1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL1 VÀ OL4 ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis sp.)

76 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 670,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA THỦY SẢN ---oOo--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL-1 VÀ OL-4 ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, SỰ TĂ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN -oOo -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL-1 VÀ OL-4 ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis sp.)

Sinh viên thực hiện : HUỲNH MINH HUY

Ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Niên khóa : 2006 - 2010

Tháng 8/2010

Trang 2

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL-1 VÀ OL-4 LÊN TỶ LỆ SỐNG, SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis sp.)

Tác giả

HUỲNH MINH HUY

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

PGS TS LÊ THANH HÙNG ThS ONG MỘC QUÝ

Tháng 8 năm 2010

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh;

Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh;

Cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học;

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lê Thanh Hùng, thầy Ong Mộc Quý

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị ở trại thực nghiệm Thủy Sản - Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Chân thành cảm ơn Công ty Aquativ đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực tập hoàn thành luận văn tốt nghiệp cuối khóa

Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp quý báu của quí thầy

cô và các bạn sinh viên để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu tác dụng của chất dẫn dụ OL-1 và OL-4 lên tỷ lệ sống, sự

tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus

Linnaeus, 1758)” được tiến hành tại trại thực nghiệm thủy sản trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 19 - 4 -2010 đến ngày 30- 6- 2010

Nghiên cứu bao gồm 1 thí nghiệm, với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần và được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên

- Nghiệm thức A: nghiệm thức đối chứng (không bổ sung chất dẫn dụ vào thức ăn)

- Nghiệm thức B: nghiệm thức có bổ sung chất dẫn dụ OL-1 vào thức ăn

- Nghiệm thức C: nghiệm thức có bổ sung chất dẫn dụ OL-4 vào thức ăn

Kết quả của thí nghiệm đạt được như sau:

- Tỷ lệ sống của cá sau thí nghiệm: NT A đạt 96,67%, NT B đạt 95,00% và NT

C đạt 98,33%

- Kết quả về tăng trưởng: Trọng lượng trung bình của cá sau thí nghiệm: NT A đạt 75,92g/con, NT B đạt 75,06g/con và NT C đạt 71,56g/con Tăng trọng của cá thí nghiệm: NT A đạt 64,40g/con, NT B đạt 63,24g/con và NT C đạt 60,25g/con Tăng trọng trung bình mỗi ngày: NT A đạt 0,92g/con/ngày, NT B đạt 0,90g/con/ngày và NT

C đạt 0,86g/con/ngày Tốc độ tăng trưởng đặc biệt: NT A đạt 2,75 %/con/ngày, NT B 2,70 %/con/ngày và NT C đạt 2,66 %/con/ngày

- Hiệu quả sử dụng thức ăn: Hệ số chuyển đổi thức ăn: NT A đạt 1,36, NT B đạt 1,39 và NT C đạt 1,49 Lượng ăn tuyệt đối: NT A đạt 1,26g/con/ngày, NT B đạt 1,27g/con/ngày và NT C đạt 1,24g/con/ngày Hiệu quả sử dụng protein: NT A đạt 3,10, NT B đạt 2,79 và NT C đạt 2,73

- Tỷ lệ sống của cá rô phi vằn ở thí nghiệm gây stress bằng ammonia: NT A đạt 17,50%, NT B đạt 45,00% và NT C đạt 70,00%

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH HÌNH ẢNH vii

DANH SÁCH ĐỒ THỊ viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 3

2.2 Thị trường cá rô phi trên thế giới 4

2.3 Lịch sử nhập nội cá rô phi ở Việt Nam 5

2.4 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 6

2.4.1 Nguồn gốc và sự phân bố 6

2.4.2 Vị trí phân loại 7

2.4.3 Đặc điểm hình thái 8

2.4.4 Tập tính sống 9

2.4.5 Đặc điểm dinh dưỡng 9

2.4.6 Đặc điểm sinh trưởng 10

2.4.7 Đặc điểm sinh sản 10

2.5 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi 11

2.5.1 Nhu cầu protein và các acid amin 11

2.5.2 Nhu cầu về lipid 12

2.5.3 Nhu cầu về carbohydrate .13

2.5.4 Nhu cầu về muối khoáng 13

Trang 6

2.5.5 Nhu cầu về vitamin 14

2.6 Chất dẫn dụ 14

2.6.1 Vai trò của chất dẫn dụ trong thức ăn cho động vật thủy sản 14

2.6.2 Một số chất có hoạt tính dẫn dụ 15

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Vật liệu nghiên cứu 18

3.3 Phương pháp nghiên cứu 20

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Các yếu tố môi trường 25

4.1.1 pH .25

4.1.2 Nhiệt độ 26

4.1.3 DO .28

4.1.4 NH3 29

4.2 Tỉ lệ sống 30

4.3 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 32

4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn 34

4.5 Thí nghiệm khả năng chịu đựng của cá rô phi vằn khi nồng độ ammonia thay đổi 35

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 43

Trang 7

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO Food and Agriculture Organization

Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh

USD United States Dollar

ICLARM International Center for Living Aquatic Resources Management GIFT Genetically Improvement of Farmed Tlapia

AIT Asian Institute of Technology

pH potential Hydrogenii

NRC National Research Council

SRAC Southern Regional Aquaculture Center

SGR Specific Growth rate

FCR Food Conversion Ratio

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Bản đồ khu vực phân bố chính sản lượng nuôi cá rô phi vằn 4

Hình 2.2 Bản đồ vùng phân bố tự nhiên của cá rô phi .6

Hình 2.3 Cá rô phi vằn 7

Hình 3.1 Máy trộn thức ăn 19

Hình 3.2 Chất dẫn dụ OL-1 và OL-4 .19

Hình 3.3 Chất dẫn dụ OL-4 .19

Hình 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

Hình 3.5 Thí nghiệm gây stress bằng ammonia .22

Trang 9

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1 Sản lượng nuôi cá rô phi vằn trên thế giới từ năm 1950 đến

năm 2007 .3

Đồ thị 2.2 Nguồn gốc cá rô phi tiêu thụ ở Mỹ vào năm 2007 .5

Đồ thị 3.1 Phân chia trọng lượng phân tử của chất dẫn dụ OL-4 22

Đồ thị 4.1 Biến động pH vào buổi sáng của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 25

Đồ thị 4.2 Biến động pH vào buổi chiều của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 26

Đồ thị 4.3 Biến động nhiệt độ vào buổi sáng của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 27

Đồ thị 4.4 Biến động nhiệt độ vào buổi chiều của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 27

