1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

91 270 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 780,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY - TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN Giáo viên hướng dẫn: TS... Đề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên: VÕ THỊ CÚC Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Niên khóa: 2006-2010

Tháng 5/2010

Trang 2

TÌM HIỂU Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY - TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

Giáo viên hướng dẫn:

TS NGUYỄN THANH THỦY

Tháng 5/2010

Trang 3

Con xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục con nên người Cảm ơn anh chị đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để

em có thể hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu…

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Thủy, quí thầy cô Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Qúi thầy cô và các bạn sinh viên trường Đại học Nông Lâm, trường Đại học Hùng Vương và trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng giúp đỡ

Cảm ơn tập thể lớp DH06SP và những người bạn thân thương đã luôn sát cánh chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2010

Sinh viên

Võ Thị Cúc

Trang 4

Đề tài “Tìm hiểu ý kiến của giảng viên, sinh viên về mối quan hệ giữa thầy - trò và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh” Đề tài được khảo sát tại trường đại học Nông

Lâm Tp.HCM, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp.HCM và trường đại học Hùng Vương Tp.HCM trong thời gian từ tháng 8/2009 đến tháng 5/2010

Với mục đích nghiên cứu: Giúp các trường đại học có thêm những hiểu biết về quan điểm của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò để từ đó có phương hướng, biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên một cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Thực hiện các phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu người nghiên cứu thực hiện các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để thu thập tài liệu, phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi để thu thập ý kiến nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu của đề tài, phương pháp xử lý số liệu và phương pháp phân tích để

xử lý kết quả thu được

Qua khảo sát người nghiên cứu đã tìm hiểu được quan niệm của giảng viên và sinh viên

về mối quan hệ thầy trò ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM đa phần vẫn quan niệm đây là mối quan hệ tốt đẹp Tuy nhiên việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ở các trường đại học vẫn còn xem nhẹ chưa có biện pháp thực sự phù hợp chuyên sâu Đồng thời tìm hiểu về các nguyên nhân dẫn đến những hành động đi trái ngược lại truyền thống của ông cha ta và đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy và phát triển mối quan hệ thầy trò cũng như hạn chế các tiêu cực

Đề tài là tiền đề để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo

Trang 5

LỜI CẢM ƠN 1

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

MỤC LỤC 1

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH SÁCH CÁC BẢNG 1

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ 1

Chương 1: Giới thiệu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Vấn đề nghiêu cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

1.7 Phạm vi nghiên cứu 4

1.8 Kế hoạch nghiên cứu 4

1.9 Cấu trúc luận văn 5

Chương 2: Cơ sở lý luận 6

2.1 Sơ lược về vấn đề nghiên cứu 6

2.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên và nhân cách sinh viên hiện đại 8

2.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên 8

2.2.1.1 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên 8

2.2.1.2 Định hướng giá trị của sinh viên 9

2.2.1.3 Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của thanh niên – sinh viên 10

2.2.2 Một số đặc điểm nhân cách của sinh viên hiện đại 10

Trang 6

2.2.2.3 Đặc điểm nhân cách sinh viên hiện đại 12

2.3 Tổng quan về mối quan hệ thầy trò 14

2.3.1 Một số khái niệm 14

2.3.2 Quan hệ thầy trò 15

2.4 Tổng quan về phương pháp giáo dục đạo đức 16

2.4.1 Các khái niệm cơ bản 16

2.4.1.1Khái niệm đạo đức 16

2.4.1.2 Khái niệm phương pháp giáo dục 17

2.4.2 Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên trong nhà trường 18

2.4.2.1 Vai trò 18

2.4.2.2 Mục tiêu 18

2.4.2.3 Các phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên 18

2.5 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người giảng viên 22

2.6 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người sinh viên 23

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu ……….24

3.1 Sơ lược về nơi nghiên cứu 24

3.1.1 Giới thiệu sơ lược trường đại học Nông Lâm- Tp.HCM 24

3.1.2 Giới thiệu sơ lược trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn- Tp.HCM 25

3.1.3 Giới thiệu sơ lược trường đại học Hùng Vương-Tp.HCM 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 26

3.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi 26

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

3.2.4 Phương pháp phân tích 27

3.3 Phương pháp tiến hành 28

3.3.1 Các bước chuẩn bị 28

3.3.2 Tiến hành khảo sát 28

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu 29

4.1 Mối quan hệ thầy trò 29

4.1.1 Quan niệm về tình thầy trò 29

4.1.1.1 Quan niệm của sinh viên về tình thầy trò 29

Trang 7

4.1.2 Ý kiến về mối quan hệ thầy trò hiện nay 32

4.1.2.1 Ý kiến của sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 32

4.1.2.2 Ý kiến của giảng viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 38

4.1.2.3 So sánh ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 39

4.1.3 Thực trạng về mối quan hệ thầy trò hiện nay 40

4.1.3.1 Sinh viên 40

4.1.3.2 Giảng viên 46

4.2 Giáo dục đạo đức cho sinh viên 47

4.2.1 Vai trò của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên 47

4.2.2 Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên 48

4.2.2.1 Ý kiến giảng viên 48

4.2.2.2 Ý kiến sinh viên 51

4.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức của sinh viên 54

4.2.3.1 Ý kiến sinh viên 54

4.2.3.2 Ý kiến giảng viên 55

4.2.4 Biên pháp cải thiện 57

4.2.4.1Ý kiến sinh viên 57

4.2.4.2 Ý kiến giảng viên 59

4.2.4.3 Những yếu tố người giảng viên đại học cần phải có 62

Chương 5 : Kết luận và kiến nghị 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 68

5.2.1 Đối với nhà nước 68

5.2.2 Đối với Bộ GD-ĐT 68

5.2.3 Đối với nhà trường 68

5.2.4 Đối với giảng viên 69

5.2.5 Đối với sinh viên ……….69

Tài liệu tham khảo 70 Phụ lục I

Phụ lục II

Trang 8

Đại học Nông Lâm ĐHNL

Số lượng SL

Bộ Giáo Dục Đào Tạo BG-ĐT

Chủ Nghĩa Xã Hội CNXH

Trang 9

Bảng 4.1 Quan niệm của sinh viên về tình thầy trò 29

Bảng 4.2 Quan niệm của giảng viên về tình thầy trò 30

Bảng 4.3 So sánh quan niệm của giảng viên và sinh viên về tình thầy trò 31

Bảng 4.4 Ý kiến của sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 32

Bảng 4.5 Ý kiến của sinh viên về người giảng viên đại học 34

Bảng 4.6 Cấp học mà sinh viên thích nhất 36

Bảng 4.7 Ý kiến của giảng viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 38

Bảng 4.8 So sánh ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 39

Bảng 4.9 Sự chia sẻ của sinh viên đối với giảng viên 40

Bảng 4.10 Phản ứng của sinh viên khi bị thầy cô trách oan 41

Bảng 4.11 Sự đối xử của giảng viên đối với sinh viên 42

Bảng 4.12 Nhận định của sinh viên về sự đối xử của giảng viên trong giảng đường 43 Bảng 4.13 Phản ứng của sinh viên khi bị đối xử bất công 43

Bảng 4.14 Ứng xử của Thầy/cô khi sinh viên có phản ứng về cách xử lý của giảng viên 44

Bảng 4.15 Xử sự của thầy/cô khi sinh viên có những hành động không đúng 45

Bảng 4.16 Mức độ sinh viên trình bày những khó khăn của mình với thầy/cô 46

Bảng 4.17 Những khó khăn sinh viên thường trình bày với giảng viên 46

Bảng 4.18 Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên 47

Bảng 4.19 Những điều cần thiết phải có trong giảng dạy của giảng viên 48

Bảng 4.20 Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên 49

Bảng 4.21 Ý kiến của giảng viên về phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay ở ba trường ĐH 50

