Tên luận văn: “Khảo sát hiệu kháng thể chống bệnh Gumboro và năng suất tại trại gà lương phượng vừa xảy ra dịch Gumboro” Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ - Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ CHỐNG BỆNH GUMBORO
VÀ NĂNG SUẤT TẠI TRẠI GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VỪA XẢY RA
DỊCH GUMBORO
Sinh viên thực hiện : HUỲNH THỊ THANH TUYỀN
Ngành : Thú y Niên khóa : 2005 - 2010
Tháng 08/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ - Y
****************
HUỲNH THỊ THANH TUYỀN
KHẢO SÁT HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ CHỐNG BỆNH GUMBORO
VÀ NĂNG SUẤT TẠI TRẠI GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VỪA XẢY RA
DỊCH GUMBORO
Khóa luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM
Tháng 08/2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Tên luận văn: “Khảo sát hiệu kháng thể chống bệnh Gumboro và năng suất tại trại gà
lương phượng vừa xảy ra dịch Gumboro”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày 30 tháng 8 năm
2010
Giáo viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Thị Thu Năm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luôn ghi nhớ công ơn Cha Mẹ!
Những người đã sinh thành, dưỡng dục và tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay
Xin chân thành biết ơn!
Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm TP HCM Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin chân thành ghi ơn!
Cô Nguyễn Thị Thu Năm đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình cho tôi thực hiện đề tài trong quá trình thực tập
Xin cảm ơn!
Các anh chị ở phòng xét nghiệm Vi sinh - Bệnh viện Thú y
Chị Lê Thị Hồng Chích chủ trại gà đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài “KHẢO SÁT HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ CHỐNG BỆNH GUMBORO VÀ
NĂNG SUẤT TẠI TRẠI GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VỪA XẢY RA DỊCH GUMBORO”
được thực hiện từ tháng 03/2010 – 6/2010 tại một trại gà lương phượng thương phẩm ở ấp 4 – xã Mỹ Yên – huyện Bến Lức – tỉnh Long An Thực hiện phản ứng ELISA tại phòng xét nghiệm Vi sinh ở Bệnh Viện Thú y - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM Kết quả khảo sát cho thấy:
Hiệu giá kháng thể thu được của 2 đàn lần lượt ở 1 ngày tuổi là 1.1715,14 và 398,33; ở 13 ngày tuổi là 1.406,08 và 1.955,53; ở 28 ngày tuổi là 3.095,05 và 9.424,86
Đàn I có tỷ lệ chết là 4,30 %, đàn II là 2,38 %
Trọng lượng bình quân lúc 9 tuần tuổi của đàn I là 1612,10 g và của đàn II là 1452,90 g Tăng trọng tuyệt đối của đàn I là 26,88 g/con/ngày và của đàn II là 24,14 g/con/ngày Hệ số chuyển biến thức ăn của đàn I là 2,53 và của đàn II là 2,81
Qui trình chủng ngừa thử nghiệm có thể bảo vệ đàn gà tại vùng không an toàn dịch
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt khóa luận iv
Mục lục v
Danh sách các từ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các biểu đồ và hình x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về miễn dịch gia cầm 3
2.1.1 Khái niệm về miễn dịch 3
2.1.2 Hệ thống miễn dịch ở gia cầm 4
2.1.2.1 Các cơ quan dạng lympho 4
2.1.2.2 Hệ thống các tế bào có chức năng miễn dịch 6
2.1.2.3 Hệ thống Ig (Immunoglobulin) của gà 6
2.2 Sơ lược về bệnh Gumboro 7
2.2.1 Lịch sử bệnh và phân bố địa lý 7
2.2.2 Căn bệnh 8
2.2.3 Sức đề kháng 9
2.2.4 Cơ chế làm suy giảm miễn dịch trong bệnh Gumboro 9
Trang 72.2.5 Truyền nhiễm học 10
2.2.6 Triệu chứng 11
2.2.7 Bệnh tích 12
2.2.8 Chẩn đoán 13
2.2.9 Phòng bệnh 13
2.3 Vaccine 14
2.3.1 Khái niệm vaccine 14
2.3.2 Một số điều lưu ý khi sử dụng vaccine 14
2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá vaccine 15
2.3.4 Một số vaccine sử dụng tại trại 16
2.4 Sơ lược về kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 17
2.4.1 Chọn gà con 17
2.4.2 Chuồng trại và trang thiết bị 17
2.4.3 Chăm sóc và nuôi dưỡng 18
2.4.4 Vệ sinh 20
2.4.5 Qui trình phòng bệnh tại trại 21
2.5 Tình hình trại trước khi tiến hành khảo sát 21
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thời gian và địa điểm 23
3.1.1 Thời gian 23
3.1.2 Địa điểm 23
3.2 Đối tượng khảo sát 23
3.3 Nội dung khảo sát 23
3.4 Phương pháp tiến hành 23
3.4.1 Nội dung 1: Khảo sát hiệu giá kháng thể chống bệnh IBD 23
3.4.2 Nội dung 2: Tỷ lệ chết 28
3.4.3 Nội dung 3: Năng suất của đàn gà 28
Trang 83.5 Chỉ tiêu khảo sát 28
