăng lên hàng chục đến hàng trăm lần so với các hợp chất tự nhiên

Có thể nói tất cả các GnRH đều có tác dụng gây phóng thích kích dục tố ở cá,

vì thế chúng có thể được dùng làm chất kích thích sinh sản cho tất cả các loài

GnRH có lợi thế giá rẻ, hoạt tính ổn định nếu được bào chế và bảo quản tốt, không gây phản ứng miễn dịch Tuy nhiên, cá bố mẹ sau khi tiêm GnRH và đã đẻ xong thì tuyến yên không còn kích dục tố dẫn đến kéo dài thời gian tái thành thục

Bên cạnh việc dùng các GnRH tiêm một lần hay hai lần gần nhau để kích thích rụng trứng và sinh sản ở cá, các chất này có thể được cấy vào cá ở nhưng giai đoạn khác nhau để thúc đẩy sự tạo noãn hoàng, sự thành thục và cho chúng đẻ đồng loạt

2.9.3 Chất kháng Dopamine

Dopamine là một trong những chất truyền thần kinh Hầu hết cá biển và các loài

cá thuộc họ cá hồi có thể chỉ kích thích sinh sản bằng LH-RHa đơn độc

Đối với các loài cá khác như họ cá chép, họ cá da trơn thì dopamine giữ vai trò rất quan trọng trong việc ức chế sự tiết kích dục tố từ não thùy của chúng Vì thế việc

sử dụng đồng thời LH-RHa và chất kháng dopamine mới có hiệu quả gây rụng trứng trên cá loài cá này

Các chất kháng dopamine gồm: Domperidone (DOM), Pimozide, Sulpiride, Metoclopramide

2.10 Vai Trò của Cá Chim Trắng trong Nghề Nuôi Thủy Sản

Colossoma brachypomum và Piaractus brachypomus và con lai của chúng là

rất quan trọng đối với đời sống của cư dân sống trong lưu vực sông Amazon Năm

1979, Brazil đã xuất khẩu sang các nước khoảng hơn 35.000 tấn cá chim trắng (Belville, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007) Giống như những loài cá nhiệt

Trang 19

do sự lạm thác, hai là do sự phá rừng ở vùng ngập nước thuộc lưu vực sông Amazon

để trồng lúa và chăn nuôi (Belvilles, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc và ctv., 2007)

Do cá chim trắng có nhiều ưu điểm trong nuôi thương phẩm như lớn nhanh, ăn tạp và dễ nuôi nên vào những năm của thập kỉ 80, các chim trắng đã được nhập vào Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan để nuôi thương phẩm Riêng ở Trung Quốc, cá chim trắng là 1 trong 75 hạng mục nghiên cứu của quốc gia này vào năm 1985 và sau

đó đã trở thành một đối tượng nuôi phổ biến cho năng suất và sản lượng cao (Thái Bá

Hồ, 1998; trích bởi Nguyễn Công Thắng và ctv., 2003) Ở Quảng Đông, người ta nuôi ghép cá chim trắng với các loài cá khác với mật độ như sau (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng

Lư, 2002):

- Chim trắng (C brachypomum): 10.000 – 15.000 con/ha (cỡ 7 – 8 cm)

- Mè hoa (Aristichthys nobilis): 750 con/ha (cỡ 15 cm)

- Mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix): 150 con/ha (cỡ 15 cm)

- Rô phi đơn tính: 3.000 – 45.000 con/ha (cỡ >3 cm)

Cá được cho ăn bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm 25 – 27%, khẩu phẩn 5 – 7% trọng lượng Kết quả là sau 6 tháng nuôi, cá chim trắng đạt trên 0,5 kg/con, năng suất từ 8 – 10 tấn/ha

Ở Việt Nam, năm 1997 Công ty Vật Tư Cá Giống Trung Ương đã nhập cá chim trắng từ Quảng Đông (Trung Quốc) về nuôi Sau đó bắt đầu từ năm 1998, nhiều địa phương khác đã nhập cá chim trắng hương – giống từ Trung Quốc bằng con đường tiểu ngạch về nuôi với kết quả là cá phát triển rất tốt trong điều kiện miền Bắc nước ta

và đã có cá thương phẩm bày bán trong thị trường nội địa (Nguyễn Công Thắng và ctv., 2003) Đến năm 2000, ở miền Bắc nước ta đã cho sinh sản nhân tạo cá chim trắng thành công theo quy trình công nghệ sản xuất giống của Trung Quốc (Nguyễn Mạnh Hùng, 2003; trích bởi Nguyễn Công Thắng và ctv., 2007)

Trang 20

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật Liệu

3.1.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài được tiến hành tại Trại Cá Giống Bàu Cá, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Thời gian thực hiện từ 01/03/2010 đến 30/07/2010

3.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Cá chim trắng (Colossoma brachypomum) bố mẹ có trọng lượng trung bình 4

Trang 21

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá bố mẹ có trọng lượng trung bình khoảng 4 kg/con

Cá bố mẹ được nuôi vỗ trong cùng một ao có diện tích 900 m2 với mật độ 50 kg/100 m2 (tổng cá bố mẹ là 240 con; trong đó có 100 cá đực và 140 cá cái), độ sâu mực nước ao từ 1,2 – 1,5 m