Đồ thị 4.5 Biến động DO vào buổi sáng của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 28

Đồ thị 4.6 Biến động DO vào buổi chiều của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 29

Đồ thị 4.7 Biến động NH3 của 4 bể trong quá trình thí nghiệm 30

Đồ thị 4.8 Tỷ lệ sống của cá rô phi vằn thí nghiệm 31

Đồ thị 4.9 Tăng trưởng của cá rô phi vằn thí nghiệm 32

Đồ thị 4.10 FCR và FI của cá rô phi vằn thí nghiệm 34

Đồ thị 4.11 Hiệu quả sử dụng protein 35

Đồ thị 4.12 Tỷ lệ sống của cá rô phi vằn trong thí nghiệm gây stress bằng ammonia .36

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kiểu sinh sản của một số giống, loài cá rô phi 8

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong cùng điều kiện nuôi 10

Bảng 2.3 Nhu cầu protein của cá rô phi vằn 11

Bảng 2.4 Nhu cầu acid amin thiết yếu của cá rô phi vằn nuôi thương phẩm 12

Bảng 2.5 Nhu cầu vitamin cho tăng trưởng của cá rô phi vằn 14

Bảng 2.6 Thành phần dịch cá thủy phân (% vật chất khô) .16

Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của các loại bột nhuyễn thể (% vật chất khô) .17

Bảng 3.1 Thành phần thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 21

Bảng 3.2 Lấy mẫu và đếm số viên thức ăn 22

Bảng 4.1 Tỷ lệ sống của cá rô phi vằn ở các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm 30

Bảng 4.2 Tăng trưởng của cá rô phi vằn ở mỗi nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm 32

Bảng 4.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn ở các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm 34

Bảng 4.9 Kết quả thí nghiệm gây stress bằng ammonia sau 48 giờ 37

Trang 11

1

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong quá trình phát triển, do áp lực dân số nên nhu cầu thực phẩm không ngừng gia tăng Cá là nguồn thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, vị thơm ngon nên được rất nhiều người ưa chuộng Bên cạnh đó, nguồn cá đánh bắt được gần đạt mức bão hòa

và khó có thể tăng sản lượng Do đó, nuôi trồng thủy sản có nhiều điều kiện để phát triển và đáp ứng được mức thiếu hụt thực phẩm ngày càng nghiêm trọng

Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá phát triển rất mạnh mẽ với nhiều mô hình nuôi, nhiều đối tượng nuôi khác nhau đã đem lại hiệu quả thiết thực cho người nuôi và đóng góp rất lớn vào tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Bên cạnh những loài cá

có sản lượng cao như cá tra, cá basa,… cá rô phi cũng đúng góp một phần không nhỏ

vào tổng lượng cá xuất khẩu - sản lượng nuôi đạt 2.121.009 tấn năm 2007 (FAO

Fishery statistics, 2009) Rô phi đen (Oreochromis mossambicus) là loài cá rô phi đầu

tiên được nhập vào Việt Nam năm 1951 để bổ sung đối tượng nuôi thủy sản Các loài

cá rô phi khác như cá rô phi vằn (O niloticus), rô phi xanh (O.aureus) được nhập vào

nước ta năm 1973 và nhanh chóng trở thành những đối tượng nuôi quan trọng

Như chúng ta đã biết, bột cá là nguồn cung cấp protein quan trọng trong các loại thức ăn công nghiệp, chế biến thủ công Giá bột cá hiện nay đang tăng một cách nhanh chóng do sản lượng đánh bắt đã suy giảm, chi phí đánh bắt gia tăng Mặt khác,

do cạnh tranh giữa các ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và chế biến thực phẩm cho người nên đã góp phần đẩy giá bột cá lên cao Việc tìm các nguồn protein khác thay thế cho bột cá đang là vấn đề được người chăn nuôi rất quan tâm Có nhiều thử nghiệm thay thế dần bột cá bằng các nguồn protein khác (bánh dầu đậu nành, bánh dầu đậu phộng,…) trong thức ăn cho cá nhưng cá giảm ăn, ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá nuôi Do đó, chất dẫn dụ đã được sử dụng để kích thích tính ăn mồi và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của cá

Trang 12

Chính vì thế, được sự phân công của Khoa Thủy Sản trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng của chất dẫn dụ OL-1 và OL-4 đến tỷ lệ sống, sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn

- Hiệu quả sử dụng thức ăn

- Khả năng chịu đựng của cá rô phi vằn khi ammonia thay đổi

Trang 13

Đồ thị 2.1 Sản lượng nuôi cá rô phi vằn trên thế giới từ năm 1950 đến năm 2007

(Nguồn: FAO Fishery statistics, 2009)

Châu Á là nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất trên thế giới Các nước Châu Á đã đóng góp hơn 75% sản lượng nuôi cá rô phi của thế giới, trong đó chiếm 98% sản lượng cá

rô phi đen và 90% sản lượng cá rô phi vằn Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi cá

rô phi lớn nhất thế giới với sản lượng gia tăng không ngừng: năm 2001 đạt sản lượng 562.000 tấn, năm 2004 khoảng 897.300 tấn, được dùng cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Các nước Châu Á khác như Thái Lan, Philippine, Indonesia và Việt Nam là những nước có sản lượng nuôi cá rô phi cao; phần lớn cá rô phi ở các nước này dùng

cho tiêu thụ nội địa và một ít dùng cho xuất khẩu (FAO, Fishery statistics 2006)

Trang 14

Hình 2.1 Bản đồ khu vực phân bố chính sản lượng nuôi cá rô phi vằn năm 2006

(Nguồn: FAO Fishery Statistics, 2009)

2.2 Thị trường cá rô phi trên thế giới

Năm 2001, thị trường nhập khẩu cá rô phi trên thế giới là 56.337 tấn với giá trị

là 127.796.540 USD Năm 2005, sản lượng cá rô phi nhập khẩu trên toàn thế giới là 126.000 tấn, với tổng giá trị là 374.000.000 USD Đến năm 2006, sản lượng là

327.729 tấn, với tổng giá trị là 519.885.000 USD (FAO, 2009) Mỹ là thị trường nhập

khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới Mỹ bắt đầu nhập khẩu cá rô phi đông lạnh nguyên con

từ cuối thập niên 1980 Đến giữa thập kỉ 1990, lượng cá rô phi fillet đông lạnh và cá rô phi tươi nhập vào Mỹ gia tăng nhanh chóng Sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào Mỹ qua các năm như: năm 2006 nhập 158.300 tấn, năm 2007 nhập 173.700 tấn