Bảng 4.22 Đánh giá của sinh viên về việc giáo dục các kỹ năng khác ngoài chuyên môn 51

Bảng 4.23 Đánh giá về sự tiếp thu kiến thức của sinh viên qua các môn học lý luận chính trị 52

Trang 10

Bảng 4.26 Môi trường tác động đến việc hình thành nhân cách sinh viên 55

Bảng 4.27 Ý kiến của giảng viên về các yếu tố tác động đến đạo đức của sinh viên 56 Bảng 4.28 Ý kiến của sinh viên về biện pháp hạn chế tiêu cực 57

Bảng 4.29 Ý kiến của giảng viên hạn chế tiêu cực 59

Bảng 4.30 Biện pháp cải thiện mối quan hệ thầy trò 60

Bảng 4 31 Phẩm chất người giảng viên cần có 62

Trang 11

Biểu đồ 4.1 Quan niệm của sinh viên về tình thầy trò 29

Biểu đồ 4.2 Quan niệm của giảng viên về tình thầy trò 31

Biểu đồ 4.3 So sánh quan niệm của giảng viên và sinh viên về tình thầy trò 32

Biểu đồ 4.4 Ý kiến của sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 33

Biểu đồ 4.5 Ý kiến của sinh viên về giảng viên đại học 35

Biểu đồ 4.6 Ý kiến của giảng viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 39

Biểu đồ 4.7 So sánh ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò hiện nay 40

Biểu đồ 4.8 Ý kiến của giảng viên về phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay ở ba trường ĐH 50

Trang 12

Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh nói: “Một năm bắt đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” Đó là một chân lý cho nên, từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến lúc từ giã cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến thế

hệ trẻ, đặt niềm tin vào thế hệ trẻ Người không chỉ đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ, coi họ là trụ cột, là tiền đồ phát triển của dân tộc; mà còn chỉ ra những hạn chế của họ

và luôn nhắc nhở Đảng phải chú trọng quan tâm đến giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ trước khi đưa họ vào hoạt động cách mạng Ngay từ khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Bác đã sớm nhận

thức vấn đề thanh niên, giáo dục thức tỉnh thanh niên, trong bài viết “Nâng cao chất lượng giáo dục thanh niên theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, TS

Nguyễn Duy Hạnh (2002), nêu rõ “Người khẳng định: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Ngươi sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh” Với tầm nhìn xa trông rộng , Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định muốn xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, trước hết phải có những con người Xã Hội Chủ Nghĩa; muốn làm tròn trọng trách người chủ tương lai của đất nước, thanh niên phải được giáo dục, bồi dưỡng một cách thường xuyên và toàn diện

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu của chúng ta là "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng (khoá VI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc nhận định

về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên như một lời cảnh báo: "Chất lượng giáo dục, nhất là chất lượng giáo dục tư tưởng, đạo đức còn kém, một bộ phận học sinh, sinh viên mờ nhạt về lý tưởng xã hội chủ nghĩa" Văn kiện Đại hội IX vạch rõ: "Đối với thế

hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc"

Thật vậy, ngày nay Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập nên càng rất cần

Trang 13

những chủ trương đổi mới nền giáo dục nước nhà cho phù hợp với xu thế hiện đại Việc đổi mới vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, nhưng điều quan trọng hơn đó là việc chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho thế hệ tương lai Tuy nhiên, như chúng ta biết gần đây

có rất nhiều vần đề ảnh hưởng đến đạo đức của người học sinh, nhất là sinh viên ở các trường đại học Vẫn còn nạn sinh viên theo thầy xin điểm, nếu không được thì sử dụng biện pháp đi ngược lại với truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta như: gọi thầy

cô bằng “ông nọ”, “bà kia”, nữ sinh viên đổi “tình” lấy điểm ở một trường cao đẳng địa phương từng gây xôn xao dư luận vài năm trước Có lẽ những ai từng ngồi trên ghế giảng đường hẳn không lạ cảnh trước khi thi nhiều sinh viên rủ nhau đến thăm giáo viên phụ trách môn; hay cảnh nhiều sinh viên sau khi có kết quả thi trượt “bỗng dưng” trở nên khá thân thiết với giáo viên của mình còn đâu “tôn sư trọng đạo” Đặc biệt có những bạn hầu như mất hết lý trí, như một học sinh tạt acid vào thầy giáo của mình khiến thầy không thể đứng lớp và gây xôn xao dư luận để lại trong lòng mọi người, nhất là các nhà lãnh đạo một câu hỏi nhức nhối “vì đâu ra nông nổi?” Đứng trước những vấn đề đạo đức của một số sinh viên đang xuống cấp, người nghiên cứu (NNC)

muồn thực hiện đề tài : “Tìm hiểu ý kiến của giảng viên, sinh viên về mối quan hệ giữa thầy - trò và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh” Với mong muốn tìm ra được những yếu

tố ảnh hưởng đến đạo đức của sinh viên để giúp nhà trường có cái nhìn đúng đắn hơn

về việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Đồng thời giúp cho NNC có thêm kiến thức xã

hội về việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này thực hiện nhằm mục đích : Giúp các trường đại học có thêm những hiểu biết về quan điểm của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò để từ đó có phương hướng, biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên một cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

1.3 Vấn đề nghiêu cứu

Trong đề tài này NNC cần giải quyết 3 vấn đề nghiên cứu:

Vấn đề 1: Ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò

Vấn đề 2: Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên

Trang 14

Vấn đề 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các phương pháp giáo dục

đạo đức cho sinh viên và phát triển mối quan hệ thầy trò

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Mối quan hệ thầy trò hiện nay như thế nào? Biện pháp nào để thúc đẩy

và phát triển mối quan hệ thầy_trò ngày càng tốt đẹp hơn?

Câu hỏi 2: Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên đóng vai trò quan trọng như thế

nào? Tại sao?

Câu hỏi 3: Các phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên là gì? Được thực hiện

dưới những hình thức nào?

Câu hỏi 4: Tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên địa

bàn Tp.HCM hiện nay như thế nào?

+ Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM

đã phù hợp hay chưa?

+ Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên gặp những khó khăn và thuận lợi nào? + Biện pháp nào có thể khắc phục những khó khăn trên?

Câu hỏi 5: Việc giáo dục đạo đức ở trường đại học trên địa bàn Tp.HCM có ảnh

hưởng như thế nào đến mối quan hệ thầy trò?

