- Nhà tâm lý học người Anh M.Argyle 2003 thì cho rằng: “giao tiếp thông tin mà nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc thân thể của con người tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
GVHD: NGUYỄN THANH THỦY SVTH : TRẦN THỊ LAN
LỚP : DH06SP MSSV: 06132048
Tp.HCM, tháng 6/2010
Trang 2Tác giả
TRẦN THỊ LAN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Cử nhân ngành
SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN THANH THỦY
Tháng 6/2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục con nên người
Em xin trân trọng gửi lời biết ơn đến:
- Ban giám hiệu trường ĐH Nông Lâm TPHCM
- Qúy thầy cô trường ĐH Nông Lâm TPHCM
Đã hết lòng dạy bảo và truyền thụ kiến thức khoa học và bổ ích trong suốt thời gian
em học tại trường
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Thủy – Trưởng Bộ môn Sư phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp – trường ĐH Nông Lâm TPHCM đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và toàn thể các bạn sinh viên trường ĐH Quốc
Trang 4+ Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp của sinh viên Đại học (SVĐH)
+ Khẳng định vai trò quan trọng của giao tiếp đối với SVĐH
+ Biết được các yếu tố quan trọng trong giao tiếp để thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống
+ Biết và vận dụng được một số công cụ để giao tiếp hiệu quả
Từ đó đề ra giải pháp: Nâng cao kỹ năng giao tiếp của SVĐH
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên
cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, sưu tầm tài liệu, điều tra bằng phiếu ý kiến, xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
Hoàn thành khóa luận, người nghiên cứu thu được kết quả như sau:
- Đa số các giảng viên và sinh viên đều nhận thức được tầm quan trọng
của kỹ năng giao tiếp
- Trong quá trình giao tiếp sinh viên gặp rất nhiều khó khăn và những
khó khăn đó có thể khắc phục được nếu có sự giúp đỡ từ phía nhà trường
- Sinh viên nhận thức được rằng kỹ năng giao tiếp còn yếu kém cần phải
trau dồi kiến thức, rèn luyện để kỹ năng giao tiếp ngày càng tốt hơn
- Từ kết quả trên, người nghiên cứu nhận thấy cần có sự quan tâm hơn
nữa của nhà trường, xã hội và chính sinh viên để kỹ năng giao tiếp ngày càng tốt hơn, giúp sinh viên thành công hơn trong học tập và trong cuộc sống
Trang 6MỤC LỤC
Nội dung Trang Trang bìa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Danh sách các chữ viết tắt iv
Mục lục v
Danh sách các bảng/ biểu đồ ix
LỜI NGỎ 1
Chương 1: GIỚI THIỆU 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 4
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 4
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Thời gian và giới hạn phạm vi nghiên cứu 6
1.7 Xác định thuật ngữ 6
1.8 Kế hoạch nghiên cứu 7
1.9 Cấu trúc của đề cương 7
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
2.1 Khái niệm giao tiếp 9
2.2 Một số khái niệm tâm lý học 11
2.3 Cấu trúc của giao tiếp 12
2.4 Các loại hình giao tiếp 13
2.5 Phân loại giao tiếp 13
2.6 Đặc trưng cơ bản của giao tiếp 16
2.7 Chức năng của giao tiếp 17
2.8 Các phương tiện giao tiếp 20
Trang 72.8.1 Giao tiếp ngôn ngữ……… 20
2.8.2 Giao tiếp phi ngôn ngữ 22
2.9 Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp 23
2.9.1 Chủ thể giao tiếp 23
2.9.2 Mục đích giao tiếp 24
2.9.3 Nội dung giao tiếp 24
2.9.3.1 Nội dung tâm lý trong giao tiếp 24
2.9.3.2 Nội dung công việc 25
2.9.4 Hoàn cảnh giao tiếp 25
2.9.5 Kênh giao tiếp 26
2.9.6 Quan hệ giao tiếp 26
2.10 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp 26
2.11 Các yếu tố trở ngại và những điều nên tránh trong giao tiếp 27
2.11.1 Các yếu tố trở ngại trong giao tiếp 27
2.11.2 Những điều nên tránh trong giao tiếp ứng xử 28
2.12 Đặc điểm tâm lý của sinh viên hiện nay 29
2.13 Vai trò của sinh viên trong đời sống xã hội 31
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Phương pháp tham khảo tài liệu 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng phiếu câu hỏi 33
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.3.1 Phương pháp phân tích định lượng 34
3.3.2 Phương pháp phân tích định tính 34
Chương4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 37
4.1 Kết quả điều tra về kinh nghiệm giảng dạy của giảng viên trong các trường ĐH 37
4.2 Nhận định của giảng viên về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên đại học 38
4.3 GV đánh giá kỹ năng giao tiếp của SVĐH hiện nay 39
4.4 Nhận định của giảng viên về vấn đề nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên 40
Trang 84.5 Vai trò của nhà trường trong việc nâng cao
kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 42
4.6 Ý kiến của giảng viên về vấn đề mở các lớp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 43
4.7 Các phương pháp giảng dạy của GV ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của SVĐH 44
4.8 Những khó khăn mà sinh viên thường gặp trong quá trình giao tiếp 45
4.9 Đề xuất ý kiến để nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 46
4.10 Ý kiến của sinh viên về vai trò quan trọng của giao tiếp đối với SVĐH 46
4.11 Sinh viên đánh giá chung về kỹ năng giao tiếp của sinh viên hiện nay 48
4.12 Ý kiến của sinh viên về việc cần phải trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp 49
4.13 Mức độ tổ chức các lớp học nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trong các trường ĐH 50
4.14 Ý kiến của sinh viên về vai trò của nhà trường đối với việc nâng cao kỹ năng giao tiếp 51
4.15 Những khó khăn sinh viên thường gặp trong quá trình giao tiếp 52
4.16 Những khó khăn được khắc phục trong quá trình giao tiếp 53
4.17 Sinh viên đánh giá kỹ năng giao tiếp của bản thân 54
4.18 Những giải pháp giúp sinh viên nâng cao kỹ năng giao tiếp 55
4.19 Đề xuất đối với nhà trường để nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 57
Chương5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.1.1 Kết luận về kỹ năng giao tiếp của sinh viên 58
5.1.2 Kết luận về vai trò của kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên đại học 58
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 59
5.2 Kiến nghị 60
Trang 95.2.1 Đối với nhà trường 60 5.2.2 Đối với sinh viên 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG/BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Kinh nghiệm giảng dạy của giảng viên trong các trường ĐH 37 Biểu đồ 1:Kinh nghiệm giảng dạy của giảng viên trong các trường ĐH 37 Bảng 2: Bảng thống kê nhận định của giảng viên về
tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với SVĐH 38 Biểu đồ 2: Nhận định của giảng viên về tầm quan trọng
của kỹ năng giao tiếp đối với SVĐH 38 Bảng 3: Bảng thống kê đánh giá kỹ năng giao tiếp của SVĐH hiện nay 39 Biểu đồ 3: Ý kiến của GV về kỹ năng giao tiếp của SVĐH hiện nay 40 Bảng 4:Nhận định của GV về vấn đề nâng cao
kỹ năng giao tiếp cho sinh viên 40 Biểu đồ 4: Biểu đồ thể hiện mức độ SVĐH