- Chế độ nuôi vỗ như sau:

+ Giai đoạn nuôi vỗ tích cực: Ở giai đoạn này, cá được cho ăn thức ăn viên (kích thước viên 6 mm) của công ty Cargill, có độ đạm 23 – 26% Khẩu phần ăn 2 – 3% trọng lượng thân, rau muống được cho ăn theo nhu cầu của cá Tiến hành nuôi vỗ tích cực từ đầu tháng 01/2010

+ Giai đoạn nuôi vỗ thành thục: Ở giai đoạn này, cá được cho ăn thức ăn viên (kích thước viên 6 mm) của công ty Cargill, có độ đạm từ 27 – 28% Khẩu phần ăn 1 – 1,5% trọng lượng thân, rau muống được cho ăn theo nhu cầu của cá, bổ sung thêm mầm đậu xanh

3.2.2 Kích thích cá sinh sản

Do điều kiện thực tế trại chỉ có một bể đẻ nên chúng tôi chỉ kích thích cho cá sinh sản bằng LH-RHa + DOM, tổng liều 25 µg LH-RHa + 5 mg DOM/kg cá cái Sau

đó, cho vào bể đẻ để cá tự bắt cặp sinh sản

Tiến hành cho cá sinh sản lặp lại ít nhất 3 lần

 Chọn cá cho sinh sản:

+ Cá cái:

- Ngoại hình: Bụng phình to, mềm đều, lỗ sinh dục nở to và có màu ửng hồng

- Kiểm tra trứng: Trứng có màu trắng hơi xanh, độ rời và độ đồng đều cao,

số lượng trứng cực hóa nhân trên 80% tổng số trứng kiểm tra

Trang 22

đực/cái là 1,5 – 2/1 Bể đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ trước khi cho cá đẻ Tạo dòng chảy vừa phải (0,1 – 0,2 m/giây) để kích thích sự hưng phấn của cá

Cá được ương trong ao có diện tích 1.800 m2, độ sâu 1,2 – 1,5 m Thời gian ương là 45 ngày

 Chuẩn bị ao:

Ao được tháo cạn nước hoàn toàn, dùng vôi để tẩy trùng và diệt tạp với liều 10 – 15 kg/100m2, phơi ao 1 – 2 ngày

Cho nước vào trước khi thả cá một ngày, nước vào ao ương phải đi qua lưới lọc

để ngăn địch hại xâm nhập vào ao

Từ ngày ương 13 đến 27: Sử dụng thức ăn viên của công ty Cargill có độ đạm 35%, đường kính 1 mm, khẩu phần ăn từ 8 – 10% trọng lượng thân, cho cá ăn hai lần

Trang 23

dạng viên, đường kính 2 mm, có độ đạm 30%, khẩu phần ăn 5 – 8% trọng lượng thân,

ngày cho ăn hai lần (vào buổi sáng và buổi chiều)

 Chăm sóc:

Trong tuần lễ đầu tiên, phải thường xuyên theo dõi vớt trứng ếch nhái thật cẩn thận Định kỳ 15 ngày thay nước một lần (thay 1/3 lượng nước cũ)

3.2.5 Các chỉ tiêu cần theo dõi :

 Các chỉ tiêu môi trường:

+ Nhiệt độ ( 0 C):

Sử dụng nhiệt kế thủy ngân để đo nhiệt độ nước bể đẻ, bể ấp và ao ương

Khi kích thích sinh sản: Tiến hành đo nhiệt độ nước bể đẻ sau khi tiêm liều quyết định, cứ hai giờ đo một lần

Trong khoảng thời gian ấp trứng: Đo nhiệt độ nước bể ấp ngày hai lần (sáng 7 –

8 giờ, chiều 4 – 5 giờ)

Trong quá trình ương cá: Đo nhiệt độ ao ương định kì mỗi tuần một lần

+ pH:

Sử dụng test pH (Sera pH test kit – Đức) để đo pH nước bể ấp và ao ương Trong khoảng thời gian ấp trứng: Đo pH nước bể ấp ngày hai lần (sáng 7 – 8 giờ, chiều 4 – 5 giờ)

Trong quá trình ương cá: Đo pH nước ao ương định kì mỗi tuần một lần

+ Hàm lượng DO (mg/L):

Sử dụng test O2 (Sera DO test kit – Đức) để đo DO của nước bể ấp và ao ương Trong khoảng thời gian ấp trứng: Đo DO của nước bể ấp ngày hai lần (sáng 7 –

8 giờ, chiều 4 – 5 giờ)

Trong quá trình ương cá: Đo hàm lượng DO của nước ao ương định kì mỗi tuần một lần

+ NH 3 (mg/L):

Sử dụng test NH3 (Sera NH3 test kit – Đức) để đo NH3 của nước bể ấp và ao ương

Trong khoảng thời gian ấp trứng: Đo NH3 của nước bể ấp ngày 2 lần (sáng 7 –

8 giờ, chiều 4 – 5 giờ)

Trong quá trình ương cá: Đo NH3 của nước ao ương mỗi tuần một lần

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w