3.6 Công thức tính 28
3.7 Xử lý số liệu 28
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Hiệu giá kháng thể chống bệnh Gumboro t 30
4.2 Tỷ lệ chết 32
4.3 Năng suất của đàn gà 36
4.3.1 Trọng lượng bình quân 36
4.3.2 Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) 38
4.3.3 Hệ số chuyển biến thức ăn 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 44
Trang 9DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
ELISA: Enzyme Link Immuno Sorbent Assay
CAM: Chicken Chorioallantoic Membrane
CEF:Chicken Embryo Fibroblast
HGKT: hiệu giá kháng thể
TĂ: thức ăn
TT: tăng trọng
HSCBTĂ: hệ số chuyển biến thức ăn
IBD: Infectious Bursal Disease
ND: Newcastle
IB: Infectious Bronchitis
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Qui trình chủng ngừa Gumboro và các bệnh khác tại trại 24
Bảng 3.2 Phân bố mẫu khảo sát 24
Bảng 3.2 Bảng ký hiệu mẫu 26
Bảng 4.1 Hiệu giá kháng thể 29
Bảng 4.2 Tỷ lệ chết 32
Bảng 4.3 Trọng lượng bình quân 37
Bảng 4.4 Tăng trọng tuyệt đối 39
Bảng 4.5 Hệ số chuyển biến thức ăn 40
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Hình 2.1 Triệu chứng của bệnh Gumboro 21
Hình 2.2 Bệnh tích của bệnh Gumboro 21
Hình 2.3 Vaccine IBD Blen 26
Hình 2.4 Chuồng úm gà 30
Hình 2.5 Đàn gà lúc 2 tuần tuổi 30
Hình 4.1 Bệnh tích nghi tụ huyết trùng 33
Hình 4.2 Manh tràng chứa đầy máu và ruột non hoại tử điểm 34
Trang 12Mặc dù bệnh Gumboro không gây ra tỷ lệ chết cao nhưng hậu quả của bệnh là gây suy giảm miễn dịch, gà chậm lớn, còi cọc, làm giảm hiệu quả kháng bệnh từ đó tạo điều kiện cho nhiều bệnh khác phát sinh
Ở nước ta, bệnh Gumboro xảy ra khắp mọi nơi Vì vậy, việc phòng bệnh này là rất cần thiết đối với ngành chăn nuôi gia cầm Thời gian gà con được bảo hộ thay đổi theo lượng kháng thể của mẹ truyền Thông thường nếu sức khỏe gà mẹ ổn định và được tiêm phòng tốt, hàm lượng kháng thể thụ động sẽ cao, có thể bảo hộ gà con đến 4 tuần Song các nghiên cứu gần đây cho thấy kháng thể truyền từ gà mẹ sang gà con không ổn định, lúc cao, lúc thấp, không đồng đều giữa các con trong đàn gà, đa số các trường hợp đều bảo hộ gà con không quá 20 ngày (Trần Thanh Phong, 1996) Chính sự tạo miễn dịch không ổn định trên
gà mẹ đã gây nhiều khó khăn cho việc xác định lịch tiêm chủng Đặc biệt ở những trại từng
có dịch Gumboro thì khả năng nổ dịch lại sẽ rất cao
Chính vì những lý do trên, được sự phân công và đồng ý của Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Bộ Môn Vi Sinh Truyền Nhiễm, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Năm, chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“Khảo sát hiệu giá kháng thể chống bệnh Gumboro và năng suất tại trại gà lương phượng vừa xảy ra dịch Gumboro”
Trang 13Tiêm phòng đàn gà theo qui trình
Lấy máu lúc 1 ngày tuổi (trước chủng lần 1), 13 ngày tuổi (trước chủng lần 2), 28 ngày tuổi (sau chủng lần 2 2 tuần) để xét nghiệm tìm kháng thể chống bệnh Gumboro bằng phản ứng ELISA
Ghi nhận số lượng và mổ khám bệnh tích gà chết
Ghi nhận năng suất của đàn gà trong quá trình nuôi
Trang 14Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về miễn dịch gia cầm
2.1.1 Khái niệm về miễn dịch
Miễn dịch là khả năng của cơ thể sinh vật có thể nhận biết, tiêu diệt và loại bỏ các vật lạ khi bị xâm nhập Tính chất miễn dịch được hình thành trong quá trình tiến hóa của sinh vật
Cơ thể động vật thường xuyên tiếp xúc với các vi sinh vật có khả năng gây bệnh nhưng không phải tất cả đều mắc bệnh Đó là do khả năng đề kháng của cơ thể đối với vi sinh vật gây bệnh
Sự đề kháng này phụ thuộc vào hệ thống miễn dịch trong cơ thể sinh vật được chia làm hai nhóm là miễn dịch tự nhiên (hay miễn dịch không đặc hiệu) và miễn dịch thu được (hay miễn dịch đặc hiệu) (Lâm Thị Thu Hương, 2008)
Miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu)
Là khả năng tự bảo vệ sẵn có ngay khi mới được sinh ra và mang tính di truyền trong các cơ thể cùng 1 loài Khả năng này luôn hiện diện trên những cá thể khỏe mạnh
và là hình thức bảo vệ đầu tiên chống sự xâm nhiễm của mầm bệnh Thời gian đáp ứng miễn dịch tự nhiên tính bằng phút, giờ và đáp ứng này không đòi hỏi phải có sự tiếp xúc với kháng nguyên trước đó
Miễn dịch thu được (miễn dịch đặc hiệu)
Là dạng miễn dịch xuất hiện khi cơ thể có tiếp xúc với kháng nguyên Để khởi động phải có thời gian (tính bằng ngày) để cơ thể thích ứng với tác nhân gây bệnh lần đầu tiên xâm nhập vào cơ thể Miễn dịch có thể xảy ra nhờ việc tiếp xúc kháng nguyên