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận: nghiên cứu phục vụ cho các câu hỏi nghiên

cứu 1,2,3,4

Nhiệm vụ 2: Khảo sát, phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả áp dụng các

phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay tại các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM Đồng thời tìm hiểu ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò nhằm phục vụ cho câu hỏi nghiên cứu 1,2,3,4,5

Nhiệm vụ 3: Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho

sinh viên và phát triển mối quan hệ thầy trò ngày càng tốt đẹp hơn nhằm phục vụ cho câu hỏi nghiên cứu 1,5

1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng : Mối quan hệ thầy trò và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên

tại các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM

Trang 15

Khách thể :

- Giảng viên, sinh viên

- Quá trình giáo dục đạo đức cho người học

1.7 Phạm vi nghiên cứu

Do vấn đề về thời gian nên đề tài chỉ thực hiện ở 3 trường ĐH trên địa bàn Tp.HCM

1.8 Kế hoạch nghiên cứu

1 15/8-14/9/09

- Tìm kiếm tài liệu

- Xác định đề tài nghiên cứu

- Tiến hành viết đề cương

- Soạn phiếu điều tra

- Phát phiếu điều tra và tiến hành phỏng vấn

NNC

8 2-3/2010

- Tổng hợp và phân tích kết quả điều tra

- Viết phần nghiên cứu

Trang 16

1.9 Cấu trúc luận văn

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.7 Phạm vi nghiên cứu

1.8 Kế hoạch nghiên cứu

1.9 Cấu trúc luận văn

Chương 2: Cơ sở lí luận

2.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu

2.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên và nhân cách sinh viên hiện đại

2.3 Tổng quan về mối quan hệ thầy trò

2.4 Tổng quan về phương pháp giáo dục đạo đức

2.5 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người giảng viên

2.6 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người sinh viên

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

3.1 Sơ lược về nơi nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3 Cách tiến hành

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 17

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Sơ lược về vấn đề nghiên cứu

Phẩm chất đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách con người Do đó, vấn đề giáo dục đạo đức trong lịch sử cũng như ngày nay luôn luôn được các học giả và nhân loại rất coi trọng

Giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay là nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện và bền vững nguồn nhân lực thực hiện Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa đất nước

Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TT ngày 29-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ, khẳng định mục tiêu tổng quát: "Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Chiến lược đưa ra 6 mục tiêu cụ thể hoá mục tiêu tổng quát, trong đó mục tiêu đầu tiên, liên quan đến vấn đề giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức: "Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên" Cho ta thấy dù ở bất cứ thời điểm nào thì đạo đức của con người luôn luôn được đặt lên hàng đầu Do đó, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên rất được các nhà nghiên cứu quan tâm đến trong công cuộc hiện nay Trên thực tế vấn đề đạo đức, lối sống của một bộ phận sinh viên đang bị tha hóa và biến chất Nó đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, NNC xin nêu sơ lược như sau:

1 Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng

và Giải pháp” do Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai

2009 ( Theo báo Giáo Dục và Thời đại, nguồn

http://www.dayhoctructuyen.org/showthread.php?t=1079

truy cập ngày 9/9/2009) Hội Thảo thống kê được 55 – 65% số người phạm tội ở nước

ta những năm gần đây là thanh, thiếu niên, trong đó có không ít học sinh, sinh viên Thông qua Hội thảo cho ta hiểu rõ về các nguyên nhân dẫn đến số học sinh, sinh viên

Trang 18

vi phạm pháp luật ngày càng cao và Hội thảo cũng đưa ra được những biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên

2 Tạp chí đại học Sài Gòn số 2, tháng 12/2009, trang 13 có giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Bình, PGS.TS, Viện nghiên cứu sư phạm trường đại học Sư Phạm

Hà Nội: Các tiêu chí đạo đức của người giáo viên hiện nay Tác giả đề xuất 105 tiêu

chí đạo đức của người giáo viên hiện nay và được thẩm định bằng phương pháp định lượng (trong đó có 247 sinh viên và 183 giáo viên) đã thống nhất được 105 tiêu chí đạo đức của giáo viên hiện nay Nó có thể sử dụng để định hướng nuôi dưỡng lí tưởng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm, đồng thời cũng còn sử dụng để định hướng mỗi giáo viên tự rèn luyện nhân cách Điều đặc biệt quan trọng là thông qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra kết luận con người ngày nay không dễ hành động vì người khác như trước đây, đặc biệt đối với lớp trẻ, tiêu chí: “ chủ động nhận dễ về mình và nhường thuận lợi cho đồng nghiệp” sinh viên chỉ có 38.5% đồng ý, giáo viên thì có 64.6%

3 Tạp chí Khoa học chuyên đề giáo dục số 19, tháng 1/2010, trang 76 có giới thiệu bài viết của tác giả Huỳnh Văn Sơn, là Tiến Sĩ khoa Lí luận giáo dục, trường đại học Sư Phạm Tp.HCM: Khảo sát thái độ của sinh viên đối với giá trị đạo đức - nhân văn qua thang đo đối cực Qua đề tài tác giả giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về thái độ của sinh viên đối với giá trị đạo đức – nhân văn trong việc định hướng giá trị lối sống, cho thấy những thái độ tích cực được các sinh viên lựa chonk còn chưa cao (khoảng 50 – 70%) trong toàn mẫu (874 sinh viên thuộc các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM) Với những thái độ tiêu cực hoặc phiến diện vẫn còn khoảng 30 – 50% lựa chọn theo quan điểm đồng ý Điều này cho thấy việc lựa chọn các giá trị đạo đức – nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên chưa tích cực Đề tài đã nêu lên được những vấn đề tiêu cực trong nhìn nhận cua sinh viên về các giá trị đạo đức – nhân văn Tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát về thái độ của sinh viên chứ chưa đi sâu vào những nguyên nhân và biện pháp giải quyết những vấn đề tiêu cực

Qua các nghiên cứu trên cũng như những bài viết trên sách báo về các vấn đề còn hạn chế của sinh viện hiện nay đã hình thành nên ý tưởng tiến hành nghiên cứu đề tài

“Tìm hiểu ý kiến của giảng viên, sinh viên về mối quan hệ giữa thầy - trò và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh” được hình thành

Trang 19

2.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên và nhân cách sinh viên hiện đại

Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh student có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức

Theo Nguyễn Thạc (2008), Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất hay tinh thần của xã hội Nhóm xã hội đặc biệt này có nguồn gốc bổ sung cho đội ngũ tri thức hoạt động học tập được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng có ích cho

xã hội

Như vậy, sinh viên chính là lực lượng nòng cốt của nước nhà trong sự nghiệp đổi mới Do đó cần phải lưu ý đến những đặc điểm tâm lí của sinh viên để có những biện pháp giáo dục tốt

2.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên

Theo Nguyễn Thạc (2008), cho rằng đặc điểm tâm lí lứa tuổi sinh viên có ba đặc điểm chính:

- Đặc điểm tự ý thức của sinh viên

- Định hướng giá trị của sinh viên

- Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của sinh viên

2.2.1.1 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên

Tự ý thức chính là đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của sinh viên

Theo A G Xperơkin (1972), cho rằng tự ý thức là ý thức và sự đánh giá của con nguời về hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức hứng thú, về tư tưởng và động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân mình, và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức là dấu hiệu thiết kế nhân cách được hình thành cùng với hình thành sau này (trích dẫn bởi Nguyễn Thạc, 2008)

Theo Nguyễn Quang Uẩn (2004), thì ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ; ý thức chính là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu Ý thức là tồn tại của nhận thức

có quan hệ mật thiết với hoạt động nhận thức cao nhất của con người và thái độ của con người về thế giới, thể hiện khả năng tự điều khiển và điều chỉnh hành vi của con

Trang 20

Theo Nguyễn Thạc (2008), tự đánh giá của sinh viên là thành phần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức Tự đánh giá kết quả là đánh giá bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân

Lòng tự trọng, tự tin phản ánh trạng thái tâm lí đạo đức của con người và tạo nên thái độ tốt đối với bản thân

Do đó, Nguyễn Thạc (2008) cho rằng, tự ý thức bao gồm cả tự quan sát, tự phân tích, tự trọng, tự đánh giá, tự kiểm tra vv…Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân có chức năng tự điều chỉnh, nhận thức và thái độ đối với bản thân mình Qua quá trình tự ý thức cá nhân tự điều chỉnh hành vi và cử chỉ của mình

Đó là điều kiện để phát triển có ý thức và nhân cách, để xây dựng tương lai và tổ chức toàn bộ thế giới nội tâm của nhân cách đó

Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên

Như vậy, tự ý thức chính là sự kết hợp hài hòa giữa sự nhận thức của ý thức và sự

tự đánh giá của bản thân mỗi cá nhân trong xã hội Con người qua đó sẽ nhận thức rõ hơn về bản thân và thế giới xung quanh để hình thành nên nhân cách của chính mình

2.2.1.2 Định hướng giá trị của sinh viên

Một số nhà tâm lí học như A.V.Petrovski, M.G.Jarosevski quan niệm định hướng giá trị là cơ sở của các chủ thể và cho rằng đó là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung

cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động Như vậy trong định hướng giá trị có quan hệ đến các mặt nhận thức, ý chí và cảm xúc trong sự phát triển nhân cách Dựa vào định nghĩa này có thể định nghĩa, định hướng giá trị của sinh viên là phương thức họ sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với bản thân mình Từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng và động cơ hoạt động của bản thân

Theo Nguyễn Thạc (2008), thì về định hướng giá trị nhân cách, sinh viên lựa chọn năm đặc điểm nổi bậc của nhân cách con người hiện nay là:

+ Có tư duy kinh tế, biết tính toán hiệu quả;

+ Năng động, nhanh thích nghi với hoàn cảnh;

+ Sử dụng thành thạo tiếng nước ngoài;

+ Dám nghĩ, dám làm chấp nhận mạo hiểm;

Trang 21

+ Biết xây dựng cuộc sống gia đình hòa thuận

2.2.1.3 Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của thanh niên - sinh viên

Theo Nguyễn Thạc (2008), thì sự hình thành con đường sống chính là nét đặc trưng của lứa tuổi thanh niên Nó nảy sinh do kết quả khái quát và hợp nhất các mục đích đặt ra trước cá nhân Đó là sự liên kết và thứ bậc hóa các động cơ của nó, là sự hình thành hạt nhân bền vững, sự định hướng giá trị theo mong muốn của cá nhân Mặt khác, quá trình cụ thể hóa và phân hóa các mục tiêu và động cơ đồng thời cũng được diễn ra Do đó, từ những ước mơ có thể được và những lí tưởng trừu tượng dần dần trở thành hiện thực và định hướng vào chương trình thực tiễn của hoạt động

Những vấn đề : tôi sẽ trở thành ai (tự xác định nghề nghiệp) và là người như thế nào (tự xác định đạo đức) được bắt đầu từ tuổi thiếu niên Nhưng thiếu niên chỉ ước

mơ mà không ngĩ cách thực hiện nó, còn thanh niên thì khác, họ không chỉ nghĩ đến kết quả cuối cùng trong kế hoạch đường đời của mình mà tìm cách thức đạt tới và ấn định con đường thực hiện

Cũng theo Nguyễn Thạc (2008), Trong thời gian học tập ở đại học, do ảnh hưởng của giảng dạy các môn khoa học xã hội, chuyên ngành và các môn khác và do tham gia vào đời sống xã hội nên xu hướng nghề nghiệp của nhân cách được hình thành và phat triển ở sinh viên

Đúng vậy, sinh viên là những người ở vào tuổi có sự phát triển của tự ý thức Do

đó, môi trường đại học thực sự là một môi trường giáo dục tốt để giúp cho sinh viên có

đủ năng lực cũng như ý chí để tự xác định cho mình một con đường đi và tự xác định nghề nghiệp cho bản thân

2.2.2 Một số đặc điểm nhân cách của sinh viên hiện đại

2.2.2.1 Khái niệm nhân cách

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu

Trang 22

(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_c%C3%A1ch, truy cập ngày 9/9/2009)

Theo Familyfun (Biên dịch: Ngọc Anh) : “Nhân cách là những nét đặc trưng tiêu biểu của con người, được hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trường (tự nhiên) Nhân cách bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, bao gồm tính khí, ngày sinh, yếu tố gia đình, những tác động trong môi trường sống, những căn bệnh nguy hiểm, nỗi ám ảnh về cái chết, chuyển nhà, địa vị kinh tế, giới tính, trí thông minh, tuổi tác, sức khoẻ và việc nuôi dạy con cái ”

( Nguồn: http://kynangsong.xitrum.net/giadinh/175.html, truy cập 9/9/2009)

Theo Nguyễn Quang Uẩn (2004) “ Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.”

Theo Hồ Chí Minh : Nhân cách con người gồm có “đức và tài”

Theo quan niệm của Mạnh Tử: Nhân cách làm người cần có đạo đức Đạo đức cá nhân bao gồm hai loại quan hệ : quan hệ đạo đức cảu cá nhân với người khác, với những cộng đồng có liên quan đến mình và quan hệ đạo đức của cá nhân với bản thân mình

Từ điển tiếng việt: Nhân cách là tư cách và phẩm chất con người

Còn theo Nguyễn Thạc (2008), thì nhân cách là tổng hòa những đặc điểm và những thuộc tính tâm lý cá nhân Nó quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó Như vậy, có thể nói nhân cách là tính nết của con người, giúp ta phân biệt được người này với người khác thông qua cách đối nhân xử thế của mỗi cá nhân Nhân cách của con người được hình thành và phát triển mãi mãi theo thời gian Nhân cách chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Trong đó, hai yếu tố chủ yếu là: môi trường sống và tự bản thân cá nhân đó

2.2.2.2 Xu hướng phát triển nhân cách sinh viên

Sinh viên hiện đại có độ tuổi từ 18 đến 25 là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội Họ muốn tìm một nghề ổn định trong cuộc sống Theo B.G.Ananhev thì : “ lứa tuổi sinh viên là thời kì phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là họ có vai trò xã hội của người lớn”( trích dẫn bởi Nguyễn Thạc (2008),

Trang 23

trang 85) Đúng vậy, người sinh viên thường có kế hoạch hoạt động riêng, độc lập trong hành vi và phán đoán

Theo Nguyễn Thạc (2008), “ thế giới nội tâm của sinh viên rất phức tạp và có nhiều mâu thuẫn khiến ta khó thấy tính độc đáo của từng nhân cách Có thể nêu ra ba mâu thuẫn cơ bản sau :

+ Thứ nhất là mâu thuẫn giữa mơ ước của người sinh viên với khẳ năng, điều kiện

và kinh nghiệm để thực hiện ước mơ đó

+ Thứ hai là mâu thuẫn giữa mong muốn học tập sâu những môn mình yêu thích và yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập ( quỹ thời gian có hạn phải chia nhiều môn, nên không thể giành nhiều cho môn học mình có hứng thú)

+ Thứ ba là mâu thuẫn giữa số lượng thông tin dội vào sinh viên nhiều vô kể và thời gian để kịp hiểu sâu các thông tin đó.”(trang 86)

Như vậy, sự phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn; là quá trình chuyển từ các yêu cầu bên ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ

Theo Nguyễn Thạc (2008), nhân cách của con người được hình thành và phát triển trong suốt cả đời, song, những năm tháng sống trong trường đại học là thời kì hình thành mạnh mẽ nhất về nhân cách

Theo Vũ Thị Nho (1999), tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những tình cảm cao cấp như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong các hoạt động và trong đời sống của sinh viên Đặc điểm của các loại tình cảm này là mang tính bền vững và hệ thống hơn các lứa tuổi trước

2.2.2.3 Đặc điểm nhân cách sinh viên hiện đại

Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là "tổng hoà của các quan hệ xã hội" Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng như: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn

Trang 24

Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt

Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó

là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như sinh viên Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo Về môi trường sống, sinh viên thường theo học tập trung tại các trường ĐH và CĐ (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi

Đối với sinh viên nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra qúa trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ sinh viên chênh lệch lớn ngay từ đầu vào Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng sau:

+ Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v v Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ + Tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh

tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường

Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với

sự định hướng cụ thể Các câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: sinh viên hôm nay sống

có lý tưởng không? Lý tưởng ấy là gì? Có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý

Trang 25

tưởng của dân tộc, của nhân loại không? Có thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước

và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân

+ Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez,

đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng

+ Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận sinh viên

Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực

(Nguồn: http://forum.hanu.vn/forums/t/244.aspx, truy cập ngày 16/9/2009)

2.3 Tổng quan về mối quan hệ thầy trò

2.3.1 Một số khái niệm

Quan hệ giữa thầy và trò là sự giao tiếp giữa người với người, được hình thành trong quá trình hoạt động cùng nhau Người thầy ngoài việc truyền đạt kiến thức cho học sinh, còn làm công tác giáo dục để giúp học sinh hoàn thiện nhân cách Đồng thời học sinh cũng có tác động ngược lại

Trang 26

Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa người với người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lí và được biểu hiện ở các quá trình trao đổi thông tin, nhận biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau

Theo Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (2002), cho rằng hoạt động sư phạm bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, có quan hệ giữa thầy và trò

Như vậy quan hệ giữa thầy và trò là một hoạt động sư phạm Mục đích của hoạt động này là truyền đạt được các tri thức, kĩ năng, thái độ v.v…cho học sinh, suy cho cùng động cơ mà hoạt động giao tiếp sư phạm hướng tới chính là nhân cách học sinh Trong đó, giao tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sư phạm

Cũng theo Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (2002), giao tiếp sư phạm là giao tiếp

có tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng)

và giáo dục, có chức năng phạm vi nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lí, xây dựng không khí tâm lí thuận lợi cùng với các quá trình tâm lí khác ( chú ý, tư duy,…) tạo ra kết quả tối ưu cuả quan hệ thầy trò trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học

2.3.2 Quan hệ thầy trò

Từ xưa, ông cha ta có câu: “Tôn sư trọng đạo” Quan hệ thầy trò luôn là mối quan

hệ cao cả, thiêng liêng và cao quí Người học trò hiện hữu tồn tại là nhờ có hình ảnh người thầy và ngược lại, quan hệ này không tách biệt được, mà nếu tách biệt thì không tồn tại Ông cha ta thường nói: "Không thầy đố mày làm nên" , "Trọng thầy mới được làm thầy", "Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ, phải yêu kính thầy" v.v

Điều đó cho thấy rằng vị trí người thầy trong xã hội rất quan trọng không có gì thay thế được Thầy giáo đem hết tâm trí sức lực để dạy dỗ học trò nên người, giúp ích cho xã hội Trò thế hiện lòng chân thành biết ơn , yêu thương và kính trọng thầy

Đó là mối quan hệ tốt đẹp trong đạo nghĩa thầy trò

Ngày xưa, địa vị người thầy được xếp vị trí then chốt trong xã hội: "quân, sư, phụ" Ngày nay, trước sự đổi thay mạnh mẽ trong xã hội, người học trò không còn khǎng khít với thầy như xưa nữa Một số ít người học trò bị "tha hóa", chạy theo cuộc sống xô bồ hiện tại và quên đi tình nghĩa thầy trò Nhiều khi có thầy vì mưu sinh, làm

đủ thứ nghề để kiếm sống nên bị phụ huynh và học sinh xem thường Muốn cho học

Trang 27

sinh mến yêu, kính trọng thầy, thầy phải là người mẫu mực và có kiến thức sâu rộng Nói khác đi, thầy giáo cần có nhân cách tốt để học sinh kính phục, noi theo Thầy không chỉ truyền đạt kiến thức có tính chất sách vở mà còn đào tạo thế hệ trẻ trở nên người tốt Sự thành đạt của trò phần lớn nhờ công lao thầy giáo nhưng một phần do nội lực bản thân và sự hỗ trợ của gia đình và sự tác động của xã hội Mối quan hệ gia đình, học đường và xã hội càng ngày càng chặt chẽ và có tác động sâu xa đối với thành quả giáo dục trẻ

Theo Ngô Tứ Thành (2010), mối quan hệ thầy trò trong quá trình dạy học là nhân

tố quan trọng nhất có ảnh hưởng lớn đến việc học tập và tính cách của sinh viên khi ra trường Với sự phát triển của nhiều loại hình công nghệ hỗ trợ dạy học và sự hội nhập của xã hội ngày nay, mối quan hệ thầy trò đã mang bản chất mới Đó là mối quan hệ giữa người tổ chức, điều khiển, chỉ đạo và người tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức ( trích tạp chí khoa học chuyên đề giáo dục, trường đại học Sư Phạm Tp.HCM, số 19, 2010, trang 101)

Cuộc sống ngày nay có nhiều thay đổi, quan hệ thầy trò trở nên phức tạp Hình ảnh người thầy ít nhiều bị lu mờ, không còn những thần tượng như xưa Người thầy ít quan tâm đến đời sống của trò và trò thì ít nhiều bị lôi cuốn với sự thay đổi của xã hội Cho nên, người Thầy phải hiểu rõ hoàn cảnh và tâm lý lứa tuổi của trò thì mới đạt kết quả tốt trong công cuộc giáo dục Những bài học đạo đức suông, những lời khuyên mang tính lý thuyết nhiều khi không còn tác dụng đối với trò và có khi đem lại kết quả ngoài ý muốn Mối quan hệ thầy trò chỉ trở nên mật thiết trong tình cảm chân thật, biết tôn trọng lẫn nhau và một điều khá quan trọng chính là biết quan tâm, chia sẻ

Xã hội càng ngày càng phát triển, đòi hỏi người thầy phải đổi mới phong cách sống

và ý thức nghề nghiệp cao Điều quan trọng, thầy giáo phải trở thành tấm gương sáng

cho học sinh noi theo Tất cả vì tương lai thế hệ trẻ, vì sự nghiệp giáo dục

2.4 Tổng quan về phương pháp giáo dục đạo đức

2.4.1 Các khái niệm cơ bản

2.4.1.1 Khái niệm Đạo đức

Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của

Trang 28

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_%C4%91%E1%BB%A9c, truy cập ngày 9/9/2009)

Theo Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo Đức là một hình thái xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực trên

cơ sở kinh tế Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang giá trị về sự văn minh của con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vật chất và thông qua sự đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng tiến bộ, phong phú và hoàn thiện hơn

Như vậy, Đạo đức chính là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử của con người trong

xã hội, trong gia đình và cộng đồng

2.4.1.2 Khái niệm phương pháp giáo dục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Phương pháp giáo dục (hay còn gọi là phương pháp dạy học, phương pháp giảng dạy, giáo dục học, sư phạm) là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học

Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học viên tự tìm kiếm tri thức, tự hoạt động theo cách riêng độc lập và sáng tạo

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007), “Phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng trong cấu trúc của quá trình giáo dục, có quan hệ mật thiết với các thành tố khác của quá trình này; đặc biệt là với mục đich, nội dung, nhà giáo dục, người được giáo dục, phương tiện giáo dục, với các điều kiện thực hiện quá trình này.”

Phương pháp giáo dục được xem là cách thức tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục đã đề ra

Trang 29

2.4.2 Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên trong nhà trường

+ Sự tác động của nhà trường đối với giáo dục nhân cách sinh viên có tầm quan trọng đặc biệt Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, trước tiêu cực xã hội xâm nhập học đường thì việc giáo dục đạo đức, nhân cách, mĩ học, các khoa học xã hội_nhân văn, chủ nghĩa Mác_Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hóa dân tộc phải có vị trí xứng đáng trong các chương trình học ở bậc đại học, vì nó gắn liền với sự sống còn của chế độ chính trị và có tính định hướng giá trị nhân cách sinh viên

2.4.2.2 Mục tiêu

Tạo ra một thế hệ trẻ thực sự có đức có tài nhằm phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của nước nhà

2.4.2.3 Các phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên

Theo Bùi Hiền (2001),Giáo dục đạo đức là bộ phận hợp thành nền tảng của nội dung giáo dục toàn diện, nhằm giúp thế hệ trẻ hình thành nên lí tưởng, ý thức và tình cảm đạo đức Từ đó, tạo nên những thói quen và hành vi đạo đức của con người mới, con người XHCN thể hiện ở các phẩm chất đạo đức như: lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, đức hy sinh, dũng cảm, tính liêm khiết, trung thực, vô tư, khiêm tốn, tự tin, tự trọng,…

Giáo dục đạo đức cho sinh viên là yêu cầu khách quan của sự nghiệp "trồng người", nó giúp đào tạo ra thế hệ vừa "hồng" vừa "chuyên" nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Các nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học rất đa phong phú và đa dạng Chủ yếu là giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, phương pháp luận duy vật biện chứng, tinh thần tự chủ, sáng tạo, văn hóa giao tiếp… Giáo dục đạo đức cho

Trang 30

sinh viên, thông qua nhiều hình thức phù hợp với đối tượng sinh viên: chẳng hạn dạy các môn học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyên ngành, hình thức nêu gương

Do đó, việc giáo dục đạo đức trong nhà trường không chỉ gói gọn trong những môn học đạo đức, mà cần được thâm nhập và xuyên suốt trong tất cả các môn học, các hoạt động nội, ngoại khóa, trong công tác ngoài nhà trường…

Phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hết sức phong phú và đa dạng Trước hết cần quán triệt nguyên tắc lý thuyết gắn với thực tiễn, nói đi đôi với làm Điều này, đòi hỏi người thầy phải là tấm gương cho ngừơi học noi theo trong mọi công việc, mọi tình huống Bất kỳ một hành vi trái đạo đức nào của người dạy điều có thể vô hiệu hóa kết quả của quá trình giáo dục và cũng phủ định luôn vai trò của người giáo dục Cần kết hợp giáo dục đạo đức thường xuyên và chặt chẽ với cha mẹ học sinh và các tổ chức

xã hội, vì sự hình thành ý thức và hành vi đạo đức không có ranh giới về không gian, thời gian và đối tượng Và bất kỳ một con người nào sinh ra trong xã hội điều chịu sự tác động của ba môi trường là gia đình- xã hội- nhà trường

Trong giáo dục đạo đức cần hết sức chú ý động viên, khuyến khích và nêu gương người tốt, việc tốt, nhưng cũng không loại trừ các biện pháp xử lý cứng rắn đối với người xấu, việc xấu

Theo Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Phương Yến (2007), Phương pháp giáo dục đạo đức gồm có các phương pháp như: giảng giải, nêu gương, tác động, thuyết phục, khích lệ, phê bình,kỉ luật…trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết với thực hành, lời nói đi đôi với việc làm của cả giáo viên lẫn học sinh

™ Những nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay:

- Trước hết, các giá trị cần được lựa chọn để định hướng cho thanh niên sinh viên

Đại học hiện nay phải đáp ứng được mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ phục vụ đất nước, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra Muốn thực hiện điều đó, giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH giữ vai trò quyết định, nó là nền tảng điều chỉnh mọi hành vi của sinh viên, xác định thái độ lựa chọn và ứng xử trước những biến động to lớn do cơ chế thị trường đặt ra

- Thứ hai, khi tiến hành giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, chúng ta

không thể tách rời khỏi việc giáo dục thế giới quan cách mạng và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên Bởi vì, nhận thức đúng là yếu tố cốt lõi tạo niềm tin có

Trang 31

căn cứ khoa học Tuy nhiên, thế giới quan và nhất là nhân sinh quan giai đoạn cách mạng hiện nay đã được bổ sung nhiều nhân tố mới do chính cuộc sống mang lại

- Thứ ba, một nội dung khác nữa khi giáo dục đạo đức cho thanh niên sinh viên

hiện nay, là tạo dựng ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, mình vì mọi người,

chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, bảo vệ môi trường sống Tinh thần khoan dung và ý

thức cộng đồng là kết tinh của các giá trị truyền thống, nó được hình thành trong lịch

sử chống giặc ngoại xâm và dựng nước của dân tộc, tinh thần ấy tạo nên sức mạnh tiềm ẩn bên trong của con người Việt Nam Biểu hiện cụ thể, sinh động là bằng nhiều hình thức giáo dục cho sinh viên ý thức tập thể, phong trào "uống nước nhớ nguồn",

"đền ơn đáp nghĩa", phụng dưỡng những người có công với cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, bảo vệ của công, giữ vững kỷ cương, nội quy, quy chế ở trường cũng như nơi sinh sống

- Thứ tư, sự tác động của khoa học, công nghệ đang làm cho đời sống kinh tế - xã

hội có những bước chuyển biến mau lẹ Để có thể thích nghi được với hoàn cảnh đó, đòi hỏi thế hệ sinh viên phải có tinh thần tự chủ nhạy bén, chấp nhận sự hy sinh, dám

đương đầu khẳng định mình Vì thế, một trí tuệ cao, thể chất cường tráng, ý chí mạnh

mẽ chủ động trong công việc là những phẩm chất của thanh niên sinh viên, phải coi đó

là những điều kiện để sau khi ra trường, họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra Đây có thể được xem là nét đạo đức khác biệt hơn cả so với các giá trị đạo đức truyền thống

- Thứ năm, các mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động sâu rộng lên mọi mặt

của đời sống xã hội, có nguy cơ làm băng hoại những giá trị được hình thành lâu đời trong lịch sử Vì thế, một trong những nội dung quan trọng của giáo dục đạo đức cho sinh viên là giáo dục đạo đức của văn hóa giao tiếp, những quan niệm lành mạnh về tình yêu lứa đôi, về hạnh phúc gia đình, về cái đẹp và đạo đức trong kinh doanh

™ Các hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học hiện nay:

Để chuyển tải những nội dung cần giáo dục cho sinh viên có thể sử dụng các hình thức cơ bản sau đây:

- Giáo dục đạo đức mới thông qua giảng dạy học tập các môn học lý thuyết Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của các môn

Trang 32

Mác-mạng cho người học Nó được hình thành trên cơ sở hệ thống các tri thức, các nguyên

lý và quy luật Tất cả các môn học lý luận: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa

xã hội khoa học, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh đều thực hiện chức năng phương pháp luận, hình thành niềm tin, đây là yếu tố then chốt của nền đạo đức mới của sinh viên

- Giáo dục đạo đức, không chỉ thông qua các môn học lý luận, thực tế cho thấy, việc hình thành nhân cách con người phụ thuộc rất nhiều đến nghề nghiệp Sự tinh thông nghiệp vụ, thành thạo về chuyên môn là biểu hiện đạo đức cao đẹp của từng cá nhân, họ ý thức về trách nhiệm, bổn phận về một công việc cụ thể là điều kiện để tạo nên ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ trước người thân, gia đình, quê hương và cao hơn

là dân tộc và Tổ quốc Do vậy, các khoa đào tạo chuyên môn cũng có trách nhiệm tham gia theo cách riêng của mình, để xây dựng nền đạo đức mới cho sinh viên Kinh nghiệm cho thấy trường nào, khoa nào quan tâm nhiều hơn đối với vấn đề này thì tình hình sẽ tốt hơn Vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng Chẳng hạn, các yêu cầu về năng lực, về trình độ, về khả năng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, tôn vinh những người có trình độ uyên thâm thuộc một lĩnh vực nào đó

- Hình thành nên hệ thống đạo đức mới hiện nay cho sinh viên phụ thuộc nhiều yếu tố; trong đó phải kể đến những đặc trưng của tuổi thanh niên Sinh viên thông thường

có độ tuổi từ 18-25 tuổi, ở độ tuổi này họ có nhiều mặt tích cực song cũng có nhiều mặt hạn chế Mặt tích cực của họ đó là lòng nhiệt tình, nhạy cảm trước cuộc sống, ước

mơ cháy bỏng, quyết tâm thực hiện cho được những hoài bão của bản thân, chân thành, cởi mở trong ý nghĩa việc làm, dám chấp nhận hy sinh… Tuy nhiên đối lập với các đức tính ấy lại là những hạn chế của tuổi trẻ, đó là tính bồng bột chủ quan, hấp tấp vội vàng, nhẹ dạ cả tin, gặp khó khăn dễ hoang mang, dao động, dễ bị kích động, thiếu

tự chủ do kinh nghiệp sống còn hạn chế… Tình hình như thế, lấy hình thức hoạt động tập thể để giáo dục đạo đức cho sinh viên sẽ mang lại hiệu quả to lớn Bởi vậy, vai trò

của tổ chức Đảng, đoàn thể có một ý nghĩa quan trọng Sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng ủy và các Cấp ủy Đảng, các hoạt động thiết thực bổ ích, tạo sân chơi, chẳng hạn như: sinh hoạt khoa học, thể dục, thể thao, văn hóa nghệ thuật, thăm di tích lịch

sử, các hoạt động trở về cội nguồn… của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên sẽ là môi trường tốt hình thành đạo đức mới cho thanh niên sinh viên

Trang 33

- Trong sự nghiệp giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ Đảng viên và nhân dân

trước đây, Bác Hồ thường sử dụng gương "người tốt việc tốt", một phong trào có tính

quần chúng và tác động sâu rộng trong nhân dân Vì vậy, nên chăng việc giáo dục đạo

đức cho sinh viên cũng rất cần hình thức nêu gương Các cán bộ Đảng viên, thầy giáo,

bằng lối sống trong sáng, tận tụy trong công việc, bằng vốn hiểu biết sâu rộng, bằng sự công minh có tình có lý trong đối xử với sinh viên, sẽ có tác dụng cảm hóa, hình thành nhân cách tốt cho sinh viên Công tác thi đua khen thưởng phải kịp thời nhằm khuyến khích những sinh viên có thành tích trong các phong trào học tập, rèn luyện về nhiều mặt cũng là một hình thức nêu gương

2.5 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người giảng viên

- Thống nhất lòng yêu nước, giác ngộ XHCN với lí tưởng nghề nghiệp

Phẩm chất này được hình thành trên cơ sở sự hiểu biết có hệ thống những cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng và nhà nước ta, đường lối chính sách của giáo dục về nghề dạy học, về thực tiễn giáo dục Phẩm chất hàng đầu này thể hiện ở niềm tin cách mạng và niềm tin sư phạm

Niềm tin cách mạng là cơ sở để người giáo viên gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp của dân tộc, với sự nghiệp giáo dục mà trọng trách của nó là bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

Niềm tin sư phạm là yếu tố quan trọng thuộc về phẩm chất của người giáo viên, đông thời có vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của người giáo viên Niềm tin sư phạm là niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người, có khả năng giáo dục, là động lực thúc đẩy người giáo viên tìm tòi những nguyên nhân ảnh hưởng đến

sự phát triển của sinh viên, xác định biện pháp tăng cường hoặc hạn chế những nguyên nhân đó

- Người giáo viên cần có tình cảm trong sáng và cao thượng

Tình cảm này xuất phát từ lòng yêu nước, lí tưởng cách mạng “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Tình cảm này thể hiện ở lòng yêu nước, yêu nghề, hứng thú với nhu cầu làm việc của thế hệ trẻ, yêu thương và đùm bọc mọi sinh viên, vui mừng với những tiến bộ của sinh viên, lo lắng và có trách nhiệm trước những lệch lạc hoặc chậm phát triển của sinh viên, kiên trì biết tự kiềm chế và chủ

Trang 34

2.6 Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người sinh viên

- Có lý tưởng cá nhân phù hợp với lý tưởng của Đảng, yêu nước, tự hào, tự cường dân tộc, có ý thức phấn đấu làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh; tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; tính tích cực của xã hội, không bi quan trước hiện tượng tiêu cực còn tồn tại trong xã hội

- Có tinh thần trách nhiệm; tôn trọng pháp luật, biết kính trọng, biết ơn, nhân ái, nhân nghĩa, trung thực, giữ chữ tín, yêu lao động, bảo vệ môi trường

- Có lối sống chủ động, sinh hoạt giản dị lành mạnh, sống có kế hoạch, đồng cảm, chia

sẻ và nhận thức đúng về tình yêu, hôn nhân và gia đình

Trang 35

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Sơ lược về nơi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện ở 3 trường đại học trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

(Tp.HCM):

- Trường đại học Nông Lâm - Tp.HCM

- Trường đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn - Tp.HCM

- Trường đại học Hùng Vương - Tp.HCM

3.1.1 Giới thiệu sơ lược trường đại học Nông Lâm- Tp.HCM

Đại Học Nông Lâm-Tp.HCM là một trường đại học đa ngành, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, tọa lạc trên khu đất rộng 118 ha, thuộc khu phố 6 -phường Linh Trung

- Quận Thủ Đức – Tp.HCM

Trải qua hơn 50 năm hoạt động, Trường đã đạt nhiều thành tích xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp, chuyển giao công nghệ, quan hệ quốc tế Trường đã vinh dự được nhận Huân chương Lao động Hạng ba (năm1985), Huân chương Lao động Hạng nhất (năm 2000), Huân chương Độc lập Hạng ba (năm 2005)

Trường Đại học Nông Lâm thực hiện 3 nhiệm vụ chính như sau:

- Đào tạo cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học (ĐH) và sau đại học (SĐH) trong lãnh vực nông nghiệp và các lãnh vực liên quan Từ năm 2000 trường mở rộng đào tạo sang các lãnh vực khác như: Công nghệ Thông tin, Công nghệ Môi trường, Công nghệ Sinh học, Ngoại ngữ và Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, Công Nghệ Ô Tô, Công nghệ nhiệt lạnh, Cơ điện tử, Điều khiển tự động

- Thực hiện các nghiên cứu khoa học và hợp tác nghiên cứu với các đơn vị trong và ngoài nước

- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người sản xuất

Chương trình đào tạo của trường Đại học Nông Lâm mang tính liên ngành nhằm mục đích cung cấp kiến thức đa dạng và phong phú cho sinh viên

(Nguồn: http://www.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=49&ur=admin, truy cập ngày 9/09/2009)

Trang 36

3.1.2 Giới thiệu sơ lược trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn- Tp.HCM

Trường có 2 cơ sở chính, NNC chọn cơ sở 2 để tiến hành nghiên cứu:

- Cơ sở 2: Khu phố 6- Phường Linh Trung- Quận Thủ Đức- Tp.HCM

Trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn (ĐH KHXH&NV) trực thuộc đại

và giáo dục chất lượng cao cho nền kinh tế quốc dân; góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Chiến lược đào tạo ĐH của trường có các mục tiêu sau:

- Phát triển cơ cấu ngành học, đáp ứng thiết thực yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng cung cấp tri thức và kỹ năng hiện đại, sáng tạo, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới

- Duy trì và phát triển hợp lý quy mô đào tạo ở các hệ đào tạo (chính quy, tại chức, văn bằng 2…), phù hợp với khả năng đào tạo

- Hoàn thiện quy trình quản lý đào tạo ở cấp trường và cấp khoa/bộ môn (Nguồn:http://www.hcmussh.edu.vn/ussh/USSH/ViewIntroduction.aspx?p0=0&p1=1#top, truy cập 16/09/2009)

3.1.3 Giới thiệu sơ lược trường đại học Hùng Vương-Tp.HCM

Đại học Hùng Vương - Tp.HCM là một trường đại học tư thục tại Tp.HCM, được thành lập vào năm 1995 Trường có trụ sở chính tại đường 342 Bis - Nguyễn Trọng Tuyển - Phường 2 - Quận Tân Bình - Tp.HCM

Tôn chỉ của trường: KHOA HỌC – PHÁT TRIỂN – ĐẠO ĐỨC

Trang 37

Phương châm:

+ Lấy chất lượng đào tạo làm mục tiêu hàng đầu, không chạy theo số lượng

+ Bất vụ lợi cá nhân

+ Phát huy tối đa tính chủ động sáng tạo của sinh viên

+ Kết hợp lý thuyết với thực hành, đáp ứng nhu cầu của đất nước, cộng đồng xã hội

và sự tiến bộ của thế giới

+ Chương trình đào tạo chú trọng “CƠ BẢN, HIỆN ĐẠI, VIỆT NAM”

Trường ĐH Hùng Vương- Tp.HCM đang tổ chức đào tạo ĐH, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

(Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_H%C3%B9ng_V%C6%B0%C6%A1ng_(t%C6%B0_th%E1%BB%A5c, truy cập 16/09/2009)

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là tìm hiểu, nghiên cứu điều người khác đã nói, đã làm và đã hiểu biết về vấn đề định nghiên cứu (Châu Kim Lang, 2002)

Sưu tầm, tìm kiếm và chọn lọc những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, trên sách chuyên ngành, tạp chí, internet, luận văn,… từ đó hệ thống lại một cách logic các vấn đề

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong đề tài để tìm hiểu các lý thuyết về mối quan hệ thầy trò, giáo dục đạo đức cho sinh viên, nhân cách người giảng viên.v.v Từ đó phân tích, tổng hợp, sắp xếp tài liệu hợp lí làm cơ sở lí luận của đề tài

3.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi

Sử dụng bảng câu hỏi trắc nghiệm và gợi mở để tiến hành khảo sát lấy ý kiến từ phía sinh viên và giảng viên

Dự trù phát 390 phiếu dành cho 3 trường đại học Trong đó:

- Mỗi trường 120 phiếu, sẽ được phát cho sinh viên 4 khóa (I,II,III,IV)

- 30 phiếu dành cho giảng viên, mỗi trường có 10 phiếu

Chọn mẫu ngẫu nhiên

Trang 38

Câu hỏi đưa ra nhằm mục đích làm rõ các nội dung sau:

- Về phía giảng viên:

Quan niệm về mối quan hệ thầy trò hiện nay

Quan niệm như thế nào về đạo đức của sinh viên hiện nay

Trong quá trình dạy học thầy cô có đã sử dụng những phương pháp nào để nhằm giúp cho sinh viên ngoài việc tiếp cận bài học còn hiểu thêm về vai trò và nghĩa

vụ của một công dân trong thời kì đổi mới

- Về phía sinh viên:

Những môn học về chính trị có giúp ích gì cho bạn và theo bạn việc học các môn chính trị có ý nghĩa không

Quan niệm về mối quan hệ thầy trò hiện nay

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phương pháp thống kê toán học, các phần mềm xử lý số liệu là phần mềm excel để tóm tắt các kết quả thu được dưới dạng dễ hiểu, dễ xử lý nhất Từ đó rút ra được những kết luận tổng quát nhất

3.2.4 Phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tích định lượng:

Số liệu thu thập được sẽ tính theo tỷ lệ phần trăm để đánh giá từng nội dung khảo sát Số liệu này cũng được sử dụng để vẽ biểu đồ dựa trên phần mềm Microsoft Excel

để làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu

Tính tỉ lệ phần trăm từ các dữ liệu thu thập được trong phiếu điều tra, khảo sát

- Phương pháp phân tích định tính:

Được dùng để phân tích các câu hỏi mở trong phiếu điều tra, khảo sát khách thể nghiên cứu, giải thích dựa trên nền tảng cơ sở lí luận

Phân tích quan niệm của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy trò

Phân tích tìm ra các yếu tố góp phần vào việc nhận định phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên đã phù hợp chưa? Phân tích ảnh hưởng của việc giáo dục đạo đức đến mối quan hệ thầy trò?

Trang 39

3.3 Phương pháp tiến hành

3.3.1 Các bước chuẩn bị

- Xin giấy giới thiệu đến các trường để tham khảo và thu thập tài liệu

- Thu thập tài liệu từ mạng Internet, thư viện và nhiều sách báo, tạp chí khác… để xây dựng cơ sở lý luận

3.3.2 Tiến hành khảo sát

Để tìm hiểu ý kiến của giảng viên và sinh viên về mối quan hệ thầy – trò và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên NNC đã tiến hành điều tra khảo sát trên

ba trường đại học, quận Thủ Đức Tp.HCM

3.3.2.1 Kết quả khảo sát phiếu xin ý kiến sinh viên ba trường trên địa bàn Tp.HCM là các trường: ĐHNL, ĐHKHXH&NV, ĐHHV như sau:

- Tổng số phiếu phát ra: 360 phiếu

- Tổng số phiếu thu vào: 330 phiếu

- Tổng số phiếu hợp lệ: 303 phiếu

- Tổng số phiếu không hợp lệ: 27 phiếu

Nguyên nhân phiếu không hợp lệ là do phiếu không điền đầy đủ thông tin trong bảng câu hỏi

- Tổng số phiếu phát ra: 30 phiếu

- Tổng số phiếu thu vào: 30 phiếu

- Tổng số phiếu hợp lê: 30 phiếu

- Tổng số phiếu không hợp lệ: 0 phiếu

Trong đó:

+ Trường ĐHNL: 10 phiếu

+ Trường ĐHKHXH&NV: 10 phiếu

Trang 40

Chương 4 : KẾT QỦA NGHIÊN CỨU

4.1 Mối quan hệ thầy trò

4.1.1 Quan niệm về tình thầy trò

4.1.1.1 Quan niệm của sinh viên về tình thầy trò (được thể hiện qua câu hỏi 4, 16

Qua bảng 4.1 ta thấy, đại đa số sinh viên quan niệm về tình thầy trò là thiêng liêng

và cao cả (với SL 199, chiếm 65,74%) Một số sinh viên quan niệm tình thầy trò bình thường (với SL 67, chiếm 21,99%) Còn lại 37 sinh viên (chiếm 12,27%) có ý kiến khác, một số ý kiến cho rằng tình thầy trò là thân thiết và gần gũi, bên cạnh đó cũng có

ý kiến thân thiện hay không còn tùy vào từng giảng viên Điều đó thể hiện rõ qua biểu

Bình thường

Ý kiến khác

Biểu đồ 4.1 Quan niệm của sinh viên về tình thầy trò

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w