Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đó thì yêu cầu về nội dung, phương pháp dạy học được đề ra đó là : “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức
Trang 1BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG
KỸ NĂNG HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ THU Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Niên khóa: 2006-2010
Tháng 5/2010
Trang 2NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
LÊ THỊ THU
Khoá luận được trình đề đáp ứng yêu cầu cấp bằng Cử nhân ngành
SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN THANH THUỶ
Tháng 5/2010
Trang 3- Ban giám hiệu, các quý Thầy Cô trường đại học Nông lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, quý Thầy Cô thuộc bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy em trong suốt thời gian học tập tại trường
- Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
- Cảm ơn bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận
- Cảm ơn gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con học tập tốt
và từng bước trưởng thành hơn
Thành phố Hồ Chí Minh 5/2010
Lê Thị Thu
Trang 4Đề tài “ Tìm hiểu ảnh hưởng của kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên đại học Nông Lâm – Thành Phố Hồ Chí Minh”
Được tiến hành tại trường đại học Nông Lâm TP.HCM, thời gian từ 09/2009 đến 05/2010 Mục đích của đề tài nhằm nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Đề tài tập trung tìm hiểu các vấn đề:
Những kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Tìm hiểu ảnh hưởng của những kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên nói chung và sinh viên đại học Nông Lâm nói riêng
Từ đó đề xuất một số biện pháp giúp sinh viên có kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả
Kết quả thu được như sau:
Mức độ nắm vững các kỹ năng học tập và NCKH của sinh viên đại học Nông lâm đạt mức trung bình
Các kỹ năng học tập và NCKH có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập và kết quả học tập của sinh viên
Kết quả học tập của sinh viên chưa cao lắm, chủ yếu ở mức trung bình và khá, cần phải nâng cao hơn nữa kết quả học tập này
Trang 5Trang tựa
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ĐỀ TÀI ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ ix
Chương 1: GIỚI THIỆU i
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
1.6 Phạm vi nghiên cứu 3
1.7 Phương pháp nghiên cứu 3
1.9 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Lược khảo một số nghiên cứu trước đây 6
2.2 Quá trình dạy học đại học 9
2.2.1 Quá trình dạy học đại học như một hệ thống 10
2.2.2 Các nhiệm vụ của quá trình dạy học đại học 11
2.2.3 Bản chất của quá trình dạy học đại học 12
2.2.4 Các nguyên tắc của quá trình dạy học đại học 13
2.3 Lý luận về kỹ năng học tập 15
2.3.1 Thế nào là kỹ năng học tập 15
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành kỹ năng học tập 16
2.3.3 Quá trình hình thành kỹ năng học tập 17
2.3.4 Các kỹ năng học tập cơ bản 19
2.4 Lý luận về nghiên cứu khoa học 20
2.4.1 Thế nào là nghiên cứu khoa học 20
Trang 62.4.4 Các loại hình nghiên cứu khoa học 23
2.5 Hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên 23
2.5.1 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên 23
2.5.2 Đặc điểm chung của hoạt động học tập của sinh viên 23
2.5.3 Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên 24
2.6 Ảnh hưởng của kỹ năng học tập và NCKH đến chất lượng học tập của sinh viên… 25
2.7Các bước học tập giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn………28
2.8 Một số phương pháp nâng cao phương pháp học tập đại học 30
2.9 Tổng quan về trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh 31
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 33
3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi 33
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng 34
3.4.2 Phương pháp phân tích định tính 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Tìm hiểu thực trạng xây dựng kế hoạch học tập của sinh viên Đại Học Nông Lâm… 35
4.1.1 Thực trạng kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên Đại Học Nông Lâm… 35
4.1.2 Thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên Đại Học Nông Lâm 41
4.1.3 Thực trạng kỹ năng ghi chép của sinh viên Đại Học Nông Lâm……… ……
……….……… 45
4.1.4 Thực trạng kỹ năng làm việc với sách của sinh viên Đại Học Nông Lâm…… 51
4.1.5 Thực trạng kỹ năng tìm kiếm và lựa chọn thông tin của sinh viên Đại Học Nông Lâm 55 4.1.6 Thực trạng kỹ năng làm bài kiểm tra của sinh viên Đại Học Nông Lâm…59
Trang 74.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên đại học
Nông Lâm 63
4.4 Tìm hiểu mức độ cần thiết của những điều kiện ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên 65
4.5 Tìm hiểu về những kỹ năng học tập ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên 67
4.7 Lựa chọn vấn đề nghiên cứu 70
4.8 Mức độ nhận thức của sinh viên về hoạt động NCKH trong học tập 72
4.9 Tìm hiểu mức độ hiệu quả của các hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH cho sinh viên 73
4.10 Tìm hiểu thái độ của sinh viên khi tham gia các hoạt động NCKH trong học tập 75
4.11 Mức độ ảnh hưởng của các hình thức NCKH đến kết quả học tập của sinh viên 81
4.12 Kết quả học tập của sinh viên đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh 82
Chương 5: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 88
5.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên……… ……… ….90
5.4Hướng phát triển đề tài……… …… …91
Tài liệu tham khảo 92 Phụ lục
Trang 8Từ viết tắt Nội dung tương ứng
Trang 9Bảng 4.1: Bảng kết quả tổng kết kỹ năng xây dựng kế hoạch kỹ năng tự học của
sinh viên:……… ……… …… 35
Bảng 4.2: Bảng kết quả so sánh mức độ thực hiện kỹ năng xây dựng kế hoạch kỹ
năng tự học của sinh viên 3 khoa: NH, CNTY,SPKT:……… … 37 Bảng 4.3:Bảng kết quả tổng kết kỹ năng nghe của sinh viên:……… … 41
Bảng 4.4: Bảng kết quả so sánh mức độ thực hiện kỹ năng nghe của sinh viên 3
khoa:NH,CNTY,SPKT……… … ……43 Bảng 4.5: Bảng kết quả tổng kết kỹ năng ghi chép của sinh viên:… …… … 47
Bảng 4.6: Bảng kết quả so sánh mức độ thực hiện kỹ năng ghi chép của sinh
viên3khoa:NH,CNTY,SPKT……… …….49
Bảng 4.7: Bảng kết quả tổng kết kỹ năng làm việc với sách của sinh
viên:……… ……… 51
Bảng 4.8: Bảng kết quả so sánh mức độ thực hiện kỹ năng làm việc với sách của
sinh viên 3 khoa: NH,CNTY, SPKT……… …………53
Bảng 4.9: Bảng kết quả tổng kết tìm kiếm và lựa chọn thông tin của sinh
viên:……… ……… ………… 55
Bảng 4.10: Bảng kết quả so sánh mức độ thực hiện kỹ năng tìm kiếm và lựa
chọn thông tin của sinh viên 3 khoa: NH, CNTY, SPKT……….56
Bảng 4.11: Bảng kết quả tổng kết kỹ năng làm bài kiểm tra của sinh
Bảng 4.14: Bảng kết quả thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập
của sinh viên:……… ……….……….63
Bảng 4.15: Bảng kết quả tổng quát về sự cần thiết của những điều kiện ảnh
hưởng đến kết quả của sinh viên:……… …… …65
Trang 10Bảng 4.17: Bảng kết quả tổng quát về vấn đề lựa chọn đề tài của sinh viên 3
khoa SPKT, CNTY, NH:……… ……… 70
Bảng 4.18: Bảng kết quả tổng quát về mức độ nhận thức của sinh viên về hoạt
động NCKH trong học tập:……… ……… ……… 72
Bảng 4.19: Bảng kết quả tổng quát về mức độ hiệu quả của các hình thức bồi
dưỡng năng lực NCKH cho sinh viên: ……… …………74
Bảng 4.20: Bảng kết quả tổng quát về thái độ của sinh viên khi tham gia các
hoạt động NCKH:……… …… 75
Bảng 4.21: Bảng kết quả tổng hợp về thái độ của sinh viên khi tham gia các hoạt
động NCKH của sinh viên 3 khoa NH, CNTY, SPKT……… …77
Bảng 4.22: Bảng kết quả tổng quát về mức độ ảnh hưởng của các hình thức
NCKH đến kết quả học tập của sinh viên……… ……81 Bảng 4.23: Bảng kết quả học tập của sinh viên……… …… 82
Trang 11Biểu đồ 4.1: Biểu đồ so sánh mức độ thực hiện thành thạo các kỹ năng tự học của 3
Biểu đồ 4.14: Biểu đồ so sánh thái độ ít tích cực của sinh viên khi tham gia các
hoạt động NCKH của 3 khoa NH, CNTY, SPKT 79