Trang 15chủ động (vaccine) hay ngẫu nhiên (mắc phải), hoặc truyền kháng thể (tiêm huyết thanh), hoặc khi truyền tế bào có thẩm quyền miễn dịch (miễn dịch mượn) Miễn dịch thu được chia làm hai loại: miễn dịch thụ động và miễn dịch chủ động
Miễn dịch thụ động là loại miễn dịch mà cơ thể tiếp thu từ bên ngoài, có hai loại miễn dịch thụ động là miễn dịch thụ động tự nhiên và miễn dịch thụ động nhân tạo Miễn dịch thụ động tự nhiên là quá trình tiếp thu miễn dịch xảy ra hoàn toàn tự nhiên Ví dụ:
mẹ truyền kháng thể cho con qua sữa đầu, qua nhau, lòng đỏ trứng… Miễn dịch thụ động nhân tạo là miễn dịch thụ động có được do con người tạo ra Ví dụ: tiêm truyền kháng huyết thanh, kháng độc tố…
Miễn dịch chủ động là loại miễn dịch mà tự bản thân con vật tạo ra được khi tiếp xúc với kháng nguyên, có hai loại miễn dịch chủ động là miễn dịch chủ động tự nhiên và miễn dịch chủ động nhân tạo Miễn dịch chủ động tự nhiên là miễn dịch chủ động mà cơ thể con vật tiếp xúc với kháng nguyên một cách tự nhiên trong môi trường sống Miễn dịch chủ động nhân tạo khi kháng nguyên được chủ động đưa vào cơ thể sinh vật, có sự tham gia của con người như trường hợp chủng ngừa vaccine để phòng bệnh
2.1.2 Hệ thống miễn dịch ở gia cầm
2.1.2.1 Các cơ quan dạng lympho
Cũng như trên thú, hệ thống cơ quan dạng lympho của gia cầm được chia làm hai loại: cơ quan lympho trung ương và cơ quan lympho địa phương
Cơ quan lympho trung ương: là những cơ quan kiểm soát sự sản xuất và biệt
hóa tế bào lympho B và T Quá trình biệt hóa của lympho bào không cần sự kích thích của kháng nguyên (tế bào nguồn, stem cell, biệt hóa thành lympho B và T) Cơ quan lympho trung ương bao gồm: tủy xương, tuyến Thymus và túi Fabricius
Tủy xương: là một cơ quan đa chức năng ở thú trưởng thành, cung cấp các tế bào máu và là nơi sản xuất các tế bào nguồn để biệt hóa thành các tế bào tham gia vào đáp ứng miễn dịch
Trang 16Tuyến Thymus: nằm ở phía trước vách trung thất, kéo dài đến tận cổ và có khi kéo đến tuyến giáp Tiền tế bào T từ tủy xương di chuyển xuống tuyến ức và nhanh chóng phân chia Phần lớn các tế bào phân chia đều bị chết chỉ còn một số tế bào có khả năng sống sót và tồn tại ở tuyến ức bốn đến năm ngày, sau đó rời khỏi tuyến ức và đi đến cơ quan lympho thứ cấp Tế bào T rời khỏi tuyến ức đi vào dòng tuần hoàn phải có khả năng tham gia vào đáp ứng miễn dịch
Túi Fabricius nằm ở phía trên lỗ huyệt Đây là nơi trưởng thành, biệt hóa và chọn lọc tế bào lympho B
Cơ quan lympho địa phương bao gồm: hạch lympho dưới mắt (tuyến harder),
lách, hạch hạnh nhân, manh tràng
Tuyến harder là hạch lympho dưới mắt, có hình tròn hoặc bầu dục, tập trung thành từng đám Trong hạch chứa đầy đủ các lympho B và T trưởng thành Vùng vỏ cạn có các nang lympho chủ yếu chứa các lympho B, vùng vỏ sâu chứa chủ yếu các lympho T
Lách cũng là cơ quan lympho dạng địa phương Lách được chia làm hai vùng tủy
đỏ và tủy trắng Tủy đỏ gồm nhiều xoang chứa đầy hồng cầu Tủy trắng là tổ chức dạng lympho, trong đó được chia làm hai vùng: vùng chứa lympho B và vùng chứa lympho T
Hạch hạnh nhân manh tràng là cơ quan lympho địa phương ở manh tràng Các hạch được tập trung thành đám và có cấu trúc giống như hạch lympho Trong hạch có các nang chứa lympho B và lympho T
Mảng peyer đường ruột thấy rõ ở hồi tràng, đó là tập hợp những nang bạch huyết nằm ở lớp đệm của niêm mạc Những nang bạch huyết lớn được gọi là nang kín Nang kín chiếm cả bề cao của niêm mạc và lan sâu xuống tầng dưới niêm Mảng peyer chủ yếu chứa lympho bào B
2.1.2.2 Hệ thống các tế bào có chức năng miễn dịch
Lympho B có vai trò quan trọng trong miễn dịch dịch thể Khi có sự kích thích của kháng nguyên, tế bào B sẽ biệt hóa thành chuỗi các tế bào plasma rồi tiết ra kháng thể
Trang 17Lympho T có vai trò quan trọng trong miễn dịch tế bào Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể sẽ được các đại thực bào bắt và xử lý rồi trình diện cho các tế bào lympho T
Bạch cầu đơn nhân lớn có vai trò thực bào những vật lạ trong cơ thể Khi thực bào những vật lạ là kháng nguyên thì đại thực bào sẽ trình diện cho các tế bào có thẩm quyền miễn dịch Những bạch cầu đơn nhân lớn chui ra khỏi mạch máu và hoạt động ở mô bào gọi là đại thực bào