cần phải trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp 41 Bảng 5: Thống kê mức độ vai trò của nhà trường
trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 42 Biểu đồ 5: Vai trò của nhà trường đối với việc nâng cao
kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 42 Bảng 6: Bảng thống kê ý kiến có nên mở lớp rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 43 Biểu đồ 6: Ý kiến có nên mở lớp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 43 Bảng 7: Thống kê ảnh hưởng của các phương pháp giảng dạy
đến kỹ năng giao tiếp của SVĐH 44 Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của các phương pháp giảng dạy
đến kỹ năng giao tiếp của SVĐH 45 Bảng 8: Thống kê mức độ quan trọng của giao tiếp đối với SVĐH 46 Biểu đồ 8: Biểu đồ thể hiện mức độ quan trọng
của giao tiếp đối với SVĐH 47 Bảng 9: Thống kê mức độ kỹ năng giao tiếp của sinh viên hiện nay 48 Biểu đồ 9: Biểu đồ đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên hiện nay 48
Trang 11Bảng 10: Thống kê ý kiến của sinh viên về việc cần phải trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp 49 Biểu đồ 10: Biểu đồ thể hiện mức độ sinh viên
cần phải trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp của sinh viên 49 Bảng 11: Thống kê mức độ các trường tổ chức lớp học
nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 50 Biểu đồ 11: Biểu đồ thống kê mức độ các trường tổ chức lớp học nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SVĐH 50 Bảng 12: Thống kê ý kiến của sinh viên về vai trò
của nhà trường đối với việc nâng cao kỹ năng giao tiếp 51 Biểu đồ 12: Biểu đồ ý kiến của sinh viên về vai trò của
nhà trường đối với việc nâng cao kỹ năng giao tiếp 51 Bảng 13: Thống kê những khó khăn mà sinh viên
thường gặp trong quá trình giao tiếp 52 Biểu đồ 13: Biểu đồ thể hiện những khó khăn
mà sinh viên thường gặp trong quá trình giao tiếp 52 Bảng 14: Bảng thống kê khắc phục những khó khăn
thường gặp trong quá trình giao tiếp 53 Biểu đồ 14: Biểu đồ thể hiện những khó khăn thường gặp trong quá trình giao tiếp được khắc phục 54 Bảng 15: Bảng thống kê mức độ đánh giá
kỹ năng giao tiếp của bản thân sinh viên 54 Biểu đồ 15: Biểu đồ thể hiện mức độ đánh giá
kỹ năng giao tiếp của bản thân 55 Bảng 16: Bảng thống kê cách khắc phục của sinh viên
để nâng cao kỹ năng giao tiếp 55 Biểu đồ 16: Biểu đồ thể hiện các biện pháp khắc phục để nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên 56
Trang 12LỜI NGỎ
Ngày nay đất nước đang phát triển và hội nhập với thế giới, do vậy nền giáo dục cũng được đầu tư ngày càng mạnh mẽ để đáp ứng với nhu cầu trong nước và ngoài nước
Ứng xử giao tiếp là hành động không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày, rất quan trọng vì nó sẽ quyết định thành công hay thất bại trong công việc, cũng như thông qua đó, sẽ đánh giá một phần về phẩm chất con người của bạn
Giao tiếp là một hình thức hoạt động của con người Thông qua giao tiếp, những mối quan hệ giữa con người được kiến tạo Sự hiểu biết và nắm những quy luật của giao tiếp góp phần làm tăng hiệu quả lao động và điều chỉnh các quan hệ xã hội Giao tiếp xã hội là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của mọi người trong xã hội, đặc biệt là của các nhà Tâm lý học Có biết bao quyển sách dạy về ứng xử, giao thiệp xã hội, đắc nhân tâm, bí quyết thành công trong ứng xử, bí quyết thành công trong giao tiếp kinh doanh, ngôn ngữ cơ thể…Tuy nhiên các nhà nghiên cứu vẫn luôn khẳng định với chúng ta rằng, để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp không hề dễ dàng Hiểu biết những vấn đề chung về giao tiếp xã hội là cần thiết song chưa đủ Bạn đừng hy vọng sau khi đọc xong một cuốn sách nào đó dạy về nghệ thuật ứng xử xã hội
mà sau đó có thể luôn thành công trong mọi cuộc giao tiếp Một cuộc giao tiếp bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là các yếu tố chủ quan từ cả hai phía tiến hành giao tiếp Quan trọng hơn cả là chúng ta đã dành cho vấn đề này một sự quan tâm tìm hiểu đúng mức hay chưa và luôn cố gắng hoàn thiện tri thức cũng như nhân cách của mình Đó chính là bí quyết tốt nhất giúp bạn thành công trong giao tiếp, ứng xử xã hội, qua đó có cơ hội để phát triển hài hoà hơn nữa về mọi mặt
Lực lượng trí thức đông đảo chiếm phần lớn hiện nay là sinh viên, đó là lực lượng sẽ tiếp thu kiến thức để vận dụng vào cuộc sống, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển và giàu mạnh Tuy nhiên hiện nay đa số sinh viên chỉ quan tâm đến những kiến thức chuyên ngành mà mình đang theo học mà bỏ quên đi những kỹ năng rất quan trọng cần thiết cho sinh viên thành công trong học tập và cuộc sống đó là kỹ năng giao tiếp Hiện nay các nhà tuyển dụng trong nước rất quan tâm tới vấn đề này, nhất là đối
Trang 13với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Khi đi phỏng vấn nhà tuyển dụng thường đặt ra những câu hỏi như bạn đã có kinh nghiệm chưa?, khả năng thuyết trình của bạn như thế nào và bạn có tự tin vào bản thân mình hay không? có rất nhiều câu hỏi được đặt ra mà làm cho các bạn sinh viên ngạc nhiên vì nó nằm ngoài sự chuẩn bị Vì theo
lẽ thường trước khi đi phỏng vấn xin việc chúng ta thường chỉ quan tâm đến kiến thức chuyên ngành mà mình đã học và vị trí làm việc mà nhà tuyển dụng đang tìm Đó có phải là điểm yếu của sinh viên hiện nay hay không?
Được sự cho phép của bộ môn Sư phạm kỹ thuật Nông Nghiệp và sự hướng dẫn
của TS Nguyễn Thanh Thủy, đề tài: “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp của sinh viên đại học trên địa bàn TPHCM”.
Trang 14Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng xử với rất nhiều tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao Đặc biệt đối với sinh viên thì giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày là rất quan trọng, nó đánh dấu một bước quan trọng trên con đường thành công trong cuộc sống của các bạn Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc đời mỗi người
Nhưng để giao tiếp đạt hiệu quả thì không dễ nó là cả một quá trình trau dồi lâu
dài có khi là cả cuộc đời của mỗi người Sau đây là nhận định của một chuyên gia về khả năng giao tiếp của các bạn trẻ hiện nay: “Không riêng gì ai, sinh viên Việt Nam
chúng ta cũng thường mắc lỗi giao tiếp một chiều, nghĩa là chỉ “giao” hoặc chỉ “tiếp”
mà chưa thực hiện phản hồi và nhận phản hồi Điều này dẫn đến tình trạng “ông nói gà
“Nếu bạn có một cái bánh mì, tôi có một cái bánh mì, ta đổi cho nhau, thì mỗi người vẫn chỉ có một cái Nhưng nếu bạn có một luồng tư tưởng, tôi cũng có một luồng tư tưởng, ta đổi cho nhau thì mỗi người có hai luồng tư tưởng” Bùi Quang Vĩnh – trưởng bộ phận đào tạo trung tâm đào tạo hướng nghiệp L&A cho biết : “ Câu nói đó tôi không biết là của ai, có người bảo nó của Shakespeare, lại có người bảo là không phải Tôi không quan tâm đến việc nó được ai phát ngôn ra, nhưng quả thực, ý nghĩa của nó làm tôi ám ảnh, có thể nói, nó ghim chặt vào trí óc tôi mỗi khi định giao tiếp với ai.”