(GLOBEFISH, 2009)

Trung Quốc là nước có sản lượng xuất khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới Sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc qua các năm: năm 2006 đạt 181.800 tấn, năm 2007 đạt 215.200 tấn, năm 2008 đạt 224.800 tấn, năm 2009 đạt 259.000 tấn Thị trường chính của Trung Quốc là Mỹ, ngoài ra còn Mexico, các nước Châu Âu,… Trung Quốc

và Ecuador là hai nước có sản lượng xuất khẩu cá rô phi sang Mỹ lớn nhất Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ dưới dạng fillet đông lạnh còn Ecuador thì chủ yếu

dưới dạng tươi sống (GlOBEFISH, 2009)

Trang 15

2.3 Lịch sử nhập nội cá rô phi ở Việt Nam

Năm 1951, cá rô phi đen (O.mossambicus) được nhập vào miền Nam Việt Nam

với mục đích bổ sung cho đối tượng thủy sản Sau đó, cá rô phi đen trở thành loài nuôi rộng rãi trong cả nước Tuy nhiên chúng dần dần mất hết đặc tính tốt do tình trạng dày đặc gây ra và biểu hiện những mặt hạn chế như thành thục sớm và sức sinh sản cao dẫn đến cá tăng trưởng chậm, kích thước thương phẩm nhỏ, năng suất thấp

Nhằm khắc phục tình trạng trên, dòng nuôi thương phẩm của cá rô phi vằn

(O.niloticus) được nhập từ Đài Loan vào miền Nam năm 1973 và chuyển ra miền Bắc

vào năm 1977 Do cá lớn nhanh, sức sinh sản thấp và kích thước thương phẩm lớn nên loài này được chấp nhận và trở thành một đối tượng nuôi quan trọng

Do quản lí giống không tốt, đến những năm 1980 loài cá rô phi vằn đã bị lai tạo không kiểm soát với loài cá rô phi đen cho ra con lai có chất lượng thấp (chậm lớn, sản lượng thấp và kích thước thương phẩm nhỏ)

Trang 16

Năm 1994, Việt Nam tham gia dự án phát tán và đánh giá loài cá rô phi cải thiện di truyền ở châu Á của ICLARM Thông qua dự án này cá rô phi được cải thiện

về chất lượng di truyền (GIFT) đã được giới thiệu ở Việt Nam

Cá rô phi dòng Thái cũng được giới thiệu vào Việt Nam năm 1994 từ Viện Kỹ thuật Á Châu (AIT)

Năm 1992, cá rô phi đỏ được giới thiệu nuôi tại Bình Dương Sau đó cá được giới thiệu cho các nhà hàng ở Tp.HCM dưới tên gọi là cá điêu hồng Với tên gọi mới, nhu cầu cá rô phi đỏ gia tăng nhanh chóng Để phục vụ cho nhu cầu phát triển ngày càng cao của cá rô phi đỏ, nhiều cơ quan cũng đã nhập cá rô phi từ Philippines và CuBa

Năm 1995, kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi toàn đực của AIT được chuyển giao cho Việt Nam Năm 1996, kỹ thuật này cũng đã được Khoa Thủy Sản của trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM chuyển giao cho các tỉnh thành phía nam

(Nguồn: Nguyễn Văn Tư, 2003)

2.4 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi

2.4.1 Nguồn gốc và sự phân bố

Những hóa thạch còn sót lại của cá rô phi được tìm thấy ở Châu Phi được xác định khoảng 18 triệu năm tuổi và những bức vẽ cá rô phi vằn được người Ai Cập cổ vẽ trên những hang động cách đây gần 5.000 năm đã chứng minh cá rô phi có vùng phân

bố tự nhiên ở Châu Phi (Fryer and Iles, 1972)

Hình 2.2 Bản đồ vùng phân bố tự nhiên của cá rô phi

(Nguồn: FAO, 2009)

Trang 17

7

Vào khoảng 1954, cá rô phi được nuôi đầu tiên ở Kenya, sau đó lan rộng ra khắp nơi ở Châu Phi Bên ngoài vùng phân bố tự nhiên, cá rô phi được đưa vào Java

năm 1939 bởi những người vô danh Ban đầu, chủ yếu là cá rô phi đen (Oreochromis

mossambicus), sau đó, cá rô phi vằn mới được phân bố rộng rãi trong những năm 1960

đến 1980 Cá rô phi vằn được du nhập vào Thái Lan vào năm 1965 từ Nhật Bản, sau

đó, được chuyển sang Philippines Năm 1971, chúng được chuyển vào Brazil và từ Brazil chuyển sang Mỹ vào năm 1974 Trung Quốc nhập cá rô phi vằn vào năm 1978

sau đó trở thành nước sản xuất cá rô phi dẫn đầu thế giới (FAO, 2008)

Do việc nhập cá rô phi và sự tạp lai giữa các loài cá rô phi khác nguồn mà không có sự kiểm soát đã dẫn đến sự thoái hóa giống Năm 1994, dự án phát tán và đánh giá loài cá rô phi cải thiện di truyền ở châu Á của ICLARM đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT với những ưu thế lai vượt trội khắc phục được những nhược điểm của các loài cá rô phi trước đó

Ngày nay việc giới thiệu hay du nhập cá rô phi cho mục đích thương phẩm hay thí nghiệm đã làm cho cá rô phi phân bố hầu như trên khắp thế giới: các nước ở Châu

Mỹ, Trung Đông, Châu Á,…

Trang 18

Các giống Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis khác nhau về hình thức sinh

sản Người ta tìm được 8 hay 9 loài có ý nghĩa trong nuôi trồng thủy sản

Bảng 2.1 Kiểu sinh sản của một số giống, loài cá rô phi

Tilapia

Cá đẻ cần giá thể Sau khi

đẻ, cá cái cùng cá đực tham gia bảo vệ tổ T.zillii, T.rendalli

Sarotherodon

Cá làm tổ,cá đực hay cá cái hoặc cả hai ấp trứng trong

Oreochromis Cá đực làm tổ, chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng

O.niloticus, O.mossambicus, O.aureus, O.urolepishomorum, O.andersonii, O.macrochin, O.spilurus (Nguồn: SRAC, 2009)