Bạch cầu trung tính hay còn gọi là tiểu thực bào Bạch cầu trung tính đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch không đặc hiệu và phản ứng viêm của cơ thể
Bạch cầu ái toan thường có mặt ở nơi xảy ra phản ứng viêm do ký sinh trùng, nó tăng lên trong máu khi cơ thể nhiễm ký sinh trùng Chức năng thực bào của bạch cầu ái toan trong cơ thể gia cầm không rõ ràng như trên thú có vú
Bạch cầu ái kiềm khi chui ra khỏi mạch đến mô gọi là tế bào Mast Tế bào Mast chứa nhiều histamin trong tế bào chất Khi đáp ứng miễn dịch xảy ra trên bề mặt tế bào Mast, sẽ làm tổn thương màng tế bào và phóng thích histamin gây phản ứng tức thời như mắt sưng, chảy nước mũi…Những phản ứng này ở gia cầm không rõ như trên thú có vú
2.1.2.3 Hệ thống Ig (Immunoglobulin) của gà
Hệ Ig của gà chủ yếu gồm các lớp: IgG, IgA, IgM và IgE
IgG có thể truyền được từ gà mẹ sang gà con qua lòng đỏ trứng và kháng thể này đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn đầu của cuộc sống Sau khi nở kháng thể mẹ truyền giảm dần và hết hẳn vào ngày thứ 25 Sự sản xuất IgG bắt đầu vào ngày thứ ba sau khi nở Chức năng của IgG là trung hòa độc tố, tham gia phản ứng ngưng kết, qua lòng đỏ để bảo vệ gà con trong giai đoạn đầu của cuộc sống
IgA được phân bố ở dịch tiết của các xoang tự nhiên, dịch mật, niêm mạc ruột và trong huyết thanh IgA cũng truyền từ gà mẹ sang gà con nhưng con đường truyền là qua lòng trắng trứng IgA không có trong máu gà mà vào dịch lỏng xoang niệu mô và sẽ phủ
Trang 18lên bề mặt niêm mạc ruột tham gia miễn dịch tại chỗ ở đường tiêu hóa Chức năng của IgA là tham gia phản ứng ngưng kết, tham gia miễn dịch tại chỗ ở niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp, qua lòng trắng trứng bảo vệ gà con trong giai đoạn đầu của cuộc sống
IgM cũng truyền từ gà mẹ sang gà con qua lòng trắng trứng và tham gia miễn dịch tại chỗ ở niêm mạc đường tiêu hóa, bảo vệ gà con trong giai đoạn đầu của cuộc sống Chức năng của IgM là tham gia phản ứng ngưng kết đặc biệt vi khuẩn gram âm IgM thường xuất hiện sớm nhất khi có kháng nguyên xâm nhập
IgE có vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng IgE nằm trên tế bào (tế bào Mast
và bạch cầu ưa kiềm) kết hợp với kháng nguyên, sẽ làm giải phóng các chất trung gian làm tăng tính thấm thành mạch tạo điều kiện cho các bạch cầu thoát mạch và bắt giữ kháng nguyên
2.2 Sơ lược về bệnh Gumboro
Gumboro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra ở gia cầm, chủ yếu là ở
gà và gà tây Bệnh có đặc điểm là gây viêm túi Fabricius, xuất huyết cơ ngực, cơ đùi làm hư hại thận và đặc biệt làm suy giảm hệ thống miễn dịch Tế bào lympho B là tế bào đích của virus và mô lympho của túi Fabricius bị ảnh hưởng nặng nề
2.2.1 Lịch sử bệnh và phân bố địa lý
Bệnh Gumboro được Corgrove phát hiện đầu tiên năm 1962 tại vùng Gumboro thuộc bang Delaware (Hoa Kỳ) lúc đầu người ta gọi là bệnh Avian Nephrosis do có bệnh tích nghiêm trọng ở thận
Những nghiên cứu về sau cho thấy một số bệnh khác cũng có bệnh tích trên thận, giống bệnh tích trên thận của bệnh Gumboro nhưng lại do loại virus khác như viêm phế quản truyền nhiễm
Năm 1970, Hitchner chính thức đề nghị gọi bệnh do Corgnove phát hiện là bệnh viêm túi Fabricius truyền nhiễm (Infectious Bursal Disease – IBD) hay còn gọi là bệnh Gumboro để ghi nhớ địa danh nơi phát hiện ra bệnh đầu tiên
Trang 19Từ khi phát hiện đến nay Gumboro đã có mặt khắp nơi trên thế giới, phần lớn tập trung tại trại gà công nghiệp tại Mỹ, Anh, Ý, Israel, Thái Lan, Trung Quốc,…
Tại Việt Nam, từ năm 1981, chuyên gia Hungary và Việt Nam đã phát hiện bệnh ở một số trại gà miền Bắc, nhưng khi đó bệnh chưa được chú ý Năm 1987, bệnh Gumboro xảy ra ở trại gà Phúc Thịnh (Hà Nội) làm chết 55.476 con Ở miền Nam, năm 1990 một số ổ dịch nghi là Gumboro ghép Newcastle xảy ra tại xí nghiệp chăn nuôi gà Bình An làm chết
9500 con (Lê Văn Hùng, 1996) Những năm gần đây dịch bệnh Gumboro xảy ra ở khắp nơi trên toàn quốc
2.2.2 Căn bệnh
Bệnh Gumboro do virus thuộc họ Birnaviridae, giống Avibinavirus, loài Infectious
bursal disease virus
Theo Hirai và Shimakura, 1974 virus gây bệnh Gumboro là một loại virus có kích thước vào khoảng 50 – 60 nm (trích dẫn Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Virus có dạng hình khối nhiều góc cạnh, không có vỏ bọc (envelope) mà chỉ là một dạng virus dạng trần hay còn gọi là nucleocapsid, bao gồm nhân chứa acid ribonucleic (RNA) bao quanh nó là lớp vỏ protein hay còn gọi là capsid Do không có vỏ bọc nên virus không mẫn cảm với ether và chloroform, nhưng rất nhạy cảm với formalin