Biểu đồ 4.15: Biểu đồ so sánh thái độ không tích cực của sinh viên khi tham gia các hoạt động NCKH của 3 khoa NH, CNTY, SPKT 80
Trang 12Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
“Trong thời đại ngày nay, tri thức đã và đang trở thành một cơ sở nền tảng quan trọng nhất, sự phồn vinh của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc vào khả năng học tập của dân chúng Vì vậy, không những Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới đã đặt giáo dục vào vị trí quốc sách hàng đầu” ( Mai Quang Tâm, 200 tr.113) Xuất phát từ điều kiện cụ thể và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa hướng tới nền kinh tế của nước ta, một trong những giải pháp có ý nghĩa quan trọng là cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng Giáo Dục và Đào Tạo trong nền kinh tế tri thức, vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên, do đó Giáo Dục và Đào Tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành lĩnh vực quan trọng nhất Do vậy, muốn tiến nhanh và vững trong thời đại kinh
tế tri thức ưu tiên hàng đầu phải đặt ra là việc chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục Giáo sư Đặng Hữu đưa ra ý kiến là chúng ta cần phải tiến hành một cuộc cách mạng trong giáo dục ở mọi phương diện như về mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp và cả hệ thống giáo dục Quan trọng nhất đó là phải tạo điều kiện cho người học khi họ ra trường vừa có thể lao động và có thể học tập suốt đời (http://www.bhiu.edu.vn/Home/newsandevent/2008/12/184.aspx truy cập ngày 21-11-2009)
Đặc biệt là đối với giáo dục đại học, mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo con người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, đồng thời phải
có kiến thức và năng lực làm việc tương xứng với trình độ họ được đào tạo, và có đầy
đủ sức khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc (luật Giáo Dục, 2005)
Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đó thì yêu cầu về nội dung, phương pháp dạy học được đề ra đó là : “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng” (luật Giáo Dục, 2005, tr.31)
Ngày nay tốc độ thay đổi tri thức diễn ra rất nhanh, những kiến thức mà người học lĩnh hội được trong quá trình học có khi ra trường đã trở thành lạc hậu Do đó, phải chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện
Trang 13phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo khả năng tự đào tạo, thích nghi nhanh với sự phát triển Người học biết nhân lên vốn tri thức cho mình, hướng dẫn người học tiếp thu tri thức mới Từ đó, hình thành nên kỹ năng học tập, phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết và trang bị tiềm lực cho bản thân trong tương lai Cách tốt nhất để có kỹ năng học tập đó là tự bản thân người học tự khám phá lấy, như nhà vật lý người Đức Listenber đã phát biểu “ Những cái gì mà tự bản thân anh buộc khám phá, để lại trong tiềm thức của anh con đường nhỏ mà anh lại có thể sử dụng khi cần thiết” (trích dẫn bởi Phạm Thị Lý, 2007)
Thực tế ở các trường đại học hiện nay đã và đang từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy với mục đích nhằm tích cực hóa người học Nhờ đó sinh viên được phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo của bản thân, phát triển tư duy, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề từ đó hình thành nên những kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học cần thiết cho sinh viên Tuy nhiên, kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên hay không? Và ảnh hưởng như thế nào?
Xuất phát từ lý do đó người nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu ảnh hưởng của kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên đại học Nông Lâm – Thành Phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Mức độ nắm vững các kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học cần thiết của sinh viên đại học Nông Lâm TP HCM như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Những kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên đại học Nông Lâm TP HCM như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Những điều kiện nhằm nâng cao hiệu quả học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên là gì?
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phục vụ cho việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, người nghiên cứu sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài (phục vụ cho câu hỏi 1, 2, 3 ):
Trang 14- Định nghĩa các khái niệm: kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu tài liệu về các kỹ năng học tập của sinh viên
- Nghiên cứu tài liệu về các kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên
2 Điều tra khảo sát về ảnh hưởng của những kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên nói chung và sinh viên đại học Nông Lâm nói riêng (phục vụ cho câu hỏi 1, 2, 3)
3 Đề xuất một số kiến nghị giúp sinh viên có kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả (phục vụ cho câu hỏi 3)
1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên
- Khách thể nghiên cứu: 300 sinh viên đại học Nông Lâm
- Quá trình dạy học đại học
1.6 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ thực hiện:
- Không gian: Trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Quy mô: Đề tài thực hiện khảo sát 300 sinh viên thuộc các khóa 32,33 của các khoa chăn nuôi thú y, khoa nông học, bộ môn sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
+ Sinh viên khoa chăn nuôi thú y: 80 sinh viên + Sinh viên khoa nông học: 70 sinh viên + Sinh viên bộ môn sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: 150 sinh viên
1.7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Qua sách báo, tạp chí, internet, luận văn…
- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi: Được thực hiện nhằm thu thập ý kiến của sinh viên về vấn đề nghiên cứu
Trang 151.8 Kế hoạch nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2010 Cụ thể như sau:
Thời gian Công việc Người thực hiện Ghi chú 9/2009- 15/11/2009 Viết và bảo vệ đề
cương
Người nghiên cứu
11/2009-1/2010 Nghiên cứu cơ sở lý
luận của đề tài
Xây dựng phiếu điều tra , phỏng vấn
Người nghiên cứu
1/2010- 3/2010 Phát và thu phiếu
điều tra
Người nghiên cứu
và sinh viên 4/2010 Phân tích thống kê
kết quả
Người nghiên cứu
4/2010 Phân tích định tính
kết quả
Người nghiên cứu
4/2010 Viết hoàn chỉnh luận
văn
Người nghiên cứu
5/2010 Bảo vệ luận văn Người nghiên cứu
1.9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu Người nghiên cứu nói rõ lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kế hoạch nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận
Lược khảo một số nghiên cứu trước đây
Cơ sở lý luận kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Ảnh hưởng của kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên
Trang 16- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày các phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài
- Chương 4: Kết quả Trình bày các kết quả định lượng và định tính
- Chương 5: Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu người nghiên cứu đưa ra những vấn đề nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm giúp sinh viên nâng cao kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học để góp phần nâng cao chất lượng học tập, đồng thời đưa ra một số hướng phát triển đề tài
Trang 17Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lược khảo một số nghiên cứu trước đây
Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần phải tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ
sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Đồng thời phải có những
kỹ năng học tập cơ bản để giúp ích cho quá trình lĩnh hội tri thức nhanh hơn, hiệu quả hơn
Xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực ngày càng cao Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục đại học trong giai đoạn mới hiện nay, NCKH của sinh viên được coi là một hình thức trọng yếu của quá trình đào tạo đại học Chính