2.4.3 Đặc điểm hình thái

Cá rô phi thuộc họ Cichlidae, chúng có thể phân biệt với những họ cá xương khác bằng cơ quan đường bên gián đoạn chạy dọc từ sau nắp mang đến cuống đuôi và bởi sự xuất hiện của một lỗ mũi đơn trên mỗi mặt của mõm Đặc biệt hơn là một phiến hầu có khả năng nghiền thức ăn có nguồn gốc thực vật Trên hầu có những răng nhỏ,

có cảm giác nhám khi sờ vào

Đầu ngắn, đôi khi có gù Miệng rộng hướng ngang, hàm trên mỗi bên có 2 răng nanh Hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Mắt tròn nằm

ở nửa trước và phía trên của đầu Khoảng cách giữa hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên Toàn thân phủ vẩy lược Trên thân có từ 7-9 vạch sắc tố chạy từ lưng xuống bụng Các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng đậm khi còn nhỏ và nhạt dần khi trưởng thành Chiều cao thân khoảng từ 28-60% chiều dài

(Nguồn: Chhorn E Lim và Carl D.Wedster, 2006)

Trang 19

9

2.4.4 Tập tính sống

Cá sống thành đàn, hoạt động ở tầng giữa và tầng đáy Cá phát triển tốt trong môi trường rộng rãi, thông thoáng Khi hoảng sợ, cá hay chui mình xuống đáy ao Cá

rô phi chịu nóng tốt hơn chịu rét

Phần lớn cá rô phi nuôi thịt đều là cá nước ngọt, có nhiều loài là cá rộng muối Cá

rô phi đen có thể sống, sinh trưởng và sinh sản trong nước biển Loài cá rô phi vằn là loài chịu mặn kém nhất trong các loài cá rô phi nhưng có thể sinh trưởng tốt trong môi trường nước có độ mặn tới 15 ‰

Một số chỉ tiêu chất lượng nước :

Nhiệt độ: Giới hạn nhiệt độ cho sự sinh trưởng bình thường của cá rô phi là

20-310C, tối ưu là 29-310C

Độ mặn: là loài rộng muối

Oxygen hòa tan (DO): Cá rô phi có khả năng tự lấy oxygen từ lớp nước được bão hòa ở tầng mặt Khi tầng nước sâu bị thiếu oxygen, cá có thể nổi lên mặt nước để đưa oxygen bão hòa qua mang Ngưỡng DO thấp nhất mà cá có thể tồn tại là 0,1 mg/L (cá rô phi đen và cá rô phi vằn) Tuy nhiên, sự chuyển hóa thức ăn của cá rô phi đen và

cá rô phi vằn bị giảm khi oxygen hòa tan nhỏ hơn 2-3 mg/L, ngừng ăn khi oxygen hòa tan nhỏ hơn 1,5 mg/L

pH: cá rô phi có thể chịu được giới hạn rộng của pH từ 4-11 Nếu pH nhỏ hơn 5 thì ảnh hưởng xấu đến sự kết hợp của máu với oxygen, cá ngừng ăn, sinh trưởng kém

pH tăng lên kích thích cá ăn mồi, chết khi pH vượt qua 12

Ammonia (NH3) và nitrite (NO2): Nồng độ ammonia tổng cộng lớn hơn 20 mg/L có thể gây chết cá rô phi Nồng độ nitrite có rô phi vằn có thể tồn tại là 0,6 mg/L

(Nguồn: Nguyễn Văn Tư, 2003;Ngô Văn Ngọc, 2008)

2.4.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá rô phi thuộc nhóm cá ăn tạp với phổ thức ăn rộng chia làm 3 nhóm chính

như: mùn bả hữu cơ, các loài tảo như O.macrochir, S.galilaeus, S.esculentus… và các thủy sinh vật thượng đẳng như T zillii, T rendalli Ngoài ra cá rô phi còn ăn được thức ăn tổng hợp do con người cung cấp (Nguyễn Văn Tư, 2003)

Sau khi nở, cá bột dinh dưỡng bằng noãn hoàng Cá bột bơi tự do ăn phù du động vật và ăn tảo, thức ăn viên tổng hợp Cá đạt một tháng tuổi có thể ăn rau xanh

Trang 20

như bèo tấm Cá lớn ăn tạp thiên về mùn bã hữu cơ, rau xanh Trong ương nuôi có thể cho cá rô phi ăn một cách thường xuyên để kích thích sự sinh trưởng của cá rô phi Khẩu phần ăn và chất lượng thức ăn cải thiện một cách có ý nghĩa tỉ lệ sống và tăng

trưởng của cá bột Khẩu phần thức ăn tốt nhất là 40% đạm (Ngô Văn Ngọc, 2008)

2.4.6 Đặc điểm sinh trưởng

Cá đực lớn nhanh và có kích thước lớn hơn cá cái Sau 5 tháng nuôi, trọng lượng trung bình đạt từ 0,5-0,7kg/con Cá rô phi vằn có tốc độ có tốc độ tăng trưởng nhanh và khả năng sử dụng tốt thức ăn tự nhiên và bổ sung nên thường được nuôi thương phẩm Cá rô phi vằn đòi hỏi hàm lượng đạm trong khẩu phần thức ăn từ 20-

50% tùy theo kích thước (Ngô Văn Ngọc, 2008)

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong cùng điều kiện nuôi

Thời gian nuôi Trọng lượng trung bình

(Nguồn: Nguyễn Văn Tư, 2003)

2.4.7 Đặc điểm sinh sản

Cá rô phi bắt đầu sinh sản khá sớm thường khoảng 3-4 tháng là cá đã thành thục, đối với cá rô phi đen là 3 tháng tuổi, rô phi vằn và rô phi xanh là 5-6 tháng tuổi với cỡ trọng lượng nhỏ nhất là 40g

Đối với cá rô phi đen và cá rô phi vằn, khi sinh sản, cá đực làm tổ bằng cách đào hố trên đáy ao và chiến đấu chống lại cá đực khác, con cái thành thục đi đến nơi làm tổ mà ở đó con đực đang phô diễn một cách tích cực Việc bắt cặp và đẻ trứng nhanh con cái nhanh chóng nhặt trứng vào miệng ngay khi trứng vừa được thụ tinh bởi con đực Thời gian tái phát dục thường là 1-1,5 tháng và sức sinh sản thực tế khoảng

500-600 trứng/cá cỡ 300g (Nguồn: Ngô Văn Ngọc, 2008)