Virus gồm 32 đơn vị hình thái hay còn gọi là capsomer hợp thành lớp bọc capsid bao lấy acid ribonucleic bên trong Mỗi capsomer có tên gọi là VP1, VP2, VP3, VP4 (viral protein), trong đó VP2, VP3 là protein chính của virus Ngoài ra, VP1 là RNA – polymerase của virus; VP4 là protease cua virus Có 2 serotype là 1 và 2, serptype 1 gây bệnh cho gà có
6 chủng Serptype 2 gây bệnh ẩn tính trên gà và gà tây Trong acid nhân các nucleotide được sắp xếp cuộn trở lại trở nên sợi đôi, phân đoạn, đây là đặc tính cấu trúc của loài virus này
2.2.3 Sức đề kháng
Sức đề kháng của virus tương đối mạnh, nó không bị vô hoạt bởi ether và chloroform Ở 60oC virus vẫn duy trì sức gây bệnh trong 90 phút Ở 56oC nó tồn tại trong 5 giờ Theo Benton et al, 1976, virus có sức chịu đựng rất cao với pH, chỉ bị vô hoạt khi
Trang 20pH=12 nhưng lại chịu được pH=2 (trích dẫn Abdul Ahad, 2002) Virus không bị ảnh hưởng trong dung dịch phenol 0,5 %/ 1 giờ/ 30 oC Virus bị tiêu diệt bởi các phức hợp iodine Trong dung dịch formol 0,5 % nó tồn tại trong 6 giờ Nó bị diệt sau 10 phút trong chloramin 0,5% (Nguyễn Phước Ninh, 2009) Trong phân, nước thải, chất độn chuồng, dụng
cụ chăn nuôi…virus vẫn giữ nguyên đặc tính gây nhiễm và gây bệnh trong vòng 52 ngày Theo Baxendale, 2002, ở điều kiện bình thường virus có thể tồn tại 120 ngày trong chuồng nuôi (trích dẫn Abdul Ahad, 2002; Muhammad Azhar Khan, 2005)
Trong điều kiện ở Việt Nam dùng formalin có nồng độ 1 – 2 % phun lên nền chuồng, vách chuồng và các dụng cụ chăn nuôi có thể diệt được virus Nếu kết hợp với chloramin 0,5
- 1% thì kết quả sẽ tốt hơn (Lê Văn Hùng, 1996)
2.2.4 Cơ chế làm suy giảm miễn dịch trong bệnh Gumboro
Khác với các bệnh do virus khác trên gia cầm, Gumboro chọn túi Fabricius làm cơ quan đích Túi Fabricius là cơ quan miễn dịch cao nhất ở gia cầm, biệt hóa tế bào B Tế bào
B trưởng thành có khả năng tiết kháng thể khi gặp tín hiệu từ kháng nguyên Túi Fabricius chỉ thực hiện được nhiệm vụ ấy khi các nang lympho còn nguyên vẹn Khi túi Fabricius bị tấn công thì chức năng miễn dịch bị suy giảm
Nếu gà bị nhiễm virus Gumboro lúc một ngày tuổi thì lượng IgG huyết thanh giảm,
số tế bào B trong máu ngoại vi cũng giảm nhưng số tế bào T không bị ảnh hưởng rõ rệt Gà con từ 1 – 5 ngày tuổi nhiễm virus Gumboro thì số lượng tế bào plasma trong tuyến harder giảm mạnh ở 7 ngày tuổi
2.2.5 Truyền nhiễm học (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Trang 21giảm miễn dịch Gà lớn hơn 9 tuần tuổi vẫn có khả năng nhiễm bệnh nhưng thường không thể hiện triệu chứng
Đường xâm nhập và sự lây lan
Trong tự nhiên đường tiêu hóa là thích hợp hơn cả Trong điều kiện thí nghiệm virus
có thể vào cơ thể qua đường mũi, đường mắt Trực tiếp: do nuôi nhốt chung gà bệnh với gà khoẻ Gián tiếp: qua thức ăn, nước uống, chất độn chuồng, vật môi giới trung gian như côn trùng, mạt gà,… qua con người như giày, quần áo
Cơ chế sinh bệnh
Virus gây bệnh trên mô lympho, phá hủy tế bào lympho bên trong túi Fabricius, lách
và hạch amidal, tế bào lympho T không bị ảnh hưởng
Sau nhiễm trùng 9 ngày vẫn có thể tìm thấy virus trong túi Fabricius Ở một số gà bệnh, thận sưng, chứa cặn urate và những mảnh vụn tế bào là nguyên nhân gây tắc nghẽn niệu quản
Suy giảm miễn dịch dẫn đến giảm sức chống bệnh và đáp ứng với vaccine không đạt được tối ưu trong thời gian này (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Nếu gà nhiễm bệnh từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi, do trong máu của gà chưa có các bổ thể virus không tấn công được hệ thống mạch máu và thận, chỉ phá hại túi Fabricius, làm túi này
hư hại rồi teo nhỏ, quá trình nuôi dưỡng và thành thục của tế bào Lympho B bị đình trệ, dẫn đến hậu quả làm suy giảm việc tạo kháng thể của cơ thể gà, đây là nguyên nhân chính của việc gà không tạo được miễn dịch mặc dù đã tiêm phòng đầy đủ các bệnh
Trường hợp nhiễm bệnh sau 2 tuần tuổi, lúc đó trong máu đã có đầy đủ lượng bổ thể virus sẽ phát huy tác dụng gây nên triệu chứng vỡ mạch máu gây xuất huyết nhiều nơi, virus đến thận phá hoại ống thận làm gà không thể tái hấp thu được nước, hậu quả nước từ thận tràn vào trực tràng, gà tiêu chảy rất nặng, gà chết chủ yếu là do mất nước
Trang 222.2.6 Triệu chứng
