Để khơi dậy tiềm năng sản xuất rau ăn lá của xã Thái Bình, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu rau an toàn của thị trường trong và ngoài tỉnh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Tìm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH RAU ĂN LÁ AN TOÀN TẠI XÃ
Niên khóa : 2006-2010
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN QUỐC HUY
-05/2010-
Trang 2BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH RAU ĂN LÁ AN TOÀN TẠI XÃ
-5/2010-
Trang 3Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến công lao trời biển của cha mẹ tôi những người đã dày công sinh thành, nuôi dưỡng và dạy dỗ tôi từ khi sinh ra cho đến ngày hôm nay, cùng với những người thân khác trong gia đình đã luôn bên cạnh tôi, động viên và khích lệ tôi
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô Bộ Môn Sư Phạm Kỹ Thuật và toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Nguyễn Thanh Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư Viện trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Ủy Ban Nhân Dân xã Thái Bình, cùng toàn thể bà con nông dân canh tác rau ăn lá tại xã Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè gần xa của tôi – những người đã cùng học tập, giúp đỡ, khuyến khích, động viên và chia sẻ những niềm vui nỗi buồn cùng tôi trong thời gian học tập xa nhà
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp HCM, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Quốc Huy
Trang 4Tên đề tài: “TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH RAU ĂN LÁ AN TOÀN TẠI XÃ THÁI BÌNH, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH”
Giáo viên hướng dẫn: GV Nguyễn Thanh Bình Rau xanh nói chung và các loại rau ăn lá nói riêng là loại thực phẩm không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hằng ngày của con người Nó có ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng của con người, chứa nhiều sinh tố, chất xơ và chất khoáng cần thiết cho cơ thể Rau cũng là đối tượng cây trồng chịu nhiều tác động của quá trình thâm canh như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nên rất dễ bị ô nhiễm, đặc biệt là các chủng loại rau ăn lá có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể sử dụng tươi sống có thể gây ngộ độc cho người sử dụng nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tác trong canh tác loại cây trồng này
Để khơi dậy tiềm năng sản xuất rau ăn lá của xã Thái Bình, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu rau an toàn của thị trường trong và ngoài tỉnh, chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu hiện trạng và khả năng phát triển vùng chuyên
canh rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh”
Bằng phương pháp điều tra, đánh giá thực trạng của xã Thái Bình chúng tôi nhận thấy: Thái Bình là xã có vị trí địa lí thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán với các khu vực khác, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho canh tác rau quanh năm, nguồn nước phong phú, chất lượng tốt, đất đai thích hợp cho cây rau ăn lá, trình độ canh tác của người nông dân khá cao và tương đối đồng nhất, người dân có nhiều kinh nghiệm trong canh tác rau ăn lá và ngày càng có ý thức trong việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu Nhìn chung vùng có nhiều thuận lợi để phát triển thành vùng chuyên canh rau ăn lá an toàn, nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những khó khăn, thách thức không nhỏ như thiếu lao động, khả năng mở rộng diện tích gieo trồng rất ít, diện tích đất trồng rau ăn lá ngày càng bị thu hẹp do tăng dân số, giá cả nông sản bếp bênh trong khi đó giá vật tư nông nghiệp tăng cao Do vậy để phát triển vùng là cả một quá trình cần có sự quan tâm giúp đỡ các ban ngành, của chính quyền địa phương và sự đồng lòng, chung sức của toàn thể người dân
Trang 5Nội dung Trang
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng x
Danh sách các biểu đồ xi
Danh mục phụ lục xii
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của nghiên cứu 2
1.3 Vấn đề nghiên cứu 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.6 Giới hạn đề tài 3
1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
1.7.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.7.2 Khách thể nghiên cứu 3
1.8 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu 5
2.2 Rau an toàn 7
2.2.1 Khái niệm về rau an toàn 7
2.2.2 Yêu cầu chất lượng của rau an toàn 8
2.2.2.1 Chỉ tiêu về hình thái 8
2.2.2.2 Chỉ tiêu về nội chất 8
2.2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm rau 8
2.2.3.1 Ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật 8
2.2.3.2 Dư lượng nitrat (NO3-) 9
2.2.3.3 Tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm rau 10
2.2.3.4 Ký sinh trùng, vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật 10
Trang 62.2.4.2 Nước sạch 10
2.2.4.3 Phân bón 11
2.2.4.4 Phòng trừ sâu bệnh 11
2.3 Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong trồng rau ăn lá 12
2.3.1 Phương thức sản xuất 12
2.3.1.1 Sản xuất rau ngoài trời 12
2.3.1.2 Sản xuất rau trong điều kiện có thiết bị che chắn 12
2.3.1.3 Kỹ thuật thủy canh 12
2.3.2 Giống và phương pháp gieo 12
2.3.2.1 Giống 12
2.3.2.2 Xử lý hạt và giống rau trước khi gieo trồng 13
2.3.2.3 Phương pháp gieo 13
2.3.3 Đất trồng và kỹ thuật làm đất 14
2.3.3.1 Đất trồng rau ăn lá 14
2.3.3.2 Kỹ thuật làm đất 14
2.3.4 Bón phân 15
2.3.5 Chăm sóc sau trồng 16
2.3.5.1 Tưới nước 16
2.3.5.2 Xới đất, trừ cỏ dại 17
2.3.5.3 Phòng trừ sâu bệnh 17
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện và giới hạn đề tài 18
3.1.1 Thời gian 18
3.1.2 Địa điểm 18
3.1.3 Giới hạn đề tài 18
3.2 Nội dung 18
3.2.1 Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên 18
3.2.2 Điều tra đánh giá điều kiện kinh tế xã hội 18
Trang 7xuất rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 19
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 19
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn 19
3.3.3 Phương pháp điều tra 20
3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 21
3.3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng 21
3.3.4.2 Phương pháp định tính 21
3.3.5 Phương pháp SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat) 21
Chương 4: PHÂN TÍCH 22
4.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.1 Vị trí địa lí và ranh giới hành chính 22
4.1.2 Khí hậu, thủy văn 23
4.1.2.1 Khí hậu 23
4.1.2.2 Thủy văn 24
4.1.3 Tài nguyên nước 25
4.1.3.1 Nước mặt 25
4.1.3.2 Nước ngầm 26
4.1.4 Địa hình đất đai 26
4.1.4.1 Địa hình 26
4.1.4.2 Đất đai 26
a) Nhóm đất xám 27
b) Nhóm đất phèn 28
4.2 Điều kiện kinh tế xã hội 28
4.2.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Thái Bình 28
4.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp 29
4.2.3 Những chương trình, kế hoạch phát triển RAT 31
Trang 84.2.4.2 Điện, nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất 32
4.2.5 Dân số và lao động 32
4.2.6 Tôn giáo 33
4.2.7 Giáo dục 34
4.3 Hiện trạng sản xuất rau ăn lá trên địa bàn 36
4.3.1 Đặc điểm của các nông hộ trồng rau ăn lá 36
4.3.1.1 Tập quán sản xuất rau ăn lá 36
4.3.1.2 Diện tích đất trồng rau ăn lá của nông hộ 36
4.3.1.3 Lao động, trình độ văn hóa, tuổi và số năm trong nghề của hộ sản xuất rau ăn lá 37
4.3.1.3.1 Lao động 37
4.3.1.3.2 Trình độ văn hóa 38
4.3.1.3.3 Tuổi của chủ hộ sản xuất rau ăn lá 39