vì vậy vấn đề NCKH đã được sự quan tâm rất lớn, do đó đã có nhiều bài biết, bài nghiên cứu về hoạt động NCKH Dưới đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu về hoạt động NCKH do người nghiên cứu tìm hiểu được:
Tác giả Mai Công Khanh (2006) với bài viết “NCKH gắn với hoạt động dạy học ở trường dự bị đại học Sầm Sơn” Người nghiên cứu cho rằng việc đưa NCKH vào trường đại học đã đem lại những tiến bộ vững chắc trong công tác dạy học và giáo dục, đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo
Bài viết “về các loại hình hoạt động liên quan đến NCKH ở trường cao đẳng sư phạm”, tác giả Bùi Huy Ngọc (2006) Bài viết đã nhấn mạnh việc tập dượt NCKH là một nhiệm vụ quan trọng của sinh viên Tác giả cũng đã đề cập đến các hình thức NCKH của sinh viên như làm khóa luận, tiểu luận tốt nghiệp…Ngoài ra, tác giả cũng
đã trình bày sơ lược về quy trình thực hiện các hình thức nghiên cứu cũng như đòi hỏi phẩm chất của sinh viên khi tham gia NCKH
Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng về kỹ năng chuẩn bị đề cương seminar của sinh viên’, tác giả Trịnh Ngọc Tân được đăng trên tạp chí giáo dục số 10 (2000) Đề tài này cho thấy phần lớn sinh viên năm nhất chưa nắm được khái niệm về hình thức tổ chức dạy và học seminar qua kết quả khảo sát tại trường Đại học quốc gia Hà Nội, năm học 1998-1999 Vì vậy, hầu hết sinh viên có cách hiểu khác về hình thức tổ chức seminar,
Trang 18không đánh giá đúng tầm quan trọng của seminar Bên cạnh đó, tác giả còn nêu ra một
số thực trạng và đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình thức seminar
Báo cáo dự án đào tạo giáo viên THCS: “Seminar một hình thức tự học kết hợp với thảo luận khoa học ở trường cao đẳng sư phạm”, tác giả Nguyễn Đức Thâm (2004) Qua đề tài này người nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích vị trí và tác dụng của seminar trong dạy và học ở các trường CĐ, ĐH Tác giả đã trình bày được quy trình cơ bản trong việc tổ chức seminar như sau: công tác chuẩn bị seminar được tiến hành từ phía người dạy và phía người học đối với công việc cụ thể rõ ràng, cách thức tiến hành một buổi seminar…
Báo cáo đề tài NCKH cấp trường: “Tổ chức dạy học seminar tại trường Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Thị Hảo (2008) Tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu và phân tích thực trạng tổ chức dạy học seminar của giáo viên và sinh viên trường Đại học KHXH&NV Người nghiên cứu đã trình bày được sự khác biệt về nhận thức và thái độ đối với hình thức dạy học seminar giữa giáo viên có thâm niên giảng dạy khác nhau, trình độ học vấn khác nhau Đồng thời nêu ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức seminar
Bài viết “dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp thích hợp với đào tạo ở bậc đại học”, tác giả Nguyễn Bình Nhật, Đại học Đà Nẵng Qua bài viết này tác giả đã đề xướng một số hướng dạy học mới trong đào tạo đại học- dạy học theo phương pháp NCKH Bản chất của hướng dạy học này là tổ chức quá trình dạy học theo logic NCKH
Luận văn tốt nghiệp ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: “Tìm hiểu tình hình thực hiện nguyên tắc giáo dục đại học phải phát triển khả năng NCKH của sinh viên ĐHNL- TP HCM”, tác giả Nguyễn Thành Trúc (2008) Qua đề tài này người nghiên cứu đã đi sâu và tìm hiểu nhận thức của giảng viên và sinh viên về NCKH, thực tế việc
áp dụng nguyên tắc giáo dục đại học, từ đó phát triển khả năng NCKH của sinh viên Tuy nhiên, với đề tài này người nghiên cứu chọn mẫu có quy mô nhỏ nên chưa thấy được sự khác biệt giữa các mẫu điều tra
Tiểu luận tốt nghiệp ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: “Tìm hiểu khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên sư phạm kỹ thuật nông nghiệp trường Đại học
Trang 19Nông Lâm TP Hồ Chí Minh”, tác giả Lý Thị Lệ (2007) Đề tài này đã đi sâu tìm hiểu các kỹ năng NCKH như kỹ năng lựa chọn đề tài, chuẩn bị đề cương, thu thập và xử lý tài liệu, đồng thời đã đưa ra những đề nghị nhằm giúp sinh viên có cách nhìn nhận đúng đắn về việc học và ứng dụng phương pháp NCKH để đạt chất lượng cao hơn Tuy nhiên, đề tài chỉ đưa ra phương thức thực hiện NCKH và một số giải pháp nâng cao hoạt động NCKH hay thực trạng một số kỹ năng ở quy mô nhỏ
Luận văn tốt nghiệp ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: “ Tìm hiểu kỹ năng NCKH của sinh viên trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh”, tác giả Chu Thị Thu Hiền (2008) Qua đề tài này người nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của môn phương pháp NCKH Đồng thời, người nghiên cứu còn tìm hiểu kỹ về các kỹ năng cần thiết của sinh viên khi tham gia NCKH Tuy nhiên, đề tài này có quy mô chọn mẫu nhỏ so với phạm vi nghiên cứu của đề tài và cũng chưa đánh giá được sự khác biệt giữa các số liệu thu thập được
Luận văn tốt nghiệp ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: “Thực trạng tổ chức hình thức seminar tại trường Đại học Nông Lâm TP HCM”, tác giả Bùi Thị Phụng (2009) Qua đề tài này người nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu nhận thức và thái độ của giáo viên trường Đại học Nông Lâm đối với hình thức dạy và học seminar, những đánh giá của giáo viên, sinh viên về sự hiệu quả của hình thức dạy học seminar Tuy nhiên, đề tài này còn ở quy mô nhỏ, chưa được tiến hành trên phạm vi giáo viên, sinh viên toàn trường
Bên cạnh đó cũng có những đề tài nghiên cứu về vấn đề học tập của sinh viên, chủ yếu là kỹ năng học tập của sinh viên như sau:
Đề tài nghiên cứu “ nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong việc học môn vật lý ở trường cao đẳng sư phạm”, tác giả Cáp Kim Hoàng, cao đẳng sư phạm Quảng Trị Qua bài viết này người nghiên cứu đã nêu ra thực trạng của việc dạy
và học môn vật lý tại trường cao đẳng sư phạm Quảng Trị Đồng thời người nghiên cứu còn đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
“Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm”, tác giả Hà Thị Đức, trường Đại học sư phạm I Hà Nội, (1993) Công trình nghiên cứu này đã điều tra hoạt động tự học của sinh viên ở một số trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội
Trang 20Tác giả Trịnh Quang Từ (1993) “Về việc tự học của sinh viên các trường quân sự”, Học viện kỹ thuật quân sự Công trình nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu nhận thức, thực trạng vận dụng các biện pháp và kỹ năng tự học của sinh viên các trường Học viện kỹ thuật quân sự, Học viện quân y, Học viện chính trị quân sự, trường trung cấp không quân và Đại học sư phạm Hà Nội
Công trình nghiên cứu “bàn về khả năng tự học của sinh viên Đại học sư phạm”, tác giả Hà Văn Chư, Đại học sư phạm Hà Nội II (1994) Qua đề tài này người nghiên cứu đã tìm hiểu nhận thức và quá trình rèn luyện kỹ năng tự học của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội II
Luận văn tốt nghiệp ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp: “Tìm hiểu một số kỹ năng tự học của sinh viên trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Thị Dưỡng (2006) Qua đề tài này người nghiên cứu đã trình bày được những vấn đề cơ bản về khả năng tự học của sinh viên Đề tài này rất thiết thực cho sinh viên, nhờ đó sinh viên có thể hiểu rõ những kỹ năng cần thiết, cách thức thực hiện các kỹ năng tự học nhằm nâng cao kết quả học tập hơn Nhưng đề tài cũng có những khuyết điểm cần phải khắc phục như sau: chỉ mới nêu được phần lý thuyết liên quan đến đề tài nhưng sơ sài chưa có phần lý luận, không có dẫn chứng để chứng minh điều tác giả nêu ra, kết quả nghiên cứu chưa thực sự khách quan
Tóm lại, các tác giả đã nghiên cứu nhiều về vấn đề có liên quan đến kỹ năng học tập và NCKH Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu đạt được ở trên, người nghiên cứu đã tiếp tục tiến hành đề tài “Tìm hiểu ảnh hưởng của kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học đến chất lượng học tập của sinh viên đại học Nông Lâm – Thành Phố Hồ Chí Minh” Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng học tập
và nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Những bài viết, những đề tài nghiên cứu lược khảo ở trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài
2.2 Quá trình dạy học đại học
Quá trình dạy học nói chung được hiểu theo quan điểm khác nhau
Dạy học là một quá trình được lập kế hoạch tỉ mỉ và khảo nghiệm chặt chẽ nhằm thiết lập một hệ thống truyền thông tin hợp lý trong một môi trường sư phạm
Trang 21thích hợp để dẫn dắt người học đạt được các mục tiêu học tập đặc biệt (Tô Xuân Giáp,
2000, tr.10)
Theo Lê Phước Lộc (2002) định nghĩa quá trình dạy học như sau: “Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy và hoạt động lĩnh hội tự giác tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học (tr.22)
Một quan điểm khác của Nguyễn An (1996) định nghĩa quá trình dạy học là sự tác động qua lại có chủ đích được thay đổi một cách có trình tự giữa giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục cộng sản chủ nghĩa và phát triển toàn diện cho học sinh (tr.5)
2.2.1 Quá trình dạy học đại học như một hệ thống
Quá trình dạy học đại học có nhiều nhân tố khác nhau để tạo thành một hệ thống
Nhân tố đầu tiên được Nguyễn Quang Huỳnh (2006) nêu ra như sau: “Mục tiêu đào tạo của từng trường đại học cao đẳng là chuẩn bị đưa sinh viên vào nghề Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, có một phần bồi dưỡng nhân tài Nhân tài ở đây cũng giỏi nghề, rất lành nghề làm gương cho tập thể lao động, mỗi phương pháp dạy- học ở đại học và cao đẳng nhằm mục giáo dục đạo đức và hình thành tay nghề cho sinh viên” (tr.193)
Thứ hai là nhiệm vụ dạy học được Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2003) khẳng định như sau: Nhiệm vụ của quá trình dạy học đại học là bồi dưỡng hệ thống tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của sinh viên, từ đó phát triển ở sinh viên năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là tư duy nghề nghiệp, hình thành thế giới quan khoa học lý tưởng, ước mơ hoài bão nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế, hành chính
Tiếp theo đó là nội dung dạy học theo Nguyễn Văn Tuấn (2007) thì: “Nội dung dạy học là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học Nó là tập hợp hệ thống các kiến thức khoa học, các kỹ năng lao động cần thiết để hình thành và phát triển các phẩm chất năng lực nghề nghiệp đáp ứng được các yêu cầu của nghề nghiệp ở trình độ mong đợi” (tr.17)
Thêm vào đó phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học của sinh viên, kỹ năng tự
Trang 22nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, làm việc độc lập, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng (luật giáo dục, 2005)
Trong quá trình dạy học đại học thầy giáo đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo Sinh viên với vai trò là đối tượng của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu nhằm chiếm lĩnh những tri thức kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của mình
Kết quả của quá trình dạy học đại học là nó phản ảnh kết quả vận động và phát triển tổng thể của các nhân tố, đặc biệt là nhân tố người sinh viên với hoạt động học tập Các nhân tố của quá trình dạy học đại học không tồn tại tách biệt với nhau, chúng
có quan hệ tác động qua lại một cách biện chứng, phản ánh tính quy luật của quá trình dạy học ở đại học
2.2.2 Các nhiệm vụ của quá trình dạy học đại học Trên cơ sở dựa vào mục đích, mục tiêu giáo dục đại học, đặc điểm của quá
trình dạy học đại học có các nhiệm vụ của quá trình dạy học như sau:
Nhiệm vụ 1: Điều khiển, tổ chức người học nắm vững hệ thống tri thức cơ
bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước, xã hội, đồng thời rèn luyện cho người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng (Trần Thị Tuyết Oanh, 2005)
Quá trình dạy học ở đại học trước hết cần trang bị cho sinh viên hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về một ngành khoa học nhất định Từ đó, giúp sinh viên có cách nhìn khái quát hơn, có nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn trên cơ sở nhận xét, đánh giá, phê phán theo chủ quan, đồng thời giúp sinh viên có thể mở rộng tầm nhìn, khả năng đi sâu vào vấn đề, bồi dưỡng óc phê phán, năng lực phân tích cho sinh viên
Trên cơ sở trang bị hệ thống những tri thức cơ bản, cơ sở của chuyên ngành, các trường đại học cần rèn luyện cho sinh viên hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để đáp ứng yêu cầu của xã hội đó là đào tạo ra một đội ngũ lao động có tri thức,
có năng lực, vững tay nghề và năng động sáng tạo
Nhiệm vụ 2: Tổ chức, điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và
phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo (Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 2003)
Trang 23Trong quá trình dạy học đại học các phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên được phát triển không ngừng Nhằm đáp ứng tốt nhu cầu xã hội, nhu cầu thời đại ngày nay Điều kiện cần thiết để dạy học đại học thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển trí tuệ của sinh viên là hoạt động dạy học ở đại học phải không ngừng đi trước, đón trước sự phát triển trí tuệ và dạy học phải vừa sức với sinh viên
Nhiệm vụ 3: Quá trình dạy học đại học phải hình thành cho sinh viên khoa
học, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp nói riêng và phát triển nhân cách nói chung của người cán bộ khoa học kỹ thuật, những cán bộ có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, làm việc năng động và sáng tạo Điều đó đã phản ánh đầy đủ mục tiêu giáo dục đại học để đáp ứng yêu cầu chung của xã hội và của thời đại (Trần Thị Tuyết Oanh, 2005)
2.2.3 Bản chất của quá trình dạy học đại học
Nghiên cứu nhiều tài liệu cho thấy có những quan điểm khác nhau về quá trình dạy học đại học, nhưng đều nhấn mạnh vai trò của NCKH
Theo Nguyễn Cảnh Toàn (2002, tr.156): “Thực chất việc giảng dạy ở bậc đại học là nghiên cứu khoa học”
Theo Lê Khánh Bằng (1993), ông cho rằng bản chất của quá trình dạy học đại học đó là một quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự chỉ đạo và điều khiển của giáo viên, nhà khoa học nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy nghề, dạy phương pháp và dạy lý tưởng đạo đức
Quan điểm của Nguyễn Quang Huỳnh ( 2006, tr.200) về quá trình dạy học đại học là: “Đặc điểm lớn nhất về dạy và học ở đại học là mang tính nghiên cứu khoa học,
là kết hợp với hoạt động nghiên cứu khoa học”
Một quan điểm khác của Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức ( 2003, tr.37) cho rằng:
“Quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên
cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của dạy học đại học”
Như vậy, quá trình nhận thức của sinh viên là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên đã lĩnh hội được các tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo từ đó làm nền tảng cho nghề nghiệp tương lai của mình, bằng
Trang 24cách sinh viên đã tự tìm kiếm, tiếp nhận những chân lý với đầu óc phê phán, biết cách đào sâu mở rộng vấn đề
Do đó, sinh viên đã biết vận dụng những tri thức khoa học, những phương pháp nghiên cứu, tự rèn luyện tác phong phẩm chất của một nhà NCKH để giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn học tập, lao động, sản xuất
2.2.4 Các nguyên tắc của quá trình dạy học đại học
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2003), hệ thống các nguyên tắc dạy học đại học gồm 7 nguyên tắc như sau:
2.2.4.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học, tính giáo dục và tính nghề nghiệp trong quá trình dạy học ở đại học
Trường đại học có nhiệm vụ phải từng bước trang bị cho sinh viên những phương pháp nghiên cứu, phương pháp tự học, có thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học Trên cơ sở đó, bồi dưỡng thế giới quan khoa học, lý tưởng nghề nghiệp, những phẩm chất đạo đức cần thiết của người cán bộ khoa học, kỹ thuật tương lai Như vậy, nguyên tắc này giúp cho sinh viên nắm được bản chất của các sự vật, hiện tượng, giúp sinh viên có thêm niềm tin, hứng thú khoa học, đặc biệt là đối với lý tưởng, tình cảm nghề nghiệp tương lai
2.2.4.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nghề nghiệp trong quá trình dạy học ở đại học
Với nguyên tắc này người cán bộ kỹ thuật tương lai phải biết nắm vững lý luận và biết vận dụng lý luận đó vào thực tiễn nghề nghiệp Nguyên tắc này còn giúp sinh viên có điều kiện thuận lợi hiểu rõ lý luận nghề nghiệp và áp dụng lý luận đó vào thực tiễn nghề nghiệp có sơ sở, phát huy tính sáng tạo tích cực vào các hoạt động thực tiễn
2.2.4.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong quá trình dạy học ở đại học
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho sinh viên có điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy lý luận, có thể lĩnh hội nhanh và vững chắc những lý thuyết trừu tượng, và vận dụng tốt các lý thuyết vào thực tiễn Do đó, phải chú ý xây dựng và sử dụng hợp lý các phương tiện trực quan, kết hợp với bồi dưỡng lý thuyết trừu tượng
Trang 252.2.4.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và tính mềm dẻo của tư duy trong quá trình dạy học ở đại học
Nguyên tắc này được hiểu là nguyên tắc đảm bảo cho sinh viên có thể bước vững vàng trên con đường học tập, NCKH Những tri thức đi trước là cơ sở cho tri thức đi sau và những tri thức đi sau sẽ bổ sung, hoàn thiện kiến thức cũ Trên cơ sở đó, sinh viên sẽ hình thành và nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, đồng thời sinh viên còn cách tư duy linh hoạt mềm dẻo hơn
2.2.4.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong quá trình dạy học ở đại học
Ý nghĩa của nguyên tắc này là phải lựa chọn nội dung, các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng, từng trình độ khác nhau để đảm bảo mọi sinh viên đều có thể tiếp thu, phát triển tư duy cá nhân Điều đó làm cho sinh viên có hứng thú học tập, thái độ động cơ học tập tốt hơn
2.2.4.6 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập của sinh viên với vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học ở đại học
Đối với nguyên tắc này vai trò của thầy cô giáo được nêu cao đó là đảm bảo cho sinh viên hình thành hoạt động nhận thức, góp phần cho sinh viên tìm tòi ra cái mới hiểu lý thuyết và vận dụng tốt vào thực tiễn, nâng cao trình độ hiểu biết và tính tự giác, tích cực độc lập của sinh viên tạo điều kiện cho giáo viên phát huy tới mức cao nhất vai trò của mình
2.2.4.7 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể trong quá trình dạy học ở đại học
Cá nhân phải phát huy tốt vai trò chủ thể của mình, đồng thời vai trò cá nhân của mỗi cá thể phải luôn thống nhất với tập thể Tập thể chính là môi trường cho sự phát triển trí tuệ sáng tạo của cá nhân Còn mỗi cá nhân là thành viên của tập thể cùng nhau góp phần vào sự phát triển chung đồng bộ của tập thể Đó chính là mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân và tập thể trong quá trình giáo dục đại học
Ngoài ra, trên bình diện giáo dục học B T Korotiev ( trích dẫn bởi Bùi Xuân Oánh, 1996, tr.83) đã nêu ra quá trình dạy học gồm có 3 quy luật như sau:
Trang 26Sự thống nhất và tính quy định lẫn nhau giữa mục đích và nội dung và các hình thức phương pháp dạy học
Sự thống nhất và tính quy định lẫn nhau giữa các loại hình cơ bản của dạy học
Sự thống nhất và tính quy đinh lẫn nhau giữa các hình thức dạy học tập thể, nhóm, cá nhân
2.3 Lý luận về kỹ năng học tập 2.3.1 Thế nào là kỹ năng học tập
Trước hết, hiểu kỹ năng là một dạng chuyên biệt của năng lực thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ hoặc tiến hành các hoạt động cá nhân
Kỹ năng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau Theo Nguyễn Lân (1998): “Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học thực tiễn Đồng thời kỹ năng cũng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện
cụ thể tiến hành mục tiêu ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” (tr.985)
Một quan điểm khác của Bùi Hiển và cộng tác viên (2001) thì khả năng thực hiện đúng hành động, xác định các hoạt động phù hợp với những mục tiêu trên cơ sở cân nhắc những điều kiện cụ thể tạo tiền đề cho việc thực hiện các hành động cho dù
đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Do vậy, để hình thành được kỹ năng thì trước hết cần phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết luyện tập đến khi thực hiện hành động theo đúng mục đích yêu cầu
“Kỹ năng còn được hiểu là khả năng vận dụng các kiến thức như khái niệm, cách thức, các phương pháp… để giải quyết một nhiệm vụ mới” (Lê Văn Hồng, 1998, tr.131)
Bất cứ kỹ năng nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết đó chính là kiến thức Vì xuất phát từ cấu trúc của kỹ năng phải hiểu mục đích của những kỹ năng đó, biết được cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó (Lê Văn Hồng, 2002)
Kiến thức và đối tượng là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau Kiến thức là những kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan, còn đối tượng là sự phản ánh tồn tại khách quan Vì vậy, kiến thức sẽ hướng dẫn để khám phá đối tượng Sự vận dụng các kiến thức đó để khám phá, biến đổi đó chính là kỹ năng Trong thực tế dạy học,
Trang 27người học thường xuyên gặp những khó khăn khi áp dụng kiến thức vào giải quyết vấn
đề đó là do người học nắm kiến thức chưa chắc chắn không hình thành được kỹ năng
Vì vậy, để kiến thức trở thành cơ sở của kỹ năng thì kiến thức đó phải phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật, thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức, với vai trò như một công cụ của hành động ( Lê Văn Hồng, 2002)
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu kỹ năng là khả năng của con người thực hiện hành động hay hoạt động nào đó một cách chính xác và đúng đắn bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức những kinh nghiệm mà con người đã tích lũy được mà có cách thức vận dụng hành động đó vào thực tiễn
Như vậy, kỹ năng chỉ được hình thành và phát triển trong hoạt động của con người
Học tập là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dưới sự dạy bảo hướng dẫn của nhà giáo Học tập luôn luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động giảng dạy của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy học trong lĩnh vực sư phạm (Nguyễn Cảnh Toàn, tr.93)
Như vậy, kỹ năng học tập là khả năng thực hiện các hoạt động học tập, các thao tác tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học bằng việc lựa chọn vận dụng các tri thức kinh nghiệm nhằm nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức và phát triển tư duy
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành kỹ năng học tập
Sự dễ dàng hay khó khăn trong việc vận dụng những kiến thức là tùy thuộc vào khả năng của mỗi người nhận dạng các kiểu nhiệm vụ, đó là sự tìm tòi, tìm kiếm, phát hiện ra những thuộc tính và những quan hệ vốn có trong nhiệm vụ để có thể thực hiện được một mục đích nhất định Vì thế theo Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thắng (1998) sự hình thành kỹ năng học tập chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau:
Nội dung, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn hay nó bị những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy của người học, kết quả là ảnh hưởng đến kỹ năng của người học
Thói quen và tâm thế của mỗi người cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Vì thế, tạo ra tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp người học dễ dàng trong việc hình thành kỹ năng
Trang 28Có khả năng khái quát nhìn đối tượng một cách tổng thể, đó chính là khả năng khái quát hóa sự việc hiện tượng xung quanh
2.3.3 Quá trình hình thành kỹ năng học tập
Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng học tập là tạo điều kiện cho người học nắm vững những thao tác phức tạp các thao tác mục đích làm biến đổi, làm rõ ràng những thông tin có trong những kiến thức, trong nhiệm vụ cụ thể Vì vậy, Lê Văn Hồng (1995, tr.134) quá trình hình thành kỹ năng học tập cần tiến hành như sau:
Giúp cho người học biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, những yếu tố đã tìm và mối quan hệ giữa chúng
Giúp người học hình thành một quá trình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại
Xác lập mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và mô hình tương ứng Theo Bùi Xuân Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh ( 1996, tr.172): “ Con đường cơ bản để hình thành những kỹ năng kỹ xảo đó là sự luyện tập Mức độ của
kỹ năng, kỹ xảo phụ thuộc rất nhiều vào tính chất và đặc điểm của sự luyện tập.” Như vậy, hình thành kỹ năng học tập cũng cần có sự luyện tập, mức độ của các kỹ năng học tập tốt hay không tốt phụ thuộc vào cách thức, đặc điểm của sự luyện tập
Kỹ năng, kỹ xảo đạt ở mức cao còn được gọi là tay nghề cao Theo Trần Trọng Thủy (trích dẫn bởi Bùi Xuân Oánh, 1996, tr.173), tay nghề cao là “mức độ của các kỹ xảo nghề nghiệp và là mục đích cuối cùng của việc dạy nghề, đó là sự dễ dàng thực hiện công việc phức tạp một cách chính xác và nhanh chóng”
Tuy nhiên, việc hình thành kỹ năng học tập cần có những điều kiện nhất định Theo V.V Tsebuseve (trích dẫn bởi Bùi Xuân Oánh, 1996, tr.173) những điều kiện đó là:
Người học phải nắm vững mục đích, nhiệm vụ và phương thức đạt được mục đích ấy
Người học phải có những tri thức lý thuyết và thực hành cần thiết
Phải có sự phù hợp giũa các phương pháp dạy học với những đặc điểm của các loại kỹ xảo
Phải chú ý đến tín hiệu của sự huấn luyện
Phải có số lượng bài tập đủ mức
Trang 29Phải đánh giá hoạt động của người học kịp thời và khách quan để người học biết được kết quả luyện tập
Người học phải hoạt động tích cực, tự giác
Theo P.Ia Galperin thì cơ chế hình thành kỹ năng chính là cơ chế hình thành hành động trí óc qua từng giai đoạn, bao gồm:
Giai đoạn 1: Thiết lập cơ sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch
Giai đoạn 2: Hành động vật chất hay vật chất hoá Ở giai đoạn này hành động chủ thể cần lĩnh hội được thực hiện ở bên ngoài với những sự vật hiện thực hay mô hình, sơ đồ, hình vẽ Nội dung của giai đoạn này là chủ thể “dùng tay” để triển khai hành động, khái quát, luyện tập và rút gọn
Giai đoạn 3: Hành động với lời nói to Chủ thể phải tự nói ra bằng lời của mình tất cả các thao tác mà mình đã thực hiện tương ứng với cơ sở định hướng của hành động
Giai đoạn 4: Hành động với lời nói thầm Nội dung chủ yếu của giai đoạn này
là chủ thể phải triển khai hành động, luyện tập, khái quát và rút gọn hành động bằng lời nói thầm Trong quá trình phân tích, triển khai hay rút gọn từng bước các thành phần của hành động được tái hiện ra trong đầu
Giai đoạn 5: Hành động trong trí óc Giai đoạn này xảy ra từ khi việc luyện tập nói thầm thành thạo
Từ đó P.Ia Galperin rút ra sự hình thành kỹ năng học tập như sau:
Bước 1: Người học thấy được ý nghĩa của kỹ năng cần nắm vững và mục đích của hành động tương ứng
Bước 2: Người học lĩnh hội các thành phần cấu trúc cơ bản của hành động và trình tự hợp lý nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động
Bước 3: Người học thực hiện các bài luyện tập để rèn luyện kỹ năng thực hiện hành động
Bước 4: Người học sử dụng kỹ năng đã hình thành vào việc thực hiện hành động mới, phức tạp hơn nhằm nắm vững kỹ năng mới
Trang 30http://www.google.com.vn/search?hl=vi&source=hp&q=h%C3%ACnh+th%C3%A0nh+k%E1%BB%B9+n%C4%83ng+h%E1%BB%8Dc+t%E1%BA%ADp+theo+P.+Ia.+Galperin&meta=&aq=f&aqi=&aql=&oq=&gs_rfai ( truy cập ngày 15-9-2009)
Như vậy, quá trình hình thành kỹ năng theo các bước nêu trên đảm bảo phát huy tính tích cực, tính tự lực và sáng tạo của người học khi thực hiện nhiệm vụ học tập
2.3.4 Các kỹ năng học tập cơ bản
Theo Mạc Văn Trang (2009, tr.8) thì để biết cách học, hiệu quả học tập mỗi người phải rèn luyện một số kỹ năng học tập cơ bản, những kỹ năng học tập đó là:
- Kỹ năng lựa chọn vấn đề, chủ đề để học trong từng thời điểm thích hợp
- Kỹ năng xác định mục đích mục tiêu phù hợp với việc học
- Kỹ năng tìm kiếm lựa chọn các nguồn thông tin
- Kỹ năng lựa chọn các hình thức phương pháp học tập thích hợp
- Kỹ năng sử dụng các công cụ kiến thức phục vụ cho việc học tập
- Kỹ năng vận dụng điều học được vào thực tiễn
Ngoài ra, cần phải có các chiến lược học tập và có một số kỹ năng sau:
- Kỹ năng đọc tài liệu
- Kỹ năng viết
- Kỹ năng nghe
- Kỹ năng tìm tài liệu
- Kỹ năng làm bài kiểm tra
- Kỹ năng tự học (http://www.studygs.net/vietnamese/citation.htm, truy cập ngày 16/9/2009)
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005, tr.144) thế hệ trẻ cần chuẩn bị tốt các kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội
- Kỹ năng làm việc có hiệu quả trong một nhóm cộng đồng
- Kỹ năng nhận thức về xã hội và nhân văn
- Kỹ năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính
- Kỹ năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật
- Kỹ năng phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử
Trang 31- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ
- Kỹ năng tổ chức và điều hành một guồng máy
2.4 Lý luận về nghiên cứu khoa học 2.4.1 Thế nào là nghiên cứu khoa học
Trước khi tìm hiểu NCKH là gì, ta xem xét nghiên cứu là gì và khoa học là gì? Theo Nguyễn Như Ý (1998, tr.1197) “Nghiên cứu là xem xét làm cho nắm vững vấn đề để nhận thức tìm cách giải quyết”
Một khái niệm khác của Dương Thiệu Tống (2002, tr.14) thì “Nghiên cứu là một hoạt động có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Hoạt động nghiên cứu là một nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét thật kỹ, phân tích xếp đặt các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy”
Như vậy, nghiên cứu là đi sâu vào tìm hiểu bản chất một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật để tìm tòi, suy xét, giải quyết vấn đề đó đặt ra nhằm nâng cao trình độ hiểu biết hay khám phá ra những điều mới lạ
Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức về những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh Nó phản ảnh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài, cũng như những hoạt động tinh thần của con người giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực dưới các hình thức khái niệm, phạm trù, quy luật Đó là một hệ thống tri thức về thế giới quan, là sản phẩm của quá trình nhận thức của loài người, khoa học giải thích thế giới và hướng cải tạo thế giới ( Chu Thị Thu Hiền, 2008, trích dẫn của Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2006, tr.11)
Khoa học còn là hệ thống tri thức về thế giới khách quan: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội (http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/truy cập ngày 16/9/2009)
Theo tác giả Trần Thúc Trình đã viết “Khám phá mô tả quá trình tìm tòi thông qua một hay nhiều đợt khai phá, kế đến một hay nhiều đợt tìm tòi để dẫn đến sản phẩm mới” (tạp chí kỹ thuật, khoa học giáo dục số 111, 2004) Khám phá, tìm tòi cái mới cũng là một hình thức NCKH
Trang 32NCKH là một dạng lao động phức tạp nhất trong các dạng hoạt động của xã hội loài người Là một dạng hoạt động đặc biệt của con người Đây là một hoạt động có mục đích có kế hoạch được tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao (Phạm Viết Vượng, 1996, tr.23)
“NCKH cũng là một quá trình nhận thức hiện thực khách quan tương tự như việc học tập nhưng khác ở chỗ mục đích là nhằm phát hiện, sáng tạo ra những hiểu biết mới mà trước đó không ai biết Cái mới ở đây phải có tính quy luật, có ý nghĩa như một chân lý mới” ( Trung Nguyên, 2008, tr.12)
Nghiên cứu khoa học là công việc đi tìm lời giải thích và thực hiện các dự báo cho các câu hỏi mà khoa học và thực tiễn chưa có đáp án nhằm góp phần gia tăng tri thức nhân loại
cuu-khoa-hoc-trong-sinh-vien.html truy cập 16/9/2009)
(http://www.oisp.hcmut.edu.vn/component/content/article/38-hoc-va-thi/164-nghien-Một định nghĩa khác của Nguyễn Cảnh Toàn (2004, tr.33) cho rằng “NCKH là một loại lao động của con người (của một hay nhiều người cùng nhau phân công hợp tác) nhằm tìm ra lời giải thích cho một tình huống có vấn đề, lời giải đó có thể là một thông tin mới (như những thông tin do một điều tra cơ bản cung cấp), một phương pháp mới (như tìm ra cách ứng dụng một số quy luật mới của tự nhiên, của xã hội loài người hay tư duy con người), một quy luật mới”
Nói tóm lại, NCKH là một hoạt động nhận thức của con người nhằm phát hiện
ra những tri thức mới có thể vận dụng vào thực tế cuộc sống, đối với sinh viên NCKH được thể hiện qua hoạt động học, đòi hỏi phải học chủ động, tích cực, sáng tạo và tự giải quyết vấn đề
2.4.2 Yêu cầu đối với nghiên cứu khoa học
Một NCKH có giá trị khi nó đáp ứng một số yêu cầu sau:
NCKH có tính mới mẽ nghĩa là NCKH đó phải không trùng lặp hoàn toàn với các công trình khoa học trước
Tính thời sự đó là những vấn đề xã hội hiện nay đang quan tâm, thể hiện trên
TV, mạng internet, báo, đài…
Trang 33NCKH có tính thực tiễn nghĩa là NCKH đó được thực hiện nhằm giải quyết các hiện tượng xã hội đang diễn ra, hoặc sắp diễn ra trong tương lai gần đối với đất nước hoặc một đại phương
Tính khả thi của một NCKH tức là nghiên cứu đó có thể được ứng dụng ngay
để giải quyết các vấn đề đang đặt ra, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, không bị lệ thuộc vào quá nhiều điều kiện khách quan
Tính hợp lý là phải chứng minh được bằng những lý thuyết, những lập luận logic, những thông tin và số liệu thống kê, điều tra…
Tính ứng dụng của NCKH là có thể ứng dụng được các kiến thức được cung cấp trong quá trình học để giải quyết vấn đề
Tính kế thừa của NCKH là một nghiên cứu được cố gắng thực hiện không bắt đầu từ đầu, phải tận dụng được các kết quả có sẵn của các công trình nghiên cứu trước
đó, từ đó thể hiện rằng công trình của mình là một bước tiến mới so với công trình trước đó
Cuối cùng là tính hấp dẫn và hữu ích đối với bản thân là đề tài đó làm mình thấy lôi cuốn, phù hợp với sở thích riêng, phù hợp với công việc của mình trong tương lai
(http://www.sinhvienluat.vn/diendan/showthread.php?s=0d6c1028188dd505e5b561b547a64ef0&t=3956, truy cập 16/9/2009)
2.4.3 Các đặc trưng của nghiên cứu khoa học
NCKH là một dạng hoạt động đặc biệt
Theo Phạm Viết Vượng (2006), NCKH đặc biệt thể hiện qua các khía cạnh sau: Mục đích của NCKH: Phát hiện khám phá thế giới, tạo ra chân lý mới để vận dụng những hiểu biết ấy vào cải tạo thế giới, NCKH luôn hướng tới cái mới
Đối tượng NCKH: Là thế giới phức tạp bí ẩn, mỗi bộ môn khoa học chọn cho mình một đối tượng riêng
Chủ thể NCKH: Là các nhà khoa học, người có trình độ cao
Phương pháp NCKH: Là phương pháp nhận thức thế giới, được tiến hành bằng những quy định đặc biệt, với những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe
Phương tiện NCKH: Là những thiết bị kỹ thuật hiện đại, tinh xảo
Trang 342.4.4 Các loại hình nghiên cứu khoa học
NCKH có nhiều loại hình nghiên cứu khác nhau, theo như Phạm Viết Vượng (1996, tr.25-26):
Nghiên cứu cơ bản: là loại hình nghiên cứu mà mục tiêu khám phá những đối tượng mới, tìm tòi các lý thuyết mới, những quy luật mới tạo ra những tri thức mới làm giàu thêm cho kho tàng tri thức của nhân loại
Nghiên cứu ứng dụng: là loại nghiên cứu tìm ra những quy trình vận dụng các kết quả nghiên cứu cơ bản vào thực tiễn nhằm tạo ra các quy trình công nghệ mới, các nguyên lý xã hội
Nghiên cứu triển khai: là loại hình nghiên cứu áp dụng các thành tựu nghiên cứu ứng dụng vào thực tế đại trà
Nghiên cứu thăm dò: là loại nghiên cứu tìm ra phương hướng tiếp theo cho hoạt động khoa học tìm thị trường tìm khả năng ứng dụng và điều kiện thuận lợi nhất cho khoa học phát triển đó là maketing của khoa học
Nghiên cứu dự báo: là loại nghiên cứu dự báo phương hướng phát triển, khả năng đạt được những thành tựu mới trong tương lai, trên cơ sở phân tích các thông tin khách quan, trên cơ sở các quy luật phát triển các khoa học và công nghệ, từ đó mà xây dựng các chương trình, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn lực khoa học quốc gia
2.5 Hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên 2.5.1 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên
Theo Nguyễn Thạc (2007) sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội
Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện sinh lý, tâm lý và xã hội
“Sinh viên là người học ở cơ sở đại học, cao đẳng” ( Bùi Hiền, 2001, tr.343)
2.5.2 Đặc điểm chung của hoạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập của sinh viên rất đa dạng Theo Nguyễn Thạc (2007), hoạt động học tập của sinh viên thể hiện qua các điểm sau:
Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động
Trang 35Hoạt động học tập được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung
Hoạt động học tập được diễn ra trong những điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, máy tính…
Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ
Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao
Cái cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập
2.5.3 Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
NCKH của sinh viên được xem là đỉnh cao của hình thức tự học, đòi hỏi người sinh viên phải học tập tích cực, độc lập, sáng tạo NCKH của sinh viên phải đảm bảo nguyên tắc “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền thực tiễn” Sinh viên NCKH giúp rèn luyện tư duy sáng tạo, khả năng tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, trình bày quan điểm của mình đồng thời cũng rèn luyện phẩm chất nhân cách cho sinh viên
NCKH của sinh viên là một hình thức tổ chức dạy học đặc thù ở các trường đại học Ở trường đại học có nhiều hình thức tổ chức dạy học, mỗi hình thức có vị trí chức năng riêng, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó NCKH thể hiện đầy đủ bản chất của quá trình dạy học đại học
Hoạt động NCKH của sinh viên có bản chất là hoạt động tìm tòi, sáng tạo, phát minh nên nhất thiết phải có hai dấu hiệu cơ bản là mới mẻ và có tính chứng minh
Như vậy A.S.Georgiepxki đã khẳng định “mọi NCKH được đặc trưng bởi hai dấu hiệu cơ bản: một là tính chất mới mẻ của vấn đề nghiên cứu hay tối thiểu cũng vạch ra những dữ kiện mới về vấn đề đã được nghiên cứu trước đây, những dữ kiện này được đặt cơ sở cho một sự giải thích khác với trước kia, hai là tính chất có chứng minh, có lý lẽ vững chắc của chính những kết luận những luận điểm mà người nghiên cứu nêu lên Nếu chỉ thiếu dù một trong những dấu hiệu nói trên thì không thể nâng việc khảo cứu được lên mức một NCKH” (trích dẫn bởi Nguyễn Thạc, 2007, tr.135)
Ngoài ra, hoạt động NCKH của sinh viên còn có một số đặc điểm sau:
Trang 36- Phải phục vụ cho mục đích học tập
- Nhận thức khoa học là những động cơ chủ yếu của hoạt động khoa học
- Hoạt động đó phải được tiến hành dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy ở trường đại học
- Tính độc lập về nghề nghiệp: năng lực giải quyết sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn lúc bắt đầu hoạt động của sinh viên được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học
- Hoạt động khoa học góp phần mở rộng những tri thức giúp sinh viên giải quyết có kết quả những tình huống có tính chất nghề nghiệp, tổ chức… mà họ gặp phải trong tương lai
2.6 Ảnh hưởng của kỹ năng học tập và NCKH đến chất lượng học tập của sinh viên
Sinh viên rất cần phương pháp học tập – nghiên cứu khoa học hiệu quả, nâng cao quá trình tiếp thu, làm chủ, đổi mới và sáng tạo ra kiến thức mới