Thời gian ủ bệnh từ 2 – 3 ngày, tỷ lệ mắc bệnh cao từ 20 – 100% , tỷ lệ chết 4 – 8 %
có thể lên tới 37,6% (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Gà có biểu hiện ủ rủ, bỏ ăn, run rẩy, đi đứng loạng choạng
Hình 2.1 Triệu chứng của bệnh Gumboro
(Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Gà thường tự mổ vào lỗ huyệt và mổ lẫn nhau Gà uống nhiều nước Tiến trình của bệnh từ 7 – 8 ngày
Gà chết cao vào ngày thứ 3 – 4 của bệnh
2.2.7 Bệnh tích
Bệnh tích đại thể
Mất nước do tiêu chảy Xác chết khô mất nước Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, cơ cánh; xuất huyết ranh giới dạ dày cơ và dạ dày tuyến; thận viêm sưng lớn, nhạt màu, có urat lắng đọng trong ống dẫn tiểu; lách sưng có thể hoại tử; gan sưng có ổ hoại tử; tuyến Thymus bất dưỡng có thể hoại tử; viêm ruột cata tiết nhiều dịch nhầy
(a) Gà mệt mỏi, ủ rủ, lờ đờ (b) Gà tiêu chảy phân trắng
Trang 23Bệnh tích điển hình là viêm túi Fabricius trong 2 – 3 ngày đầu của bệnh, túi Fabricius tăng thể tích gấp 2 – 3 lần so với ban đầu kèm thủy thủng trong và ngoài túi, xuất huyết hoại
tử sau đó túi trở lại kích thước ban đầu vào ngày thứ 5 và bất dưỡng nhanh đến ngày thứ 8 chỉ còn 1/3 thể tích ban đầu, trong túi có fibrin sau đó hoá casein (khối bả đậu)
Hình 2.2 Bệnh tích của bệnh Gumboro
(Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Bệnh tích vi thể
Hoại tử ở phần sinh lympho của tuyến Fabricius, lách, hạch amidal, thymus
Bất dưỡng, nhưng lách, hạch amidal, thymus phục hồi nhanh hơn, hoặc hoàn thiện hơn túi Fabricius Có sự hình thành cấu trúc dạng hạt thay thế cấu trúc bình thường của nang
ở túi Fabricius (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
2.2.8 Chẩn đoán (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Phân biệt với bệnh viêm phế quản truyển nhiễm, hội chứng xuất huyết
Phòng thí nghiệm phân lập bệnh phẩm từ túi Fabricius, tiêm phôi gà từ 9 – 11 ngày tuổi, đường tiêm màng CAM hay phôi 6 – 8 ngày tuổi, tiêm đường túi lòng đỏ hoặc nuôi cấy trên môi trường sợi phôi gà CEF
(b) Túi Fabricius sưng to, niêm mạc sung huyết, xuất huyết
(a) Xuất huyết cơ đùi
Trang 24Tìm kháng nguyên bằng phản ứng huyết thanh học: miễn dịch huỳnh quang, trung hoà, ELISA, kết tủa khếch tán trên thạch Hiện nay để tìm kháng thể, người ta thường dùng phản ứng ELISA và kết tủa khếch tán trên thạch
2.2.9 Phòng bệnh (Nguyễn Phước Ninh, 2009)
Áp dụng nguyên lý phòng chống bệnh truyền nhiễm dựa trên tác động 3 khâu của vòng truyền lây (nguồn bệnh – yếu tố trung gian truyền lây – động vật cảm thụ)
Đồng thời công tác quản lý rất có ý nghĩa trong công tác phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vaccine (do kháng thể mẹ truyền cho gà con bảo vệ gà con từ 1 – 3 tuần tuổi) Hiện nay trên thị trường phổ biến hai loại vaccin:
Vaccine sống nhược độc
Thường dùng chủng cho gà con bằng cách nhỏ mắt, mũi, uống và phun sương
Có 4 loại vaccine sống nhược độc thường được sử dụng:
Vaccin nhẹ (avirulent strain _Mild)
Virus được làm nhược độc nhiều lần, dùng cho gà con 1 ngày tuổi rất an toàn nhưng
dễ bị trung hòa bởi kháng thể mẹ truyền
Vaccin trung bình (intermediate strain)
Virus được làm nhược độc trung bình, rất an toàn, vượt qua kháng thể mẹ truyền thấp
Vaccine trung bình cộng (intermediate plus)
Virus được làm nhược độc ít hơn nhưng vẫn an toàn, vượt qua kháng thể mẹ truyền trung bình
Vaccine mạnh (hot vaccine)
Virus được làm nhược độc ít, không an toàn lắm, thường dùng ở những vùng có dịch nghiêm trọng Vaccine này nếu chủng ngừa sớm cho gà con nhất là nhóm không có kháng thể mẹ truyền sẽ làm teo túi Fabricius
Vaccine chết
Trang 25Có chất bổ trợ là chất nhũ tương dầu, thường chủng cho gà mẹ để có miễn dịch thụ động cho gà con mới nở bằng cách tiêm bắp (IM) hay chích dưới da (SC)
2.3 Vaccine
2.3.1 Khái niệm vaccine
Các chế phẩm sinh học được điều chế từ chính tác nhân gây bệnh hay sản phẩm của chúng, được làm giảm hay mất độc lực, khi được đưa vào cơ thể đối tượng được hưởng vaccine thì không có khả năng gây bệnh cho đối tượng đó nhưng đều có khả năng
kích thích sinh miễn dịch (Lâm Thị Thu Hương, 2008)
Một chủng vaccine tốt phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau (Lê Văn Hùng, 1998):
Có tính kháng nguyên (Antigenicity) tương đối cao đủ kích thích đáp ứng miễn dịch cho cơ thể Vaccine không còn hoặc còn rất ít tính gây bệnh (Pathogenicity) mà cơ thể chịu đựng được Phải vô trùng và nếu có sự kết hợp kháng nguyên thì phải đảm bảo sự kết hợp