Trang 21

2.5 Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi

2.5.1 Nhu cầu protein và các acid amin

Protein là thành phần quan trọng của thức ăn cả về định tính và định lượng

Chúng tham gia cấu tạo cơ thể, thành phần của các enzyme, ảnh hưởng đến hoạt động

sống của sinh vật Đối với động vật thủy sản, protein là nguồn cung cấp năng lượng

hiệu quả cho các hoạt động sống của động vật thủy sản Trong thức ăn, protein là

thành phần dinh dưỡng khó thay thế nhất so với các thành phần khác của thức ăn

Protein được phân cắt thành các acid amin bởi các enzyme thủy phân protein là

endopeptidase và exopeptidase Sau đó, chúng được hấp thụ bởi các mô, các cơ quan

để đạt mục đích tăng trưởng và thay thế các mô già

Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn, nhằm thỏa mãn yêu

cầu các acid amin để đạt tăng trưởng tối đa (NRC, 1993; trích bởi Lê Thanh Hùng)

Bảng 2.3 Nhu cầu protein của cá rô phi vằn

Giai đoạn Nhu cầu Chế độ cho ăn Hệ thống nuôi Tác giả

Cá hương 35 15%/ngày Bể/trong nhà Santiago et al.,

(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008 )

Các loài cá có nhu cầu protein cao hơn rất nhiều so với gia súc, gia cầm Nhu

cầu protein của cá dao động từ 24-54% trong thức ăn, trung bình là 30% Đối với cá rô

phi vằn, nhiều nghiên cứu cho thấy nhu cầu protein của cá giống là 45%, của cá thịt là

Trang 22

30% và cao hơn trong thời kì sinh sản (Santiago và ctv, 1985; Chang và ctv trích

Phạm Ngọc Tịnh, 2005)

Nhu cầu protein chính là nhu cầu protein thiết yếu Người ta đã xác định 10 loại acid amin thiết yếu trên 30 loài cá và một số giáp xác thủy sinh Có nhiều phương pháp xác định nhu cầu các protein thiết yếu, nhưng dù theo phương pháp nào thì kết quả các phương pháp cũng như nhau

Bảng 2.4 Nhu cầu acid amin thiết yếu của cá rô phi vằn nuôi thương phẩm Acid amin thiết yếu Nhu cầu (% protein)

(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008)

Nhu cầu acid amin thiết yếu thường tính theo % mức protein, không khác nhau nhiều giữa các giống loài Riêng nhu cầu methionine và phenylalanine có sự khác nhau giữa các loài cá Sự khác nhau này do khả năng chia sẻ với cystein và tyrosine Ngược lại, nhu cầu acid amin thiết yếu tính theo % vật chất khô khác biệt rất lớn giữa các loài

cá khảo sát

2.5.2 Nhu cầu về lipid

Lipid là một hợp chất hữu cơ, bao gồm nhiều nhóm hóa học và chưa có sự thống nhất trong việc phân loại Lipid trong cơ thể sinh vật có hai chức năng chính: thứ nhất là cung cấp và dự trữ năng lượng; thứ hai là tham gia cấu trúc màng tế bào và giữ cho các màng cơ bản bền vững và ổn định Ngoài ra lipid còn tham gia biến dưỡng

trung gian trong cơ thể sinh vật (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 23

Acid béo là thành phần chính trong lipid, thường hiện diện dưới dạng ester trong các lipid Acid béo thiết yếu là những acid béo rất cần thiết cho động vật thủy sản, chúng không được tổng hợp trong cơ thể và phải lấy từ thức ăn Trong dinh dưỡng thủy sản, hai họ acid béo n3 và n6 được chú ý đặc biệt Vai trò của các acid béo này rất quan trọng trong biến dưỡng Nếu thiếu các acid béo thiết yếu này sẽ giảm tăng trưởng

và hiệu quả sử dụng thức ăn thấp Nhu cầu 18:2n6 của cá rô phi vằn là 0,5% trong thức

ăn (Nguồn: Guillaume, 1999; Glencross và Smith, 2001, trích bởi Lê Thanh Hùng,

2008)

Nhiều thí nghiệm trên cá rô phi vằn cho thấy: khi thức ăn chỉ chứa oleic acid hay lauric acid, cá tăng trưởng thấp hơn đối chứng Cá đạt tăng trưởng tốt nhất khi bổ sung 0,5-15 linoleic acid Acid béo 18:2n6 tác động đến tăng trưởng nhiều hơn acid béo 18:3n3 Mặc dù cá rô phi vằn cần cả hai loại acid béo này, nhưng cần nhiều n6

hơn n3 (Lê Thanh Hùng, 2008)

2.5.3 Nhu cầu về carbohydrate

Carbohydrate là hợp chất hữu cơ chứa C, H, O hiện diện phổ biến trong thức

ăn Carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng đáng kể cho các loài cá ăn tạp và ăn thực vật Chúng không phải là thành phần dinh dưỡng cần thiết trong thức ăn thủy sản

và các động vật thủy sản cũng không có nhu cầu carbohydrate trong thức ăn như acid amin và acid béo thiết yếu Tuy nhiên, carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền Khi thiếu nguồn năng lượng này trong thức ăn, cá và động vật thủy sản sẽ sử dụng protein và lipid làm năng lượng Một số loài cá, đặc biệt là cá ăn tạp dùng carbohydrate trong thức ăn, sẽ giúp cá tăng trưởng tốt hơn và sử dụng protein tốt hơn

(Lê Thanh Hùng, 2008)

Tinh bột thường được sử dụng làm nguồn cung cấp năng lượng thay thế cho protein và lipid Trong công nghiệp chế biến thức ăn, tinh bột còn được sử dụng như chất kết dính

2.5.4 Nhu cầu về muối khoáng

Các khoáng chất có vai trò quan trọng trong thành phần cấu tạo cơ thể của động vật thủy sản Chúng tham gia vào cấu tạo xương, răng , trong việc việc duy trì pH của máu,…Nhu cầu muối khoáng của cá và giáp xác người ta mới xác định được với 4

nguyên tố đa lượng và 7 nguyên tố vi lượng (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 24

Cá có khả năng hấp thu muối khoáng từ môi trường nước nên nhu cầu muối khoáng của chúng thường thấp hơn so với động vật trên cạn Các nguyên tố vi lượng

tuy có nhu cầu thấp nhưng đóng vai trò quan trọng trong biến dưỡng (Lê Thanh Hùng,

2008)

2.5.5 Nhu cầu về vitamin

Vitamin là nhóm chất hữu cơ hiện diện trong thức ăn với một lượng rất nhỏ mà

cơ thể sinh vật không tổng hợp được hay tổng hợp không đủ cho nhu cầu Chất hữu cơ này không phải là các acid amin hay acid béo thiết yếu, chúng giữ một vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng và sự thiếu hụt lâu dài các chất dinh dưỡng này đến sự xuất

hiện các triệu chứng bệnh (Lê Thanh Hùng, 2008)