Trang 15Hiện nay, những người đi học nhận thấy, việc các bạn trẻ có điều kiện giao tiếp
và tiếp xúc với môi trường thực tế là rất ít Việc quá chú trọng vào chuyên môn học tập của mình khiến tính năng động trong môi trường giao tiếp còn yếu, rất nhiều các bạn trẻ không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất Không biết ứng
xử và thể hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng
Tại các trường đại học việc đào tạo cho sinh viên về kỹ năng cơ bản như giao tiếp còn rất hạn chế hoặc trên góc độ lý thuyết là chính mà thiếu đi quá trình luyện tập,
kỹ năng cần tập luyện mới trở nên thành thạo Trong hoàn cảnh đó rất nhiều bạn trẻ đã
ý thức được tầm quan trọng của giao tiếp, và chủ động tiếp cận với môi trường thực tế khi còn ngồi trên ghế nhà trường để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho mình
Do đó, mà nhiều người đã tìm đến các trung tâm đào tạo và rèn luyện những kỹ năng cơ bản về giao tiếp Từ những học sinh cấp 2, 3 đến những phụ huynh 40, 50 tuổi, song đối tượng chủ yếu vẫn là sinh viên Trong đó có rất nhiều bạn giao tiếp tự tin năng động, nhưng các bạn vẫn đến với trung tâm để hiểu sâu kiến thức nền tảng và
có điều kiện giao lưu học hỏi với nhiều người
Xuất phát từ những lý do trên người nghiên cứu thực hiện đề tài: “TÌM HIỂU
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM”
1.2 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
+ Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp của SVĐH
+ Khẳng định vai trò quan trọng của giao tiếp đối với SVĐH
+ Biết được các yếu tố quan trọng trong giao tiếp để thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống
+ Biết và vận dụng được một số công cụ để giao tiếp hiệu quả
Từ đó đề ra giải pháp: Nâng cao kỹ năng giao tiếp của SVĐH
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu
+ Chủ thể nghiên cứu:
- Kỹ năng giao tiếp của SVĐH trên địa bàn TPHCM
+ Khách thể nghiên cứu: Giảng viên và sinh viên các trường ĐH trên địa bàn TPHCM
Trang 16- Sinh viên trường ĐH Nông Lâm
- Sinh viên trường ĐH Bách Khoa
- Sinh viên trường ĐH Quốc Tế
- Giảng viên giảng dạy ở các trường kể trên
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Xây dựng câu hỏi nghiên cứu nhằm trả lời cho các vấn đề nghiên cứu ở trên: + Câu hỏi 1: Kỹ năng giao tiếp của SVĐH hiện nay như thế nào?
+ Câu hỏi 2: Kỹ năng giao tiếp có vai trò như thế nào đối với SVĐH?
+ Câu hỏi 3: Làm thế nào để nâng cao khả năng giao tiếp của SVĐH?
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp của SVĐH
- Tìm hiểu vai trò quan trọng của giao tiếp đối với SVĐH
- Những yếu tố giúp thành công trong giao tiếp
Nhiệm vụ này được thực hiện để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 1, 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu: tìm kiếm, chọn lọc một số sách, báo, bài viết, internet,….Sau đó phân tích, tổng hợp, tóm tắt, khái quát các nội dung có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài cũng như việc bổ sung thêm kiến thức cho phương pháp nghiên cứu về vấn đề mà mình đang nghiên cứu
+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Trang 17- Phương pháp điều tra, phỏng vấn dùng để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu và nhiệm vụ 2 Người nghiên cứu sử dụng phiếu xin ý kiến dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm
và phỏng vấn nhằm tập trung vào vấn đề người nghiên cứu muốn điều tra
+ Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp phân tích định lượng
Các phiếu điều tra đã thiết kế để thu thập dữ liệu định lượng nhằm tìm hiểu ý kiến của SVĐH về kỹ năng giao tiếp Phương pháp này nhằm phân tích, xử lý các số liệu khảo sát bằng phép tính % và sử dụng phần mềm Excel để thống kê kết quả thu được
1.6 Thời gian và giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trang 181.8 Kế hoạch nghiên cứu
9/2009-10/2009 Viết và bảo vệ đề
cương
Người nghiên cứu
10/2009-12/2009 Nghiên cứu cơ sở lý
luận của đề tài
Xây dựng phiếu điều tra , phỏng vấn
Người nghiên cứu
Người nghiên cứu
văn
Người nghiên cứu
1.9 Cấu trúc của đề cương
- Gồm 5 chương:
+ Chương 1 : Giới thiệu
- Giới thiệu vài nét về vấn đề nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục đích và đối tượng nghiên cứu , câu hỏi nghiên cứu , nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thời gian và phạm vi nghiên cứu, xác định thuật ngữ, cấu trúc của đề cương + Chương 2 : Cơ sở lý luận
- Nêu những vấn đề cơ bản của kỹ năng giao tiếp và một số khái niệm liên quan đến giao tiếp
+ Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả những phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu
Trang 19- Mô tả những giai đoạn, công việc, hoạt động thực hiện phục vụ cho nghiên cứu
- Mô tả đối tượng người nghiên cứu lựa chọn để nghiên cứu
- Mô tả cách chọn đối tượng, cách thu thập dữ liệu và phân tích
+ Chương 4 : Kết quả và thảo luận
+ Chương 5 : Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 20Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học Tư tưởng về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp Ngay từ khi còn là các tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp Tuy mới hình thành mấy chục năm gần đây nhưng trong chuyên ngành Tâm lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về giao tiếp Khi tìm hiểu khám phá bản chất giao tiếp các nhà Tâm lý học đã có các hướng khá rõ nét
Trên thế giới một số tác giả đã nêu khái niệm giao tiếp như sau:
- Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E (1999) cho rằng giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Theo ông, giao tiếp là một quá trình hai mặt: liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau
- Nhà tâm lý học người Anh M.Argyle (2003) thì cho rằng: “giao tiếp thông tin
mà nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian”
- Nhà tâm lý học người Mỹ T.Sibutanhi (2005) cũng làm rõ khái niệm liên lạc - như là một hoạt động mà nó chế định sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình giao tiếp hay như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động Ông viết: “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hoá sự thích ứng hành vi lẫn nhau của con người Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành liên lạc khi con người sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”
- Tuy nhiên lại có nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, nhà nghiên cứu người Ba Lan Sepanski (1999) đưa ra sự phân biệt giữa tiếp xúc xã hội và tiếp xúc tâm
lý (không được phép đồng nhất giữa liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau) Đồng quan điểm với ông có một số nhà nghiên cứu khác như P.M.Blau, X.R.Scott…
Trang 21- Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ cũng rất quan tâm tập trung vào nghiên cứu hiện tượng giao tiếp Có một số khái niệm được đưa ra như giao tiếp là sự liên hệ và đối xử lẫn nhau (Từ điển tiếng Nga văn học hiện đại tập 8, trang 523 của Nxb Matxcơva); giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc (L.X.Vgôtxki, 2003) Còn X.L.Rubinstein (1997) lại khảo sát giao tiếp dưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người
- Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về giao tiếp của mình: giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng
xử rất khác nhau: lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời: giao tiếp là một tổng thể toàn vẹn (tham khảo 29/12/2009 tại http://vietbao.vn/The-gioi-tre/Ky-nang-giao-tiep-Hanh-trang-cho-gioi-tre/75161700/275/)
Ở Việt Nam khái niệm giao tiếp cũng được làm rõ bởi nhiều tác giả:
- Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng (2001), giao tiếp là quá trình thiết lập
và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác
- Còn theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện (2002) thì cho rằng: “ giao tiếp là quá trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác)”
- Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (1994), giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau…
- Theo “Tâm lý học đại cương” của Nguyễn Xuân Thức (2008) cho rằng: “Khi thực hiện các mối quan hệ qua lại với thế giới xung quanh con người không chỉ có quan hệ với thế giới đồ vật, mà bất cứ ở đâu, làm gì, các quan hệ giữa người với người luôn luôn là một thành phần không thể thiếu được Trong hoạt động XH thì lại càng rõ ràng các quan hệ giữa người với người là những điều kiện tối thiểu để tiến hành hoạt động”
Trang 22Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Con người giao tiếp là để hiểu nhau, thực hiện mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau Vì thế cũng có thể hiểu: giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ người – người để thực hiện hóa các quan hệ XH giữa người với người trong một nhóm hoặc cả cộng đồng người
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo phương diện nghiên cứu, cách nhìn nhận và đánh giá của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm
Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, và như vậy dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về giao tiếp Các quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nhưng vẫn mang những điểm giống nhau khi nói về giao tiếp Nhưng người nghiên cứu thấy khái niệm giao tiếp của nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E (1999) là dễ hiểu và ngắn gọn nhất
Nhiều nhà tâm lý đã tổng hợp và kết luận rằng:
Giao tiếp được coi như:
+ Quá trình trao đổi thông tin
+ Sự tác động qua lại giữa người với người
+ Sự tri giác con người bởi con người
2.2 Một số khái niệm tâm lý học
+ Tâm lý của con người rất đa dạng và phong phú Do đó tuỳ vào mỗi tác giả mà
“tâm lý” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
- Tâm lý học thường được xếp vào các ngành Nhân văn và định nghĩa một cách rộng rãi như là “khoa học nghiên cứu những hành xử và những tiến trình tâm thần của con người” (tham khảo Nguồn tạp chí Thanh niên Việt Nam, truy cập ngày 16/09/2009 tại http://chungta.com/Desktop.aspx/PT-ky nang su nghiep/)
- Tâm lý là một từ chung để nói về những người có sự hiểu biết về lòng người,
về tâm tư tình cảm của người khác Thế giới tâm lý của con người vô cùng kỳ diệu và
Trang 23phức tạp, nó bao hàm nhiều hiện tượng đa dạng, phong phú từ cảm giác, tư duy tưởng tượng cho đến tình cảm ý chí của con người…(Nguồn tạp chí thế giới, truy cập ngày 25/09/2009 tại http://kynanggiaotiep.com.vn/)
- “Tâm lý là toàn bộ những hiện tượng tinh thần nảy sinh và diễn biến ở trong
não tạo nên cái mà ta gọi là nội tâm của mỗi người và có thể biểu lộ ra thành hành vi”
Định nghĩa này đã bao hàm được hai đối tượng, đó là “tinh thần” và “hành vi”, trong khi một số trường phái khác lại giới hạn định nghĩa chỉ có một đối tượng là hành vi hoặc chỉ có linh hồn Cả hai quan niệm này đều không bao quát và đầy đủ bằng định nghĩa bên trên Bởi tâm lý người không tự sinh ra, nó cũng không phải là một vật thể ở bên ngoài tác động vào con người, mà tâm lý là do não sinh ra (chủ yếu là phần vỏ não) (Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị, 2007)
- Tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người (Nguyễn Xuân Uẩn, 2000)
- Tâm lý là toàn bộ nói chung sự phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức con người bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí…biểu hiện trong hoạt động và cử chỉ của mỗi người, hay nguyện vọng, ý thích, thị hiếu…riêng của mỗi người trong hoàn cảnh
cụ thể nào đó (từ điển tiếng Việt phổ thông, 2008)
Khái niệm tâm lý cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả, tuy nhiên người nghiên cứu thấy khái niệm của Nguyễn Xuân Uẩn (2000) là bao quát nhất, người đọc dễ hiểu
2.3 Cấu trúc của giao tiếp
- Một hoạt động giao tiếp về cơ bản gồm các thành tố sau: người nói hay bộ phát, người nghe hay bộ thu, bản thông điệp (nội dung giao tiếp), phương tiện truyền thông (nói trực tiếp trong không khí hay qua một micrô, dây điện thoại…), môi trường truyền bao gồm môi trường tự nhiên (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn…) và môi trường tâm lý xã hội (đặc điểm tâm lý của người nghe, sự chờ đợi bản thông điệp, sự hứng thú với những thông tin mới lạ, sự mệt mỏi…)
- Để đánh giá hiệu quả giao tiếp, người ta phân tích những thành tố để xem xét cuộc giao tiếp thành công hay thất bại do những yếu tố nào
Trang 242.4 Các loại hình giao tiếp
Người ta phân loại các hình thức giao tiếp như sau:
- Giao tiếp trực tiếp: là khi hai chủ thể tiếp xúc trực tiếp và trao đổi với nhau
- Giao tiếp gián tiếp: khi hai chủ thể không tiếp xúc trực tiếp nhưng nói, viết cho nhau
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ: như khi thủ trưởng truyền đạt một thông tin, một mệnh lệnh.Thực ra bao giờ cũng có thành phần phi ngôn ngữ đi kèm
- Giao tiếp phi ngôn ngữ: sử dụng nét mặt, cử chỉ, trang phục, khoảng cách, đồ vật…
- Giao tiếp nghi thức và giao tiếp không nghi thức: đón phái đoàn quốc tế, thủ tục đàm phán… là giao tiếp nghi thức Giao tiếp giữa những người bạn thân là giao tiếp không nghi thức
- Giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung: khái niệm này nói về thái độ của hai chủ thể giao tiếp
- Giao tiếp thông qua người thứ ba cũng là một thứ giao tiếp gián tiếp
- Sự giao tiếp trong các cặp vai
2.5 Phân loại giao tiếp
Từ mỗi hướng nghiên cứu giao tiếp khác nhau, người ta có những cách phân loại giao tiếp khác nhau
Theo Trần Thị Minh Đức (1994) giao tiếp được phân chia như sau:
a) Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp của quá trình giao tiếp
- Giao tiếp trực tiếp: là sự tiếp xúc, trao đổi giữa các chủ thể giao tiếp, được thực hiện trong cùng một khoảng không gian và thời gian nhất định - giao tiếp trực tiếp còn gọi là đàm thoại Có hai hình thức đàm thoại:
+ Đối thoại: là loại giao tiếp có tính chất trò chuyện, trao đổi của hai phía chủ thể
và đối tượng Trong đối thoại luôn có sự thay đổi vị trí người nói, nhờ đó hai bên hiểu được đối tượng của mình, kịp thời điều chỉnh hành vi, cử chỉ, cách nói cho phù hợp Đối thoại thể hiện qua các hình thức như trò chuyện, phỏng vấn, bàn luận…
+ Độc thoại: là loại giao tiếp trong đó chỉ có người nói, mà không có sự đáp lại của các đối tượng trong giao tiếp như diễn thuyết, nghe giảng Độc thoại đòi hỏi người
Trang 25nói phải có trình độ hiểu biết về vấn đề trình bày, phải có khả năng biểu cảm tốt và phải nắm vững các yếu tố làm nên hiệu quả của giao tiếp
- Giao tiếp gián tiếp: là giao tiếp được thực hiện qua các phương tiện trung gian như điện thoại, thư tín, sách báo, tivi…Ưu điểm của giao tiếp gián tiếp là tính nhanh chóng, thuận lợi hơn so với giao tiếp trực tiếp Tuy vậy nó có một số hạn chế như phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, kém sinh động, kém hiệu quả hơn Trong loại giao tiếp này, hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ không đóng vai trò quan trọng
