1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO SINH BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TRONG ĐỢT THỰC TẬP SƯ PHẠM 2 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NIÊN HỌC 2009 2010

94 168 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 865,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO SINH KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TRONG ĐỢT THỰC TẬP SƯ PHẠM 2 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NIÊN HỌC 2009 - 2010 T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO SINH BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TRONG ĐỢT THỰC TẬP SƯ PHẠM 2 TẠI CÁC

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

NIÊN HỌC 2009 - 2010

Giáo viên hướng dẫn: LÊ THUÝ HẰNG

Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ THANH NHÀN Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Niên khóa : 2006 - 2010

Tháng 4 năm 2010

Trang 2

TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO SINH KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TRONG ĐỢT THỰC TẬP SƯ PHẠM 2 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

NIÊN HỌC 2009 - 2010

Tác giả

LÊ THỊ THANH NHÀN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Cử nhân ngành

Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp

Giáo viên hướng dẫn:

Giảng viên LÊ THUÝ HẰNG

Tháng 4 năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đại học và viết khóa luận này ngoài những nỗ lực của bản thân làm sao nói hết những công lao to lớn của cha mẹ, thầy cô Con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cha me – người đã nuôi dưỡng con nên người Em xin trân trọng gửi lời biết ơn đến:

- Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Tp.HCM

- Quý thầy cô Trường Đại học Nông lâm Tp.HCM đã hết lòng dạy bảo và

truyền thụ những kiến thức bổ ích trong suốt những năm trên giảng đường đại học

- Quý thầy cô Bộ môn Sư phạm kỹ thuật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và

tận tình giảng dạy em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô Lê Thúy Hằng đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn đến tất cả các bạn sinh viên khóa 32, khoa

Sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh Các bạn đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu viết khóa luận

Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện bài khóa luận bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2010

Sinh viên

Lê Thị Thanh Nhàn

Trang 4

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài “Tìm hiểu những khó khăn tâm lý của giáo sinh khoa sư phạm

kỹ thuật trường Đại học Nông lâm Tp.HCM trong đợt thực tập sư phạm 2 tại các trường THPT niên học 2009 – 2010”

Giáo viên hướng dẫn: Giảng viên Lê Thúy Hằng

Đề tài được thực hiện từ tháng 09 năm 2009 đến tháng 5 năm 2010 tại 4 trường THPT Nguyễn Hữu Huân, Tam Phú, Long Trường và Thủ Đức TP.HCM

Nội dung: Tìm hiểu những khó khăn tâm lý của sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật khóa 32 trường Đại học Nông lâm Tp.HCM Từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần giúp cho sinh viên sư phạm có tâm lý vững vàng, tự tin trong đợt thực tập nhằm tăng hiệu quả thực tập sư phạm

Kết quả chính đạt được:

ƒ Tìm hiểu được những khó khăn tâm lý sinh viên sư phạm kĩ thuật trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong quá trình thực tập giảng dạy ở các trường phổ thông

ƒ Tìm hiểu được vai trò của GVHD chuyên môn, GVHD đoàn, Bộ môn SPKT ảnh hưởng đến tâm lý sinh viên thực tập

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii

DANH SÁCH CÁC TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT ix

Chương 1 1

GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh 1

1.2 Lí do chọn đề tài 2

1.3 Mục đích nghiên cứu 3

1.4 Vấn đề nghiên cứu 4

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

1.8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

1.9 Phương pháp nghiên cứu 5

1.9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 5

1.9.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 6

1.9.3 Phương pháp phỏng vấn 6

1.9.4 Phương pháp xử lý số liệu 6

1.10 Kế hoạch nghiên cứu 7

1.11 Cấu trúc khóa luận 8

Chương 2 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

2.1 Vài nét về lược sử nghiên cứu vấn đề 9

2.2 Thực tập sư phạm 12

2.2.1 Khái niệm 12

2.2.2 Vai trò của thực tập sư phạm 12

2.2.3 Chương trình nội dung thực tập sư phạm 13

Trang 6

2.3 Tâm lí là gì? 14

2.4 Đặc điểm tâm lí tuổi thanh niên – sinh viên 15

2.4.1 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên 16

2.4.2 Định hướng giá trị của sinh viên 16

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tu dưỡng và rèn luyện các đức tính, phẩm chất của người giáo viên, của sinh viên sư phạm 17

2.5.1 Ý thức của sinh viên sư phạm về việc tu dưỡng, rèn luyện các đức tính và phẩm chất cần thiết của người giáo viên 17

2.5.2 Vai trò của người giảng viên đối với việc tu dưỡng và rèn luyện của sinh viên .17

2.5.3 Sự tác động của nội dung dạy học, phương pháp dạy học đến việc tu dưỡng và rèn luyện của sinh viên sư phạm 18

2.6 Phương pháp tu dưỡng, rèn luyện một đức tính, phẩm chất cần thiết của người giáo viên THPT 19

2.6.1 Rèn luyện đức tính trung thực 19

2.6.3 Tính kiềm chế 20

2.7 Nhân cách người giáo viên 21

2.7.1 Sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với người giáo viên 21

2.7.2 Đặc điểm lao động của người giáo viên 22

2.8 Những yêu cầu đối với giáo viên 23

2.8.1 Phẩm chất của người giáo viên 23

2.8.2 Năng lực sư phạm 27

2.8.2.1 Năng lực dạy học 28

2.8.2.1 Năng lực giáo dục 33

Chương 3 35

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 35

3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 35

3.3 Phương pháp phỏng vấn 36

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 4 37

Trang 7

KẾT QUẢ 37

4.1 Kết quả khảo sát phiếu ý kiến của sinh viên khóa 32 khoa sư phạm kĩ thuật trường ĐHNL-Tp.HCM 37

4.2 Kết quả nghiên cứu: Tìm hiểu tâm lí sinh viên thực tập sư phạm 38

4.2.1 Tâm lí của sinh viên trước đợt thực tập: (câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7) 38

4.2.2 Tâm lí của sinh viên trong đợt thực tập: (câu 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19) 47

4.2.3 Tâm lí của sinh viên sau đợt thực tập: (câu 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26) 65

Chương 5 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 Kết luận 70

5.1.1 Tâm lí sinh viên khi thực tập giảng dạy 70

5.1.2 Vai trò của GVHD chuyên môn, GVHD đoàn, bộ môn SPKT ảnh hưởng đến tâm lý sinh viên thực tập 73

5.2 Kiến nghị 74

5.2.1 Đối với giáo sinh 74

5.2.2 Đối với giáo viên hướng dẫn đoàn – Bộ môn sư phạm kỹ thuật 75

5.2.3 Đối với GVHD trường THPT 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

1 Danh sách các bảng

Bảng 4.1: Sự phân bố sinh viên thực tập ở các trường THPT 47 Bảng 4.2: Nhận thức của SV về đợt thực tập 49Bảng 4.3 Sự hiểu biết của SV về chương trình, nội dung thực tập sư phạm 50 Bảng 4.4: Ý kiến của SV trong việc tìm hiểu trước một số thông tin trường sắp thực tập 51 Bảng 4.5: Tâm trạng sinh viên trước đợt thực tập 52 Bảng 4.6: Mức độ lo lắng của giáo sinh về kiến thức, kỹ năng dạy học,

kỹ năng giáo dục, kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng quản lý lớp học,

kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng viết bảng, kỹ năng giao tiếp 54 Bảng 4.7: Tâm trạng của giáo sinh buổi đầu tiên đứng trước lớp 57 Bảng 4.8: Tâm trạng của giáo sinh khi giảng bài mà lớp học ồn 59 Bảng 4.9: Cách xử lí tình huống khi học sinh hỏi, giáo sinh không biết trả lời 61 Bảng 4.10: Số tiết dạy mà sau đó giáo sinh cảm thấy hoàn toàn tự tin 63Bảng 4.11: Tâm trạng của giáo sinh khi có GVHD và các bạn giáo sinh

dự giờ tiết dạy của mình 66Bảng 4.12: Điều lo lắng của giáo sinh trong quá trình giảng dạy 69Bảng 4.13: Năng lực sư phạm của sinh viên sau đợt thực tập sư phạm 74

Trang 9

2 Danh sách các biểu đồ

Biểu đồ 4.1: Sự phân bố sinh viên thực tập ở các trường THPT 47 Biểu đồ 4.2: Tâm trạng sinh viên trước đợt thực tập 52 Biểu đồ 4.3: Mức độ lo lắng của sinh viên về kiến thức, kỹ năng

dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng

quản lý lớp học, kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng viết bảng,

kỹ năng giao tiếp 54 Biểu đồ 4.4: Tâm trạng của giáo sinh buổi đầu tiên đứng trước lớp 58 Biểu đồ 4.5: Tâm trạng của giáo sinh khi giảng bài mà lớp học ồn 59 Biểu đồ 4.6: Cách xử lí tình huống khi học sinh hỏi, giáo sinh

không biết câu trả lời 61 Biểu đồ 4.7: Số tiết dạy mà sau đó giáo sinh cảm thấy

hoàn toàn tự tin……… 64 Biểu đồ 4.8: Tâm trạng của giáo sinh khi có GVHD và các bạn giáo

sinh dự giờ tiết dạy của mình 66 Biểu đồ 4.9: Điều lo lắng của giáo sinh trong quá trình giảng dạy 70 Biểu đồ 4.10: Năng lực sư phạm của sinh viên sau đợt thực tập

sư phạm 75

Trang 10

DANH SÁCH CÁC TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT

Trang 11

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Giáo dục Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 đã thu được những thành tựu quan trọng như: Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội;Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có chuyển biến; Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học

và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở…Bên cạnh những thành tựu đó, nền giáo dục Việt Nam hiện vẫn cồn những hạn chế như: Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân chưa đồng bộ, thiếu tính liên thông giữa các cấp học và các trình độ đào tạo, trong đó giáo dục nghề nghiệp chưa được quan tâm; Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới…

Trong văn kiện hội nghị lần 4 BCHTW khóa VII Đảng Cộng Sản Việt Nam

đã xác định mục tiêu giáo dục ở nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội là: “Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nên những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nghề, yêu chủ nghĩa xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 1990 và chuẩn

bị cho tương lai”

Để thực hiện được mục tiêu trên thì trước hết phải có một đội ngũ giáo viên

có đầy đủ những phẩm chất và năng lực cần thiết

Trang 12

Trường Sư phạm là nơi đào tạo đội ngũ người thầy giáo có đủ phẩm chất và năng lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước Như vậy việc hình thành năng lực sư phạm cho người thầy giáo là điều mà chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm

Trong quá trình rèn luyện để trở thành người giáo viên thực thụ, sinh viên

sư phạm phải trải qua đợt thực tập nghề hay còn gọi là thực tập sư phạm Trong hoạt động của mình, các giáo sinh sẽ gặp phải những khó khăn về tâm lý nhất định đòi hỏi cá nhân phải nỗ lực vượt qua để hoạt động được diễn ra cũng như đạt được mục đích của mình Do đó, việc tìm hiểu những khó khăn và có biện pháp giảm bớt nó là hết sức cần thiết

1.2 Lí do chọn đề tài

Đội ngũ giáo viên giữ vai trò to lớn và quan trọng đối với xã hội Bởi vì nghề giáo đã trở thành một nghề không thể thiếu, là nhu cầu tất yếu trong lịch sử Hơn nữa giáo viên chính là người tham gia vào việc thúc đẩy và phát triển xã hội Giáo viên giữ vai trò quan trọng không chỉ cho sản xuất mà còn cho tái sản xuất

mở rộng, không chỉ về văn hoá mà còn cả về mặt kinh tế, xã hội

Tuy nhiên, để từ một sinh viên sư phạm trở thành một giáo viên thực thụ không phải là việc dễ dàng, đòi hỏi sự phấn đấu và nỗ lực không ngừng của bản thân mỗi sinh viên sư phạm Trong suốt bốn năm ở giảng đường đại học, ngoài việc học tập để trau dồi kiến thức, sinh viên sư phạm còn tham gia các đợt thực tập

sư phạm Đây chính là cơ hội để họ có bước chuẩn bị ban đầu trước khi thực sự đứng trên bục giảng, giảng dạy học sinh, rèn luyện khả năng, năng lực sư phạm

Từ đó rút ra kinh nghiệm hữu ích cho bản thân

Những đặc điểm trên cần phải được hình thành, củng cố dần, định hình từ ngay trong quá trình học tập nghiên cứu ở nhà trường sư phạm, trong thực tiễn hoạt động sư phạm ở nhà trường phổ thông và ngay trong cuộc sống hàng ngày

Đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm là một vấn đề quan trọng Đó là một quá trình đào tạo có kế hoạch, theo một mục đích nhất định, trong một thời gian liên tục và có hệ thống Những tri thức, kỹ năng trang bị cho giáo sinh ở trường sư phạm hết sức quan trọng Đó là cơ sở giúp người giáo viên ở trường sư

Trang 13

phạm, những kiến thức và kỹ năng này chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết, ở dạng tình huống sư phạm và những kỹ năng đơn giản Thực tập sư phạm là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình đào tạo người giáo viên, là thời gian người sinh viên được tiếp xúc trực tiếp với thế giới quan sinh động của hoạt động nghề nghiệp, nhằm giúp sinh viên củng cố, mở rộng, nâng cao những gì đã học ở trường

sư phạm

Thực tập sư phạm là một dịp giúp sinh viên tiếp xúc với thực tế nhà trường phổ thông, nhằm làm tăng thêm lòng say mê và trách nhiệm nghề nghiệp cho giáo sinh Mặt khác kịp thời rèn luyện, điều chỉnh phương pháp học theo yêu cầu mới của trường phổ thông Chính quá trình này đã thật sự góp phần tích cực vào việc huấn luyện tay nghề - một giai đoạn quan trọng để hình thành lý tưởng nghề dạy học Để hoàn thành tốt vai trò của mình, các giáo sinh không chỉ trang bị kỹ những kiến thức, kỹ năng sư phạm cần thiết mà còn phải chuẩn bị tâm lý thật tốt

Trong quá trình thực tập sư phạm, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của giáo sinh như: Thái độ hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng giảng dạy, kỹ năng giao tiếp…Là một sinh viên ngành Sư phạm

kĩ thuật Nông nghiệp trường Đại học Nông lâm Tp.HCM với mong muốn tìm hiểu

kỹ vấn đề này, tôi đã chọn đề tài: “TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA GIÁO SINH KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM TRONG ĐỢT THỰC TẬP SƯ PHẠM TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NIÊN HỌC 2009 - 2010” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 14

1.4 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm làm rõ những vấn đề sau:

ƒ Tìm hiểu khó khăn tâm lý sinh viên sư phạm kĩ thuật trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong quá trình thực tập giảng dạy ở các trường phổ thông

ƒ Tìm hiểu vai trò của GVHD chuyên môn, GVHD đoàn, Bộ môn SPKT ảnh hưởng đến tâm lý sinh viên thực tập

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích trả lời những câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Sinh viên sư phạm trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong quá trình thực tập giảng dạy ở các trường phổ thông gặp những khó khăn tâm lý như thế nào?

Câu hỏi 2: Vai trò của GVHD chuyên môn, GVHD đoàn, Bộ môn SPKT có ảnh hưởng đối với tâm lý sinh viên thực tập như thế nào?

Câu hỏi 3: Việc tìm hiểu này có thể đưa ra những giải pháp nào để giúp cho tâm lý sinh viên những khoá sau vững vàng tự tin trong đợt thực tập sư phạm?

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài tiến hành thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài (trả lời cho câu hỏi 1,2,3) Nhiệm vụ 2: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn cho sinh viên lớp Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp và sư phạm kỹ thuật công nông nghiệp khoá 32 trường Đại học Nông Lâm TP.HCM Từ đó đưa ra những kiến nghị để hỗ trợ tâm lý cho sinh viên, nhằm làm tăng hiệu quả điều tra, phỏng vấn cho sinh viên sư phạm khoá 32 trường Đại học Nông Lâm TP.HCM để tìm hiểu về khó khăn tâm lý của sinh viên trong quá trình giảng dạy và những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của sinh viên trong quá trình thực tập sư phạm ở các trường THPT (trả lời cho câu hỏi 1,2)

Nhiệm vụ 3: Đưa những kiến nghị nhằm giúp sinh viên ở những khoá sau có tâm lý vững vàng, tự tin trong đợt thực tập sư phạm (trả lời cho câu hỏi 3)

Trang 15

1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khó khăn tâm lí sinh viên ngành Sư phạm kĩ thuật nông nghiệp trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong đợt thực tập sư phạm

1.8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về thời gian, không gian nghiên cứu: Do điều kiện còn hạn chế, người nghiên cứu chỉ tiến hành nghiên cứu tại 4 trường THPT Nguyễn Hữu Huân, Tam Phú, Long Trường và Thủ Đức TP.HCM Thời gian nghiên cứu trước, trong

sư phạm

1.9 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

1.9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong đề tài để tìm hiểu các

lý thuyết về thực tập sư phạm, tâm lý học dạy học, giáo dục đạo đức cho học sinh

Trang 16

THPT, nhân cách người giáo viên vv Từ đó phân tích, tổng hợp, sắp xếp tài liệu hợp lí làm cơ sở lí luận của đề tài

1.9.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Phương pháp này được sử dụng trong đề tài bằng cách phát phiếu điều tra nhằm thu thập các ý kiến của các sinh viên về vấn đề cần nghiên cứu Cụ thể là:

- Xây dựng kế hoạch điều tra: điều tra tâm trạng của sinh viên trước đợt thực tập, tâm trạng của sinh viên trong và sau đợt thực tập (ảnh hưởng của GVHD, cảm giác khi đứng trước lớp giảng dạy…vv)

- Xây dựng phiếu điều tra thu thập dữ liệu về tâm trạng của sinh viên trước đợt thực tập, tâm trạng của sinh viên trong và sau đợt thực tập (ảnh hưởng của GVHD, cảm giác khi đứng trước lớp giảng dạy…vv)

- Thực hiện việc điều tra: phát 25 phiếu điều tra cho sinh viên lớp DH06SP và 34 phiếu cho sinh viên lớp DH06SK

- Phương pháp phân tích định lượng:

Số liệu thu thập được sẽ tính theo tỷ lệ phần trăm để đánh giá từng nội dung khảo sát Số liệu này cũng được sử dụng để vẽ biểu đồ dựa trên phần mềm Microsoft Excel để làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định tính:

Được dùng để phân tích các câu hỏi mở trong phiếu điều tra, khảo sát và dữ liệu thu thập được qua phỏng vấn khách thể nghiên cứu, giải thích dựa trên nền tảng cơ sở lí luận

Trang 17

1.10 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian Công việc Người thực hiện Sản phẩm

Tháng 9 /2009

đến 10/2009

Viết và chỉnh sửa đề cương

Người nghiên cứu

và GVHD chỉnh sửa

Đề cương nghiên cứu

Tháng 11/2009

đến 12/2009

Viết cơ sở lí luận của đề tài

Người nghiên cứu

và GVHD chỉnh sửa

Những khái niệm, định nghĩa, lí luận

về vấn đề nghiên cứu

Tháng 2/ 2010

Xây dựng phiếu điều tra phỏng vấn

Người nghiên cứu

và GVHD chỉnh sửa

Phiếu điều tra phỏng vấn

Tháng 3/2010

Đi điều tra phỏng vấn, phân tích và

xử lý số liệu

- Người nghiên cứu

- Sinh viên khoa sư phạm trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Bảng thống kê và phân tích xử lý số liệu

Tháng 4/2010

Viết khóa luận

Người nghiên cứu

Người nghiên cứu

Trang 18

1.11 Cấu trúc tiểu luận

Đề tài gồm 5 chương:

ƒ Chương 1: Giới thiệu

Người nghiên cứu nói về những vấn đề phát sinh từ thực tế của giáo dục, cảm xúc cá nhân, người nghiên cứu chọn đề tài: “Tìm hiểu tâm lí của giáo sinh khoa Sư phạm kĩ thuật trường Đại học Nông lâm Tp.HCM trong đợt thực tập Sư phạm tại các trường THPT niên học 2009 – 2010”

Giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu Tình hình nơi cụ thể nghiên cứu là các trường THPT Nguyễn Hữu Huân, Tam Phú, Thủ Đức và Long Trường, Tp.HCM Mục đích, nhiệm vụ, câu hỏi, đối tượng và khách thể, giới hạn phạm vi,

kế hoạch, phương pháp nghiên cứu và sơ qua cấu trúc đề tài

ƒ Chương 2: Cơ sở lí luận

Người nghiên cứu giới thiệu những lí thuyết cơ bản mà người nghiên cứu lấy làm nền tảng để đặt giả thuyết, tiên đoán, lí giải vấn đề nghiên cứu về tâm lí sinh viên thực tập giảng dạy…

ƒ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Người nghiên cứu sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu mà mình sử dụng để thực hiện đề tài (phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra - khảo sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp xử lý số liệu) và tiến hành nghiên cứu

ƒ Chương 4: Kết quả và thảo luận

Sau khi tổng hợp dữ liệu thu được người nghiên cứu tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm Excel và phân tích định tính những câu hỏi mở

ƒ Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Từ kết quả phân tích, người nghiên cứu đã đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu: Khó khăn tâm lí sinh viên sư phạm kĩ thuật trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong quá trình thực tập giảng dạy ở các trường phổ thông Vai trò của GVHD chuyên môn, GVHD đoàn, Bộ môn sư phạm kỹ thuật ảnh hưởng đến tâm lí sinh viên thực tập Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hỗ trợ tâm lí cho sinh viên cũng như giúp nâng cao chất lượng thực tập sư phạm cho sinh viên

Trang 19

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Vài nét về lược sở vấn đề nghiên cứu

Thực tập sư phạm là một khâu quan trọng và được quan tâm đầu tư đúng mức trong lộ trình đào tạo giáo viên Trong quá trình thực tập các giáo sinh đã gặp phải không ít những khó khăn Trong đó khó khăn về tâm lý cũng ảnh hưởng không ít đến quá trình thực tập của giáo sinh Chưa có một định nghĩa rõ ràng về khó khăn tâm lý Nhưng khó khăn tâm lý được hiểu là những trở ngại ảnh hường đến tâm lý con người Từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình hoạt động Trong những năm vừa qua vấn đề tâm lý cũng được nhiều tác giả quan tâm và có những bài viết liên quan đến khó khăn tâm lý con người nói chung và tâm lý học đường nói riêng Nhằm giúp cho quá trình giáo dục ngày càng được cải thiện

Các tác phẩm “Tâm lí học sư phạm” (1877) của nhà tâm lí học Nga – P.F Kavterev và tác phẩm “Nói chuyện với người giáo viên về tâm lí học” của nhà tâm

lí học Mỹ - W.James đã phản ánh tư tưởng cho rằng: Khi biết được những quy luật của tâm lí học hay những hình thức và tốc độ phản ứng vận động thì người giáo viên sẽ hiểu được đời sống tinh thần của trẻ và những quy luật lĩnh hội tài liệu học tập

Trong cuốn sách: “Tư vấn tâm lý học đường” của hai tác giả Kiến Văn và

Lý Chủ Hưng (2007) Hai tác giả đã đề cập đến ý nghĩa của việc tư vấn tâm lý giáo viên, những nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý giáo viên và đưa ra những phương pháp tư vấn tâm lý giáo viên (tr.222 – tr.240)

“Nghiên cứu tài liệu để xây dựng bộ tiêu chuẩn về năng lực sư phạm của người giáo viên” (Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học - sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật nông nghiệp - niên khóa 2007 - 2008) của tác giả Lâm Nguyễn Lưu Thủy Tác giả đã xác định và hệ thống lại các năng lực sư phạm của người giáo viên như: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực nghiên cứu khoa học,…Trong mỗi

Trang 20

nhóm năng lực bao gồm những kỹ năng quan trọng và cần thiết mà người giáo viên cần thực hiện trong quá trình giảng dạy

Ngoài ra nhiều tác giả nghiên cứu liên quan đến những phẩm chất người giáo viên Tiêu chuẩn cần có của ngành nghề sư phạm, có thể kể như:

“Tìm hiểu tác dụng của chương trình đào tạo Sư phạm kỹ thuật của trường Đại học Nông lâm đến việc tu dưỡng, rèn luyện đức tính và phẩm chất cần thiết của người giáo viên THPT của sinh viên sư phạm” (Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học - sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật nông nghiệp - niên khóa 2007 - 2008) của tác giả Phạm Thị Thanh Nga Tác giả đã tìm hiểu tác dụng của chương trình đào tạo sư phạm của trường Đại học Nông lâm đến việc tu dưỡng, rèn luyện đức tính

và phẩm chất cần thiết của người giáo viên THPT của sinh viên sư phạm

Trong cuốn sách: “Tâm lý học sư phạm đại học” của tác giả Nguyễn Thạc Tác giả đã viết về một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên và nêu lên một số đặc điểm nhân cách của sinh viên hiện đại (tr.49 – tr.85) Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến những phẩm chất nghề nghiệp của người cán bộ giảng dạy, đặc điểm tâm

lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của người cán bộ giảng dạy, tâm lý học về giao tiếp sư phạm trong trường đại học (tr.173 – tr.187)

Tác giả Đỗ Thị Châu với cuốn sách: “Tình huống tâm lý học lứa tuổi và tâm

lý học sư phạm” (2005) Tác giả đã nghiên cứu những tình huống sư phạm, đưa ra những hướng giải quyết những tình huống đó Bên cạnh đó tác giả cũng sưu tầm những câu nói hay liên quan đến quá trình giảng dạy của người giáo viên Từ đó giúp cho người giáo viên và nhất là những giáo sinh có được kiến thức hữu ích trong quá trình thực tập sư phạm để về sau trở thành những giáo viên với đầy đủ năng lực

“Tìm hiểu ý kiến của sinh viên để xây dựng bộ tiêu chuẩn về năng lực sư phạm của người giáo viên đại học” (Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học - sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật nông nghiệp - niên khóa 2007 - 2008) của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thy Đã xây dựng nên bộ tiêu chuẩn về năng lực sư phạm cần có của người giáo viên nói chung và người giáo viên đại học nói riêng

Bên cạnh đó còn rất nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài thảo luận, các chuyên đề đề cập đến vấn đề thực tập sư phạm như: Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh

Trang 21

và Phạm Trung Thanh với cuốn sách “Kiến tập và thực tập sư phạm” (1999) Các tác giả đã nêu lên định nghĩa và vai trò nhiệm vụ của công tác kiến tập và thực tập

sư phạm Từ đó, các tác giả cũng đưa ra những hướng, giải pháp giúp quá trình kiến tập và thực tập được thành công

Các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đỗ Thị Phương Thúy, Nguyễn Thị Phương Hoa với bài viết “Về thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” đăng ở “Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội” số 25 (2009) (Tr.46 – 51) Các tác giả đã đi sâu khảo sát, phân tích khá toàn diện thực trạng TTSP của sinh viên Sư phạm Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội , từ thực trạng thực tập giảng dạy, thực tập công tác chủ nhiệm lớp đến những thuận lợi, khó khăn sinh viên gặp phải trong quá trình thực tập sư phạm làm ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với nghề sư phạm Bài viết cũng đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng TTSP cho sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Tìm hiểu tâm lý của sinh viên Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM trong đợt thực tập sư phạm tại các trường trung học phổ thông niên học 2007 - 2008” (Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học - sinh viên khoa

sư phạm kỹ thuật nông nghiệp-niên khóa 2007-2008) của tác giả Phạm Thanh Châu đã nghiên cứu 41 sinh viên lớp DH04SP trường đại học Nông Lâm Tp.HCM tại các trường THPT Nguyễn Hữu Huân, THPT Thủ Đức, THPT Tam Phú Tác giả

đã tìm hiểu về tâm lý sinh viên khoa sư phạm kĩ thuật Đại học Nông lâm trong đơt thực tập sư phạm và đưa ra một số kiến nghị giúp cho sinh viên những khóa sau có tâm lý vững vàng, tự tin trong quá trình thực tập Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu tìm hiểu tâm lý sinh viên trong đợt thực tập sư phạm, vẫn chưa tìm hiểu sâu sắc những khó khăn tâm lý trong quá trình thực tập giảng dạy, những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý sinh viên để có những biện pháp khắc phục hiệu quả

Từ thực tế trên, người nghiên cứu hướng vào tìm hiểu và đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn tâm lý cho sinh viên khi đi thực tập sư phạm và cụ thể là thực tập giảng dạy Nhằm giúp cho sinh viên những khóa sau thêm phần chủ động trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để từ đó tự tin hơn sau khi ra trường trở thành những giáo viên chính thức

Trang 22

Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh trong tài liệu “Thực tập sư phạm” (1991, tr.12)

đã khẳng định: “Thực tập sư phạm là một giai đoạn quan trọng nhằm kiểm tra sư chuẩn bị về mặt lí luận và thực hành của sinh viên đối với việc độc lập công tác của họ, và hình thành những khả năng rộng lớn trong việc sáng tạo giải quyết các công việc của cá nhân người giáo viên tương lai”

Các tác giả của “Hỏi đáp về thực tập sư phạm” (1993, tr.8) đã nêu lên ý nghĩa, vị trí và tầm quan trọng của thực tập sư phạm: “Thực tập sư phạm là một bộ phận hợp thành trọng yếu của quá trình đào tạo giáo viên, là dịp thể hiện tập trung kết quả học tập và rèn luyện dưới mái trường sư phạm.”

Tóm lại, theo người nghiên cứu, thực tập sư phạm là một hình thức thực hành nghề nghiệp trong quá trình đào tạo giáo viên Đó là quá trình người sinh viên tập vận dụng những tri thức đã học để rèn luyện những kỹ năng nghề nghiệp, nói khác đi là vận dụng những kiến thức tổng hợp về khoa học cơ bản, khoa học sư phạm và khoa học chuyên nghành để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong một môi trường thực, nhằm hình thành những năng lực sư phạm của người giáo viên tương lai

2.2.2 Vai trò của thực tập sư phạm

Cũng như sinh viên của bất cứ các trường đào tạo nghề nào khác, SV các trường sư phạm cũng phải trải qua một khâu tất yếu trong quá trình học tập của mình, khâu “thực tập nghề”, mà trong Trường Sư phạm gọi là thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên tại trường sư phạm Đây là cơ hội để sinh viên chính thức thể nghiệm vai

Trang 23

trò là người giáo viên, nhưng cũng là thách thức lớn đối với các em khi phải đối diện với những yêu cầu rất cao dành cho người giáo viên (Phạm Thanh Châu, 2008)

Trong nhà trường sư phạm của chúng ta hiện nay vẫn chưa có được những điều kiện cần thiết góp phần hình thành và nâng cao nghiệp vụ cho sinh viên Nhiệm vụ chủ yếu trong việc làm trong hệ thống này là giảng dạy lí luận, trước tiên là hình thức giảng bài và sự làm việc độc lập của sinh viên

Trong quá trình học tập lí luận, sinh viên nghiên cứu những nội dung cơ bản của các vấn đề khoa học không những chỉ tìm ra những hệ thống tri thức cơ bản,

cơ sở và chuyên ngành mà ngành sư phạm còn phải quan tâm đến việc trang bị cho sinh viên một hệ thống tri thức về nghề, một hệ thống kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp tương ứng Có nghĩa là trường sư phạm phải trang bị cho sinh viên một hệ thống những phẩm chất và năng lực cần thiết của người lao động mới, của người giáo viên tương lai để họ có thể nghiên cứu và ứng dụng những khoa học đó vào thực

tế

2.2.3 Chương trình nội dung thực tập sư phạm

a/ Mục tiêu

ƒ Mục tiêu chung:

- Củng cố và vận dụng những kiến thức, kĩ năng về chuyên môn, nghiệp vụ

sư phạm vào giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong hoạt động dạy học

- Tiếp tục rèn luyện để hình thành và hoàn thiện những kĩ năng dạy học, giáo dục cơ bản nhằm đảm bảo cho hoạt động dạy học và giáo dục đạt hiệu quả

- Góp phần hình thành và phát triển lòng yêu nghề

ƒ Mục tiêu cụ thể:

Học xong phần này người học có khả năng:

- Phân tích được các mặt hoạt động dạy học, giáo dục của cơ sở dạy nghề (nơi đến thực tập)

- Phân tích được chương trình môn học sẽ thực hành giảng dạy

- Chuẩn bị và thực hiện được các dạng lí thuyết, thực hành, tích hợp được phân công

Trang 24

- Biết nhận xét đánh giá bài giảng

- Tham gia và biết tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện của cơ sở dạy nghề (nơi đến thực tập)

(http://www.hcmute.edu.vn/khoaspkt/coursewares/TTSP/muc-tieu-noi-dung-ttsp.pdf)

Như vậy đợt thực tập được diễn ra với những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, từ đây sẽ giúp cho sinh viên có hướng để phấn đấu đạt được những mục tiêu này Ngoài ra chương trình nội dung thực tập còn đưa ra những nội dung cụ thể sau:

b/ Nội dung thực tập

ƒ Tìm hiểu hoạt động dạy học, giáo dục của cơ sở thực tập

ƒ Tìm hiểu chương trình đào tạo

ƒ Dự giờ, trao đổi học tập kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên, giáo sinh khác

ƒ Thực hành giảng dạy

ƒ Rút kinh nghiệm và viết báo cáo tổng kết

ttsp.pdf)

Trang 25

Tâm lí là sản phẩm của sự phản ánh thực tại khách quan bằng hành động của mỗi người Không có hoạt động thì hình ảnh tâm lí không thể nảy sinh, không thể hình thành tâm lí người (Bùi Ngọc Oánh, tr.62)

Tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua bản thân mỗi người Tâm lí của mỗi người phản ánh thực tại khách quan thông qua vốn kinh nghiệm riêng của người đó Thông qua hình ảnh tâm lí con người có thái độ riêng với thực tại khách quan Có hình ảnh tâm lí của bản thân mà không phải để mà biết, mà để định hướng cho hoạt động và hoạt động của tâm lý (Phạm Minh Thạc, tr.42)

Theo từ điển tiếng Việt: Tâm lí là hoạt động tình cảm, lý trí, nghị lực của con người (Văn Tân, 1991, tr.1100)

Từ những định nghĩa của các tác giả, theo người nghiên cứu tâm lý là sản phẩm của sự phản ánh thực tại khách quan bằng hành động của mỗi người Thông qua hình ảnh tâm lí con người có thái độ riêng với thực tại khách quan Có hình ảnh tâm lí của bản thân mà không phải để mà biết, mà để định hướng cho hoạt động và hoạt động của tâm lý

2.4 Đặc điểm tâm lí tuổi thanh niên – sinh viên

Tuổi thanh niên là một hiện tượng xã hội rất phức tạp và là đối tượng nghiên cứu của nhiều quan điểm lí luận khác nhau, của các dòng phái khác nhau

Tâm lí học lứa tuổi định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu

từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bắt đầu tuổi trưởng thành

Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng latinh “Student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác tri thức

Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất hay tinh thần của xã hội Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể được xác định về ba phương diện: sinh lí, tâm lí và xã hội (Nguyễn Thạc, 2007)

Nhóm thanh niên sinh viên có chức năng chủ yếu là bổ sung cho đội ngũ tri thức là đội ngũ có trình độ nghề nghiệp cao trong xã hội Họ thực hiện tích cực vai trò là nguồn dự trữ để bổ sung cho đội ngũ những chuyên gia theo các nhóm nghề khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp tri thức

Trang 26

2.4.1 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên

Tự đánh giá của sinh viên: một trong những thành phần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh viên là năng lực tự đánh giá Tự đánh giá của nhân cách thể hiện ở thái độ đối với bản thân và kết quả biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục Tự đánh giá kết quả và đánh giá bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân Lòng tự trọng, tự tin phản ánh trạng thái tâm lí đạo đức của con người và tạo nên thái độ tốt đối với bản thân Do đó, chúng bảo đảm được tính tích cực của nhân cách được thực hiện trong đời sống với toàn bộ cấu trúc của mối liên hệ nhân cách (Nguyễn Thạc, 2007)

Một trong những đặc điểm tâm lí quan trọng nhất của thanh niên - sinh viên

là sự phát triển tự ý thức Đó là ý thức và sự đánh giá của con người về hành động

và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức hứng thú, về tư tưởng và động cơ của hành vi, là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân mình, và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức là dấu hiệu thiết kế nhân cách được hình thức cùng với hình thành sau này

2.4.2 Định hướng giá trị của sinh viên

Tác giả Nguyễn Thạc trong tài liệu “Tâm lý học sư phạm đại học” đã viết

về định hướng giá trị nhân cách, sinh viên lựa chọn 5 đặc điểm nổi bật của nhân cách con người hiện nay là:

- Có tư duy kinh tế, biết tính toán hiệu quả

- Năng động, nhanh thích nghi với hoàn cảnh

- Sử dụng thành thạo tiếng nước ngoài

- Dám nghĩ, dám làm chấp nhận mạo hiểm

- Biết xây dựng cuộc sống gia đình hòa thuận

Còn về định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên thì sinh viên lựa chọn

9 giá trị nghề nghiệp trùng hợp với 9 giá trị của kết quả chung Đó là: nghề có thu nhập cao; nghề phù hợp với sức khỏe, trình độ; nghề phù hợp với hứng thú, sở thích; có điều kiện chăm lo đời sống gia đình; có điều kiện phát triển năng lực; được xã hội tôn trọng; nghề bảo đảm yên tâm suốt đời; nghề có thể giúp ích cho nhiều người và có điều kiện tiếp tục học lên

Trang 27

Ngoài ra, sinh viên còn lựa chọn thêm nghề làm việc bằng trí óc Rõ ràng, định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên vừa tập trung, rõ nét, phù hợp với định hướng của người Việt nam vừa thể hiện đặc trưng của sinh viên

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tu dưỡng và rèn luyện các đức tính, phẩm chất của người giáo viên, của sinh viên sư phạm

2.5.1 Ý thức của sinh viên sư phạm về việc tu dưỡng, rèn luyện các đức tính và phẩm chất cần thiết của người giáo viên

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng hiểu được các tri thức mà con người đã được tiếp thu Ý thức là tồn tại của nhận thức có quan hệ mật thiết với hoạt động nhận thức cao nhất của con người về thế giới, thể hiện khả năng tự điều chỉnh hành vi của con người (Nguyễn Quang Uẩn và ctv, 2000)

Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ thái độ với thế giới, thể hiện khả năng tự điều khiển và điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề

ra

Trong học tập sinh viên cần phải ý thức được vai trò, chức năng cũng như tính chất nghề nghiệp của mình sau khi tốt nghiệp ra trường để có thể vạch ra cho mình hướng đi đúng đắn

Cùng với quá trình rèn luyện các kỹ năng sư phạm thì việc tu dưỡng và rèn luyện những đức tính và phẩm chất cần thiết của giáo viên tương lai cũng rất quan trọng đối với sinh viên sư phạm Quá trình tu dưỡng và rèn luyện đó chỉ có thể đạt được kết quả cao nhất khi sinh viên ý thức được tầm quan trọng của nó để ra sức

cố gắng nỗ lực và thực hiện một cách tự giác, có phương pháp cụ thể mà không cần phải có áp lực của gia đình và thầy cô

2.5.2 Vai trò của người giảng viên đối với việc tu dưỡng và rèn luyện của sinh viên

Người cán bộ giảng dạy là một cán bộ khoa học, nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện

kĩ thuật trong giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao trình độ nghiệp vụ

Trang 28

của mình, tham gia tích cực vào công tác khoa học và đời sống khoa học Đó là người tiên tiến của xã hội (Nguyễn Thạc, 2007)

Người giảng viên đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc hoạt động dạy học

ở trường đại học Trước hết, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai thành tố trung tâm đặc trưng cho hai mặt của quá trình dạy học Người giảng viên phải giỏi về kiến thức chuyên môn, giữ vai trò chủ đạo với tư cách chủ thể tác động người học Người học dù có tiềm năng đến mấy mà không có sự hướng dẫn của người dạy thì cũng khó có thể định hướng được quá trình học tập và rèn luyện của mình đến mục tiêu mong muốn

Với lòng yêu nghề, kiến thức chuyên môn sâu rộng và tận tụy giảng viên có khả năng khơi dậy thái độ tích cực, hứng thú học tập để từ đó kích thích học sinh

tự tìm tòi và tự chiếm lĩnh tri thức

Ngoài sự nỗ lực của sinh viên thì bằng nhân cách của mình người giảng viên có vai trò rất lớn trong việc định hướng cho sinh viên con đường cũng như phương pháp rèn luyện, học tập sao cho có hiệu quả nhất trong quá trình tu dưỡng

và rèn luyện của bản thân

2.5.3 Sự tác động của nội dung dạy học, phương pháp dạy học đến việc tu dưỡng và rèn luyện của sinh viên sư phạm

ƒ Nội dụng dạy học

Nội dung dạy học là hệ thống những tri thức, là phương tiện để chuyển tải phương pháp tư duy, phương pháp làm việc khoa học, phương tiện để người giáo viên tổ chức các hình thức học tập cho sinh viên Hay nói cách khác nội dung phải tạo điều kiện để người giảng viên có thể thực hiện các phương pháp dạy học tích cực

Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học (Lê Phước Lộc, 2002)

Nội dung dạy học cần phải làm sao để SV có thời gian học thực hành, chú trọng nhiều hơn vào các bài tập thực hành để SV có điều kiện rèn luyện thực tế nhiều hơn từ đó sẽ hình thành nên lòng yêu nghề ngay từ khi còn đi học

Trang 29

Để tạo hứng thú và phát huy khả năng nhận thức trong học tập cho các em thì nội dung giảng dạy cũng phải sát với thực tế, không mang tính lí thuyết hàn lâm mà phải cô đọng phù hợp với ngành nghề mà sinh viên đã lựa chọn

ƒ Phương pháp học của sinh viên

Hoạt động học tập của SV là loại hoạt động có mục đích tự giác, có hệ thống động cơ thúc đẩy và có sự tham gia của các quá trình nhận thức từ việc tri giác các thông tin đến các quá trình tư duy phức tạp nhất Tất nhiên trong hoạt động đó cũng thể hiện mạnh mẽ các quá trình xúc cảm, ý chí và toàn bộ thuộc tính nhân cách người SV (Nguyễn Thạc, 2007, tr.123)

Chất lượng học tập, rèn luyện của SV có cao hay không phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân người SV, trong đó phương pháp học tập đóng vai trò quyết định nhất Trong những điều kiện học tập tương tự, kết quả học tập của mỗi SV không giống nhau, điều đó phụ thuộc vào phương pháp, năng lực học tập của mỗi

SV Nếu SV có một phương pháp học tập tốt, biết sáng tạo, biết liên hệ, biết vận dụng tri thức vào thực tiễn sẽ là điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng học tập

2.6 Phương pháp tu dưỡng, rèn luyện một đức tính, phẩm chất cần thiết của người giáo viên THPT

Sản phẩm lao động của người giáo viên là nhân cách của học sinh Sản phẩm đó là kết quả tổng hợp của cả thầy và trò nhằm biến những tinh hoa của nền văn minh xã hội thành tài sản riêng của trò Vì vậy, nhân cách, đạo đức của người thầy rất quan trọng nó góp phần vào sự thành công của sự nghiệp giáo dục Để nhân cách, đạo đức ngày càng hoàn thiện đòi hỏi phải có sự trao đổi rèn luyện miệt mài trong công việc cũng như trong cuộc sống

2.6.1 Rèn luyện đức tính trung thực

Là một đức tính quý báu nó không tự có mà trải qua quá trình khổ luyện

Để trở thành người trung thực cần phải:

ƒ Rèn luyện lòng dũng cảm, có lý trí và tôn trọng danh dự để trong mọi quan

hệ lời nói, hành động luôn phù hợp với sự thật, lẽ phải chân lý nhằm bảo vệ công bằng xã hội

Trang 30

ƒ Có sự công tâm: Ngay thẳng khách quan không thiên vị, không vụ lợi hoặc

có quan hệ cá nhân, gia đình mà lời nói hoặc việc làm bị thiên lệch

ƒ Giàu lòng nhân ái và kiên định, thật thà, hi sinh nhưng kiên quyết Không phản bội lại bản thân mình hoặc người khác – điều đó cần đến sự mạnh mẽ của lương tâm, sự lựa chọn sáng suốt của trí tuệ (Phạm Thị Thanh Nga, 2008)

2.6.2 Rèn luyện đức tính khiêm tốn

Để trở thành người khiêm tốn đòi hỏi chúng ta phải:

ƒ Phải biết đánh giá và có thói quen đánh giá về mình và về người khác Không tô hồng cho mình, không bôi đen cho người khác

ƒ Biết trân trọng những giá trị, thành tích công lao của người khác và vui mừng trước những thành đạt, sự tiến bộ của người khác, có ý thức cầu tiến

ƒ Biết phát huy ưu điểm và khắc phục sai lầm khuyết điểm của bản thân để tự khẳng định mình và không ngừng vươn lên (Phạm Thị Thanh Nga, 2008)

Bên cạnh đó theo người nghiên cứu để chúng ta rèn luyện được đức tính khiêm tốn còn phải: Biết nghiêm khắc với bản thân mình, tế nhị góp ý với sai lầm, khuyết điểm của người khácNgoài ra, chúng ta còn phải tự mình và giúp người khác chống lại: tính kiêu ngạo, tính tự ti; tính ích kỷ hẹp hòi

2.6.3 Tính kiềm chế

ƒ Thấu hiểu và điều khiển được cảm xúc

Nhớ rằng cảm xúc giận dữ là chuyện bình thường, ai cũng có lúc giận dữ Tuy nhiên, cách thể hiện ấy như thế nào, chấp nhận được hay không chấp nhận mới là điều đáng nói

Muốn vậy, đầu tiên ta cần hiểu nguyên nhân nào làm ta giân dữ Khi bạn bắt đầu giận hãy cố gắng tự hỏi cái gì làm mình giận Do sự việc đang diễn ra hay do nguyên nhân sâu xa từ những bức xúc của ta về thể xác và tinh thần Như vậy đã cho ta cơ hội bình tĩnh lại

Đôi khi ta bực tức chuyện ở trường, ở lớp, nhưng về nhà lại giận dữ với bố mẹ, anh chị em về những lý do vớ vẩn Trong trường hợp này, điều cần thiết là thư giãn, nghỉ ngơi, tĩnh tâm hoặc chia sẻ tâm sự với ai đó

ƒ Đừng đáp lại cơn giận bằng sự giận dữ

Trang 31

Có ai đổ thêm dầu vào lửa không? Sự bực bội của bạn sẽ làm tăng cơn giân của

cả bạn và người đối diện Tình trạng căng thẳng sẽ không kiểm soát được

Hãy kiềm chế cơn giận của chính mình trước, cố gắng giữ giọng ôn tồn, bình tĩnh, không chỉ trích, không miệt thị Làm được thế ta sẽ điều khiển được hành động và cảm xúc của ta và người đối diện (Harriet Goldhor Lerner Ph.D, 1999)

Để làm nguôi cơn giân theo kinh nghiệm của một số nhà nghiên cứu đã đưa ra như sau: Khi có dấu hiệu cho thấy bạn bắt đầu nổi nóng hãy nhanh chóng đi ra khỏi môi trường căng thẳng đó, uống ly nước , hít thở sâu, nghe nhạc, đi chơi… sẽ giúp chúng ta thoát khỏi rắc rối Rồi khi cơn giận qua đi, chúng ta giải quyết vấn

để trong sự bình tĩnh, chắc chắn sẽ có kết quả tốt hơn

2.7 Nhân cách người giáo viên

2.7.1 Sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với người giáo viên

Theo K.D.Usinxki đã nói : “Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vào nhân cách người giáo dục, bời vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ nhân cách của con người mà có Không có một điều lệ, chương trình, không một cơ quan giáo dục nào dù có được tạo ra một cách khôn khéo như thế nào cũng không thể thay thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục Không một sách giáo khoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt, một khen thưởng có thể thay thế ảnh hưởng cá nhân người thầy giáo đối với học sinh” (Lê Văn Hồng, 1998)

Thực đúng như thế vì sản phẩm lao động của người giáo viên là nhân cách của học sinh do những yêu cầu khách quan của xã hội quy định Sản phẩm này là kết quả tổng hợp của thầy và trò nhằm biến những tinh hoa của nền văn minh xã hội thành tài sản riêng của học trò Đặc điểm của nghề dạy học quy định một cách khách quan những phẩm chất tâm lý cần phải có trong toàn bộ nhân cách người thầy giáo Sự phù hợp giữa những yêu cấu khách quan của nghề dạy học với những phẩm chất tương ứng trong nhân cách của người thầy giáo là một yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp đào tạo

Bác Hồ cũng đã từng nói :“Học trò tốt hay xấu là do người thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”; “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là những người đem chính sách

Trang 32

của chính phủ, của đoàn thể thi hành …, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” (Phạm Thanh Châu, 2008)

Thầy giáo là người quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo Trong trường học, người trực tiếp thực hiện quan điểm giáo dục của Đảng, người quyết định

“phương hướng việc giảng day”, “lực lượng cốt cán trong sự nghiệp giáo dục, văn hoá” là người thầy giáo… Thật là môt sứ mạng vẻ vang, nhưng công việc không đơn giản, không mang tính chất lặp lại Công việc này phải dựa trên cơ sở của những thành tựu tâm lý học, giáo dục học hiện đại, đồng thời phải am hiểu đầy đủ đặc điểm và trình độ phát triển về mọi mặt của trẻ nhất là về mặt trí tuệ và đạo đức Công việc đòi hỏi một quá trình học tập lí luận nghiêm túc, trau dồi chuyên môn, rèn luyện tay nghề…, nói chung là trau dồi nhân cách (Nguyễn Công Hoan, 1992)

Tóm lại, sự cần thiết trào dồi nhân cách đối với người thầy giáo là tất yếu

Sự khẳng định ấy là một yêu cầu khách quan dựa trên đặc điểm cơ bản của nghề dạy học, vai trò và chức năng của người thầy giáo Đây là một quá trình phức tạp, lâu dài, đòi hỏi một sự thực tập và rèn luyện kiên trì và giàu sáng tạo về mọi mặt (chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ) để từng bước hình thành lí tưởng nghề nghiệp cao cả và tài năng sư phạm hoàn hảo

2.7.2 Đặc điểm lao động của người giáo viên

Nghề giáo viên là nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người nên đòi hỏi người hoạt động trong nghề đó phải có những yêu cầu nhất định trong quan hệ giữa con người và con người, chẳng hạn: sự tôn trọng, lòng tin, tình thương, sự đối

xử công bằng, thái độ ân cần, lịch sự, tế nhị…là những nét tính cách không thể thiếu được của loại hình nghề nghiệp này (Phạm Thanh Châu, 2008)

Cũng là đối tượng quan hệ trực tiếp là con người, nhưng con người với tư cách là người thầy giáo cũng không hoàn toàn giống với con người trong quan hệ thầy thuốc, chị bán hàng và cô hướng dẫn viên du lịch Đó là một con người đang trong thời kỳ chuẩn bị, đang ở tuổi bình minh của cuộc đời Xã hội tương lai mạnh hay yếu, có phát triển trí tuệ không thì tuỳ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bị này

Trang 33

2.8 Những yêu cầu đối với giáo viên

Theo Điều 2 của Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Đây chính là định hướng của nền giáo dục Việt Nam, vì vậy lao động sư phạm của giáo viên phải phục vụ điều đó

2.8.1 Phẩm chất của người giáo viên

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, để xứng đáng với nhiệm vụ vẻ vang, người thầy giáo cần có phẩm chất tâm hồn

Tâm hồn của người thầy giáo được xây dựng trên cơ sở lòng yêu thương vô hạn, lòng quý mến và tôn trọng con người Chính lòng yêu quý đó là cội nguồn của mọi tình cảm cao đẹp, là khởi đầu của đạo đức Đối với thầy giáo, lòng yêu thương con người trước hết cần được thể hiện qua lòng yêu thương học sinh và đồng nghiệp, chính lòng yêu thương ấy trong mỗi lời giảng của thầy là một lời xuất phát

từ đáy lòng và chình vì thế nó mới thấm sâu vào trí nhớ học sinh Những tình cảm

đó phải được gắn liền với sự tôn trọng của con người thì nó mới sâu rễ bền gốc Tôn trọng con người đó là tiền đề cho nền dân chủ Lòng yêu thương và quý trọng con người là nền tảng của đạo đức, nó đòi hỏi người thầy phải không ngừng tự rèn luyện và tự cải tạo mình (Nguyễn Đình Công, 2003)

Còn theo Huỳnh Thanh Sơn (2005), thì phẩm chất người giáo viên là những yếu tố làm nên giá trị nghề nghiệp của người giáo viên, những yêu cầu về mặt tính cách, tình cảm lao động sư phạm mà người giáo viên cần đạt được Theo ông một

số phẩm chất cơ bản mà người giáo viên cần phải có là:

ƒ Yêu thương và tôn trọng học trò

ƒ Biết kiềm chế và kiên nhẫn

Còn theo Makarenco đã nêu ra những phẩm chất cần phải có ở người giáo viên là: yêu nghề, yêu trẻ; sống say sưa, vui vẻ, không được đem nỗi u buồn, sự bực bội

cá nhân đến với trẻ; phải mẫu mực trong mọi lời nói, ăn mặc, cử chỉ; có lý tưởng

có hoài bão ước mơ; sống lạc quan và điều quan trọng nhất là lòng trung thực,

Trang 34

công bằng và làm việc hết mình vì lợi ích của toàn xã hội (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998)

Theo tác giả Cruchetxki V.A (1981), những phẩm chất mà ông khái quát trong cuốn “Những cơ sở của tâm lý học sư phạm” cần thiết phải có bao gồm: Thế giới quan duy vật biện chứng, xu hướng cộng sản chủ nghĩa, có lòng yêu trẻ, yêu lao động, chân thật, giản dị, có ý chí và khiêm tốn

Còn trong tác phẩm “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” (Gônôbôlin.Ph.N, 1977), đã nêu ra những phẩm chất cần thiết của người giáo viên như: lòng yêu công việc, lòng yêu trẻ, say mê với bộ môn mà mình chọn, thái độ lao động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, nhiệt tình, có niềm tin

Vì nghề giáo viên là nghề lấy nhân cách để giáo dục nhân cách, cho nên giáo viên phải hoàn thành tốt trọng trách của mình

Tóm lại những phẩm chất người giáo viên cần phải có đó là: có lòng yêu nghề, lòng yêu trẻ, có lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ, kiềm chế biết điều chỉnh tình cảm của mình trong mọi tình huống, có thế giới quan khoa học, có niềm tin sâu sắc vào thế

hệ tương lai, có ý chí phấn đấu và thật thà, khiêm tốn, giản dị và thanh liêm

™ Tính khiêm tốn

Khiêm tốn là một trong những phẩm chất được đánh giá cao trong đời sống đạo đức các cá nhân và có ý nghĩa rất lớn trong đời sống hiện thực Người có đức tính khiêm tốn thường dễ gần gũi những người xung quanh và tạo nên không khí

ấm áp tình người Đức tính khiêm tốn có tác dụng giúp con người sống thanh thản, trong sáng, lành mạnh Nó thực sự là động lực giúp con người vươn lên và không ngừng trong học tập, công tác và đời sống

Người có đức tính khiêm tốn trước hết là người biết trân trọng những thành tích và ưu điểm của những người xung quanh mình Họ luôn xem những người khác như tấm gương đáng noi theo Vì vậy, họ thường có thói quen xem xét những công lao, thành tích, ưu điểm của mình như một bộ phận của công lao thành tích chung Cho nên, dù những công lao, thành tích của họ to lớn thì cũng được xem xét một cách đúng mức và có ý nghĩa động viên tập thể và người khác (Trần Hậu Kiêm và Bùi Công Trang, 1992)

Trang 35

Ngoài ra, theo hai tác giả trên khiêm tốn còn bắt nguồn từ lòng tin vào lý tưởng đạo đức, tin tưởng vào quyết tâm phấn đấu để đạt được những giá trị mà lý tưởng ấy đem lại Như vậy, khiêm tốn một mặt khẳng định những giá trị đạo đức

mà các cá nhân đạt được và mặt khác nhờ đó nó có tác động kích thích những yếu

tố tích cực vươn tới trong đời sống cá nhân Cho nên, tính khiêm tốn liên hệ chặt chẽ với lòng tự tin, ý chí phấn đấu và bản lĩnh đạo đức vững vàng

Bên cạnh đó tình cảm đạo đức của người giáo viên còn thể hiện là niềm vui sướng, sự cảm phục của mọi người, cảm thấy sự thoả mãn do thực hiện những tiêu chuẩn đạo đức mà xã hội quy định

Phẩm chất đạo đức của con người không phải tự nhiên mà có, không do có tài mà thành, mà trải qua quá trình học tập, rèn luyện mới có

™ Ý chí:

Ý chí là một phẩm chất quan trọng giúp con người vượt qua những khó khăn, trở ngại để thực hiện được những hành động có mục đích, là sức mạnh để làm cho những phẩm chất và năng lực của người thầy thành hiện thực và tác động sâu sắc đến học sinh (Bùi Ngọc Oánh và vtv, 1995)

Phẩm chất ý chí là mặt quan trọng nhân cách gồm những đặc điểm nói lên một người có ý chí, có chí hướng, có mục đích, quyết đoán, đấu tranh cho bản thân cao,

có tinh thần vượt khó Phẩm chất ý chí giữ vai trò đáng kể, nhiều khi quyết định tới hoạt động của con người (Phạm Minh Thảo và Vũ Ngọc Khánh, 2003)

Ý chí của người thầy biểu hiện ở tính kiên nhẫn, biết tự kiềm chế, biết tự rèn luyện bản thân

Trong những phẩm chất ý chí thì tính tự kiềm chế những cảm xúc và niềm tin của bản thân có ý nghĩa đặc biệt bởi: Sự tức giận nhất thời thường tác động đến tình cảm nhiều hơn là ý thức của con người và đối với giáo viên hay nổi nóng thì học sinh thường giữ kỷ luật vì sợ hãi chứ không phải vì mến phục

Trang 36

dồi tri thức để không chỉ biết giảng giải, minh họa mà điều cơ bản là phải biết truyền cảm hứng cho học sinh Như William A Ward đã nói:

Người thầy trung bình chỉ biết nói

Người thầy giỏi biết giải thích

Người thầy xuất chúng biết minh họa

Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng

E.Faguet – Pháp, 1823 – 1925 đã có câu: “tôi tự học mỗi ngày để ngày mai dạy

lại”

Lòng yêu nghề của giáo viên thể hiên:

ƒ Luôn nghĩ đến việc đào tạo thế hệ trẻ

ƒ Trong công tác giảng dạy, người giáo viên luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao

ƒ Luôn cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy

ƒ Không tự thoả mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình (Lê Văn Hồng, 1996)

Tại buổi nói chuyện của chủ tịch Hồ Chí Minh ở trường Đại học Sư Phạm

Hà Nội, người đã phát biểu: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật sự yêu thương nghề mình Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vàng nhất Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh Đây là một điều vẻ vang nhất” Đây là lời tâm huyết mà người muốn gửi đến toàn thể thầy trò, công nhân viên chức các trường Đại học Sư Phạm Hà Nội nói riêng và trường Đại học Sư Phạm nói chung

Trong bất cứ xã hội nào, ở bất cứ thời đại nào, con người làm việc mà không có lòng yêu nghề thì không bao giờ có sự thành đạt, nghề dạy học cũng không nằm ngoài quy luật đó Bởi vậy, mỗi giáo viên thành đạt phải yêu nghề thực

sự, vượt qua mọi khó khăn thử thách để thực hiện chức năng người “kĩ sư tâm hồn”, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thiện nhân cách để cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”

Trang 37

“Điều đầu tiên đòi hỏi ở người giáo viên là tình yêu trẻ, chúng ta cần yêu trẻ bởi

nó sẽ nảy sinh ra tình yêu sư phạm và tình yêu đó nó sẽ tạo ra tài nghệ trong công tác” (Gônôbôlin.Ph.N, 1977, trang 19)

Tình yêu trẻ của người thầy giáo được biểu hiện:

ƒ Giáo viên cảm thấy sung sướng khi được tiếp xúc với trẻ, khi đi sâu vào khám phá những nét độc đáo trong tâm hồn của trẻ, trong lúc tiếp thu tri thức, lúc giao lưu với bạn bè, với những người xung quanh cũng như lúc trẻ gặp khó khăn

và khúc mắc về nội tâm Thái độ quan tâm đầy thiện chí và ân cần với trẻ, kể cả các em học kém và vô kỷ luật Mọi sự quan tâm giúp đỡ của giáo viên đến với học sinh phải rất khéo léo, hoàn toàn chân thành và giản dị

ƒ Yêu thương học sinh cũng có nghĩa là tin tưởng vào năng lực và sự trưởng thành của các em, tin tưởng các em sẽ đạt thành tích, thậm chí cả khi mọi người nói rằng em ấy không còn hy vọng gì nữa (Gônôbôlin.Ph.N,1977)

ƒ Bí quyết thành công của một nhà giáo chân chính là bắt nguồn từ thứ tình cảm vô cùng sâu sắc nhưng lại rất tự nhiên và giản dị, đó là tình yêu trẻ

Như vậy, tình cảm trong sáng, cao thượng của giáo viên sẽ tạo thêm sức mạnh cho lớp trẻ không ngại khó khăn, quyết tâm vươn lên trong mọi thử thách, chính là: “Tất cả vì học sinh thân yêu”

Trang 38

cũng phải dựa trên cơ sở của việc dạy học Vả lại, dạy học hay giáo dục thực chất cũng là tạo ra những cơ sở trọng yếu, cơ bản để “xây cất” nhân cách cho thế hệ trẻ

GS.VS Phạm Minh Hạc đã nói: “Đội ngũ nhà giáo, thầy giáo và cán bộ quản lí là yếu tố quyết định giáo dục Thầy giáo là khởi đầu, là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển giáo dục Vì thế, mọi đổi mới phải bắt đầu từ thầy giáo

Có sách giáo khoa hay, nhưng thầy giáo vô trách nhiệm, quyển sách đó cũng vô nghĩa Trường đẹp, đầy đủ thiết bị nhưng thầy giáo không chịu sử dụng thiết bị, không tận tâm với giờ giảng thì cũng vô nghĩa…”

Năng lực sư phạm của người GV được chia thành các nhóm năng lực sau:

Tri thức và tầm hiểu biết còn có tác dụng mạnh mẽ tạo ra uy tín của người thầy giáo Do đó, đây là yếu tố hết sức quan trọng để thầy giáo thực hiện vai trò của nhà giáo dục

Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ:

- Nắm vững và hiểu biết môn mình phụ trách, những phát minh trong khoa học thuộc môn mình phụ trách, biết tiến hành nghiên cứu khoa học và những hứng thú lớn lao đối với nó

Trang 39

- Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức của mình, có ý thức tự nguyện làm “một thứ bọt biển” để thấm hút vào mình mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hóa nhân loại (Phạm Thị Thanh Nga, 2008)

Để có tri thức và tầm hiểu biết, người thầy giáo phải có hai yếu tố cơ bản trong chính mình Thứ nhất là nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết (nó

là nguồn gốc của tính tích cực và động lực của việc tự học), thứ hai là những kỹ năng để làm thỏa mãn nhu cầu đó (phương pháp tự học)

ƒ Kỹ năng xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu được hiểu là điểm, ý định, mẫu mắt mình trông vào, nhắm vào Theo Chr.Moeller: “Mục tiêu dạy học là sự mô tả về trạng thái người học sau quá trình dạy học”

Hình 2.6.2.1: Các lĩnh vực của mục tiêu dạy học

Như vậy mục tiêu dạy học là mô tả trạng thái của học sinh về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong thời điểm tương lai có tính mong muốn được đưa ra trong thời điểm hiện tại hoặc mục tiêu bài học là sự mô tả trạng thái của người học sau một khóa học hay sau khi học xong một môn học hoặc sau khi học xong một bài học, một đoạn bài học có cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ

ƒ Kỹ năng xác định nội dung bài học

Nội dung dạy học là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học Nội dung dạy học là nội dung hoạt động của thầy và trò trong suốt quá trình dạy học

Nó được quy định thông qua chương trình đào tạo, là tập hợp các kiến thức văn

Trang 40

hóa xã hôi, khoa học công nghệ, các kỹ năng lao động chung và chuyên biệt cần thiết để hình thành và phát triển các phẩm chất năng lực nghề nghiệp đáp ứng được yêu cầu lao động của nghề nghiệp ở trình độ mong đợi (Nguyễn Văn Tuấn, 2009, tr.31)

Xác lập nội dung dạy học cho mỗi chương, mỗi phần, mục, … và cụ thể hóa chúng ở mỗi bài học, tiết học nhằm thực hiện được mục tiêu dạy học

ƒ Kỹ năng lựa chọn phương pháp dạy học

Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học là một thành tố cơ bản quan trọng, cùng với nội dung mà người học có thể chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo những phương pháp khác nhau và kết quả đạt được cũng không giống nhau

Bách khoa toàn thư của Liên xô năm 1965: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức”

Để sử dụng được các phương pháp dạy học hiệu quả người giáo viên cần thực hiện theo đúng chuẩn: Sử dụng một cách linh hoạt các PPDH sao cho kích thích được khả năng tư duy sáng tạo của HS Sử dụng nhiều PPDH hợp lý cho các mức độ nhận thức của người học (Nguyễn Thị Ngọc Thy, 2008)

Như vậy, để đạt được mục tiêu dạy một giờ học giáo viên cũng cần phải xem xét giờ học ấy theo các bước nào và việc lĩnh hội tri thức của học sinh theo con đường logic nào Như vậy phương pháp dạy học là các bước thực hiện của thầy và trò trong giờ dạy và là cấu trúc con đường lĩnh hội theo sự vận động của nội dung dạy học

ƒ Kỹ năng lựa chọn và sử dụng phương tiện, dạy học

Phương pháp dạy học là toàn bộ những yếu tố sử dụng vào trong quá trình dạy học nhằm tác động đến sự chuyển biến nội dung đạt được mục tiêu dạy học (Nguyễn Văn Tuấn, 2009, tr.36)

Như vậy dựa vào định nghĩa trên ta thấy PTDH bao gồm những yếu tố như các vật liệu dạy học, các công cụ dạy học, máy móc nguyên vật liệu và kể cả kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo sẵn có của giáo viên và sinh viên cũng như kể cả chế độ học tập

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w