Bảng 2.5 Nhu cầu vitamin cho tăng trưởng của cá rô phi vằn

2.6.1 Vai trò của chất dẫn dụ trong thức ăn cho động vật thủy sản

Chất dẫn dụ là những chất được cho vào thức ăn nhằm kích thích khả năng ăn mồi của động vật thủy sản Một khẩu phần thức ăn đầy đủ dinh dưỡng vẫn không mang lại hiệu quả về tăng trưởng và kinh tế, nếu không được tôm cá ăn hết Chất dẫn

dụ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ hợp khẩu phần, làm cho thức ăn chế biến hợp khẩu vị của từng giống loài

Tập tính tìm mồi và ăn mồi của động vật thủy sản do cơ quan khướu giác và vị giác điều khiển, với những thụ thể hóa học phân bố ở râu, càng, môi…Cơ quan vị giác đóng vai trò quan trọng hơn khướu giác, trong tìm mồi và ăn mồi Khả năng khướu

Trang 25

giác của tôm cá khác nhau tùy loài và nhạy hơn khướu giác của người khoảng 2.500 lần Tôm cá nhận biết thức ăn và cảm giác ngon ăn thông qua những thành phần hóa học hòa tan, tác dụng lên các thụ thể hóa học Nhờ đó, tôm cá phát hiện thức ăn từ

2.000-xa và đánh giá thức ăn ngon hay dở Quá trình săn tìm và lấy thức ăn của tôm cá gồm các bước sau:

- Nhận biết sự hiện diện của thức ăn

- Định hướng và tìm đến chỗ có thức ăn

- Tiêu thụ và đánh giá thức ăn, thông qua việc ăn nhiều hay ít

Trong thức ăn viên tổng hợp mà chủ yếu là các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật nên không hấp dẫn cá nên vai trò của chất dẫn dụ trong thức ăn là rất quan trọng

(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008)

- Các phân tử peptide trong quá trình thủy phân protein cũng có tính dẫn dụ tốt Dung dịch thủy phân cá và nhuyễn thể được bổ sung vào thức ăn với tỉ lệ sử dụng trung bình là 1-5 %, phụ thuộc vào đối tượng và nguyên liệu

- Các thành phần chất béo của thức ăn cũng có tác dụng dẫn dụ trên tôm cá Phospholipid và các dẫn xuất của chúng có tác dụng như chất dẫn dụ trên cá tráp đuôi

đỏ và bào ngư (Haliotis sp) Sử dụng dầu cá hay dầu gan mực đều dẫn dụ được tôm sú

- Một số hợp chất nitơ có tính dẫn dụ như trimethylamine, taurine…cũng như

một số đường đơn có tính dẫn dụ tốt (Lê Thanh Hùng, 2008)

2.6.2.1 Betaine (Trimethyl glycine)

Betaine là hợp chất chứa nitơ phi protein, chúng có nguồn gốc từ tự nhiên, có nhiều trong các nguồn thức ăn biển Trong công nghiệp chúng được sản xuất từ rỉ mật của củ cải đường Betaine vừa là nguồn cung cấp gốc methyl, vừa là chất dẫn dụ động

vật thủy sản (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 26

Trong cơ thể sinh vật, betaine được tổng hợp ở gan và mật nhưng với một lượng rất nhỏ Methionine và betaine đều là những chất cung cấp gốc methyl cho các phản ứng methyl hóa nhưng betaine hiệu quả hơn do chứa ba gốc methyl và trọng lượng phân tử thấp Do đó, việc bổ sung betaine vào thức ăn, giúp nâng cao sự tăng trưởng, cải thiện vị ngon, tăng tính hấp dẫn và giảm nhu cầu methionine trong thức ăn

(Lê Thanh Hùng, 2008)

2.6.2.2 Dịch cá thủy phân

Những phụ phẩm của quá trình chế biến bột cá, qua một số quá trình chưng cất, thủy phân tạo ra sản phẩm dịch cá thủy phân Chúng có màu vàng nâu, chứa 90% vật chất khô, hàm lượng protein dao động từ 62-80% tùy thuộc vào giống loài cá sử dụng

và mùa vụ khai thác Dịch cá thủy phân chứa nhiều các amino acid tự do và các

peptide nên được sử dụng trong thức ăn thủy sản như là chất dẫn dụ (Lê Thanh Hùng,

(Nguồn: Hertrampf và Piedad- Pascual, 2000, trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)

Nhiều thí nghiệm trên cá chép và cá rô phi với việc bổ sung 2% dịch cá thủy phân vào thức ăn đều cho kết quả tốt hơn so với việc không bổ sung chất này Trong các thí nghiệm khác, việc tăng nguồn protein thực vật và giảm lượng bột cá trong thức

ăn, làm cá giảm ăn Thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM trên cá da trơn cho thấy: khi bổ sung 2% dịch cá thủy phân vào công thức chứa tỉ lệ cao bã đậu nành

làm cá ăn nhiều hơn, tăng 12-15% so với đối chứng (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 27

2.6.2.3 Bột nhuyễn thể, bột gan mực

Bột nhuyễn thể được sản xuất từ nguồn nguyên liệu phụ phẩm trong công nghiệp chế biến mực đông lạnh Chúng được thủy phân cho ra dung dịch gồm: các peptide, amino acid, dầu mỡ…Phần dầu được li tâm cho ra dầu gan mực, phần còn lại được cho thêm chất nền là vỏ đậu nành rồi sấy khô cho ra bột gan mực Bột nhuyễn thể và bột gan mực chứa một tỉ lệ cao các amino acid nên có tính hấp dẫn cao đối với tôm cá

Bột nhuyễn thể chứa thành phần protein rất cao, khoảng 70-80% Bột gan mực chứa hàm lượng protein khoảng 50%, chứa nhiều glycine và betaine vì cấu tạo 2/3 từ

vỏ đậu nành Chúng là nguồn cung cấp protein cao cấp, được sử dụng trong ương nuôi tôm, các loài cá biển

Nhiều thí nghiệm cho thấy hiệu quả tối ưu của bột nhuyễn thể so với bột cá và dịch cá thủy phân Ngoài việc cung cấp một giá trị lớn protein, bột nhuyễn thể còn có tính dẫn dụ và kích thích tăng trưởng của tôm, cá

Bột gan mực có giá trị protein thấp hơn, nhưng nó có tính dẫn dụ rất mạnh Trong 100g mực tươi, chứa 600-900mg glycine Trong sản xuất thức ăn tôm cá, bột gan mực được sử dụng với tỉ lệ 3-5%