b) Căn cứ vào mục đích giao tiếp
- Giao tiếp chính thức: là giao tiếp giữa các cá nhân đại diện cho nhóm, hoặc giữa các nhóm mang tính hình thức, được thực hiện theo các lễ nghi nhất định, được quy định bởi các nhóm chuẩn mực xã hội hoặc pháp luật Trong giao tiếp chính thức, nội dung thông báo rõ ràng, khúc triết, ngôn ngữ đóng vai trò chủ đạo, thể hiện ở hình thức hội họp, bàn luận, ký kết…Giao tiếp chính thức nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể, mang tính thiết thực Ví dụ các cuộc thăm viếng chính thức của những nguyên thủ Quốc gia, cuộc họp chính thức của hội đồng quản trị một công ty…
- Giao tiếp không chính thức: là giao tiếp không mang tính hình thức, không có
sự quy định về lễ nghi Các hình thức giao tiếp cũng như cách phục trang, địa điểm, hoàn cảnh giao tiếp…thường không bị lệ thuộc, không gò bó Đó là giao tiếp giữa các
cá nhân hoặc nhóm mang tính chất cá nhân, không đại diện cho ai hay tổ chức, nhóm nào cả Mục đích giao tiếp thường nhằm làm thoả mãn nhu cầu tiếp xúc, giải trí… nên bầu không khí giao tiếp mang tính chất thân mật, gần gũi, hiểu biết lẫn nhau
c) Căn cứ vào đối tượng giao tiếp
Phân loại theo số lượng người tham gia
- Giao tiếp song đôi: chủ thể và đối tượng giao tiếp là hai cá nhân tiếp xúc với nhau Đây là hình thức giao tiếp cơ bản, có đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người (trẻ với mẹ) và phổ biến nhất Khi mang tính chất công việc, thường diễn ra nhanh gọn và
dễ đạt hiệu quả cao, nghi thức đơn giản, gần gũi với các đối tượng tham gia, tiện lợi trong mọi hoàn cảnh và địa điểm
- Giao tiếp nhóm: là giao tiếp giữa cá nhân với nhóm hoặc giữa các thành viên trong và ngoài nhóm với nhau Đây là kiểu giao tiếp “đại trà”, thường nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến nhiều người, nội dung giao tiếp không bí mật và mất thời
Trang 26gian Trong giao tiếp nhóm,vai trò chính vẫn thuộc về một hoặc vài người là đại diện nên thường không đòi hỏi mọi người phải tham gia đầy đủ, trừ khi cần thiết
Phân loại theo tính chất nghề nghiệp
Mỗi nghề nghiệp quy định một hình thức giao tiếp khác nhau Cách thức giao tiếp này thường chỉ xuất hiện ở những người đã có sự ổn định về tính cách, có năng lực nhận thức, hiểu biết nhất định đặc biệt trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Trong giao tiếp theo tính chất nghề nghiệp, các đặc điểm nghề nghiệp gần như bao trùm lên phong cách ứng xử của các chủ thể giao tiếp; nó quy định tích cách, cách biểu hiện ngôn ngữ, cách biểu hiện nét mặt, cử chỉ, giọng điệu, tư thế… cũng như quy định tính chất, nội dung của thông tin Vì thế qua giao tiếp ta có thể nhận ra được nghề nghiệp của người cùng tham gia giao tiếp, là một nhà giáo, hay một nhà buôn, hay một bác sỹ…
Còn theo Nguyễn Xuân Thức (2008) thì giao tiếp được phân loại như sau:
a) Căn cứ vào phương tiện giao tiếp ta có 3 loại : giao tiếp vật chất, giao tiếp ngôn ngữ, giao tiếp tín hiệu
Giao tiếp vật chất
Diễn ra khi người ta giao tiếp với nhau bằng hành động đối với vật thể Giao tiếp vật chất bắt đầu ở trẻ Nhưng cùng với sự phát triển về thể chất và sự phát triển của xã hội thì giao tiếp trở nên phức tạp hơn bắt đầu có các phương tiện đặc thù của giao tiếp, trước hết là ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ
Xuất hiện như là một dạng hoạt động xác lập và vận hành quan hệ người – người bằng các tín hiệu từ ngữ Các tín hiệu này là các tín hiệu chung cho một cộng đồng cùng nói một thứ tiếng, mỗi tín hiệu gắn với một vật thể hay một hiện tượng, phản ánh một nội dung nhất định Đó là nghĩa của từ Trong mỗi trường hợp cụ thể, một người hay một nhóm người cụ thể có một mối quan hệ riêng đối với từ đó Thông qua hoạt động riêng của từng người hay nhóm người mà có ý riêng đối với từng người Đối với mỗi người một từ có nghĩa và ý Ý cùng với nghĩa của từ phản ánh vốn sống nói chung, phản ánh mức độ nhân cách của người ấy
Trang 27 Giao tiếp tín hiệu
Ngôn ngữ là một loại tín hiệu nên chính giao tiếp ngôn ngữ là một loại giao tiếp tín hiệu Ngoài ra người ta còn dùng các loại tín hiệu khác để giao tiếp như: cách ăn mặc, cử chỉ…Ở đây giao tiếp có một nội dung và hình thức khác nhau phát triển, rất
ăn ý với nhau theo những tín hiệu mà người ta đã thống nhất ý và nghĩa của các tín hiệu đó Có tình huống giao tiếp tín hiệu còn hiệu quả hơn giao tiếp ngôn ngữ Dân gian phương Tây thường nói “Im lặng là vàng bạc, im lặng là đồng ý, im lặng đáng quý và để hiểu ý nhau”
b) Căn cứ vào khoảng cách không gian của các cá nhân mà chúng ta có hai loại giao tiếp: giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp
Giao tiếp trực tiếp
Là loại giao tiếp giữa các cá nhân khi họ mặt đối mặt với nhau để trực tiếp truyền đạt và tiếp nhận tín hiệu của nhau
Giao tiếp gián tiếp
Là loại giao tiếp được tín hiệu qua một người khác hoặc qua các phương tiện nào
đó để truyền đạt và tiếp nhận tín hiệu của nhau như : thư từ, điện tín…
Có loại trung gian giữa giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp: nói chuyện với nhau bằng điện thoại,chat,…
2.6 Đặc trưng cơ bản của giao tiếp
Theo Trần Thị Minh Đức (1994), giao tiếp có những đặc trưng cơ bản sau:
a) Mang tính nhận thức
Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiến trình giao tiếp, phương tiện giao tiếp; ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưng của giao tiếp là khả năng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, nhờ đó tâm lý, ý thức con người không ngừng được phát triển Nếu không giao tiếp với những người xung quanh, đứa trẻ không nhận thức được
b) Trao đổi thông tin
Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan Nhờ đặc trưng này mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ Cũng nhờ đặc trưng này, những phẩm chất
Trang 28tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiện của con người được nảy sinh và phát triển theo các mẫu hình “nhân cách” mà mỗi cá nhân mong muốn trở thành
c) Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người Con người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó
d) Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định
e) Sự kế thừa chọn lọc
Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu giữ, gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá nhân, xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của các thời đại
f) Tính chủ thể trong quá trình giao tiếp
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một người hoặc nhiều người Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành “các chủ thể giao tiếp” Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể như: vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính cách, uy tín, giới tính, tuổi tác…cũng như các mối quan hệ và tương quan giữa họ
g) Sự lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, nó phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng lẫn nhau của con người
2.7 Chức năng của giao tiếp
Các Mác khẳng định sự thống nhất của tiếng nói, ý thức và giao tiếp: ý thức cũng như tiếng nói xuất hiện từ sự cần thiết của giao tiếp
Giao tiếp có một ý nghĩa hết sức lớn lao đối với đời sống con người Nhu cầu liên quan tới một số lượng lớn những nhu cầu cơ bản của con người bởi vì giao tiếp là