4.3.1.3.4 Số năm trồng rau ăn lá 40
4.3.1.4 Tình hình tham dự tập huấn khuyến nông 41
4.3.2 Kỹ thuật canh tác rau ăn lá 44
4.3.2.1 Chủng loại rau ăn lá được trồng phổ biến tại xã Thái bình 44
4.3.2.2 Giống rau ăn lá 46
4.3.2.3 Phương thức trồng rau ăn lá 47
4.3.2.4 Nguồn nước và hệ thống tưới tiêu 48
4.3.2.5 Thời vụ gieo trồng rau ăn lá 49
4.3.2.6 Thời gian sinh trưởng, lượng hạt giống gieo trồng và xử lý giống 49
a) Thời gian sinh trưởng 49
b) Lượng hạt giống gieo trồng 50
c) Xử lý giống trước khi gieo trồng 51
4.3.2.7 Công tác chuẩn bị đất và làm cỏ 51
4.3.2.7.1 Công tác chuẩn bị đất 51
4.3.2.7.2 Làm cỏ 51
Trang 9a) Sâu bệnh hại phổ biến trên rau ăn lá tại xã Thái Bình 56
b) Tình hình sử dụng thuốc BVTV của người dân canh tác rau ăn lá tại xã Thái Bình 59
4.3.2.10 Những hiểu biết về thiên địch 60
4.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển vùng sản xuất rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình 61
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Kiến nghị 66
5.3 Hướng phát triển của đề tài 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 70
Trang 10PTNT : Phát triển nông thôn
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn DTTN : Diện tích tự nhiên
SX TM & DV : Sản xuất thương mại và dịch vụ
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
Trang 11Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất tại xã Thái Bình năm 2009 28
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2009 tại xã Thái Bình 30
Bảng 4.4: Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2010 do UBND xã đề ra 30
Bảng 4.5: Phân bố các hộ được điều tra theo tôn giáo 34
Bảng 4.6: Quy mô diện tích trồng rau ăn lá ở các hộ sản xuất 36
Bảng 4.7: Tình hình sử dụng lao động trong các hộ sản xuất rau ăn lá 38
Bảng 4.8: Trình độ văn hóa của chủ hộ sản xuất rau ăn lá tại xã Thái Bình 38
Bảng 4.9: Độ tuổi của chủ hộ sản xuất rau ăn lá tại xã Thái Bình 39
Bảng 4.10: Số năm canh tác rau ăn lá của các nông hộ tại xã Thái Bình 41
Bảng 4.11: Mức độ tham gia tập huấn khuyến nông của các hộ sản xuất 42
Bảng 4.12: Số lần tham gia tập huấn khuyến nông của người dân 43
Bảng 4.13: Các chủng loại rau ăn lá được trồng tại xã Thái Bình 44
Bảng 4.14: Cơ cấu rau ăn lá trồng tại xã Thái Bình 45
Bảng 4.15: Nguồn gốc giống rau ăn lá tại xã Thái Bình 46
Bảng 4.16: Phân bố các hộ trồng rau ăn lá theo phương thức trồng 47
Bảng 4.17:Thời gian sinh trưởng và lượng hạt giống gieo trồng của các loại rau ăn lá được trồng tại xã Thái Bình 50
Bảng 4.18: Số lần làm cỏ trong một lứa rau của người dân trồng rau ăn lá 51
Bảng 4.19: Chủng loại phân bón được sử dụng trong canh tác rau ăn lá tại xã Thái Bình 52
Bảng 4.20: Lượng phân vô cơ phổ biến được sử dụng trong canh tác rau ăn lá tại xã Thái Bình 54
Bảng 4.21: Lượng phân hữu cơ được sử dụng trong canh tác rau ăn lá tại xã Thái Bình 56
Bảng 4.22: Các loại thuốc BVTV được sử dụng phổ biến trên rau ăn lá tại xã Thái Bình 59
Bảng 4.23: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để phát triển vùng sản xuất rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình 61
Trang 12Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ diện tích đất tự nhiên của các ấp trong xã Thái Bình 27
Biểu đồ 4.2: Tình hình lao động của xã Thái Bình qua các ngành 32
Biểu đồ 4.3: Trình độ văn hóa của chủ hộ trồng rau ăn lá tại xã 39
Biểu đồ 4.4: Độ tuổi của chủ hộ sản xuất rau ăn lá tại xã Thái Bình 40
Biểu đồ 4.5: Mức độ tham gia tập huấn khuyến nông của người sản xuất 42
Biểu đồ 4.6: Số lần tham gia hoạt động khuyến nông của người dân 43
Biểu đồ 4.7: Cơ cấu rau ăn lá trồng tại xã Thái Bình 45
Trang 13Phụ lục 1: Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng nitrat (NO3-) trong một số sản phẩm rau tươi (mg/kg) (Theo Quyết định số 867/ 1998/ QĐ-BYT của Bộ Y tế)
Phụ lục 2: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số kim loại nặng và độc tố
trong sản phẩm rau tươi (Theo Quyết định số 867/ 1998/ QĐ-BYT của Bộ Y tế)
Phụ lục 3: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật trong sản
phẩm rau tươi (Theo Quyết định số 867/ 1998/ QĐ-BYT của Bộ Y tế)
Phụ lục 4: Mức giới hạn tối đa cho phép (MRLs) của một số thuốc bảo vệ
thực vật trên rau tươi (≤ mg/kg)
Phụ lục 5: Mức giới hạn tối đa cho phép của hóa chất Bảo vệ thực vật trong
Phụ lục 8:Danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam
Phụ lục 9 : Danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng ở Việt Nam.
Phụ lục 10:Bảng câu hỏi phỏng vấn
Phụ lục 11: Phiếu điều tra nông hộ
Phụ lục 12: Danh sách các hộ được điều tra
Trang 14Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Thực tiễn cuộc sống cho thấy rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho con người Không một loại thực phẩm nào có thể thay thế được vị trí quan trọng của cây rau trong khẩu phần ăn hàng ngày Rau xanh cung cấp cho con người những chất quan trọng như: Protein, Lipit, Vitamin, muối khoáng, chất xơ (Cellulose), chất thơm, chất đường bột, acid hữu cơ… Ngoài ra, rau còn có tác dụng kích thích sự ngon miệng Rau xanh là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, có thời gian sinh trưởng ngắn đặc biệt là nhóm rau ăn lá Do đó rau có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, mặt khác có thể thâm canh, trồng xen…để tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác Rau xanh còn là nguồn thức ăn gia súc có giá trị, rau chiếm 1/2 – 1/3 khẩu phần thức ăn trong chăn nuôi Người ta có thể tận dụng các phụ phế phẩm trong ngành trồng rau để phục vụ cho chăn nuôi, tăng thêm thu nhập (thông thường chiếm 10-20% sản lượng rau sản xuất được) Vì vậy rau xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất thịt (gia cầm, thủy sản…)
Đời sống nhân dân ngày càng cao thì đòi hỏi ngày càng khắt khe đối với các loại rau tiêu dùng hằng ngày: Đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng cao Rau phải được cung cấp thường xuyên cho người tiêu dùng ở mọi nơi, mọi lúc kể cả những thời kỳ giáp vụ
Trong nhiều năm qua, người tiêu dùng đã thực sự lo ngại và quan tâm nhiều đến vấn đề an toàn của thực phẩm bởi sự tồn dư một số chất độc hại trong cây rau
do người nông dân chạy theo năng suất và lợi nhuận như: Các chất hóa học bảo vệ thực vật, dư lượng nitrat (NO3-) và kim loại nặng… Việc ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn lá đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng Những vấn đề này ở nước ta hiện nay đã trở thành vấn đề hết sức bức xúc trong dư luận của toàn xã hội Người tiêu dùng hiện nay yêu cầu người trồng rau phải đảm bảo cung cấp cho họ những cây rau sạch, an toàn
Trang 15Để khơi dậy tiềm năng sản xuất rau an toàn của xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu về rau an toàn của thị trường trong tỉnh và các vùng phụ cận đặc biệt là của thị trường Thành phố Hồ Chí
Minh, người nghiên cứu thực hiện đề tài “ Tìm hiểu hiện trạng và khả năng phát
triển vùng chuyên canh rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh”
1.2 Mục đích của nghiên cứu
Thông qua việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội và hiện trạng sản xuất rau của các nông hộ tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh làm căn cứ cho việc xây dựng vùng chuyên sản xuất rau ăn lá an toàn trên địa bàn xã mang tính chất khả thi
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh như thế nào?