Bảng 2.7 Thành phần dinh dưỡng của các loại bột nhuyễn thể (% vật chất khô) Thành phần Bột mực Bột gan mực Nội tạng mực tươi

Trang 28

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM từ ngày 19- 4 -2010 đến ngày 30- 6- 2010

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng dùng trong thí nghiệm là cá rô phi vằn, có trọng lượng trung bình 11,13g Có nguồn gốc từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sau khi chuyển cá về, cá được nuôi trong bể khoảng 1 tuần cho thích nghi với điều kiện môi trường nước của trại Sau đó, tiến hành chọn cá có chất lượng tốt, khỏe mạnh, không bị sây sát, bơi lội nhanh nhẹn, kích cỡ đồng đều để tiến hành bố trí thí nghiệm

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu

Hệ thống bể xi măng gồm 4 bể, kích thước mỗi bể là 2 x 2,5 x 1 m

Hệ thống giai thí nghiệm gồm 12 giai, kích thước mỗi giai là 1 x 1 x 1m

Máy trộn thức ăn, máy phun thức ăn

Cân điện tử

Nhiệt kế

Máy đo DO hiệu HANNAN

Test pH hiệu Sera

Thau, vợt vớt cá

Thước đo có độ chính xác là 1mm, giấy kẻ ô ly

Thức ăn cho cá: sử dụng thức ăn viên công nghiệp dạng nổi của công ty Lái Thiêu, với cỡ thức ăn là 2mm (cho ăn trong vòng 5 tuần đầu thí nghiệm) và 3mm (cho

ăn trong vòng 5 tuần cuối thí nghiệm)

Chất dẫn dụ OL-1 và OL-4 do công ty Aquativ cung cấp

Trang 29

Hình 3.2 Chất dẫn dụ OL-1 và OL-4 Hình 3.3 Chất dẫn dụ OL-4

Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của chất dẫn dụ OL-4:

Đồ thị 3.1 Phân chia trọng lượng phân tử của chất dẫn dụ OL-4

(Nguồn: Công ty Aquativ, 2010)

Trọng lượng phân tử (Dalton)

Trang 30

Kết quả phân tích vi khuẩn của sản phẩm OL-4:

- Nghiệm thức A: nghiệm thức đối chứng (không bổ sung chất dẫn dụ OL-1 và OL-4)

- Nghiệm thức B: nghiệm thức có bổ sung 3% OL-1 vào thức ăn có kích cỡ là 2mm và 1,8% OL-1 vào thức ăn có kích cỡ là 3mm

- Nghiệm thức C: nghiệm thức có bổ sung 3% OL-4 vào thức ăn có kích cỡ là 2mm và 1,8% OL-4 vào thức ăn có kích cỡ là 3mm

Trang 31

3.3.2 Chuẩn bị thức ăn

Thành phần dưỡng chất của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm:

Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

3.3.3 Chăm sóc và quản lí

Thành phần (%)

Trang 32

Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp dạng viên nổi Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần cho ăn khoảng 2 giờ (7 giờ- 9 giờ và 15 giờ- 17 giờ) Cho

cá ăn với lượng thức ăn thỏa mãn nhu cầu tối đa của chúng Sau 2 giờ cho ăn, chúng tôi tiến hành thu thức ăn thừa bằng vợt, đếm và cân trọng lượng Thức ăn thừa được ghi nhận lại để tính lượng thức ăn thí nghiệm Lượng thức ăn thừa được xác định bằng cách đếm số lượng viên thừa Lấy mẫu thức ăn, cân trọng lượng và đếm số lượng viên

để làm cơ sở tính toán lượng thức ăn tiêu thụ và thức ăn thừa mỗi ngày

Bảng 3.2 Lấy mẫu và đếm số viên thức ăn

Lần 20g thức ăn 2mm (viên) 50g thức ăn 3mm (viên)

Sau khi kết thúc 10 tuần thí nghiệm, chúng tôi tiến hành thử ammonia trong thời gian là 48 giờ Cá rô phi ở mỗi lô được bố trí vào những thùng có thể tích 50L với mật độ 10 con/thùng Nồng độ NH3 sử dụng là 150mg/L với mức pH là 8,0 và nhiệt độ dao động từ 29,9- 31,2 Sục khí liên tục trong khoảng thời gian thí nghiệm thử ammonia Sau 24 giờ, chúng tôi tiến hành thay nước cũ với nồng độ như lúc đầu pH luôn được giữ ở mức 8,0 trong suốt thời gian thí nghiệm ammonia

Trang 33

Nhiệt độ nước: được đo bằng nhiệt kế 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 16 giờ

Oxy hòa tan: được đo 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 16 giờ máy đo DO

pH: đo 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 16 giờ bằng test pH vào ngày thứ hai và thứ năm hàng tuần

Ammonia tổng số: Mẫu nước trong bể được thu 1 lần/tuần để xác định hàm lượng ammonia tổng số (mg/L) trong nước bằng phương pháp chuẩn độ so màu Thu mẫu vào lúc 8h sáng ngày thứ năm hàng tuần

3.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi cá thí nghiệm

W1 : trọng lượng trung bình của cá lúc bắt đầu thí nghiệm (g)

W2 : trọng lượng trung bình của cá lúc kết thúc thí nghiệm (g)

Tăng trọng trung bình mỗi ngày (DWG – Daily Weight Gain) (g/ngày)

Trang 34

Tổng lượng ăn Tổng số cá x Số ngày thí nghiệm

W2 – W1Protein trong thức ăn

x 100

W1 : trọng lượng trung bình của cá lúc bắt đầu thí nghiệm (g)

W2 : trọng lượng trung bình của cá lúc kết thúc thí nghiệm (g)

t : thời gian thí nghiệm (ngày)

Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR – Specific Growth rate) ( %/ngày )

Hệ số biến đổi thức ăn (FCR – Food Conversion Ratio)

Lượng ăn tuyệt đối (FI – Feed Instake) (g/ngày)

Hiệu quả sử dụng protein (PER- Protein Efficiency Ratio)

Trong đó:

W1 : trọng lượng trung bình của cá lúc bắt đầu thí nghiệm (g)

W2 : trọng lượng trung bình của cá lúc kết thúc thí nghiệm (g)

3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu

Các số liệu được ghi chép cẩn thận trong suốt quá trình thí nghiệm để tính tỉ lệ sống, tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm Các số liệu về tỷ lệ sống, tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc biệt, lượng ăn tuyệt đối, hệ số biến đổi thức