Trang 29điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người với tư cách là một thành viên của xã hội, một nhân cách R.Noibe - một nhà khoa học người Đức đã viết
“Căm thù người khác còn hơn phải sống cô độc” Sự giao tiếp không đầy đủ về số lượng , nghèo nàn về nội dung của trẻ nhỏ đối với người lớn đã dẫn đến hậu quả nặng
nề là bệnh Hospitalism mặc dù được nuôi dưỡng tốt, trẻ lớn lên trong điều kiện “đói giao tiếp đều bị trì trệ trong sự phát triển tâm lý cũng như thể chất” Vì vậy, giao tiếp đối với người khác là một nhu cầu thiết yếu của con người
Có rất nhiều cách phân chia và nhiều quan điểm khác nhau về chức năng của giao tiếp
Theo tác giả Trần Hiệp (1996), chức năng cơ bản của giao tiếp bao gồm:
- Chức năng thông tin liên lạc
Chức năng này bao quát tất cả các quá trình truyền và nhận thông tin Với tư cách
là một quá trình truyền tín hiệu, chức năng này có cả ở người và động vật Tuy nhiên, con người khác con vật ở chỗ có hệ thống tín hiệu thứ hai, quá trình truyền tin được phát huy đến tối đa tác dụng của nó và kết quả là con người có khả năng truyền đi bất
cứ thông tin, tín hiệu gì mình muốn Chức năng này thể hiện ở cả chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp, nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó như: nhu cầu truyền tin, nhu cầu tình cảm, nhu cầu tiếp xúc, giải trí…Nhưng cũng chính vì con người có hệ thống tín hiệu thứ hai, có ý thức, có trí tuệ phát triển hơn so với các động vật khác mà hiệu quả của quá trình này có thể được tăng lên hay giảm đi
- Chức năng điều chỉnh hành vi
Thông qua giao tiếp, cá nhân không chỉ có khả năng điều chỉnh hành vi của mình
mà còn có thể điều chỉnh hành vi của người khác Chức năng này chỉ có ở người với
sự tham gia của quá trình nhận thức, của ý chí và tình cảm Khi tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhau, các chủ thể giao tiếp đã hoặc đang ý thức được mục đích, nội dung giao tiếp, thậm chí còn có thể dự đoán được kết quả đạt được sau quá trình giao tiếp Nhằm đạt được mục đích mong muốn, các chủ thể thường linh hoạt tuỳ theo tình huống thời cơ mà lựa chọn, thay đổi cách thức hoặc phương hướng, phương tiện giao tiếp sao cho phù hợp Chức năng này thể hiện khả năng thích nghi lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, ngoài ra nó còn thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của các phẩm chất tâm lý cá nhân trong giao tiếp Hơn thế nữa, chức năng này còn thể hiện vai trò tích
Trang 30cực của các chủ thể giao tiếp trong quá trình giao tiếp, điều này chỉ có được trong giao tiếp xã hội
- Chức năng kích động liên lạc
Chức năng này có liên quan đến lĩnh vực cảm xúc của con người Trong quá trình giao tiếp, không chỉ xảy ra các quá trình truyền tin hay các tác động điều chỉnh,
mà còn xuất hiện các trạng thái cảm xúc của những người tham gia Qua quan sát thực
tế cuộc sống, ta thấy giao tiếp thường nảy sinh trong chính những thời điểm mà người
ta muốn thay đổi trạng thái cảm xúc của mình Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
có tác dụng rất lớn đối với chức năng này
Ngoài cách phân chia chức năng của giao tiếp như trên, người ta có thể phân chia chức năng của giao tiếp thành: tổ chức hoạt động chung, nhận thức giữa người với người, hình thành và phát triển quan hệ liên nhân cách
Cả hai kiểu phân loại chức năng giao tiếp trên không loại trừ lẫn nhau, mà chúng chứng tỏ rằng giao tiếp cần được nghiên cứu như một quá trình nhiều mặt đặc trưng bởi tính năng động cao và đa chức năng, tức là việc nghiên cứu giao tiếp đặt ra việc sử dụng các phương pháp phân tích hệ thống
Một quan điểm khác từ Phạm Minh Hạc (1995), chức năng giao tiếp được phân chia thành hai nhóm:
- Nhóm các chức năng thuần tuý - xã hội bao gồm các chức năng giao tiếp phục
vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm, các tập thể, các tổ chức tạo thành
xã hội
- Nhóm các chức năng tâm lý - xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu của từng thành viên xã hội với người khác Tránh cho người khác rơi vào tình trạng cô đơn, một trạng thái nặng nề khủng khiếp, nhiều khi dẫn đến bệnh tật hoặc sự
tự sát
Như vậy giao tiếp giúp con người thực hiện các quan hệ liên nhân cách Nghĩa là mỗi thành viên hòa nhịp vào nhóm, coi nhóm là mình và mình là nhóm Nhóm ở đây hiểu theo nghĩa rộng từ hai người đến một cộng đồng lớn Chức năng hòa nhịp còn gọi
là chức năng đồng nhất: qua giao tiếp thành viên đồng nhất với nhóm, chấp nhận và tuân thủ các chuẩn mực của nhóm dẫn đến sự thống nhất nhiều mặt trong nhóm Nhưng sự vận động của nhóm có thể dẫn tới một thành viên nào đó tách ra khỏi nhóm
Trang 31Đến lúc đó chức năng đồng nhất chuyển thành chức năng đối lập, thành viên này đối lập lại với nhóm vì khác biệt về hứng thú, mục đích, động cơ…Và thành viên này có thể gia nhập vào những mối quan hệ ở nhóm khác
Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp rất phổ biến trong chúng ta và có vai trò to lớn đối với việc hình thành và phát triển tâm lý Cần phân biệt giao tiếp nhóm chính thức
và giao tiếp nhóm không chính thức Nhóm chính thức là nhóm được thành lập theo một quy định chung nào đó Nhóm không chính thức là nhóm do các thành viên tự tập hợp thành nhóm
2.8 Các phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xử rất đa dạng
và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp… Đó là một hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giao tiếp
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp thành hiện thực trong thực tế
2.8.1 Giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết
Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động
Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức Trong giao tiếp, tuỳ vào đối tượng, mục đích, hoàn cảnh… mà người ta sử dụng các hình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau Theo như cách chia của trường phái Palo Anto thì có giao tiếp chỉ định và giao tiếp loại suy, hay theo Nguyễn Khắc Viện (2007) thì lại gọi là giao tiếp nói chỉ (chỉ định) và giao tiếp nói ví (loại suy)
Nguyễn Đình Nhữ và Phạm Văn Thưởng (2003) thì cho rằng giao tiếp ngôn ngữ
Trang 32phi ngôn ngữ diễn tả tình cảm, và những yếu tố chủ quan, quan hệ cảm xúc giữa hai bên đối thoại Ở đây không có những chỉ báo nói rõ mạch lạc, khung cảnh,bối cảnh Giữa hai kiểu này có thể ăn khớp hay không và mọi sự giao tiếp đều diễn ra trong một bối cảnh nhất định
Ngôn ngữ tình thái nhằm phản ánh khía cạnh tâm lý, xã hội của chủ thể, giúp cho đối tượng hiểu được tốt hơn ý nghĩa của nội dung thông tin Ngôn ngữ tình thái phản ánh thái độ của người nói đối với thông tin mình nói ra, cách người đó đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả năng, tính chất mong muốn hay đáng tiếc của điều thông báo
Muốn hiểu được khía cạnh tâm lý xã hội của ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp, ngoài các quy tắc sử dụng ngôn ngữ của mỗi dân tộc, đối tượng giao tiếp còn phải tìm hiểu cách diễn đạt ngôn ngữ của mỗi cộng đồng, mỗi nền văn hoá thông qua những thoả thuận ngầm về các quy tắc ứng xử của các cộng đồng hay nền văn hoá đó Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp còn phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, chủ thể và đối tượng giao tiếp cũng như mối quan hệ giữa họ
Tin đồn là một phương thức giao tiếp ngôn ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong các tổ chức xã hội Khi thông tin được truyền miệng từ người này sang người khác, các chi tiết bị quên lãng hoặc bị nhớ thiếu chính xác, các ngôn ngữ bị thay thế khi kể truyền tiếp, nội dung và cách hiểu câu chuyện phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cá nhân mỗi người…vì thế tin đồn thường bị méo mó sai lệch, thiếu chính xác Qua việc phân tích như trên, ta nhận thấy trong giao tiếp ngôn ngữ gặp phải một
số hạn chế do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Giữa các chủ thể và đối tượng giao tiếp đã không thể tạo ra được điểm tương đồng do không xác định được những chuẩn mực ứng xử cá nhân hoặc do những ức chế tích dồn ở các cá nhân trong quá trình giao tiếp Kết thúc dễ dẫn đến va chạm, xung đột
+ Qúa trình giao tiếp phân chia làm hai cực, mỗi bên - chủ thể và đối tượng giao tiếp - bảo vệ ý kiến riêng của mình, không có sự chấp nhận, dung hoà…Kết cục là không đem lại kết quả như mỗi bên mong muốn
Trang 33+ Khi một bên đối thoại có những biểu hiện nổi loạn tâm lý, tư duy “không bình thường”
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do sự khác nhau về phong tục tập quán, ngôn ngữ, trình độ phát triển về văn hoá - xã hội ở các địa phương, các dân tộc và các quốc gia khác nhau
+ Môi trường giao tiếp: tiếng ồn, nhiệt độ …
2.8.2 Giao tiếp phi ngôn ngữ
Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếp xúc (Nguyễn Đình Nhữ và Phạm Văn Thưởng, 2003)
Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn ngữ, có cội nguồn sinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá trình tiến hoá, di truyền từ thế giới động vật Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúc nào cũng có sự tham gia của ý thức, vì thế nên qua hình thức giao tiếp này người ta thường bộc lộ chân thật các cảm nghĩ, thái độ, ý kiến…của mình, tuy nhiên lại không dễ hiểu được chúng Đây là kiểu giao tiếp được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như: cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói Thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếp xúc
Giao tiếp phi ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng biểu hiện trạng thái cảm xúc nhất thời: thông qua nét mặt, điệu bộ, giọng nói…chủ thể giao tiếp biểu hiện các tâm tư, sắc thái trạng thái cảm xúc khác nhau, các trạng thái cảm xúc này lan truyền sang đối tượng giao tiếp, làm ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng giao tiếp
- Chức năng biểu hiện các đặc trưng cá nhân: thông qua “ngôn ngữ cơ thể” như
cử chỉ, ánh mắt, giọng nói, điệu bộ, trang phục…một cách vô tình hay hữu ý, chủ thể giao tiếp nhận biết được đối tượng giao tiếp của mình là ai, tính cách như thế nào, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội…của họ ra sao
Giao tiếp phi ngôn ngữ được phân thành hai loại: có chủ định và không chủ định
- Giao tiếp không chủ định: là những biểu hiện mang tính bản năng của các hành
vi, tư thế, nét mặt…xuất hiện theo phản xạ, tự động; diễn ra không có sự kiểm soát của
Trang 34ý thức Đó là những biểu hiện của hành vi vô thức Giao tiếp phi ngôn ngữ không chủ định thường xuất hiện ở trẻ em, những người văn hoá thấp,…
- Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định: đó là những biểu hiện của các hành vi, cử chỉ, các biểu cảm nét mặt có ý thức, có mục đích với sự cố gắng của ý chí Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định thường diễn ra ở những người có trình độ văn hoá cao, những người cao tuổi giàu kinh nghiệm,…
Các kênh của giao tiếp phi ngôn ngữ gồm có: tư thế, giọng nói, âm thanh…Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng lớn trong quá trình giao tiếp
Như vậy, nếu chúng ta biết cách quan sát kỹ lưỡng, học được một số kỹ năng sử dụng hiệu quả cử động cơ thể cũng như không gian…thì hiệu quả giao tiếp sẽ được nâng lên rất nhiều Qua giao tiếp phi ngôn ngữ, chúng ta hoàn toàn có thể nhận ra được tính cách, tâm trạng hay vị trí xã hội của một người dù ta mới tiếp xúc lần đầu Giao tiếp phi ngôn ngữ đã và đang được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều trường phái tâm lý hội trên thế giới
2.9 Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp
Với sự nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, ngôn ngữ học, y học,…đặc biệt với sự phát triển của tin học và điều khiển học, khái niệm giao tiếp không chỉ đơn thuần như một quá trình truyền đạt thông tin từ một điểm phát tới một điểm thu Để quá trình giao tiếp phát huy được hiệu quả cao nhất thì phải tính đến các yếu tố tham gia trong giao tiếp
Theo Trần Thị Minh Đức và cộng tác viên (1994) thì có các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp:
2.9.1 Chủ thể giao tiếp
Là con người cụ thể tham gia vào quá trình giao tiếp: một người hay nhiều người
- đó là ai - với những đặc điểm sinh lý, tâm lý và xã hội ra sao? Tri thức và trình độ hiểu biết,…như thế nào? Tất cả các đặc điểm của chủ thể giao tiếp đều ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp
Giao tiếp người - người thì cả hai đều là chủ thể giao tiếp và đều là đối tượng giao tiếp, vai trò này được chuyển đổi linh hoạt thường xuyên trong quá trình giao tiếp Họ không chỉ là người nói và người nghe vì mọi giác quan đều tham gia vào quá trình này, từ dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt, vẻ mặt, thậm chí cả mùi nước hoa…
Trang 352.9.2 Mục đích giao tiếp
Nhằm thoả mãn nhu cầu nào - nhu cầu trao đổi thông tin, nhu cầu chia sẻ tình cảm,nhu cầu tiếp xúc giải trí, nhu cầu được khẳng định trước người khác…
2.9.3 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp với người khác
Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền đạt Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh được đúng nội dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết quả cao nhất
Đối với các chủ thể giao tiếp, thông tin có thể đã biết hoặc chưa biết, muốn biết hoặc không muốn biết Nội dung thông tin có thể đem lại điều tốt lành hoặc gây thất thiệt hoặc chỉ đơn giản là một điều thông báo…
Trong nội dung giao tiếp người ta thường chia ra hai loại: nội dung tâm lý và nội dung công việc
2.9.3.1 Nội dung tâm lý trong giao tiếp
Nội dung tâm lý trong giao tiếp bao gồm các thành phần cơ bản là nhận thức, thái
độ xúc cảm và hành vi
- Ở bất kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để lại trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận thức Nội dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động Thông qua giao tiếp để người ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ Sau mỗi lần giao tiếp mọi thành viên đều nhận thức thêm được những điều mới mẻ Thông qua giao tiếp
để người ta truyền đạt và lĩnh hội những tri thức về tự nhiên, xã hội Cũng chính thông qua giao tiếp để người ta hiểu biết lẫn nhau
Như vậy, nội dung nhận thức có thể xảy ra trong suốt cả quá trình giao tiếp hoặc chỉ xảy ra mạnh mẽ tại thời điểm gặp gỡ Dù ở thời điểm nào thì kết thúc quá trình giao tiếp cũng đưa lại cho con người một nhận thức, một hiểu biết mới
- Thành phần thái độ cảm xúc: từ thời điểm bắt đầu, qua diễn biến rồi đến kết thúc của một quá trình giao tiếp đều biểu hiện một trạng thái xúc cảm nhất định của chủ thể và đối tượng này mang tính định hướng cho quá trình giao tiếp, chúng thay đổi