Câu hỏi 2: Tình hình sản xuất rau ăn lá tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh như thế nào? Trình độ kỹ thuật trồng rau ăn lá của người nông dân tại địa bàn ra sao?
Câu hỏi 3: Vùng có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức gì để phát triển vùng rau ăn lá an toàn?
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tiến hành thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 16Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài (trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 1)
Nhiệm vụ 2: Khảo sát tình hình sản xuất rau ăn lá của một số nông hộ tại ấp Bình Long và ấp Bình Phong thuộc xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 2, 3)
Nhiệm vụ 3: Tổng hợp, phân tích số liệu để đưa ra những đánh giá chung nhất về những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vùng sản xuất và đề nghị hướng phát triển trong thời gian tiếp theo (trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 3)
1.6 Giới hạn đề tài
Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ thực hiện:
Về không gian: Đề tài được thực hiện chủ yếu ở hai ấp có diện tích trồng rau
ăn lá lớn và tập trung là ấp Bình Long và ấp Bình Phong thuộc xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
Về số lượng: Phỏng vấn: 10 nông dân
Phát bảng hỏi: 30 nông dân
1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.7.1 Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng sản xuất và khả năng phát triển
vùng chuyên canh rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
1.7.2 Khách thể nghiên cứu:
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện kinh tế xã hội
Người nông dân sản xuất rau ăn lá tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (phỏng vấn: 10 nông dân, phát bảng hỏi: 30 nông dân)
Quá trình sản xuất nông nghiệp tại địa điểm nghiên cứu
1.8 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng sản xuất nông nghiệp những năm trước ở các cơ quan ban ngành có liên quan và tìm kiếm sách và tài liệu có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
Trang 172 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn ngẫu nhiên 10 nông dân chuyên canh rau ăn lá tại xã Thái Bình (tại 02 ấp có diện tích trồng rau ăn lá lớn và tập trung là ấp Bình Long và ấp Bình Phong), huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang trực tiếp sản xuất trên mảnh vườn của đối tượng được nghiên cứu
3 Phương pháp điều tra: Bảng hỏi được phát ngẫu nhiên cho 30 nông dân sản xuất rau ăn lá tại địa điểm nghiên cứu
Trong đó, 15 nông dân trồng rau ăn lá thuộc ấp Bình Long
15 nông dân trồng rau ăn lá thuộc ấp Bình Phong
4 Phương pháp phân tích dữ liệu
a Phương pháp phân tích định lượng: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê kết quả thu được
b Phương pháp định tính: Phân tích bảng câu hỏi phỏng vấn
5 Phương pháp SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat): Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vùng sản xuất với sự tham gia của người nông dân
Trang 18Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu
Ngày nay, rau an toàn được xem là một loại hàng hóa nông nghiệp có giá trị, vừa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, vừa bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình sản xuất Đồng thời, sản xuất rau an toàn còn là cơ hội cho người nông dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Khi đời sống con người ngày càng được nâng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với các loại nông sản nói chung và rau xanh nói riêng cũng ngày càng cao
về cả số lượng lẫn chất lượng, về chủng loại thì phải ngày càng phong phú và đa dạng hơn, đảm bảo đủ về số lượng và điều quan trọng là phải đảm bảo về chất lượng, an toàn đối với sức khỏe cộng đồng
Xuất phát từ yêu cầu trên, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được thực hiện nhằm giúp người sản xuất rau và người tiêu dùng có cái nhìn bao quát hơn, sâu sắc hơn về rau an toàn, từng bước thay thế các mô hình sản xuất rau truyền thống bằng các mô hình sản xuất rau an toàn Sau đây là một số đề tài tiêu biểu:
Đề tài nghiên cứu: “Điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ các giống rau an
toàn tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn tốt nghiệp kỹ sư nông
nghiệp ngành Nông học, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (2005) của Nguyễn Thị Thanh Bình Đề tài thực hiện nhằm điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn theo hai phương thức sản xuất: Nhóm trồng trong nhà lưới và nhóm trồng ngoài nhà lưới Qua đề tài, tác giả Thanh Bình giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về hai phương thức sản xuất rau an toàn trong nhà lưới và sản xuất rau an toàn trồng ngoài nhà lưới, đồng thời có kết hợp so sánh sức sản xuất và tiêu thụ giữa nhóm rau sản xuất sạch với nhóm rau không theo mô hình sản xuất rau an toàn:
+Về hiệu quả kinh tế: Sản xuất rau theo phương thức trồng trong nhà lưới đạt hiệu quả kinh tế cao hơn ngoài nhà lưới do khống chế được điều kiện khí hậu, thời tiết, hạn chế phần nào đó sâu bệnh hại, trồng được nhiều vụ trong năm hay canh tác được quanh năm Tuy nhiên, chi phí ban đầu cho trồng rau trong nhà lưới cao hơn trồng rau ngoài nhà lưới do tiền đầu tư ban đầu cho hệ thống nhà lưới cao, nhưng bù
Trang 19lại, chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động của trồng rau trong nhà lưới lại thấp hơn trồng rau ngoài nhà lưới
+Về tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ các giống rau an toàn còn nhiều khó khăn
do người tiêu dùng chưa nhận thức được tầm quan trọng của rau an toàn
Tóm lại, việc trồng rau an toàn là việc làm thiết yếu, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện nay Sản xuất rau an toàn vừa đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho người sản xuất vừa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Đề tài nghiên cứu: “Khảo sát tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã
Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó xây dựng bài giảng thực tập ngoại khóa kỹ thuật trồng rau an toàn cho học sinh trung học phổ thông”, luận văn tốt nghiệp cử nhân Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp (2006) của
Nguyễn Thị Thu Thảo, Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Qua đề tài, tác giả Thu Thảo đã giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về tình hình sản xuất rau an toàn tại ấp Đình, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở chỗ trên cơ
sở các số liệu và thông tin thu thập được từ quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu
đề xuất một chương trình hướng nghiệp ngoại khóa cho học sinh trung học phổ thông về kỹ thuật sản xuất rau sạch
Đề tài nghiên cứu: “Khảo sát một số mô hình sản xuất rau an toàn trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu ý kiến người tiêu dùng về rau an toàn”,