ăn, hiệu quả sử dụng protein và tỷ lệ sống của cá rô phi vằn trong thí nghiệm gây stress bằng ammonia được tính toán dựa theo kết quả trung bình của các lần lặp lại Sử dụng

Trang 35

Chất lượng nước là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sống

và phát triển của động vật thủy sản Những tính chất vật lý và các thành phần hóa học của môi trường nước ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình biến đổi sinh lý và bệnh lý của động vật thủy sản Chính vì thế, việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nước là rất cần thiết để quản lí, điều chỉnh các thông số môi trường phù hợp với sự sống và phát triển bình thường của vật nuôi

4.1.1 pH

Các giá trị pH trong suốt thời gian thí nghiệm được thể hiện ở đồ thị 4.1và 4.2

pH

Trang 36

Đồ thị 4.2 Biến động pH vào buổi sáng của 4 bể trong quá trình thí nghiệm

Dựa vào đồ thị 4.1, chúng tôi nhận thấy pH buồi sáng của 4 bể thường dao động trong khoảng 7,0-7,5 Trong những tuần cuối thí nghiệm, thời tiết thay đổi nhiều nhưng thường chỉ có mưa vào buổi chiều nên pH buổi sáng vẫn tương đối ổn định Nhìn chung, xu hướng pH của 4 bể trong quá trình thí nghiệm không có sự dao động quá lớn giữa các tuần thí nghiệm pH trung bình của bể 2 có giá trị cao nhất (7,28), kế tiếp là bể 3 (7,22), bể 4 (7,20) và cuối cùng là bể 1 (7,18)

Đồ thị 4.2 Biến động pH vào buổi chiều của 4 bể trong quá trình thí nghiệm

Qua đồ thị 4.2, chúng tôi nhận thấy pH của các bể vào buổi chiều thường dao động trong khoảng 7,5-8,0 Trong 5 tuần đầu, không có mưa và tảo phát triển với mật

độ dày nên pH đạt mức cao nằm trong khoảng 7,8- 8,5 Những 5 tuần cuối, thời tiết

Ngày

pH

Ngày

Trang 37

thay đổi thất thường nên pH không ổn định nằm trong khoảng 7,0-8,0 Nhìn chung, pH của 4 bể vào buổi chiều có xu hướng giảm xuống theo thời gian thí nghiệm Bể 1 đạt

pH cao nhất (7,66), kế tiếp là bể 2 (7,63), bể 3 (7,58) và cuối cùng là bể 4 (7,57)

Cá rô phi chịu đựng được mức pH từ 3,7-10,3 (Balarin và Haller, 1982) Tuy nhiên, pH thích hợp cho cá rô phi vằn phát triển tốt là 6,0-8,0 (Ngô Văn ngọc, 2008)

Do đó, giá trị pH ở các nghiệm thức là hoàn toàn thích hợp cho sự phát triển của cá

4.1.2 Nhiệt độ

Trong suốt quá trình thí nghiệm, nhiệt độ dao động giữa các tuần khá cao do thời tiết thay đổi thất thường Nhìn chung, nhiệt độ của 4 bể trong suốt quá trình thí nghiệm chỉ đạt mức cao trong từ đầu tuần 3 đến cuối tuần 5, còn lại thì giảm xuống

Bể 2 có nhiệt độ trung bình cao nhất (buổi sáng là 30,730C và buổi chiều là 32,580C), đây cũng là bể nhận nhiều nhiệt nhất Bể 3 có nhiệt độ trung bình vào buổi sáng là 30,690C và buổi chiều là 32,350C Bể 1 có nhiệt độ trung bình vào buổi sáng là 30,270C và buổi chiều là 32,040C Bể 4 có mức nhiệt độ trung bình thấp nhất (buổi sáng 30,270C và buổi chiều là 31,680C), do bể này bị che phủ một phần do cây cối

Đồ thị 4.3 Biến động nhiệt độ vào buổi sáng của 4 bể trong quá trình thí nghiệm

Qua đồ thị 4.3, chúng tôi nhận thấy nhiệt độ buổi sáng trong 2 tuần đầu thí nghiệm ở mức 29,5- 30,70C Từ đầu tuần 3 đến cuối tuần thứ 5, do nằm trong đợt nắng nóng nên nhiệt độ của các bể luôn ở mức cao nằm trong khoảng 30,5-31,70C đạt mức

Ngày

Trang 38

cao nhất là 32,20C vào ngày 28 ở bể 2 Trong những tuần cuối của thí nghiệm, nhiệt độ giảm do có mưa nhiều, nhiệt độ thường dao động trong khoảng 28,6- 31,10C

Đồ thị 4.4 Biến động nhiệt độ vào buổi chiều của 4 bể trong quá trình thí nghiệm

Dựa vào đồ thị 4.4, chúng tôi thấy nhiệt độ vào buổi chiều của các bể trong suốt quá trình thí nghiệm có sự dao động lớn giữa các tuần thí nghiệm Trong 5 tuần đầu thí nghiệm, nhiệt độ đạt mức cao nằm trong khoảng 32,0- 33,80C, có những ngày nhiệt độ đạt mức 34,0 hay 34,10C Trong 5 tuần cuối, do mưa bắt đầu nhiều và xen kẻ với những ngày nắng nóng nên nhiệt độ dao động nhiều nằm trong khoảng 30,0-32,80C

Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ dao động trong khoảng 28,3 -34,10C Ngưỡng nhiệt độ giới hạn của cá rô phi là 10,5-420C, nhiệt độ tối ưu là 28-320C (Chervinski, 1982; Balarin và Haller, 1982) Do đó, nhiệt độ ở các bể thí nghiệm là hoàn toàn thích hợp cho sự phát triển bình thường của cá

4.1.3 DO

Trong thời gian thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy DO dao động giữa các tuần khá lớn Nhìn chung, DO buổi sáng có xu hướng tăng theo thời gian thí nghiệm còn DO buổi chiều có xu hướng giảm theo thời gian thí nghiệm Trong tuần đầu, tảo chưa phát triển nên DO biến động trong ngày không lớn và chất lượng nước còn tốt nên DO luôn

ở mức cao Từ đầu tuần thứ 3 đến cuối tuần thứ 5, tảo phát triển mạnh nên lượng DO dao động trong ngày rất lớn Trong những tuần cuối, có thể do mưa nhiều làm pH giảm xuống nên tảo chết Mặt khác, do chất lượng nước bắt đầu xấu đi nên chúng tôi

Ngày

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm