BÙI HỮU HUYNH KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ TẠI TRẠI HEO HIỀN THOA Khóa luận được đệ trình để áp ứng yêu cầu cấp b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI-THÚ Y
************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN NÁI SAU KHI SINH VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON
THEO MẸ TẠI TRẠI HEO HIỀN THOA
Sinh viên thực hiện : Bùi Hữu Huynh Lớp : DH05TY
Ngành : Thú Y
Niên khóa : 2005-2010
Tháng 08/2010
Trang 2BÙI HỮU HUYNH
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ TẠI TRẠI HEO HIỀN THOA
Khóa luận được đệ trình để áp ứng yêu cầu cấp bằng bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Trang 3Tháng 08/2010
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: BÙI HỮU HUYNH
Tên luận văn: “KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO
CON THEO MẸ TẠI TRẠI HEO HIỀN THOA”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Ngày /………./……… /………
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng quý thầy cô các khoa và Bệnh Viện Thú Y – Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tâm truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học
Chân thành cảm ơn Chú Võ Văn Hiền và toàn thể anh chị em công nhân trại heo Hiền Thoa đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập ở trại
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Văn Phát đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Sau cùng, rất biết ơn đến cha mẹ, anh chị em, cùng các bạn trong và ngoài lớp Thú Y 31 đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong những năm học vừa qua, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức và năng lực nên luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, mặc dù tôi rất tâm huyết về lĩnh vực nghiên cứu này Tôi xin trân trọng đón nhận sự đánh giá và đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và bạn đọc
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Bùi Hữu Huynh
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát tình hình viêm vú, viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại heo Hiền Thoa” tại Đức Linh – Bình Thuận từ ngày 04/03/2010 đến ngày 07/06/2010 Chúng tôi ghi nhận kết quả như sau:
Tỷ lệ viêm tử cung là 32,30%, trong đó viêm dạng nhờn (34,62%) và viêm dạng
mủ (65,38% ), không có trường hợp nái bị tử cung dạng máu mủ và nái viêm vú
Trọng lượng cai sữa bình quân ở nhóm thể trạng nái bình thường (5,82 kg/con), nhóm nái viêm dạng nhờn (5,74 kg/con), nhóm nái viêm dạng mủ (5,36 kg/con)
Tỷ lệ nuôi sống heo con đến cai sữa cao nhất ở nhóm nái bình thường (90,14%), nhóm nái viêm dạng nhờn (84,47%), thấp nhất ở nhóm nái viêm dạng
mủ (83,33%)
Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo lứa đẻ, cao nhất ở nhóm nái đẻ lứa 2 (5,72%),
kế đến là nhóm nái đẻ lứa 1 (5,71%), nhóm nái ≥ 6 lứa (5,35%), nhóm nái đẻ lứa 3 (4,82%), nhóm nái đẻ lứa 5 (4,29%) thấp nhất ở nhóm nái đẻ lứa 4 (4,22%) Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở nhóm nái viêm tử cung dạng mủ cao nhất (5,87%), kế đến nhóm nái viêm dạng nhờn (5,30%) và thấp nhất ở nhóm nái bình thường (4,76%)
Kết quả phân lập 10 mẫu phân heo con tiêu chảy cho thấy tỷ lệ nhiễm E
coli là 100% Vi khuẩn E coli mẫn cảm 80% với gentamycin
Kết quả phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung cho thấy có sự hiện diện
của Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Kết quả thử kháng sinh đồ vi khuẩn S aureus nhạy cảm cao nhất với gentamycin (77,78%) Streptococcus spp
đề kháng hầu hết với các kháng sinh được thử, ngoại trừ amoxcillin (50%)
Tỷ lệ khỏi bệnh viêm tử cung trên nái sau điều trị là 92,31% Trong đó tỷ
lệ điều trị khỏi ở nhóm nái viêm dạng nhờn 94,44%, nhóm nái viêm dạng mủ là 91,18%
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
Chương MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HIỀN THOA 3
2.1.1 Vị trí 3
2.1.2 Lịch sử về trại 3
2.1.3 Cơ cấu đàn 3
2.1.4 Công tác giống 3
2.1.5 Điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc 4
2.1.5.1 Hệ thống chuồng trại 4
5.1.5.2 Nuôi dưỡng chăm sóc 5
2.1.5.3 Thức ăn 6
2.1.5.4 Quy trình tiêm phòng của trại 7
2.2 viêm vú, viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh 8
2.2.1 Viêm vú 8
2.2.2 Viêm tử cung 9
2.2.2.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung 10
2.2.2.2 Tác hại của bệnh viêm tử cung 12
2.2.2.3 Triệu chứng 13
2.3 Bệnh tiêu chảy trên heo con 14
2.3.1 Nguyên nhân 14
3.3.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa trên heo con 15
Trang 72.3.1.2 Do chăm sóc quản lý 15
Chương 3.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 19
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 19
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 19
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 19
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN NÁI SAU KHI SINH 22
4.1.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi qua các tháng khảo sát 22
4.1.3 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên nái theo tháng khảo sát 23
4.1.5 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung trên số nái viêm 26
4.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ 28
4.2.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con theo mẹ 28
4.2.4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn trong phân tiêu chảy heo con 34
Hiệu quả điều trị viêm tử cung trên nái tại trại 39
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 KẾT LUẬN 41
5.2 ĐỀ NGHỊ 42
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn 6
Bảng 4 1 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 22
Bảng 4 2 Bảng nhiệt độ ẩm độ tối ưu 22
Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên nái theo tháng khảo sát 23
Bảng 4.4 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát 25
Bảng 4.5 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung trên số nái viêm 26
Bảng 4.6 Tỷ lệ thai khô và chết tươi theo thể trạng nái 27
Bảng 4.7 Thời gian trung bình lên giống lại sau cai sữa 27
Bảng 4 8 Số heo con sơ sinh, chọn nuôi, trọng lượng sơ sinh bình quân trên ổ theo thể trạng nái 28
Bảng 4.9 Số heo con cai sữa, trọng lượng cai sữa bình quân trên ổ, tỷ lệ nuôi sống theo thể trạng nái 30
Bảng 4.10 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến cai sữa theo thể trạng nái 31
Bảng 4.11 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên heo con theo thể trạng nái 32
Bảng 4.1 2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo lứa đẻ của nái 33
Bảng 4.1 3 Kết quả thử kháng sinh đồ đối với vi khuẩn E coli trong mẫu phân tiêu chảy heo con 35
Bảng 4.14 Kết quả phân lập các vi sinh vật trong dịch viêm tử cung 36
Bảng 4 15 Kết quả thử kháng sinh đồ với các vi khuẩn phân lập được trong dịch viêm tử cung trên nái 38
Bảng 4 16 Hiệu quả điều trị viêm tử cung trên nái tại trại 39
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Heo nái sau khi sinh 5
Hình 4 1 Heo nái sau khi sinh bị viêm tử cung (dạng mủ) 24
Hình 4.2 Heo nái sau khi sinh bị viêm tử cung (dạng nhờn) 24
Hình 4.3 Heo con theo mẹ bị tiêu chảy 33
Trang 11Trên heo nái ở giai đoạn sinh đẻ và nuôi con là thời gian rất dễ mắc bệnh Một trong những bệnh thường xảy ra trong giai đoạn này là viêm vú, viêm tử cung sau khi sinh Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra như: thức ăn, chăm sóc và quản lý, tình trạng vệ sinh, nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi… được xem như yếu
tố mở đường tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh bệnh Mặt khác, bệnh này còn liên quan mật thiết đến tình trạng tiêu chảy trên heo con, đây là vấn đề gây nhiều lo lắng cho người chăn nuôi Hậu quả là heo con chậm tăng trưởng, còi cọc, giảm sức đề kháng tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh khác xảy ra làm ảnh hưởng đến năng suất và gây thiệt hại kinh tế trong nghề chăn nuôi heo
Do đó, để năng suất sinh sản của heo nái cao thì nhà chăn nuôi phải tạo điều kiện đảm bảo sức khỏe cho heo nái và tiến hành điều trị kịp thời khi heo nái
bị bệnh
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Phát, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình viêm
vú, viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh và tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại heo Hiền Thoa”
Trang 12Khảo sát nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi
Theo dõi và ghi nhận tình hình heo nái viêm vú, viêm tử cung sau khi sinh
và theo dõi hiệu quả điều trị
Theo dõi tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Phân lập một số vi sinh vật trong dịch viêm tử cung và mẫu phân trên heo con tiêu chảy
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HIỀN THOA
2.1.3 Cơ cấu đàn
Tính đến tháng 03/2010 tổng đàn heo là 2814 con Bao gồm:
Heo nọc: 5 con
Nái sinh sản: 356 con
Nái hậu bị: 76 con
Heo con theo mẹ: 504 con
Heo cai sữa: 660 con
2.1.4 Công tác giống
Chọn những con có ngoại hình đẹp, da lông bóng mượt và là con của những nái có khả năng sinh sản cao, cho sữa tốt, sức kháng bệnh cao, có bố là giống thuần, mẹ lai 2-3 máu (Landrace, Yorkshire, Duroc) và phải có những chỉ tiêu sinh sản tốt
Công tác phối giống ở trại được thực hiện vào buổi sáng và buổi chiều bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo Mỗi nái được phối lặp lại 2 lần vào mỗi chu kỳ
Trang 142.1.5 Điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc
2.1.5.1 Hệ thống chuồng trại
Trang trại gồm có 7 dãy chuồng xếp song song nhau Gồm các dãy chuồng:
Dãy 1: nuôi heo noc, hậu bị, nái khô chờ phối, nái mới phối
Dãy 2: nuôi nái mang thai
Dãy 3: nuôi nái đẻ
Dãy 4: nuôi nái đẻ và nuôi heo con cai sữa
Dãy 5: nuôi heo con cai sữa
Dãy 6: nuôi heo thịt
Dãy 7: nuôi heo thịt
Các dãy chuồng có chiều rộng là 8m, chiều dài 60m
Khoảng cách giữa các dãy chuồng là 13m, riêng khoảng cách giữa dãy 5
và dãy 6 là 25m Khoảng cách giữa các dãy chuồng được trồng 2 hàng cây xà cừ nhằm tạo bóng mát cho trại cũng như ngăn cản bớt một phần bụi bậm từ bên ngoài vào Ở cuối mỗi dãy chuồng được nối với nhau bởi một lối đi rộng khoảng 1m để thuận lợi cho việc đưa heo nái lên đẻ, heo con cai sữa cũng như heo thịt xuất chuồng Trại còn trang bị hệ thống phun sương cho mỗi dãy để làm mát cho heo vào những ngày nắng nóng khắc nghiệt
Trang trại rất chú trọng đến việc xử lý chất thải, chất thải được xử lý bằng
hệ thống Biogas nhằm tránh ô nhiễm môi trường Khâu quản lý của trang trại cũng rất nghiêm ngặt, công nhân trong trại tất cả đều phải mặc đồng phục, mang dày bảo hộ và phải lội qua hố sát trùng trước khi vào chuồng heo
Hàng năm, trại cũng tiếp đoán những đoàn khách tham quan và sinh viên thực tập đến trại cũng phải tuân thủ quy trình vệ sinh phòng bệnh của trại giống như công nhân rồi mới được vào khu vực nuôi heo Hàng tuần công nhân phun xịt thuốc sát trùng chuồng trại bằng các chế phẩm có bán trên thị trường như: Iodine (Vimedim), TH4 (Merial) Ngoài ra cứ theo định kỳ 17 ngày trại phun thuốc phòng và trị bệnh ngoài da cho heo bằng Taktic (amitraz)
Trang 155.1.5.2 Nuôi dưỡng chăm sóc
Nái đẻ và nuôi con
Trước ngày sanh dự kiến 10-15 ngày heo nái mang thai được chuyển sang dãy chuồng nuôi heo nái đẻ Nái sắp sanh cần hạn chế khẩu phần ăn khoảng 1,5-
2 kg/con/ngày , ngày 2 lần vào buổi sáng lúc 8h còn buổi chiều thì lúc 13h Trước ngày sanh dự kiến 1-2 ngày, công nhân làm vệ sinh sạch sẽ vùng mông, đùi, âm hộ nái để chuẩn bị đón heo con
Sau khi sanh xong nái thường mệt, biếng ăn nên chỉ cho nái ăn khoảng 1kg thức ăn mỗi ngày Nếu nái bị viêm tử cung thì tiến hành thụt rửa tử cung bằng Iodine pha loãng cùng với penicillin dạng bột, chích kháng sinh Tobramicin (Vimedim) và kèm theo thuốc bổ tổng hợp Vimekat (Vimedim) Đối với những nái sau khi đẻ xong mệt mỏi, bỏ ăn thì tiến hành truyền dịch xoang bụng bằng 500ml dung dịch glucose 5% pha với Bcomplex và Calci B12 để nái nhanh phục hồi sức khỏe trở lại ăn uống bình thường, tiết sữa nhiều nuôi con
Hình 2.1 Heo nái sau khi sinh
Heo con theo mẹ
Heo con mới sinh ra được lau sạch nhớt ở miệng, mũi và rãi một lớp bột
ấm là Mistral lên mình heo con, lót tấm mút trong ổ úm Bột Mistral có tác dụng sát khuẩn , làm khô ráo chuồng trại, giúp giữ nhiệt cho heo con Nhờ có bột Mistral mà công nhân không cần phải dùng giẻ để lau cho heo con Sau khi heo nái sanh xong thì heo con tự tìm vú để bú, sau đó khoảng 24 giờ thì bấm răng, 3 ngày sau thì bấm đuôi, chích sắt (1ml chế phẩm chứa 100 mg Fe++/con) Heo con 7 ngày tuổi được cho uống sữa bột bổ sung và tập ăn bằng thức ăn dạng viên
Trang 16Delice A của công ty liên doanh Việt-Pháp Heo đực để nuôi thịt được thiến lúc
10 ngày tuổi
2.1.5.3 Thức ăn
2.1 Thành phần dinh dưỡng của loại thức ăn cho heo được trình bày qua bảng
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn
Thành phần Loại thức ăn
Porcy 18A
Porcy 18B
Porcy 18A: Sử dụng cho heo nái mang thai, hậu bị, nái chờ phối
Porcy 18B: Sử dụng cho nái gần ngày đẻ, nái nuôi con, đực giống
Delice A: Sử dụng cho heo con tập ăn đến 8 kg
Delice B: Sử dụng cho heo con từ 8 - 15 kg
Porcy 15: Sử dụng cho heo từ 15 - 30 kg
Porcy 16: Sử dụng cho heo thịt từ 30 kg đến xuất chuồng
Trang 17Trang trại sử dụng thức ăn Porcy ( Công ty cổ phần Việt-Pháp sản xuất thức ăn gia súc)
Một số loại thuốc trại sử dụng
Anagin C, Vime-tobra (tobramycine sulfate, dexamethazone), Vimenro (enrofloxacin), Hamcoli (amoxcillin, colistin sulfate), Marbovitryl 250 (marbofloxacin, Phenylcarbinol), Komitril, Ketovet (ketoprofen), Genta-Colenro (gentamycin, colistin), B Complex ADE, Vime-ABC (anagine, vitamin C, vitamin B1, vitamin B2, vitamin B6), HAN-Prost (chorionic gonadotropin, oestradiol benzoat)
2.1.5.4 Quy trình tiêm phòng của trại
Nái mang thai và nái nuôi con
Tuổi heo vaccine Tên Phòng bệnh Liều dùng Vị trí tiêm Nguồn
15 ngày trước khi
phối giống FarrowSure Aujeszky 2ml/con Tiêm bắp Pfizer
3 tuần trước khi
sinh
Porcilis CSF live Dịch tả 2ml/con Tiêm bắp Intervet
2 tuần sau khi
sinh Porcillis parvo Parvovirus 2ml/con Tiêm bắp intervet
3 tuần sau khi
sinh Aftopor FMD 2ml/con Tiêm bắp
Heo con theo mẹ
Tuổi heo Tên vaccine Phòng bệnh dùng Liều Vị trí tiêm Nguồn
7 ngày tuổi Respisure 1 one Mycoplasma 2ml/con Tiêm bắp Pfizer
21 ngày tuổi Circumvent Circovirus 2ml/con Tiêm bắp Intervet
Trang 18Heo sau cai sữa
Tuổi heo vaccine Tên Phòng bệnh Liều dùng Vị trí tiêm Nguồn
35 ngày CSF live Porcilis Dịch tả 2ml/con Tiêm bắp Intervet
42 ngày Circumvent Circovirus 2ml/con Tiêm bắp Intervet
55 ngày CSF live Porcilis Dịch tả 2ml/con Tiêm bắp Intervet
49 ngày Aftopor FMD 2ml/con Tiêm bắp
70 ngày Aftopor FMD 2ml/con Tiêm bắp
Riêng heo nọc và nái hậu bị thì 6 tháng tiêm phòng một lần các bệnh sau:
Aujeszky, FMD, Parvovirus, dịch tả Mỗi loại vaccine đều được tiêm cách nhau một tuần