luận văn tốt nghiệp cử nhân Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp (2009) của Trần Quốc Dũng, Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Cũng như đề tài của tác giả Thu Thảo đã trình bày trên, tác giả Quốc Dũng giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về một số mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, kết hợp so sánh các ưu và nhược điểm của các mô hình khảo sát Tuy nhiên, tính mới mẻ của đề tài đó là tác giả Quốc Dũng đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá các mô hình sản xuất rau an toàn bao gồm 4 tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn 1: Quy mô của mô hình sản xuất rau an toàn Gồm 4 tiêu chí:
Trang 20 Tiêu chí 1: Diện tích sản xuất của mô hình
Tiêu chí 2: Chủng loại rau an toàn của mô hình sản xuất
Tiêu chí 3: Hình thức canh tác, có thể phân thành 3 nhóm canh tác chính:
o Canh tác trong nhà lưới
o Canh tác ngoài trời
o Canh tác trong khay xốp
Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức, có thể gồm:
o Sản xuất cá thể
o Sản xuất tập thể (hợp tác xã)
o Sản xuất theo hình thức công ty (doanh nghiệp)
Tiêu chuẩn 2: Mức độ an toàn
Tiêu chí 1: Kỹ thuật sản xuất
Tiêu chí 2: Đối với môi trường
Tiêu chuẩn 3: Tính kinh tế
Tiêu chí 1: Lợi nhuận kinh tế
Tiêu chí 2: Đối với xã hội (đảm bảo cho sức khỏe người tiêu dùng) Tiêu chuẩn 4: Sự tiếp nhận của người tiêu dùng
Qua đó giúp người sản xuất và người tiêu dùng có cái nhìn tích cực hơn về sản phẩm rau an toàn và sử dụng rau an toàn
2.2 Rau an toàn
2.2.1 Khái niệm về rau an toàn
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn".(Phạm Thị Minh Tâm, 2002)
Trang 212.2.2 Yêu cầu chất lượng của rau an toàn
2.2.2.1 Chỉ tiêu về hình thái
Cũng theo Phạm Thị Minh Tâm (2002), rau an toàn phải là những sản phẩm được thu hoạch đúng độ chín kỹ thuật và thương phẩm Rau phải được đảm bảo về mặt phẩm chất, không bị hư hại, dập nát, héo úa, không lẫn tạp chất, sâu bệnh
2.2.2.2 Chỉ tiêu về nội chất
Chỉ tiêu nội chất được qui định cho rau tươi bao gồm:
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Hàm lượng nitrat (NO3-)
Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cu, Pb, Hg, Cd, As, …
Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Samonella…) và kí sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa Ascaris)
Tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau phải dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của Tổ chức Quốc tế FAO/WHO hoặc của một số nước tiên tiến: Nga, Mỹ hoặc theo tiêu chuẩn của Bộ NN & PTNT
2.2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm rau
2.2.3.1 Ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật
Ở nước ta, trong nhiều thập kỷ qua đã sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật có tính độc cao trong sản xuất rau Đặc biệt là thời kỳ mở cửa, thuốc bảo vệ thực vật vào nước ta theo nhiều con đường, các nhà chuyên môn không thể kiểm soát được một cách chính xác chủng loại thuốc, khối lượng thuốc dùng trong sản xuất rau (Tạ Thu Cúc-Hồ Hữu An-Nghiêm Thị Bích Hà, 2000)
Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (1998), hiện nay ở Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ,
12 loại thuốc diệt chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng Tuy nhiều chủng loại nhưng do thói quen hay do sợ rủi ro, không hiểu biết hoặc sự hiểu biết còn hạn chế về mức độ độc hại của hóa chất bảo vệ thực vật nên người nông dân chỉ sử dụng một số loại thuốc quen dùng, thường là những loại thuốc bảo vệ thực vật có độ độc cao đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng như Monitor, Wosatox, … thậm chí cả DDT Một nguyên nhân nữa là các loại thuốc trên giá rẻ,
Trang 22phổ tác dụng rộng, hiệu quả sử dụng cao Mặt khác, thời gian cách ly an toàn từ lần phun cuối cùng cho đến thu hoạch sản phẩm không được người sản xuất đảm bảo
và quan tâm Chính vì vậy đã gây ra những hậu quả khôn lường, trước hết là ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sản xuất, sau đó là gây hậu quả xấu cho sức khỏe của cộng đồng, thậm chí gây tử vong…
Ảnh hưởng lớn nhất của sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng là phá vỡ
sự cân bằng quần thể tự nhiên vốn có của nó, rất nhiều loài thiên địch của nhiều loài sâu hại quan trọng đã bị tiêu diệt bởi thuốc bảo vệ thực vật
Vì vậy, cần giúp những người sản xuất hiểu rõ mặt có hại của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách tùy tiện và họ phải có trách nhiệm thực hiện những qui chế khi sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật Đặc biệt là thực hiện đầy đủ chương trình phòng trừ tổng hợp (IPM) trong sản xuất rau
2.2.3.2 Dư lượng nitrat (NO 3 - )
Nitrat là nguồn đạm quan trọng của cây xanh, là nguyên liệu không thể thiếu được trong quá trình tổng hợp nên acid amin, protein và các hợp chất có đạm khác,… Vì vậy có thể nói không có nitrat thì không có sự sống trên trái đất, bón phân vào đồng ruộng là các loại phân hóa học có nitơ (N) đều bị nitrat hóa thành amoniac (NH3) là nguyên liệu cây xanh sử dụng để tạo thành protein,…
Dư lượng nitrat trong tự nhiên không cao, nhưng do việc sử dụng đạm nhiều
ở khắp nơi trong nhiều thập kỷ kết quả là nitrat tăng lên nhiều trong các sản phẩm cây trồng và trong nước nên đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Tạ Thu Cúc-
Hồ Hữu An-Nghiêm Thị Bích Hà, 2000)
Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng có đến 20 yếu tố gây nên dư lượng nitrat tăng cao trong sản phẩm cây trồng, trong cây rau và môi trường xung quanh như:
+Loại rau: Chủng loại rau khác nhau, giống khác nhau thì lượng nitrat tích tụ trong cây cũng khác nhau Nitrat có nhiều trong thân lá họ hòa thảo, những cây có khả năng tích tụ nitrat cao là họ thập tự và trong thân, lá và quả họ bầu bí
+Nhiệt độ: Nhiệt độ đất dao động quá lớn cũng gây trở ngại cho quá trình khử nitrat tại hệ rễ
Trang 23+Điều kiện ánh sáng: Thời gian chiếu sáng trong ngày dài thì dư lượng nitrat trong cây sẽ giảm và ngược lại, nếu thiếu ánh sáng hoặc thời gian chiếu sáng ngắn thì dư lượng nitrat trong cây rau sẽ tăng lên
+Đất đai: Gieo trồng trên đất thịt nhẹ, đất cát pha thì dư lượng nitrat sẽ giảm +Điều kiện canh tác như: Phân bón, thuốc trừ sâu, tập quán chăm sóc… Trong các yếu tố trên thì phân bón có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng nitrat trong rau
Nitrat vào cơ thể ở mức bình thường thì không gây độc chỉ khi hàm lượng vượt qua mức cho phép mới gây nguy hiểm, theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì hàm lượng nitrat trong rau không vượt quá 300 mg/kg rau tươi
2.2.3.3 Tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm rau
Kim loại nặng tồn tại trong đất, nước, nước thải công nghiệp… không những làm ô nhiễm môi trường mà còn gây độc hại cho người và động vật