đó an toàn khi đưa vào cơ thể Khi vào cơ thể vaccine không hoặc gây phản ứng nhẹ mà cơ thể chịu đựng được còn gọi là phản ứng vacine Giá thành rẻ, không độc cho người, và dễ sử dụng Dễ dàng vận chuyển, bảo quản cũng như pha chế
2.3.2 Một số điều lưu ý khi sử dụng vaccine
Vaccine dùng để phòng bệnh vì thế chỉ nên dùng cho thú chưa mắc bệnh Nếu tiêm vào thú mắc bệnh rồi, bệnh có thể xảy ra sớm hơn, nặng hơn
Xác định thời điểm đưa vaccine vào cơ thể có tầm quan trọng đặc biệt Phải đảm bảo kháng nguyên không bị kháng thể thụ động trung hòa hết Muốn vậy phải kiểm tra hàm lượng kháng thể trước khi đưa vaccine vào
Xác định được mức độ miễn dịch của cơ thể Sau khi đưa vaccine vào cơ thể thì vaccine sẽ kích thích cơ thể có một đáp ứng miễn dịch Mức độ của đáp ứng miễn dịch phải được kiểm tra thường xuyên Nếu hiệu giá kháng thể giảm đến mức không thể bảo hộ thì phải chủ động tái chủng
Vaccine phòng bệnh nào chỉ phòng được bệnh đó, không phòng được bệnh khác
Trang 26Hiệu quả của vaccine phụ thuộc vào tình hình sức khoẻ của thú Vì vậy, chỉ nên dùng vaccine cho thú khoẻ mạnh, được nuôi dưỡng tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm và trưởng thành về hệ thống miễn dịch
Vaccine chỉ gây được miễn dịch từ 1- 3 tuần sau tiêm vaccine (tuỳ loại vaccine) Một
số vaccine có thể gây dị ứng
Bảo quản vaccine có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu lực vaccine
2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá vaccine (Lâm Thị Thu Hương, 2008)
An toàn: phản ứng phụ ít hoặc không có
Hiệu lực: phải tạo được sự bảo hộ cần thiết Vaccine phải ngăn cản hay giảm sự nhân
lên của mầm bệnh khi sơ nhiễm Vaccine làm ngăn hay giảm sự tồn tại hay hoạt hóa trở lại của mầm bệnh Ngăn không cho xảy ra bệnh hay giảm cường độ bệnh sau khi mầm bệnh xâm nhập Ngăn không cho truyền mầm bệnh sang con vật không bị nhiễm Phải bảo hộ được phôi thai và đàn con
Cách dùng: lúc gà con 3 ngày tuổi, nhỏ mắt, nhỏ mũi
Vaccine IBD BLEN
Vaccine sống, viên đông khô chế từ chủng 2512
Lọ 1.000 liều
Cách dùng: lúc gà 14 ngày tuổi, nhỏ mắt, nhỏ mũi
Trang 27Hình 2.3 Vaccine IBD Blen Phòng bệnh Newcastle
Vaccine Avinew
Vaccine sống chủng VG/VA
Lọ 1.000 liều
Cách dùng: lúc gà con 3 ngày tuổi, nhỏ mắt, nhỏ mũi
Đối với gà 23 ngày tuổi cho uống
Phòng bệnh Newcastle và Gumboro
Vaccine Gallimune 204 ND+IBD
Vaccine vô hoạt
Cách dùng: lúc gà con 5 ngày tuổi, chích dưới da ½ liều (0,15 ml)
Phòng bệnh đậu
Vaccine Fowl Pox Vaccine Live Virus
Vaccine sống
Lọ 1.000 liều
Cách dùng: lúc gà con 8 ngày tuổi, đâm xuyên cánh
Phòng bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
Trang 28Tất cả các loại vaccine được bảo quản ở 2-8 oC, tránh ánh sáng mặt trời
2.4 Sơ lược về kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng tại trại
2.4.1 Chọn gà con
Chọn con giống được ấp từ đàn gà giống đã được chọn lọc kỹ lưỡng, khỏe mạnh, nuôi dưỡng hợp lý Gà con phải đồng đều, phản ứng nhanh nhẹn, không bị dị tật, mỏ và chân vững chắc, màng da chân bóng
Trước khi mua gà con phải nắm được các thông tin về nguồn gốc đàn gà, uy tín của trại giống và nắm vững đặc tính năng suất của đàn gà sắp nuôi
2.4.2 Chuồng trại và trang thiết bị
Trước khi bắt gà chuẩn bị chuồng úm chu đáo, chuồng được dọn vệ sinh, sát trùng
và để trống chuồng 2 tuần trước khi nuôi đợt mới Rải trấu đều khắp mặt nền dày khoảng 3-5 cm
Gà 1 ngày tuổi đến 14 ngày tuổi
Được úm trong chuồng úm có kích thước: 2,5 m x 5 m x1,5 m, chung quanh che phủ bạt, khi cần có thể cuốn lên được
Gà 14 ngày tuổi đến xuất thịt
Gà sau giai đoạn úm, tùy theo mật độ chuồng sẽ được nới rộng lưới rào ra hoặc tách sang ô chuồng khác Chuồng nuôi lợp mái lá, chiều cao mái lá cách mặt đất 2 m, chiều cao nóc 5 m, nền chuồng bằng đất nện
Dụng cụ chăn nuôi
Máng ăn, máng uống được đặt đều khắp chuồng (7 m2/ máng)
Máng ăn
Gà 0 – 2 tuần tuổi: thức ăn được đổ trên những tờ giấy cứng
Gà trên 2 tuần: sử dụng máng nhựa treo có hình nón cụt ở giữa, đáy là hình vành khăn
Máng uống
Gà 0 – 2 tuần tuổi: sử dụng bình nhựa bán tự động loại 2 lít
Trang 29Gà từ 2 tuần đến xuất: sử dụng bình nhựa bán tự động loại 8 lít
Đèn úm
Trong giai đoạn úm, sử dụng đèn tròn 75 W bình quân 100 con/ 1 bóng
Trong giai đoạn nuôi thịt, sử dụng đèn chữ U cho ánh sáng trắng Đảm bảo sáng đều khắp chuồng để gà thấy thức ăn
2.4.3 Chăm sóc và nuôi dưỡng
Giai đoạn chuẩn bị
Vệ sinh chuồng trại thật kỹ
Dụng cụ: máng ăn, máng uống, xô nước,…và các dụng cụ có liên quan được rửa lại bằng nước pha thuốc sát trùng và phơi dưới ánh nắng mặt trời
Rào lưới, rải trấu, phủ bạt chuẩn bị chuồng úm sẵn sàng
Đèn úm được bật lên vài giờ trước khi gà đưa gà vào để nhiệt độ trong chuồng đạt tối
ưu
Giai đoạn úm gà
Nhiệt độ úm gà: trong tuần đầu phải đạt 33-35 0C Sang tuần thứ hai nhiệt độ trong chuồng được giảm xuống còn 31-33 0C Đến tuần thứ tư nhiệt độ còn khoảng 27-29 0C Quan sát sự phân bố của gà con trong chuồng có thể đánh giá tình trạng nhiệt: nếu nếu gà phân tán đều trong chuồng, gà linh hoạt là nhiệt độ đạt tối ưu, khi đó gà con ăn nhiều, khỏe và lớn nhanh Nếu gà con nằm tụm dưới nguồn nhiệt, ăn ít, uống nước ít là gà bị lạnh, cần tăng cường nguồn nhiệt Nếu gà nằm ở xa nguồn nhiệt, gà thở nhanh, ăn ít, uống nhiều nước là do nhiệt độ quá nóng cần giảm nguồn nhiệt (Lâm Minh Thuận, 2004) Ở trại dùng quạt và hệ thống phun sương để đạt được nhiệt độ tốt nhất theo thời điểm
Trang 30Ẩm độ chuồng úm gà con: tốt nhất ở mức từ 60-75 %, với mức ẩm độ này hơi nước trong phân bay nhanh, phân khô, gà khỏe mạnh
Chế độ chiếu sáng cho gà con: ánh sáng cần để gà nhận biết và lấy thức ăn nên trong tuần đầu chiếu sáng cho gà con 24 giờ trong ngày, giảm dần ở các tuần sau
Gà con mới bắt về cho nghĩ ngơi 30 phút sau đó cho uống Oxomid, Heparenol và Phosretic Ngày hôm sau mới cho ăn tự do
Hình 2.4 Chuồng úm gà
Trang 31Giai đoạn nuôi gà trên hai tuần tuổi
Gà được chia ra các chuồng nuôi
Chỉ thắp sáng đèn vào ban đêm
Hình 2.5 Chuồng gà trên 2 tuần tuổi 2.4.4 Vệ sinh
Xung quanh mỗi chuồng đều phát quang, không để bụi cây nhỏ rậm rạp cản trở sự bốc hơi nước, sự thông thoáng của chuồng
Trong quá trình nuôi gà thực hiện tốt qui trình vệ sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng trong chuồng nuôi cũng như trang thiết bị, thường xuyên có kế hoạch diệt ruồi, loài gậm nhấm
Sau mỗi đợt nuôi đều tổng vệ sinh như thu dọn phân và chất độn chuồng, cọ rửa
và phun thuốc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần
Trước khi nuôi đợt mới phun lại thuốc sát trùng, trải chất độn chuồng mới đã được
xử lý sạch, an toàn cho gà
Mỗi dãy chuồng có trang thiết bị riêng sử dụng trong chuồng đó
Công nhân phải được bố trí cố định cho từng chuồng, không qua lại chuồng khác tránh mang mầm bệnh từ đàn này sang đàn khác
Hạn chế khách tham quan vào khu vực chuồng trại
Trang 322.4.5 Qui trình phòng bệnh tại trại
Ngoài những bệnh phải chủng ngừa bằng vaccine, trại còn sử dụng kháng sinh để phòng một số bệnh trên đường tiêu hóa và hô hấp
Gà con mới nhập về cho uống kháng sinh Oxomid 20 (oxolinic acid) để phòng bệnh đường tiêu hóa
Bệnh CRD: ngừa 2 đợt, đợt I lúc 6 – 7 ngày tuổi cả 2 đàn đều sử dụng Tylan Soluble (tylosin); đợt II lúc 15 – 16 ngày tuổi, đàn I thuốc sử dụng là Tylan Soluble, đàn
II sử dụng CRD 92 (spiramycine + trimethoprime)
Cầu trùng: ngừa 2 đợt, đợt I lúc 8 ngày tuổi, trại dùng thuốc Avicoc (Sulfadimerazine + diaveridin) liên tục trong 5 ngày, đợt 2 lúc 22 – 24 ngày tuổi, sử dụng thuốc Anticoccida Drug (amprolium)
Trại cũng thường xuyên cung cấp chất điện giải, vitamin tổng hợp, men vi sinh và giải độc gan, thận cho đàn gà
2.5 Tình hình trại trước khi tiến hành khảo sát
Lúc bắt đầu đến trại (ngày 01/03/2010), trại còn khoảng 4.000 gà 25 ngày tuổi Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy đàn gà có biểu hiện: giảm ăn, giảm uống, tiêu chảy phân xanh, buồn bã, ủ rủ, dạt về 2 bên mép chuồng, một số con co giật, vẹo cổ ra sao, liệt chân bệnh tích đại thể khi mổ khám: xuất huyết ở dạ dày tuyến, ngã ba van hồi manh tràng, mãng lympho trên ruột sưng, xuất huyết, xuất huyết niêm mạc mắt, hậu môn Trại
đã tiến hành tiêu hủy toàn bộ số gà trên vào ngày 05/03/2010
Theo chủ trại, vào tháng 01/2010, trại nhập vào đàn I (4.000 con), 1 tuần sau nhập đàn II (6.000 con), 4 tuần sau đó trại nhập tiếp đàn III (4.000 con) Các đàn này được phòng Gumboro 2 lần, lần I: 14 ngày tuổi, lần II: 21 ngày tuổi bằng vaccine sống cấp bằng dường uống Lúc 2 – 3 tuần tuổi, cả 3 đàn đều xuất hiện các triệu chứng: sốt, ủ rủ, tiêu chảy phân trắng, chết khoảng 15 – 20 con/ngày/đàn Khi mổ khám nhận thấy có bệnh tích: túi fabricius sưng, xuất huyết; cơ đùi xuất huyết; thận sưng Với triệu chứng