2.2 Viêm vú, viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh
2.2.1 Viêm vú
Trường hợp này ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú có thể xảy ra với mức
độ nặng do kế phát từ nhiễm trùng toàn thân Viêm vú có thể xảy ra ở một hoặc vài vú hoặc cả bầu vú, vú bị viêm sưng cứng, màu đỏ bầm, khi ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa, sữa bị lợn cợn hoặc có lẫn máu Viêm vú luôn kèm với sốt cao, vú bị đau nên heo nái hay nằm úp vú xuống, không cho con bú
Tuy viêm, viêm vú ít xảy ra nhưng khi đã xảy ra thì sẽ ở mức độ cao, tác hại rất lớn Do tác động trực tiếp lên heo con sơ sinh Nếu không chữa trị kịp thời, vú viêm sẽ bị teo lại, mất sữa, đôi khi còn bị xơ hóa, mất khả năng cho sữa Viêm vú xảy ra ở bất kỳ mức độ nào cũng đều có ảnh hưởng đến sự tiết sữa, nếu can thiệp kịp thời vú bình phục sẽ còn khả năng cho sữa, nếu không vú sẽ mất sữa hoàn toàn
Heo con sơ sinh không được bấm răng kỹ hay nền chuồng gồ ghề làm tổn thương bầu vú tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập và gây
Trang 19viêm Ngoài hai nguyên nhân kể trên thì còn có các nguyên nhân khác gây viêm
vú như:
Số heo con quá ít không bú hết lượng sữa do nái sản xuất, do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý (Nguyễn Như Pho, 2002) hoặc do nái ăn nhiều đạm trong thời gian mang thai nên sữa được tiết ra nhiều heo con bú không hết cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm vú
Nái viêm tử cung dạng mủ hay mắc một số bệnh truyền nhiễm khác, vi khuẩn theo đường máu đến bầu vú gây viêm
Trường hợp viêm một vài vú thường do chấn thương cơ học hoặc heo con
bú không hết sữa Ngược lại nếu viêm nhiều vú hoặc toàn bầu vú là do cạn sữa không hợp lý
Viêm vú mãn thường gặp trên nái sau cai sữa hoặc nái khô do heo con có thói quen tranh bú làm tổn thương bầu vú hoặc do những ổ apxe ở trên bầu vú (trích dẫn Lê Thụy Bình Phương, 2006)
2.2.2 Viêm tử cung
Viêm tử cung có dịch viêm tiết ra nhiều Tùy theo mức độ mà thành phần dịch viêm được phân chia ra các dạng: dạng viêm nhờn, dạng viêm mủ và dạng viêm mủ lẫn máu (Nguyễn Văn Thành, 2002)
Ảnh hưởng của viêm tử cung:
Khi viêm tử cung sẽ làm tổn thương lớp niêm mạc, từ đó gây ảnh hưởng sự phân tiết PGF2α làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm động dục cũng như vô sinh, làm ảnh hưởng đến sức sống của heo con
và tình trạng sức khỏe heo mẹ
Khi nái mang thai, nếu tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào nội mạc tử cung tiết nhiều PGF2α gây phân hủy thể vàng làm thú dễ bị sẩy thai do thiếu progesterone từ thể vàng
Ở nái không mang thai, nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết
Trang 20Khi nhiễm trùng tử cung với vi khuẩn E coli, nội độc tố của vi khuẩn này
ức chế sự phân tiết kích thích sự tạo sữa prolactin từ tuyến yên , làm nái ít sữa (Trần Thị Dân, 2003)
Heo nái suy yếu, giảm sức đề kháng, giảm sản lượng sữa, ít cho con bú, đè con Tổ chức tế bào thay đổi làm giảm khả năng sinh sản ở các lứa sau, khả năng thụ thai giảm
2.2.2.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Do chăm sóc và quản lý
Theo Võ Văn Ninh (2003), trong thời gian mang thai tránh để nái ăn khẩu phần dư thừa dưỡng chất dẫn đến nái mập và dễ mắc hội chứng M.M.A, khi sinh nếu nái mập sẽ lười rặn, đẻ chậm, dễ gây ngộp thai
Khẩu phần thiếu vitamin làm tăng nguy cơ gây bệnh viêm vú và viêm tử cung trên nái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nái, giảm khả năng đề kháng với bệnh tật và dễ mắc bệnh nhiễm trùng Theo Dương Thanh Liêm và ctv, (2002) khi thiếu vitamin A thì lớp tế bào niêm mạc tử cung, cổ tử cung, ống dẫn trứng
bị thoái hóa, sừng hóa làm cho bào thai bị chết khô trong tử cung, tạo điều kiện nhiễm trùng gây hội chứng M.M.A
Khẩu phần có vitamin E (22UI/kg thức ăn) trong suốt thời gian mang thai
sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh (Ulbrey, 1969) (trích Võ Thị Minh Châu, 2004) Tengerdy và ctv, 1977 (dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 2002) cho biết vitamin E có chức năng bảo vệ tế bào bạch cầu và đại thực bào, nhờ dó làm tăng khả năng chống lại sự nhiễm trùng Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Việc cung cấp sinh tố C sẽ giảm thiểu tình trạng nhiễm bệnh, nhất là nhóm nái đẻ, nái chữa, nái nuôi con, heo bú mẹ, heo con cai sữa (Võ Văn Ninh, 2003)
Trong giai đoạn mang thai cũng như sau khi sinh, chất xơ là yếu tố cần thiết trong khẩu phần của nái Heo nái được nuôi trong môi trường công nghiệp,
ít vận động, trong thời gian mang thai nái được cho ăn hạn chế nên nhu động ruột giảm dễ dẫn tới táo bón, phân đọng lâu trong ruột già dễ mắc hội chứng
Trang 21M.M.A sau khi sinh Do vậy chúng ta phải chú ý cung cấp đầy đủ chất xơ trong khẩu phần của nái, chất xơ có tác dụng lôi kéo những chất độc hại thải ra ngoài, giảm bớt tác hại cho cơ thể (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Do sinh đẻ không bình thường và tình trạng sức khỏe
Đối với những nái đẻ lứa đầu tiên, do khung xương chậu phát triển chưa hoàn chỉnh dễ dẫn đến đẻ khó làm tổn thương trên đường sinh dục, những nái quá mập, quá già hoặc nái có sức khỏe kém thường chiếm tỷ lệ cao trong bệnh viêm
tử cung yếu làm ứ đọng nhiều dịch chất trong tử cung, nhưng thường tổn thương
ở bộ phận sinh dục do can thiệp bằng tay của người đỡ đẻ, kỹ thuật đỡ đẻ không đúng tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển
Theo Đặng Đắc Thiệu (1978) (trích Lê Thụy Bình Phương, 2006) nái sau khi sinh bị sót nhau rất dễ dẫn đến mất sữa và nhiễm trùng tử cung Nhau và thai
bị sót sẽ bị thoái rữa trong tử cung 24-48 giờ là môi trường tốt cho vi sinh vật phát triển và gây viêm tử cung
Nái có thể trạng yếu thường dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm trong thời gian mang thai như bệnh do Parvovirus, Brucellosis, Leptospirosis… gây sẩy thai làm tăng nguy cơ viêm tử cung
Nái mắc bệnh nhiễm trùng thận, bàng quang và đường niệu, vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu có thể xâm nhập vào tử cung gây viêm Ngoài ra, phối giống không đúng kỹ thuật cũng là nguyên nhân gây viêm tử cung
Do tiểu khí hậu chuồng nuôi
Chuồng trại thiết kế không hợp lý, không đủ độ dốc để thoát nước làm ứ đọng phân và nước tiểu, các chất dơ bẩn là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát
Trang 22cho nái trong thời gian sinh đẻ Theo Võ Văn Ninh (2003) ẩm độ chuồng nuôi thích hợp với điều kiện Việt nam là 70-80% Khi nhiệt độ cao, tốc độ gió thấp và
ẩm độ cao thì sự lưu thông không khí khó khăn, nếu mật độ nuôi nhốt cao thì thú
dễ stress nhiệt, cảm nắng
Khi ẩm độ chuồng nuôi quá cao nái phải tăng tần số hô hấp để điều hòa thân nhiệt làm cho nái mệt kết hợp với sức đề kháng của nái giảm do sinh đẻ tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập và gây bệnh Mặt khác khi ẩm độ chuồng nuôi cao dễ xảy ra các phản ứng phân hủy các chất hữu cơ và tạo ra các khí độc như H2S, NH3 và các khí độc khác làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của heo nái (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Kim Hoa, 2004)
Do vi sinh vật
Nếu chăm sóc và quản lý không tốt như đã kể ở trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật xâm nhập và gây viêm tử cung Hầu hết các trường hợp viêm tử cung, đều có sự hiện diện của vi sinh vật, chúng thường xuyên có trong chuồng nuôi Chúng lợi dụng lúc heo sinh sản, tử cung hay âm đạo tổn thương và đang chứa nhiều sản dịch sẽ xâm nhập gây viêm tử cung Vi sinh vật hiện diện
trong dịch viêm chủ yếu là streptococi, staphylococi và E coli trong mẫu dịch viêm
tử cung (Nguyễn Văn Thành, 2004)
Theo Bilkei và ctv, 1994 (dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 2002) viêm tử cung
thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm vi khuẩn E coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương C pyogenes là nguyên nhân thường xuyên gây viêm tử
cung có mủ trên nái
Theo Runell và cộng sự, 2001 (dẫn liệu Lê Thụy Bình Phương, 2006)
viêm tử cung mãn thường do Staphylococcus
2.2.2.2 Tác hại của bệnh viêm tử cung
Heo nái bị suy yếu, giảm sức đề kháng, sữa có thể giảm, ngừng hẳn, khả năng nuôi con kém, heo mẹ hay đè con và ít cho con bú Heo con thiếu sữa mẹ
sẽ còi cọc, chậm lớn, khả năng chống bệnh kém, sản dịch viêm rơi vãi trên nền chuồng heo con liếm phải sẽ gây tiêu chảy làm chậm tăng trưởng, giảm sức đề
Trang 23kháng và có thể chết Trường hợp nái quá yếu có thể bị chết hoặc nếu chữa khỏi cũng không thể đưa vào sản xuất vì tổ chức tử cung bị thay đổi, khả năng đậu thai giảm, khả năng nuôi thai cũng không bình thường (Nguyễn Như Pho, 1985)
Mặt khác viêm tử cung còn làm cho niêm mạc bị biến đổi về mặt mô học,
xơ hóa, điều này hạn chế sự định vị của thai do đó sẽ làm giảm năng xuất sinh sản của heo nái ở lứa sau Nếu quá trình viêm kéo dài sự xơ hóa xảy ra trên một diện tích lớn, viêm có thể lan lên phía trên gây viêm dính ống dẫn trúng, những yếu tố viêm dính và xơ hóa là nguyên nhân gây vô sinh Do đó, cần tiến hành các biện pháp chăm sóc thích hợp trước và sau khi đẻ để hạn chế mật độ vi khuẩn gây bệnh đồng thời tăng sức đề kháng cho heo nái bằng cách bổ sung vitamin A, vitamin E, chất xơ… để góp phần làm hạn chế bệnh viêm tử cung
Dạng viêm mủ: thể viêm này nặng hơn, tử cung tiết dịch viêm màu trắng đục đến vàng, nhày đặc, có khi lẫn máu, mùi rất hôi tanh Heo nái rất mệt mỏi, không cho con bú và thường hay đè con Trong trường hợp này nếu không can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến viêm vú và mất sữa
Dạng viêm mủ máu: dịch tiết tử cung có mùi hôi thối có màu xám đen lẫn máu Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, heo nái có thể chết do nhiễm trùng máu
Trang 24cung đầy đủ nước cho nái, bấm răng, cho con bú ngay sữa đầu, ghép bầy khi nái nuôi con ít, quy trình này đã cho hiệu quả rất tốt trong việc giảm hội chứng M.M.A và tỷ lệ tiêu chảy trên heo con Nguyễn Như Pho và Trương Vĩnh Yên,
1984 cho biết với khẩu phần chứa 100ppm Cu, 200ppm Zn, 100ppm Mn sẽ làm giảm thấp tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A Tăng chất xơ trong khẩu phần và cung đầy đủ nước uống sạch cho nái tránh táo bón, một trong những nguyên nhân gây viêm tử cung Giảm tress tối đa cho nái chửa nhất là lúc nái đẻ
2.3 Bệnh tiêu chảy trên heo con
Tiêu chảy là hiện tượng thú đi phân với số lượng phân và số lần đi trong ngày lớn hơn mức bình thường, đồng thời hàm lượng nước trong phân cũng tăng hơn mức bình thường Heo con tiêu chảy thường bị mất nước, mất chất điện giải dẫn đến kiệt sức, những con qua khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả chăn nuôi thấp
2.3.1 Nguyên nhân
Nguyên nhân gây tiêu chảy rất đa dạng và phức tạp Có thể chia thành 3 nguyên nhân: do đặc điểm sinh lý tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, do chăm sóc quản lý chưa tốt và do cảm nhiễm tác nhân gây bệnh
Trang 253.3.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa trên heo con
Heo con mới đẻ khả năng tiêu hóa còn rất kém do dung tích chứa đựng thức
ăn ít và khả năng phân tiết các men tiêu hóa còn rất hạn chế Trong giai đoạn sơ sinh hàm lượng các men tiêu hóa như pepsin, trypsin, chymotrypsin tiết ra rất ít chỉ
đủ để tiêu hóa protein trong sữa và không thể tiêu hóa protein từ thực vật và động vật Các men tiêu hóa tinh bột như α amylase, saccharase, chỉ được phân tiết nhiều sau 2-3 tuần tuổi và men mantase chỉ phân tiết đầy đủ sau 3 tuần tuổi Do đó, nếu thay đổi sữa mẹ bằng một chế độ ăn nhân tạo cho heo con sẽ gây rối loạn tiêu hóa
do thiếu một số men cần thiết
Ngoài ra, heo con trước 1 tháng tuổi trong dịch vị hoàn toàn không có acid HCl tự do Vì lượng acid lúc này tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với niêm dịch và thức ăn làm cho lượng acid HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không
có trong dạ dày heo con lúc này (Kvasnhix, 1972) Độ pH trong dịch đường ruột cao tạo điều kiện cho vi khuẩn độc hại phát triển và gây bệnh
2.3.1.2 Do chăm sóc quản lý
Do heo mẹ
Heo nái trong quá trình mang thai nuôi dưỡng kém, thiếu các chất khoáng, protein hoặc do mắc bệnh làm ảnh hưởng đến bào thai, nên trọng lượng của heo con sơ sinh giảm, khả năng chống đỡ bệnh rất yếu kém Do đó, sự chăm sóc và nuôi dưỡng heo mẹ trong giai đoạn mang thai và nuôi con giữ vai trò quan trọng trong việc sinh trưởng, phát triển và đề kháng mầm bệnh của heo con Nái ăn nhiều thức ăn dinh dưỡng cao, lượng sữa sau khi đẻ tiết nhiều, heo con bú sữa quá nhiều, gây không tiêu và dẫn đến rối loạn tiêu hóa Vệ sinh nái sau khi đẻ không tốt bầu vú heo mẹ bẩn, nhiễm khuẩn, heo con bú cũng dẫn đến tiêu chảy Heo mẹ bị hội chứng M.M.A, heo con bú sữa có chứa sản vật viêm, liếm dịch viêm dính trên nền chuồng cũng gây tiêu chảy Trên những heo mẹ bị giảm sữa hay mất sữa heo con bú được ít hoặc không bú được sữa đầu nên sức
đề kháng kém dễ phát sinh bệnh (Nguyễn Như Pho, 1995) Khả năng phòng
Trang 26Nếu không tiêm phòng đầy đủ cho heo mẹ các bệnh mà heo con thường mắc phải thì việc bú sữa đầu cũng không tạo cho heo con khả năng phòng bệnh
dễ bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh đường ruột hoặc do heo con ăn thức ăn của mẹ,
bộ máy tiêu hóa của heo con không tiêu hóa được dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy
Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Do vệ sinh chuồng trại kém, hệ thống nước không vệ sinh hoặc cho heo con uống nước lạnh cũng gây tiêu chảy Nhiệt độ úm heo con trong tuần đầu không đủ Heo con bú sữa viêm, không bú sữa đầu đầy đủ hoặc do thức ăn heo
mẹ kém phẩm chất nên ảnh hưởng đến chất lượng sữa dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995) Chuồng trại không đúng kỹ thuật, ẩm ướt, mưa tạt gió lùa, thiết kế máng ăn không phù hợp, thông thoáng kém, thay đổi thời tiết đột ngột…
Do quản lý, chuyển chuồng, nhập tách đàn gây stress hoặc do heo con tập
ăn đột ngột cũng gây tiêu chảy
Thời điểm mọc răng sữa cũng gây tiêu chảy ở heo con Giai đoạn heo con tiêu chảy cao nhất là lúc 10-17 ngày và 23-29 ngày tuổi ứng với thời gian mọc răng tiền hàm 3 hàm dưới và răng tiền hàm 4 hàm trên (Võ Văn Ninh, 2003)
Trang 27Do vệ sinh rốn không tốt cho heo con: heo con bị viêm rốn sẽ tiêu chảy,
do đó sau khi sinh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng iodine sau khi cắt
2.3.2 Triệu chứng
Lúc mới bắt đầu tiêu chảy heo con vẫn bú bình thường Khi tiêu chảy nhiều
và kéo dài heo con bỏ bú, lông xù, gầy còm, niêm mạc mắt mũi, miệng nhợt nhạt do thiếu máu Heo con thường nằm một chỗ, run cơ, co giật, nhiệt độ giảm và thường dẫn đến chết
Tính chất phân sền sệt hoặc loãng, vàng, đôi khi tiêu chảy phân trắng hay vàng nhiều bọt khí Heo con có thể nôn ra sữa không tiêu Đối với tiêu chảy do
E coli thì bệnh xuất hiện rất nhanh nên heo con bị mất nước trầm trọng, lông xù
Trước khi chết heo con gầy hốc hác và kiệt sức Tiêu chảy do cầu trùng thì thường xảy ra lúc 5-10 ngày tuổi, cao nhất 7-10 ngày tuổi, heo con tiêu chảy phân lỏng, vàng hay xám nhạt (Lê Thụy Bình Phương, 2006)
2.3.3 Phòng trị
Khâu vệ sinh chăm sóc có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng bệnh Chuồng trại, nước uống, thức ăn phải đảm bảo vệ sinh, các ô đẻ phải được tiêu độc sát trùng trước khi đưa nái vào đẻ Mặt khác, heo con trong thời gian theo mẹ phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng sức khỏe heo mẹ Vì vậy cần nuôi dưỡng và chăm sóc thật tốt heo nái khi mới chửa, bảo đảm các nhu cầu về dinh dưỡng, bổ sung các loại vitamin và nguyên tố vi lượng cần thiết cho nái Cung thức ăn đầy đủ dinh dưỡng và các vitamin cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển bình thường, đồng thời tăng sức đề kháng cho heo con Nên chích sắt cho heo con đúng liệu trình, đồng thời trộn các loại kháng sinh vào thức ăn, cho heo con ăn liên tục từ lúc mới tập ăn đến sau khi cai sữa (Nguyễn Như Pho, 1997) Sử dụng các chế phẩm sinh học như: Biolactyl, Biosubtyl bổ sung vào đường tiêu hóa nhằm ức chế vi khuẩn gây bệnh và kích thích vi khuẩn có lợi sinh lactic phát triển tạo sự cân bằng cho hệ vi sinh vật đường ruột Dùng
Trang 28để tạo kháng thể truyền qua sữa đầu hoặc cho heo con uống kháng thể vài giờ sau khi sanh (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 1995)
Điều trị
Có nhiều cách điều trị tiêu chảy trên heo con Nhìn chung, trị bệnh vẫn theo nguyên tắc phát hiện sớm, khống chế kịp thời bằng các biện pháp tổng hợp như khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, cùng với việc chống loạn khuẩn, ổn định hệ vi khuẩn đường ruột, kết hợp việc điều trị triệu chứng với điều trị căn nguyên
Điều trị triệu chứng bằng việc bù nước và các chất điện giải (sinh lý mặn, sinh lý ngọt, glucose 5%) dùng các chất (tannin) để bảo vệ niêm mạc ruột hoặc cho uống Orezol, cung cấp các vitamin A , B, C…
Điều trị căn nguyên: ngăn chặn mầm bệnh phát triển bằng các kháng sinh như nhóm polypeptid (colistin), quinolone (norfloxacin, ciprofloxacin) hoặc bổ sung các chế phẩm sinh học để phục hồi hệ vi khuẩn có lợi cho đường ruột
Ngoài ra, trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, giữ vệ sinh chuồng trại, ổ úm thật sạch sẽ, khô ráo
Trang 29
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thời gian: thực hiện đề tài từ: 2/3- 2/6/2010
Địa điểm: Trại heo Hiền Thoa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
Heo nái sinh sản
Heo con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT
Khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
Khảo sát tình hình viêm vú, viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh
Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và tình hình tiêu chảy trên và tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Phân lập, định danh và thử kháng sinh đồ của một số vi khuẩn trong mẫu phân heo con tiêu chảy, mẫu dịch viêm tử cung và theo dõi hiệu quả điều trị
3.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT
3.4.1 phương pháp tiến hành
Lập phiếu cá thể cho mỗi nái, trên phiếu ghi đầy đủ lý lịch, thành tích sinh sản và tình trạng sức khỏe sau khi sinh của heo nái Mỗi sáng khi chưa dọn chuồng quan sát nền chuồng, mép âm hộ để tìm xem có dịch viêm hay không, màu sắc, độ loãng đặc
Quan sát heo con đang bú, tình trạng heo con hàng ngày để xem nái có mất sữa không Đo thân nhiệt, sức ăn của nái
Theo dõi các biểu hiện bệnh lý trên heo con theo mẹ như tiêu chảy, viêm khớp
Trang 30Quan sát thấy heo có biểu hiện tiêu chảy thì đánh dấu và ghi nhận số con tiêu chảy và tổng ngày con tiêu chảy từ đó tính tỷ lệ ngày con tiêu chảy
¾ Lấy mẫu dịch viêm trên heo nái:
Mỗi sáng khi chưa dọn chuồng quan sát nền chuồng, chỗ nái nằm, mông đuôi, mép âm hộ để phát hiện các dịch nhờn hay mủ, màu sắc, độ loãng đặc Nái
có thể sốt và bỏ ăn hay ăn ít
Chọn heo tiết dịch viêm chưa điều trị kháng sinh, mang găng tay, dùng bông gòn thấm cồn 700 lau sạch phần bên ngoài âm hộ Dùng mỏ vịt mở âm hộ
ra rồi lấy tăm bông vô trùng đưa vào khe mỏ vịt và ngoáy lấy dịch viêm rồi bỏ vào ống nghiệm có chứa sẵn môi trường vận chuyển (cary blair) cho vào thùng
đá bảo quản lạnh và đưa về phòng phân tích vi sinh vật Bệnh Viện Thú Y Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM để phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ
từ dịch viêm tử cung
¾ Lấy mẫu phân tiêu chảy trên heo con
Quan sát phân heo con trên nền chuồng, xem trạng thái đặc lỏng, màu sắc phân
Heo con tiêu chảy thường có phân bết quanh hậu môn và hậu môn có màu
đỏ tươi
Chọn những con tiêu chảy không kháng sinh, mang găng tay vô trùng, dùng bông gòn thấm cồn 700 lau sạch phần bên ngoài hậu môn Dùng tăm bông vô trùng đưa vào hậu môn và ngoáy phân ở trực tràng, sau đó đưa tăm bông ra khỏi hậu môn heo và đưa vào ống nghiệm có chứa sẵn môi trường vận chuyển (cary blair) cho vào thùng đá bảo quản lạnh và đưa về phòng phân tích vi sinh vật Bệnh Viện thú y Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM để phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ
3.4.2 Các chỉ tiêu khảo sát và công thức tính
+ Nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi
Dụng cụ đo: nhiệt kế, ẩm kế
Vị trí đo: cách nền chuồng 1,5m
Trang 31Nhiệt độ, ẩm độ ghi nhận 3 lần trong ngày: 7 giờ 30, 1 giờ 30, 17 giờ
+ Các chỉ tiêu trên heo nái:
Tỷ lệ viêm tử cung (%) = (Số nái viêm tử cung/Số nái khảo sát) x 100
Tỷ lệ khỏi viêm sau điều trị (%) = (Số nái khỏi viêm/ Số nái điều trị) x
+ Các chỉ tiêu trên heo con
Số heo con sơ sinh bình quân trên ổ = (Tổng số heo con sơ sinh/Tổng số heo nái khảo sát)
Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh (kg/con) = (Tổng trọng lượng sơ sinh/ Tổng số heo con sơ sinh)
Số heo con sơ sinh chọn nuôi trên ổ: chọn những heo sơ sinh không dị tật bẩm sinh và có trọng lượng từ 0,8 kg trở lên
Số heo con sơ sinh chọn nuôi trên ổ = (Số heo con chọn nuôi/Số heo nái khảo sát)
Trọng lượng cai sữa bình quân (kg/con) = (Tổng trọng lượng heo cai sữa/Tổng
số heo cai sữa)
TLHCNS đến cai sữa (%) = (Số heo còn sống đến cai sữa/Tổng số heo con chọn nuôi)x100
TLNCTC (%) = (Tổng số ngày con tiêu chảy/Tổng số ngày con nuôi)x100 Các số liệu theo dõi được tính toán bằng phần mềm EXCEL, các tỷ lệ được
so sánh bằng trắc nghiệm Chisquare và các so sánh thống kê về mặt số lượng sử dụng , phần mềm MINITAB 13
Trang 32Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 TÌNH HÌNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN NÁI SAU KHI SINH 4.1.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi qua các tháng khảo sát
Bảng 4 1 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
Ẩm độ
trung bình
(%)
Sáng 78,12 76,5 76,17 76,93 Trưa 47,48 47,82 49,31 48,20 Chiều 61,77 62,47 67,37 63,87
Theo nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, (1997) khi ẩm độ tương đối khoảng 60-70% thì mức nhiệt độ thích hợp cho heo nằm trong khoảng được thể hiện qua Bảng 4.2 dưới đây
Bảng 4 2 Bảng nhiệt độ ẩm độ tối ưu
Trọng lượng
Nhiệt độ
Trang 33Qua Bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy rằng nhiệt độ trung bình dao động từ
26,23oC -36,93oC và ẩm độ trung bình dao động từ 48,20% - 76,93% Như vậy
với ẩm độ như trên thì nhiệt độ tương đối cao so với mức yêu cầu cho sự phát
triển của nái
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997) nhận định: khi nhiệt độ
và ẩm độ ở mức cao heo sống trong điều kiện nóng bị stress nhiệt, sự đề kháng
giảm nên heo dễ bị vi sinh vật cơ hội xâm nhập và gây bệnh
Qua thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy nái sinh sản vào buổi trưa, nhiệt
độ nóng bức làm nái mệt mỏi, thở nhiều, rặn đẻ yếu dẫn đến sinh khó Nái nuôi
con cũng có biểu hiện mệt, trở mình liên tục làm heo con không bú sữa được
và tăng số heo con bị đè Ngoài ra khi nhiệt độ ở mức cao còn làm cho nái
biếng ăn, cắn phá núm uống làm cho nước bắn ra, nên chuồng thường hay ẩm
ướt Từ những vấn đề trên cho thấy nhiệt độ cao là một trong những nguyên
nhân gây viêm tử cung trên heo nái và tiêu chảy trên heo con theo mẹ
4.1.3 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên nái theo tháng khảo sát
Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên nái theo tháng khảo sát
Số nái khảo sát
Nái viêm tử cung
Tỷ lệ (%)
Nái viêm
vú
Tỷ lệ (%)
Qua Bảng trên, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nái viêm tử cung tăng dần qua 3 tháng
khảo sát Tuy nhiên không có sự khác biệt về mặt thống kê (P > 0,05) Có thể do
điều kiện nhiệt độ và ẩm độ giữa các tháng không có sự khác biệt
Trang 34Hình 4 1 Heo nái sau khi sinh bị viêm tử cung (dạng mủ)
Hình 4.2 Heo nái sau khi sinh bị viêm tử cung (dạng nhờn)
Trang 354.1.4 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát
Bảng 4.4 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát
Số nái khảo sát (con)
Nái bình thường Nái viêm tử cung KQXLTK
kê (P > 0,05)
Kết quả cho thấy tỷ lệ viêm tử cung giảm dần từ lứa 1 đến lứa 3 phù hợp với kết quả khảo sát của Lê Thụy Bình Phương, ( 2006) có tỷ lệ viêm tử cung từ lứa 1- lứa 3 lần lượt là: (28,57%), (25,00%), (20,00%), điều này có lẽ những nái
ở lứa đầu cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn chỉnh dễ dẫn đến tình trạng đẻ khó làm xay xát niêm mạc đường sinh dục dẫn đến viêm tử cung Có lẽ ở những nái lứa 2, 3 cơ thể nái đã dần hoàn thiện, tình trạng đẻ khó ít xảy ra, do đó ở lứa
3 có tỷ lệ thấp nhất Những nái ở lứa 4, lứa 5, lứa ≥6, có tỷ lệ viêm tử cung cao
là do sinh đẻ nhiều lần nên sức kháng bệnh suy giảm và nái lớn tuổi rặn đẻ yếu cần sự can thiệp bằng tay của người đỡ đẻ, điều này có thể làm tổn thương cơ