2.2.3.4 Ký sinh trùng, vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật
Trong quá trình canh tác, các nhà vườn chưa thực hiện nghiêm túc qui trình sản xuất Họ còn dùng phân tươi, nước rửa chuồng, nước thải của thành phố chưa được xử lý, nguồn nước không sạch để sản xuất các loại rau Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng xấu đến chất lượng của rau Khi người tiêu dùng sử dụng rau, nhất là các loại rau ăn sống không được xử lý kĩ sẽ là hình thức truyền tải trứng giun và các yếu tố gây bệnh khác vào cơ thể người
2.2.4 Điều kiện để sản xuất rau an toàn
2.2.4.1 Đất sạch
Đất trồng rau là những loại đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất thịt trung bình, đất phù sa ven sông, đất không có cỏ dại, mầm mống sâu bệnh hại, độ pH trung tính, hàm lượng kim loại nặng dưới ngưỡng cho phép, hạn chế tối đa sinh vật và vi sinh vật gây bệnh Vùng chuyên canh phải cách xa đường quốc lộ ít nhất là 500m
2.2.4.2 Nước sạch
Phải dùng nước sạch tưới cho rau, tốt nhất là dùng nước giếng khoan Không được dùng nước rửa chuồng, nước thải công nghiệp, nước thải thành phố… chưa qua xử lý để tưới cho rau
Trang 242.2.4.3 Phân bón
Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoai mục, tuyệt đối không dùng các loại phân hữu cơ còn tươi (phân bắc, phân chuồng, phân rác ) Sử dụng hợp lý và cân đối các loại phân (hữu cơ, vô cơ ) Lượng phân dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy trình của từng loại rau Có thể dùng
bổ sung phân bón lá (có trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam) và phải theo đúng hướng dẫn Hạn chế tối đa sử dụng các chất kích thích và điều hòa sinh trưởng cây trồng
2.2.4.4 Phòng trừ sâu bệnh
Thực hiện đầy đủ quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trong phòng trừ sâu bệnh hại nhằm hạn chế thấp nhất sự thiệt hại do sâu bệnh gây ra, hiệu quả kinh tế cao, ít độc hại cho người và môi trường Cần chú ý các biện pháp chính sau:
+Giống: Phải chọn giống tốt, các cây con giống cần được xử lý sạch sâu bệnh trước khi xuất ra khỏi vườn ươm
+Biện pháp canh tác: Cần tận dụng triệt để các biện pháp canh tác để góp phần hạn chế thấp nhất các điều kiện và nguồn phát sinh các loại dịch hại trên rau
+Dùng thuốc: Chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết Phải có sự điều tra phát hiện sâu bệnh, hướng dẫn dùng thuốc của cán bộ kỹ thuật Tuyệt đối không dùng thuốc trong danh mục cấm và hạn chế sử dụng ở Việt Nam Hoặc hạn chế tối đa sử dụng các loại thuốc có độ độc cao (thuộc nhóm độc I và II), thuốc chậm phân hủy thuộc nhóm Clor và lân hữu cơ Triệt để sử dụng các loại thuốc sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc có độc thấp (thuộc nhóm độc III trở lên), thuốc chóng phân hủy, ít ảnh hưởng các loài sinh vật có ích trên ruộng
Cần sử dụng luân phiên các loại thuốc khác nhau để tránh sâu nhanh quen thuốc Bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch đúng hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc Tuyệt đối không sử dụng đạm ủ rau tươi (xử lý sản phẩm đã thu hoạch) bằng các hoá chất BVTV
Trang 252.3 Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong trồng rau ăn lá
2.3.1 Phương thức sản xuất
2.3.1.1 Sản xuất rau ngoài trời
Đây là phương thức áp dụng ở hầu hết các vùng trồng rau trên thế giới Trồng rau ngoài trời là từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đều thực hiện ngoài đất trống Kỹ thuật thao tác đơn giản, không cần có trang thiết bị hiện đại nên có điều kiện mở rộng diện tích, tăng tổng sản lượng rau hằng năm Sản xuất rau ngoài trời chi phí sản xuất thấp, giá thành hạ, thích hợp cho những vùng sinh thái có khí hậu thời tiết thuận hòa Nhưng do không khống chế được thời tiết nên người sản xuất thường gặp rủi ro trong điều kiện thời tiết bất thuận như: mưa, bão, ngập lụt… Trong điều kiện như vậy năng suất và chất lượng rau giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng rau và cung cấp rau trên thị trường (Tạ Thu Cúc-Hồ Hữu An-Nghiêm Thị Bích Hà, 2000)
2.3.1.2 Sản xuất rau trong điều kiện có thiết bị che chắn (nhà lưới, nhà
nilông, nhà màn, polietilen phủ đất)
Cách trồng này hạn chế được sâu bệnh hại, cỏ dại, sương gió, mưa bão Do
đó ít phải sử dụng thuốc BVTV, rút ngắn thời gian sinh trưởng và năng suất cũng cao hơn Tuy nhiên, các vật liệu dùng để xây dựng nhà che chắn và nilông phủ đất hiện nay gia thành vẫn cao, phần lớn người nông dân chưa đủ vốn đầu tư để sản xuất lớn
2.3.1.3 Kỹ thuật thủy canh (trồng trong dung dịch, trồng không cần đất)
Đây là phương pháp canh tác tiên tiến có hiệu quả cao đang được tổ chức FAO khuyến khích sản xuất vì nó mang lại nguồn rau sạch đáng kể
Ưu điểm của phương pháp canh tác này là năng suất trên đơn vị diện tích cao, chất lượng tốt, phẩm chất rau cao, rau đạt tiêu chuẩn sạch Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao, nên kéo theo giá thành sản phẩm cao
2.3.2 Giống và phương pháp gieo:
2.3.2.1 Giống
Giống rau ăn lá gồm:
Giống F1 được các nhà sản xuất giống cung ứng trên thị trường
Trang 26 Giống địa phương được nông dân tuyển lại và để giống từ vụ trước
2.2 Xử lý hạt và giống rau trước khi gieo trồng
Xử lý hạt và giống rau trước khi gieo, trồng là biện pháp kỹ thuật rất quan trọng nhằm mục đích thúc đẩy mầm, kích thích mầm mọc nhanh, tăng cường sự trao đổi chất trong hạt, thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây, rút ngắn thời gian sinh trưởng, hạn chế tác hại của sâu bệnh hại, góp phần tăng năng suất trên một đơn
vị diện tích
Các phương pháp xử lý giống chủ yếu như:
Ngâm nước-thúc mầm: Thời gian ngâm nước từ 1-2 giờ đến 24 giờ tùy cấu tạo hạt, nhiệt độ ngoài trời khi xử lý Dùng nước sạch ít tạp khuẩn để ngâm hạt, sau 10-12 giờ thay nước một lần Không nên ngâm hạt quá lâu sẽ làm một số chất hòa tan trong hạt bị thất thoát Sau khi hút nước hạt trương lên tối đa, vỏ hạt căng, vớt hạt, rửa sạch, để róc nước, lúc này có thể đem gieo
Xử lý hạt giống bằng chất hóa học: Đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong sản xuất rau và được ứng dụng rộng rãi trên thế giới Những chất hóa học có tác dụng làm tăng cường hoạt động của các các enzym, tăng quá trình trao đổi chất trong cây…
Xử lý bằng phương pháp vật lý: Người ta thường dùng ánh sáng đỏ, ánh sáng tím và các chất đồng vị phóng xạ (Co60, P32) để xử lý hạt giống rau Ngoài ra còn dùng tia lazer để xử lý hạt giống rau cũng làm tăng năng suất và chất lượng rau
Trong các phương pháp xử lí giống trên thì phương pháp ngâm nước-thúc mầm và phương pháp xử lý hạt giống bằng chất hóa học được người nông dân áp dụng nhiều do đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả kinh tế cao
2.3.2.3 Phương pháp gieo
Gieo vãi: Thường áp dụng cho các loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn, ít tốn công chăm sóc như cải ngọt, cải xanh, cải củ, cà rốt… cây có thể sử dụng đất đai, chất dinh dưỡng triệt để hơn Trong trồng rau ăn lá thì phương pháp gieo vãi thường được sử dụng để gieo hạt giống trong vườn ươm và để trồng một số loại rau
ăn lá như rau dền
Trang 27 Gieo hàng: Thường áp dụng cho rau muống, rau đay và các loại rau ăn rễ
củ (cà rốt, cải củ…) hoặc đậu rau (đậu đũa, đậu Hà Lan…)
Gieo hốc: Thường áp dụng cho những loại rau có khối lượng thân lá lớn, thân thuộc loại leo bò như bí ngô, bí xanh, dưa hấu…
2.3.3 Đất trồng và kỹ thuật làm đất
2.3.3.1 Đất trồng rau ăn lá
Rau ăn lá là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, giá trị dinh dưỡng phong phú, năng suất trên đơn vị diện tích cao Cây rau yêu cầu đất rất nghiêm khắc Các loại đất quan trọng trong sản xuất rau ăn lá là đất thịt pha cát, đất thịt nhẹ, đất thịt mịn, đất thịt pha sét, đất phù sa ven sông Đất trồng rau cần có tầng canh tác dày từ 20-40cm, thành phần cát khoảng 50-60%, thành phần sét khoảng 25-40%, đất tơi xốp, giàu mùn, giữ phân, giữ nước tốt, tưới tiêu tốt, mặt đất bằng phẳng hoặc hơi thoải về một phía (Phạm Thị Minh Tâm, 2002)
Vùng chuyên canh rau cần gần đường giao thông để tiện cho việc thông thương nông sản ra thị trường và vận chuyển vật tư sản xuất Vùng trồng rau ăn lá cần nguồn nước đầy đủ, nước sạch, không ô nhiễm, tốt nhất là nước giếng khoan
2.3.3.2 Kỹ thuật làm đất
Làm đất là dùng những công cụ cần thiết, tác động vào lớp đất canh tác làm thay đổi đất về nhiều mặt: Độ lớn, độ tơi xốp, chế độ nhiệt, không khí và nước trong đất Sự tác động vật lý trong quá trình làm đất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hạt giống trong quá trình nảy mầm, cho cây sinh trưởng tốt (Tạ Thu Cúc-Hồ Hữu An-Nghiêm Thị Bích Hà, 2000)
Kỹ thuật làm đất gồm mấy bước cơ bản sau:
Làm vỡ lớp đất mặt: Dùng công cụ như cày hoặc cuốc để cắt, tách, lật đất thành các tảng đất, cục đất to
Làm nhỏ đất: Dùng bừa, máy phay, cào… làm đất nhỏ vụn, tơi xốp đường kính viên đất lớp mặt khoảng 2-3cm là hợp lý, đất gieo ươm hạt giống phải nhỏ hơn một chút
Trang 28 San bằng mặt đất: Dùng các công cụ như bừa, cào… san đất từ chỗ cao xuống chỗ thấp, làm cho mặt đất bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc gieo trồng, chăm sóc, rau sinh trưởng phát triển thuận lợi
Thiết kế luống rau: Có các kiểu luống như luống bằng, luống mui thuyền, luống lòng khay, luống sống trâu
Chiều rộng luống thay đổi tùy theo mùa vụ, loại rau từ 0,7-1,5m, chiều cao 13-15cm, chiều dài luống không quá 20m, rãnh luống 22-25cm để đi lại chăm sóc,
Các loại phân bón chủ yếu: Phân hữu cơ (phân chuồng, phân rác, phân xanh…), phân vi sinh, và phân vô cơ (đạm, lân, kali, vôi, phân vô cơ hỗn hợp)
Phương pháp bón phân: Gồm bón lót và bón thúc
+Bón lót: Trước khi gieo trồng thường bón những loại phân phân giải chậm như phân hữu cơ Quá trình phân giải loại phân này sẽ cung cấp những chất dễ tiêu cho cây trồng, làm đất tơi xốp, giữ nước, giữ nhiệt tốt, tăng tính đệm của đất…
+Bón thúc: Khi cây sinh trưởng mạnh cần nhiều chất dinh dưỡng dễ hòa tan,
có hiệu quả nhanh như phân đạm vô cơ và phân kali như: Urea [CO(NH2)2], Nitrat amon (NH4NO3), Kali nitrat (KNO3) và các loại phân vô cơ đã qua chế biến như NPK tổng hợp, phân vi sinh…
Phân lân khó hòa tan nên thường dùng để bón lót trước khi trồng, phân kali bón lót 1/3 tổng lượng; phần còn lại dùng để bón thúc, phân đạm chủ yếu để bón thúc
Bón phân qua lá: Dùng những dạng phân ở thể lỏng hoặc bột để phun lên lá, chất dinh dưỡng sẽ thông qua biểu bì và khí khổng xâm nhập vào bên trong cây rau
Trang 29Khi phun dung dịch dinh dưỡng lên lá thường kết hợp với nguyên tố vi lượng Bón phân qua lá sẽ làm tăng hiệu quả của phân bón vì dinh dưỡng không bị thất thoát qua đất
Phân hữu cơ trước khi bón cần được xử lý, ủ cho hoai mục, trộn đều vào đất Các phương pháp ủ phân chuồng:
+Ủ chặt hay ủ nguội: Phân được nén chặt xếp thành từng lớp cao 1,5 - 2m, dài 2 - 3m Xung quanh trát bùn hoặc dùng bạt phủ kín chỉ trừ lỗ tưới nước, thời gian ủ lâu (3 - 6 tháng)
+Ủ rời hay ủ nóng: Phân không được nén chặt, để cho không khí lưu thông
Do đó phân phân giải nhanh nhưng bị thất thoát đạm nhiều
+Ủ nửa chặt: Phân xếp thành đống không nén chặt để cho không khí lưu thông, vi sinh vật hoạt động phân giải mạnh, khi nhiệt độ bắt đầu hơi hạ thấp thì đem đảo, nén chặt, trát bùn kín
Trong các phương pháp ủ phân chuồng trên thì người nông dân sản xuất rau
ăn lá thường sử dụng phương pháp ủ rời do phân phân giải nhanh, thao tác đơn giản, đỡ tốn công Tuy nhiên lượng đạm thất thoát nhiều
Phương pháp tưới nước:
o Tưới phun mưa: Ở các vườn diện tích nhỏ, tưới bằng vòi gương sen cũng là một cách tưới phun mưa thủ công, thường được áp dụng trong các vườn rau ăn lá
o Phương pháp tưới ngấm qua rãnh: Đất vườn được lên luống ngăn cách bằng các rãnh rộng 25-30cm, sâu 20cm, nước tưới vào rãnh để ngấm dần vào luống Đây
là phương pháp thích hợp cho trồng các loại rau thành luống
Trang 30o Ngoài ra còn các phương pháp tưới hốc và tưới nhỏ giọt nhưng trong trồng rau ăn lá thì không áp dụng các phương pháp tưới này
2.3.5.2 Xới đất, trừ cỏ dại
Xới đất có tác dụng làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, giữ nước, giữ phân tốt, tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động tốt, hệ rễ sinh trưởng tốt, xới đúng kỹ thuật còn có tác dụng diệt cỏ dại Đối với các loại rau khác nhau thì số lần vun xới cũng khác nhau, trung bình đối với rau ăn lá là 1-2 lần vào thời kỳ hồi xanh, thời kỳ cây bắt đầu sinh trưởng mạnh Sau mỗi lần mưa mặt đất thường bị gí chặt nên cần phải xới cho đất tơi xốp, thoáng khí
2.3.5.3 Phòng trừ sâu bệnh
Rau là loại cây có hàm lượng nước cao, dinh dưỡng phong phú, thân lá non mềm là nơi cho nhiều loại sâu bệnh hại Muốn phòng trừ sâu bệnh hại có hiệu quả cần có biện pháp phòng trừ tổng hợp Hiện nay, chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM hoặc ICM) đã được phổ biến sâu rộng đến nhiều vùng sản xuất rau trong cả nước Trong đó chú trọng dùng giống kháng sâu bệnh, chịu khí hậu nóng
ẩm, thực hiện chế độ luân canh, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lí, làm đất, bón phân, tưới nước đúng kỹ thuật…
Khi sâu bệnh hại phát sinh có thể dùng thuốc thảo mộc, thuốc vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ khi thật sự cần thiết, phải sử dụng thuốc theo những quy định của ngành bảo vệ thực vật Sử dụng biện pháp sinh học: Bảo vệ và nuôi thả thiên địch vào khu vực sản xuất…
Trang 31Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện và giới hạn đề tài:
Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ thực hiện:
Về không gian: Đề tài được thực hiện chủ yếu ở hai ấp có diện tích trồng rau ăn lá lớn và tập trung là ấp Bình Long và ấp Bình Phong thuộc xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
Về số lượng: Phỏng vấn: 10 nông dân
Phát bảng hỏi: 30 nông dân
3.2 Nội dung
3.2.1 Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí và ranh giới hành chính
Khí hậu thủy văn
Tài nguyên nước
Đặc điểm địa hình, đất đai của khu vực
3.2.2 Điều tra đánh giá điều kiện kinh tế xã hội
Hiện trạng sản xuất nông nghiệp
Nguồn nhân lực và kinh tế nông nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
3.2.3 Hiện trạng sản xuất rau ăn lá trên địa bàn
Thu thập những kinh nghiệm truyền thống của các nông hộ về kỹ thuật chọn giống, canh tác và chăm sóc các loại rau ăn lá phổ biến tại địa phương
Trang 32Điều tra thực trạng sản xuất rau ăn lá trên địa bàn xã Từ đó đưa ra khả năng chuyển đổi sản xuất rau ăn lá theo hướng an toàn của xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
3.2.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển vùng sản xuất rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình
Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức gặp phải trong việc phát triển vùng thành chuyên canh rau ăn lá an toàn
Từ phân tích trên đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển vùng sản xuất thành vùng chuyên canh rau ăn lá an toàn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài “Tìm hiểu hiện trạng và khả năng phát triển vùng chuyên canh rau ăn lá an toàn tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây
Ninh” người nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu sách và tài liệu lí luận trong nghiên cứu khoa học là phương pháp khai thác những thông tin khoa học lí luận qua sách và tài liệu có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu bao gồm sách, báo, các nghiên cứu trước đó, khóa luận, luận án…
Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng sản xuất nông nghiệp những năm trước ở các cơ quan ban ngành, địa phương xã
Thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu người nghiên cứu có thể xây dựng lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, bổ sung và phát triển lí luận đã có hoặc xây dựng lí luận mới cho công trình nghiên cứu của mình
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là một phương pháp thường được dùng để thu thập thông tin từ mọi người Những tương tác trực diện giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau với một mục đích cụ thể trong suy nghĩ được gọi là phỏng vấn Một mặt nào đó, phỏng vấn
có thể rất uyển chuyển, khi người phỏng vấn tự do đặt câu hỏi họ nghĩ ra xung
Trang 33quanh vấn đề cần nghiên cứu, mặt khác, phỏng vấn có thể rất cứng nhắc, khi người điều tra phải theo sát câu hỏi đã được quyết định từ trước
Trong nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn được áp dụng để phỏng vấn ngẫu nhiên 10 nông dân chuyên canh rau ăn lá tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (thuộc hai ấp có diện tích trồng rau ăn lá lớn và tập trung là ấp Bình Long
và ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh) đang trực tiếp sản xuất trên mảnh vườn của đối tượng được nghiên cứu về kinh nghiệm sản xuất rau ăn lá, những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rau của hộ mình nói riêng và của cả vùng trồng rau nói chung
3.3.3 Phương pháp điều tra
Là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng cần nghiên cứu
Phương pháp điều tra được sử dụng dưới hình thức phát bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi hay phiếu điều tra là một danh sách các câu hỏi bằng văn bản,
mà các câu trả lời sẽ được người trả lời ghi lại
Điểm khác nhau duy nhất giữa bảng câu hỏi và bảng liệt kê phỏng vấn là ở bảng liệt kê phỏng vấn, phỏng vấn viên đặt câu hỏi (và giải thích chúng nếu cần thiết) và ghi lại phản hồi của người trả lời vào bảng liệt kê phỏng vấn Trong trường hợp sử dụng bảng câu hỏi, vì không có ai giải thích ý nghĩa của câu hỏi cho người trả lời, nên câu hỏi phải thật rõ ràng và dễ hiểu, trình bày dễ đọc, đẹp mắt…
Trong nghiên cứu bảng câu hỏi hay phiếu điều tra được phát cho 30 nông dân sản xuất rau ăn lá tại địa điểm nghiên cứu (thuộc hai ấp có diện tích trồng rau
ăn lá lớn và tập trung là ấp Bình Long và ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh)
Trong đó, 15 nông dân trồng rau ăn lá tại ấp Bình Long
15 nông dân trồng rau ăn lá tại ấp Bình Phong
Tiêu chí chọn đối tượng phát bảng câu hỏi: Bảng hỏi được phát ngẫu nhiên cho 30 nông dân sản xuất rau ăn lá tại hai địa điểm nghiên cứu trên
Trang 343.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
3.3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng
Người nghiên cứu sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê kết quả thu được
3.3.4.2 Phương pháp định tính
Phương pháp định tính giúp ta xử lý kết quả của những câu hỏi mở Phương pháp định tính gồm:
Tham khảo, sàng lọc tài liệu nhằm xác định sự kiện chính xác
Khái quát tài liệu giúp người nghiên cứu tìm hiểu bản chất của sự việc, nhận thức sâu sắc hiện thực khách quan
Người nghiên cứu phải có thái độ khách quan đối với khoa học, có quan điểm toàn diện, vận dụng và phát triển, đi sâu vào bản chất thực của vấn đề
Khi giải thích hoặc lý giải người nghiên cứu phải nắm vững lý thuyết trên cơ
sở đối chiếu tài liệu với tất cả các tri thức của mình
Phương pháp này được ứng dụng để phân tích bảng câu hỏi phỏng vấn
3.3.5 Phương pháp SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat)
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vùng sản xuất với
sự tham gia của người nông dân (tổng hợp lại từ bảng câu hỏi phỏng vấn)
Trang 35Chương 4 PHÂN TÍCH
4.1 Điều kiện tự nhiên
Bản đồ huyện Châu Thành
Nguồn: Phòng địa chính xã Thái Bình
4.1.1 Vị trí địa lí và ranh giới hành chính:
Châu Thành là một huyện nằm ở cửa ngõ phía Tây của thị xã Tây Ninh Phía Đông giáp huyện Hòa Thành và Thị xã Tây Ninh
Phía Tây giáp vương quốc Campuchia
Phía Nam giáp huyện Bến Cầu
Trang 36Phía Bắc giáp huyện Tân Biên
Có quốc lộ 22B chạy qua huyện nối với huyện Tân Biên đi qua cửa khẩu Xa Mát và còn có 48 km đường biên giới với vương quốc Campuchia Đây là vị trí hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội cũng như là về quốc phòng an ninh
Đơn vị hành chính
Xã Phước Vinh, xã Hảo Đước, xã Đồng Khởi, xã Biên Giới, xã Hòa Thạnh, xã Hòa Hội, xã Trí Bình, xã Thái Bình, xã Thành Long, xã Ninh Điền, xã Thanh Điền, xã Long Vĩnh, xã An Cơ, xã Long Bình, Thị trấn Châu Thành
Xã Thái Bình là xã nằm ở phía Đông huyện Châu Thành, cách trung tâm huyện khoảng 4 km, cách trung tâm thị xã 2 km Xã tiếp giáp:
Phía đông giáp Phường 1, Phường 2 Thị xã Tây Ninh
Phía tây giáp Thị trấn Châu Thành và xã Trí Bình
Phía nam giáp xã An Bình và xã Thanh Điền
Phía bắc giáp xã Đồng Khởi
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.898,5 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp tính đến ngày 31/10/2009 là 2.235 ha, chiếm 77,11% tổng diện tích toàn xã
Toàn xã có 14.054 nhân khẩu với 3.852 hộ dân
Với vị trí địa lí như trên, nhìn chung so với các xã khác thì xã Thái Bình có
nhiều thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với thị xã Tây Ninh, thị trấn Châu Thành
4.1.2 Khí hậu, thủy văn
4.1.2.1 Khí hậu
Xã Thái Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu tương đối
ôn hòa, hiếm có bão lụt, có 02 mùa rõ rệt; mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng
Trang 3712 năm trước đến tháng 4 năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa (từ tháng 5 – tháng 11) Chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác Theo nguồn tin của trạm khí tượng thủy văn Tây Ninh, nhiệt độ cụ thể như sau:
+ Lượng ánh sáng quanh năm dồi dào, mỗi ngày trung bình có đến 6 giờ nắng, bình quân số giờ nắng 2.730 giờ/năm
+ Nhiệt độ không khí cao nhất là 32oC, nhiệt độ không khí thấp nhất là 25oC, nhiệt độ trung bình năm khá cao (bình quân khoảng 27,4oC), nhiệt độ này rất thích hợp cho các cây trồng nhiệt đới nói chung và các chủng loại rau nhiệt đới nói riêng
+ Biên độ nhiệt ngày và đêm chênh lệch nhau tương đối thấp (3,9oC) cộng với lượng ánh sáng quanh năm dồi dào rất thuận lợi cho thâm canh tăng năng suất cây trồng cũng như là đa dạng hóa các chủng loại cây trồng nói chung và các chủng loại rau ăn lá nói riêng
- Chế độ gió ở xã Thái Bình phản ánh chế độ hoàn lưu gió mùa của khu vực
và của vùng
+ Gió mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4): Từ tháng 11 đến tháng 2 hướng gió chủ yếu là Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, khoảng tháng 2 đến tháng 4 thì hướng gió chủ yếu là Đông Nam và Nam, tốc độ gió trung bình là 2,3 m/s
+ Gió mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): Gió Tây Nam, tốc độ gió bình quân là 1,8 m/s
Nhìn chung với tốc độ gió tốc độ gió trung bình là 1,7m/s và thổi điều hoà trong năm thì không ảnh hưởng nhiều đến các công trình nông nghiệp (không làm
hư hỏng hệ thống nhà lưới của người dân trong sản xuất rau)
4.1.2.2 Thủy văn
Lượng mưa cao nhất là 2.146 mm/năm
Lượng mưa thấp nhất là 1.357 mm/năm
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.750 mm/năm
Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm và chia ra làm 02 mùa rõ rệt:
Trang 38+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 85,6% đến 90% lượng mưa cả năm
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, lượng mưa rất thấp chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm
Nhìn chung so với các khu vực khác trong tỉnh thì xã Thái Bình nằm trong khu vực có lượng mưa và số ngày mưa (trung bình 125 ngày) tương đối thấp, đặc biệt là vào các tháng mùa khô (cao điểm là vào tháng 3 – tháng 4) lượng mưa thấp, nhiệt độ không khí cao nên cần chú ý cung cấp đủ nước cho cây trồng đặc biệt là rau ăn lá để không ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
Lượng nước bốc hơi bình quân hàng năm là 1.430 mm, lượng nước bốc hơi bình quân trong tháng là 124 mm Lượng nước bốc hơi thay đổi theo mùa: Mùa khô lượng nước bốc hơi cao hơn, thường chiếm trên 65% lượng nước bốc hơi cả năm
Độ ẩm trung bình trong năm vào khoảng 70 - 80%, thay đổi theo mùa, trung bình các tháng mùa khô là 70%, các tháng mùa mưa là 80 – 90% Như vậy ẩm độ trung bình trong năm khá cao, nhưng vào các tháng mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4), ẩm độ không khí thấp, lượng nước bốc hơi lớn nên người dân cần chú trọng hơn nữa cho công tác tưới nước chống héo cho rau màu
4.1.3 Tài nguyên nước
Nguồn nước của xã Thái Bình khá dồi dào, gồm 02 nguồn
4.1.3.1 Nước mặt
Nguồn nước mặt được dẫn từ hệ thống thủy lợi hồ Dầu Tiếng chảy về tuyến kênh tưới cấp 1 TN 17 (Tây Ninh 17) của xã, hệ thống kênh chính TN.17 được phân thành nhiều nhánh kênh con như: TN 17-13, TN 17-12, TN 17-16, TN 17-11, TN 17-10, TN 17-8 Với nguồn nước dồi dào của hồ Dầu Tiếng rất thuận lợi cho bà con tưới tiêu cho cây trồng
Trong năm 2009, UBND xã Thái Bình đã vận động người dân giải tỏa các công trình, vật cản dọc theo các tuyến kênh để thực hiện hiện đại hóa kênh TN 17
và kênh cấp 2, cấp 3 trên địa bàn toàn xã Tiếp tục triển khai hiện đại hóa kênh TN 17; 3 hợp tác xã dịch vụ thủy lợi bàn giao, làm mới và thi công nạo vét các tuyến
Trang 39kênh nội đồng do xí nghiệp thủy nông 3 bàn giao Nhờ đó nguồn nước tưới tiêu cho
bà con nông dân luôn được đảm bảo
4.1.3.2 Nước ngầm
Qua khảo sát nhiều giếng khoan, giếng đào trong xã cho thấy tiềm năng nước ngầm khá phong phú, chất lượng nước tốt Tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác được 50.000 – 100.000 m3/giờ Vào mùa khô, vẫn có thể khai thác nước ngầm, đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để cho xã phát triển sản xuất rau ăn lá an toàn
4.1.4 Địa hình đất đai
4.1.4.1 Địa hình
Theo phòng địa chính của xã, địa hình của xã có xu hướng thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo dạng lượn sóng nhẹ, thuộc vùng bán sơn địa, là vùng đất chuyển tiếp từ vùng đồng bằng Tây Nam Bộ và các tỉnh phía bắc vùng Đông Nam Bộ, cao độ biến đổi từ 18,00m ở về phái Tây Bắc và thấp nhất 10,20m ở về phía Đông Nam Có thể chia thành 2 dạng địa hình chính có đặc điểm sau:
Dạng địa hình cao: Diện tích khoảng 980 ha, chiếm 33,82% diện tích đất tự nhiên của xã Địa hình này hơi nhô cao so với xung quanh nên đất dễ bị xói mòn và gây khó khăn trong việc xây dựng các công trình thủy lợi để đưa nước hồ Dầu Tiếng về phục vụ sản xuất
Dạng địa hình trung bình thấp: Diện tích khoảng 1.918 ha, chiếm 66,18% diện tích tự nhiên toàn xã Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng, tiêu thoát nước tốt, thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong sản xuất Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính của xã
Nhìn chung, xã có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc bình quân toàn vùng là 2o, thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp
4.1.4.2 Đất đai
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.898,5 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp tính đến ngày 31/10/2009 là 2.235 ha, chiếm 77,11% tổng diện tích toàn xã
Trang 40Bảng 4.1: Diện tích đất tự nhiên của các ấp tại xã Thái Bình
Nguồn tin: UBND xã Thái Bình
Theo số liệu thống kê của UBND xã, thì ấp có diện tích đất tự nhiên lớn nhất
là ấp Suối Rộp với diện tích là 1.772,2 ha chiếm 61,14%; ấp có diện tích nhỏ nhất là
ấp Bình Phong với diện tích là 78 ha, chỉ chiếm 2,69% diện tích đất tự nhiên của xã; tổng diện tích đất tự nhiên của hai ấp Bình Phong và ấp Bình Long là 342 ha, chỉ chiếm 11,80% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, nhưng nhờ điều kiện thuận lợi nằm trong dạng địa hình thấp, địa hình tương đối bằng phẳng, tiêu thoát nước tốt, đất đai thích hợp cho việc canh tác hoa màu đặc biệt là rau ăn lá cho nên ấp Bình Phong và ấp Bình Long là hai ấp có diện tích trồng rau ăn lá lớn và tập trung nhất trong các ấp của xã (150 ha trên tổng số là 195 ha rau xanh toàn xã)
BIỂU ĐỒ TỶ LỆ DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN CỦA CÁC ẤP