Bằng cách tạo cơ hội cho SV phát triển các kỹ năng học tập thông qua việc ứng dụng nội dung môn học vào các đề tài nghiên cứu hoặc bài luận, giáo viên (GV) có thể khuyến khích sinh viên (SV) kiểm tra các mục tiêu, động lực và phương pháp học tập Khi phân công các đề tài cho SV, GV nên đưa ra hướng dẫn và gợi ý rõ ràng cách thức
để tiến hành và kết quả cần đạt được Ví dụ như GV có thể chia nhỏ bài tập, làm mẫu, nhắc nhở và hướng dẫn SV cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề Dần dần giúp cho người học thấy được trách nhiệm của mình Kết quả của phương pháp dạy học này là thúc đẩy SV phấn khích kiên trì với những vấn đề xác thực, kết hợp các kiến thức và kinh nghiệm sẵn có với cách học mới Ngoài ra, sinh viên còn phát triển kiến thức chuyên ngành và phương pháp tư duy để áp dụng vào những vấn đề thực tiễn
Trang 37Theo như Nguyễn Cảnh Toàn (2002) (trích tạp chí khuyến học số 11, ngày 1998): “Tự học là cách tốt nhất để rèn luyện tư duy và tính cách và tự học là một quá trình liên tục tự lực suy nghĩ, tự lực vượt qua khó khăn, một quá trình tự phê bình, tự sửa chữa khuyết điểm, để chiếm lĩnh các thành trì tri thức của khoa học” ( tr.613)
1-6-Kỹ năng đọc tài liệu:
Những nội dung học vấn chủ yếu có ở các tài liệu học tập, tài liệu học tập có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu đào tạo Các tài liệu đó không tự tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với mỗi người học Muốn tạo nên ảnh hưởng tích cực đối với quá trình lĩnh hội kiến thức của người học phải có cách thức, kỹ năng sử dụng tài liệu học tập
đó
Trước khi đọc cần phải xác định mục đích đọc sách rõ ràng Đọc phần giới thiệu, hay lời tựa của tác giả hoặc những định hướng mà tác giả hay người giới thiệu nói về quyển sách Đọc lướt qua những đoạn hoặc đề mục mà bạn quan tâm để nắm cái tổng quan khái quát, điểm đặc biệt, chủ yếu để bạn có sự hình dung về quyển sách Tóm tắt, sắp xếp, ghi lại các ý chính một cách khoa học Đọc đào sâu để hiểu kỹ về nội dung tác giả viết….Có nhiều cách đọc sách tùy thuộc vào mục đích đọc sách, nội dung cuốn sách mà có thể sử dụng cách đọc khác nhau
Điều này sẽ giúp cho bạn lĩnh hội kiến thức nhanh, tư duy mang tính hệ thống, chính xác và luyện khả năng viết tốt Đọc xong nên có tư duy phê phán và trao đổi với thầy cô, bạn bè, thảo luận trên các diễn đàn
Theo V I Lênin khuyên chúng ta: Sau lần đọc đầu tiên phải ghi lại những chỗ chưa hiểu hoặc chưa rõ ràng để trở lại đọc lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư…”( trích dẫn bởi Nguyễn Thị Dưỡng, 2006)
Kỹ năng tìm kiếm tài liệu:
Thông qua sách, báo, thư viện, tạp chí, các trang web, những người đi làm, cơ quan viện nghiên cứu, doanh nghiệp, công ty, các forum chuyên đề … Lưu ý tới các tạp chí và các trang web chuyên ngành, nên có sự chủ động trong việc hỏi, viết thư, email… để tìm thông tin từ thầy cô, bạn bè, những người đã đi làm, báo chí
Qua cách tìm tài liệu sinh viên sẽ biết cách thu thập thông tin một cách chính xác, nhanh hơn phục vụ cho nhu cầu học tập được tốt hơn
Trang 38Kỹ năng nghe
Nghe giảng là một công việc có ý nghĩa quan trọng Bài giảng không phải hoàn toàn là thông tin mới, kiến thức mới Những thông tin mới phải được dẫn dắt và xác định từ những thông tin đã biết Khi nghe giảng, sinh viên không thể chú ý tới tất cả những thông tin do giáo viên truyền đạt, mà nên chú trọng vào thông tin mới, cái mới Nghe giảng có hiệu quả là phải hướng được sự chú ý của mình vào cái mới, vấn đề khó đối với bản thân sao cho nắm được đầy đủ và có hệ thống bài giảng đang trình bày
Mỗi bài giảng là một mắt xích trong hệ thống kiến thức của từng môn học Sẽ khó lĩnh hội được bài giảng mới nếu chưa nắm vững bài giảng trước đó Để quá trình lĩnh hội phần kiến thức mới được tốt hơn nên làm quen với nội dung bài mới Xác định nội dung cần tập trung nghe để hiểu, nội dung cần ghi chép, nội dung cần tóm tắt…Điều đó đảm bảo cho việc nghe giảng hoàn toàn chủ động và đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức
Kỹ năng ghi chép
Ghi chép bài giảng mang tính cá nhân, mỗi môn học đòi hỏi mỗi cách ghi khác nhau Tuy nhiên, cần ghi theo cách của mình là cách ghi tốt nhất, đảm bảo tính độc lập, tính sáng tạo Muốn thực hiện được như vậy đòi hỏi sinh viên phải biết tập trung chú ý vào mỗi luận điểm của bài giảng và nhanh chóng lấy những điều cơ bản quan trọng nhất để ghi chép lại
Việc xem lại bài giảng để hoàn chỉnh sau khi nghe giảng để giúp sinh viên khắc sâu tri thức, để mở rộng, bổ sung, đưa ra những cách lý giải, cách nhìn nhận độc lập của mình về vấn đề bài giảng bằng cách đọc thêm tài liệu Chính vì vậy mà sinh viên đã góp phần giúp cho họ có thói quen tự học, tự nghiên cứu
Như vậy, những kỹ năng học tập và NCKH có vai trò rất quan trọng đối với mục tiêu giáo dục đại học: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” (luật giáo dục, 2005, điều 41, tr.32)
Với những kỹ năng học tập, kỹ năng nghiên cứu khoa học sinh viên đã học được sẽ góp phần vào sự thành công trong học tập của sinh viên Các kỹ năng đó giúp
Trang 39quá trình tiếp thu tri thức nhanh hơn, sâu sắc, vững chắc hơn, giúp sinh viên vận dụng vào thực tế xã hội
Tóm lại, kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đào tạo và kết quả học tập của sinh viên
Ngoài ra, để có kết quả học tập tốt sinh viên cần có:
Sự tập trung chú ý và tâm thế học tập:
Theo Bùi Ngọc Oánh (2006):
Sự tập trung tinh thần sẽ giúp cho người học nắm bắt kiến thức một cách nhanh chóng và tiết kiệm thời gian Tìm ra phương pháp tốt để giải quyết vấn đề khó khăn, thấy được mối liên hệ phức tạp giữa số liệu, sự kiện, ý tưởng, đồng thời sáng tạo ra cái mới
Để có sự tập trung tinh thần cao, người học cần:
Tạo ra sự thoải mái, hứng khởi khi học để người học thật sự say mê học tập và quên đi mệt mỏi Điều này đòi hỏi người học phải coi việc học như một niềm đam mê,
sự yêu thích chứ không phải là nghĩa vụ hay trách nhiệm để đối phó Người học cần phải tập trung không làm chuyện riêng trong giờ học
Ngoài sự chú ý trong việc lĩnh hội kiến thức ra, tâm thế học tập là điều kiện tâm lý bên trong của sự lĩnh hội tri thức Tâm thế khi học tập, tâm thế khi làm bài kiểm tra thi cử Học với tâm thế thỏa mãn nhu cầu nhận thức sẽ làm cho tri thức nhớ lâu hơn, có thể giữ vững tâm thế làm bài thi tốt từ khi vào phòng tới khi ra khỏi phòng thi
Hứng thú:
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2008) thì hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê hấp dẫn bởi nội dung hoạt động Như vậy, hứng thú làm tăng hiệu quả tiếp thu kiến thức, giúp người học say mê, sáng tạo từ đó có kết quả học tập nâng cao
2.7 Các bước học tập giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn Học trước khi đến lớp:
- Ôn lại những kiến thức cơ bản của bài cũ
Trang 40- Tìm ra những cái mới, cái hay, bổ ích, thực tiễn trong bài học
- Kiên trì làm cho xong các bài tập
- Đọc bài mới trước khi đến lớp
- Chuẩn bị nháp, bút, sổ tay, cách tóm tắt, ghi đánh dấu trong vở sao cho rõ
ràng dễ hiểu
- Trình bày các tiêu đề, các phần sao cho hợp lý, dễ theo dõi
Học sau khi ra khỏi lớp
- Đọc lại bài giảng trên lớp đã ghi
- Đọc tài liệu tham khảo và bổ sung những kiến thức cần thiết cho bài giảng
- Tóm tắt và liệt kê các ý chính Từ những ý chính này bạn tự phân tích ra các ý nhỏ Từ các ý nhỏ này bạn phân tích ra các ý nhỏ hơn… Cứ tiếp tục như thế, người học
sẽ có cái nhìn vừa tổng thể vừa cụ thể
- Lấy những ví dụ thực tế để phân tích minh họa cho bài học để xem những điều
học được, hợp lý, có đúng với thực tế hay nếu đúng thì tại sao? Làm thế nào để giải
quyết?
- Đánh dấu, ghi kí hiệu, ghi ra giấy nháp những chỗ quan trọng, những điểm mình chưa hiểu
Học tập theo nhóm:
- Để việc học tập nhóm đạt hiệu quả cần chú ý một số vấn đề sau:
- Đề ra mục đích rõ ràng Phân loại năng lực học tập các thành viên trong nhóm