Trang 36cùng với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp, có thể từ thiện chí đến không thiện chí, từ thờ ơ đến quan tâm…
- Hành vi, một nội dung tâm lý quan trọng trong quá trình giao tiếp Nó được biểu hiện qua hệ thống những vận động của đầu, chân tay, nét mặt, ánh mắt, miệng, ngôn ngữ,…sự vận động của toàn bộ những bộ phận trên hợp thành hành vi giao tiếp Tất cả những hành vi đó đều chứa đựng một nội dung tâm lý nhất định trong một hoàn cảnh giao tiếp Trong giao tiếp, ngoài sự định hướng về hình thể, nội dung giao tiếp, con người bao giờ cũng thể hiện thái độ của mình trước khi bắt đầu tiếp xúc: thiện chí, hữu nghị hay lãnh đạm, thiếu quan tâm,…
2.9.3.2 Nội dung công việc
Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội Nội dung công việc mang tính chất tạm thời, vụ việc xảy ra trong quan hệ con người với con người Bất kỳ một tiếp xúc nào giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp đều tìm thấy một nội dung nhất định Ngay trong nội dung công việc cũng phải có nội dung tâm lý biểu hiện Công việc là
sự biểu hiện bên ngoài, công việc thực hiện tốt hay không tốt được các nội dung tâm lý hướng dẫn, kích thích như là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm trực tiếp Giao tiếp trong công việc bao giờ cũng mang tính chất hoàn cảnh, tình huống, xảy ra trong thời gian ngắn, nhưng chính thái độ và hành vi ứng xử của chủ thể và đối tượng giao tiếp ở những tình huống này chứa đựng một bản chất thực vốn có của mọi người
Như vậy, nội dung giao tiếp có thể luôn được thể hiện ở bất kỳ một quá trình giao tiếp nào, đó là một trong những đặc trưng của giao tiếp
Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính,…của các chủ thể giao tiếp Ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể
2.9.4 Hoàn cảnh giao tiếp
Là bối cảnh trong đó diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm: khía cạnh vật chất và khía cạnh xã hội
- Khía cạnh vật chất: địa điểm, kích thước không gian gặp gỡ, số người hiện diện, khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc đồ vật xung quanh,…Đây là những khía cạnh nằm bên ngoài các đối tượng đang giao tiếp
Trang 37- Khía cạnh xã hội như: mục đích giao tiếp, quan hệ giao tiếp
2.9.5 Kênh giao tiếp
Là đường liên lạc giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp Vì vậy phải tổ chức kênh sao cho quá trình giao tiếp đạt được hiệu quả nhất Thí dụ: kênh giao tiếp là thị giác thì cần phải cấu trúc bài viết ra sao và làm thế nào để đối tượng giao tiếp nhìn thấy rõ các chữ viết…
2.9.6 Quan hệ giao tiếp
Thể hiện mối tương quan giữa các chủ thể giao tiếp Chẳng hạn như mức độ thân
sơ, vai vế, uy tín, địa vị xã hội, tuổi tác,…giữa họ
2.10 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp
Nhà nghiên cứu đầu tiên về truyền thông - Laswell cho rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp
Với cách hiểu truyền thông cũng là một dạng giao tiếp, trong đó có những phương tiện quy mô lớn như báo chí, đài, tivi,…hay giao tiếp là là một dạng truyền thông, trong đó nguồn phát và nguồn thu đều là con người, Laswell đã đưa ra các yếu
tố cần quan tâm khi truyền đạt để truyền thông có hiệu quả:
+ Chủ thể giao tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả giao tiếp không chỉ bởi những hiểu biết của anh ta mà còn chính bởi anh ta là người như thế nào Nếu anh ta có hình ảnh tốt về bản thân, cởi mở, làm chủ được cảm xúc và các phản ứng của mình, biết rõ động
cơ giao tiếp của mình,…thì sẽ có nhiều thuận lợi để tiến hành một cuộc giao tiếp thành công và ngược lại
+ Nội dung giao tiếp cần phải được xác định từ trước trên cơ sở những mục tiêu
cụ thể mà chủ thể muốn đạt được sau quá trình giao tiếp
+ Đối tượng giao tiếp sẽ tiếp nhận thông tin qua lăng kính chủ quan riêng của họ
Để giao tiếp thành công cần phải tìm hiểu về đối tượng mà chủ thể giao tiếp muốn tiến hành giao tiếp từ trước khi giao tiếp xảy ra và cả trong quá trình giao tiếp thông qua việc quan sát đối tượng, nắm bắt sự đáp ứng của họ và điều chỉnh kịp thời cho phù hợp Bên cạnh đó kết quả giao tiếp sẽ tốt hơn nếu bạn xác định được đúng đối tượng, đúng nội dung, đúng mức độ, phạm vi thông tin sẽ truyền đạt, đúng thời điểm, đúng nơi đúng chỗ,…
Trang 38+ Phương tiện truyền thông và kênh thông tin được sử dụng cần phải phù hợp thì cuộc giao tiếp mới thành công, nếu không phù hợp sẽ dẫn tới thất bại hoặc giảm hiệu quả
+ Trước khi tiến hành giao tiếp cần xem xét đến hiệu quả sẽ đạt được sau đó để không lãng phí thời gian, tiền của và công sức, đặc biệt đối với truyền thông
Muốn đạt hiệu quả cao nhất như mong muốn, cần trả lời cặn kẽ các câu hỏi nêu trên và kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố thì sẽ có điều kiện thành công
- Sự phản hồi: đối với cá nhân phản hồi một cách trung thực sẽ giúp chúng ta sống thoải mái vì nếu để bụng khi không thể chịu đựng được nữa dễ dẫn đến chia rẽ, bất hợp tác, giao tiếp thất bại Nhưng cũng cần lưu ý đến cách phản hồi vì đó là cả một nghệ thuật, nếu không khéo cũng sẽ làm cho giao tiếp gặp khó khăn hay thất bại
- Nghệ thuật lắng nghe: để thành công trong giao tiếp, ngoài việc luyện khả năng trình bày diễn đạt chúng ta còn rất biết lắng nghe Biết lắng nghe sẽ giúp chúng ta phản hồi được một cách trung thực những gì người kia nói và hiểu chúng ta Lắng nghe không hề dễ, cần phải luyện tập mới có được khả năng này, nhưng nếu đã thực hiện được thì gần như bạn đã nắm được phần nhiều thành công trong giao tiếp
2.11 Các yếu tố trở ngại và những điều nên tránh trong giao tiếp
2.11.1 Các yếu tố trở ngại trong giao tiếp
Các yếu tố phi ngôn ngữ: sự khác biệt về nhận thức, thiếu sự chú ý, thiếu kiến thức nền tảng, cảm xúc, cá tính, diện mạo, thành kiến, không lắng nghe,…
Các yếu tố ngôn ngữ: cách phát âm, từ ngữ,…
a) Sự khác biệt về văn hoá trong giao tiếp
- Các khác biệt phi ngôn ngữ
- Tên và cách xưng hô
- Phong tục, tục lệ
- Trang phục
- Thời gian
- Thái độ đối với sự mâu thuẫn
- Vai trò của giới tính trong xã hội
b) Vượt qua sự khác biệt
- Tìm hiểu sự khác biệt của các nền văn hóa
Trang 39- Xem sự khác biệt như một cơ hội
- Không thể hiện mình tốt (hoặc) xấu hơn
- Nói về sự khác biệt
c) Các yếu tố thành công trong khác biệt
- Nhận thức được hành vi giao tiếp của mình bị chi phối bởi văn hóa và không phải luôn luôn đúng
- Linh động và sẵn sàng thay đổi
- Nhạy cảm đối với các hành vi giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
- Nhận thức được giá trị, niềm tin và thông lệ của các nền văn hóa khác
- Nhạy cảm với sự khác biệt giữa các cá nhân trong một nền văn hóa
2.11.2 Những điều nên tránh trong giao tiếp ứng xử
- Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó
- Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột, khó hiểu
đề tài nói chuyện của bạn Không nên đưa những trọng tâm, những khái quát làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện
- Nói sai đề tài, không quan tâm đến điều mình nói
- Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu các câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác mình yêu cầu hơi nhiều quá
- Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co, dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi
- Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả
- Làm ra vẻ hiểu biết sâu rộng
- Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm cho người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán