TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tác giả Đinh Thị Ni Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả Đinh Thị Ni
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng cử nhân ngành
Sư Phạm Kỹ Thuật Công Nông Nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
TS Nguyễn Thanh Thủy
Tháng 5 năm 2010
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, con xin kính gửi lời cảm ơn đến ba mẹ đã nuôi dưỡng, dạy dỗ, động viên, khuyến khích con trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống
NNC xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Ban Giám hiệu và các thầy cô trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
- Ban Giám hiệu và các thầy cô trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
- Ban Giám hiệu và các thầy cô trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ
- Quý thầy cô Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp
Đã tận tình giúp đỡ để NNC có thể hoàn thành đề tài
Đặc biệt, NNC vô cùng tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS.Nguyễn Thanh Thủy, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho NNC trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
NNC xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp DH06SK đã đồng hành cùng NNC trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do giới hạn về mặt thời gian và khả năng nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót NNC rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn
TP.HCM, ngày tháng năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Ni
Trang 5TÓM TẮT
Chương trình giáo dục đào tạo nào cũng có phần kiểm tra đánh giá người học Chỉ
có thông qua kiểm tra đánh giá mới nắm được người học có đủ năng lực trình độ để theo được chương trình đào tạo đó hay không Trong quá trình đào tạo, người dạy chỉ
có thông qua các hình thức kiểm tra đánh giá mới biết được kết quả quá trình giảng dạy đã tác động đến người học như thế nào? Kết thúc chương trình đào tạo bao giờ cũng có hình thức kiểm tra đánh giá để xem xét kết quả trình độ người học đã đạt được
so với mục tiêu của chương trình; đồng thời cũng để đánh giá kết quả của người dạy
có phù hợp người học, có giúp người học đạt được mục tiêu của chương trình đã đề ra hay chưa
Ở các trường đại học hiện nay, tùy vào tính chất môn học và tùy vào GV mà sử dụng cácphương pháp đánh giá với nhiều hình thức khác nhau:
- Phương pháp quan sát và phương pháp vấn đáp được GV sử dụng thường xuyên cho đánh giá thường xuyên Phương pháp quan sát được hầu như GV sử dụng để đánh giá
kỹ năng và thái độ của SV, còn phương pháp vấn đáp được dùng để đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ nhưng vẫn thiên về lĩnh vực kiến thức
- Phương pháp tự luận được GV dùng ít thường xuyên cho đánh giá định kỳ và dùng
để đánh giá kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế của SV
- Phương pháp trắc nghiệm được GV sử dụng cho cả đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ lẫn đánh giá tổng kết vì đánh giá bao quát kiến thức, khách quan và chấm nhanh
- Phương pháp kết hợp giữa trắc nghiệm và tự luận được GV sử dụng ở mức độ thường xuyên và ít thường xuyên là cũng xấp xỉ nhau
- Các phương pháp khác như phương pháp SV tự đánh giá, SV đánh giá lẫn nhau thì hầu như GV không sử dụng
Trang 6MỤC LỤC Nội dung Trang
Trang bìa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng/ biểu đồ vii
Danh sách các chữ viết tắt xii
Lời ngỏ 1
Chương 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Mục đích nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5.2 Khách thể nghiên cứu 4
1.6 Giả thuyết nghiên cứu 4
1.7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.8 Phạm vi nghiên cứu 5
1.9 Phương pháp nghiên cứu 5
1.10 Kế hoạch nghiên cứu 6
1.11 Giới thiệu cấu trúc luận văn 6
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
2.1 Lược sử một số nghiên cứu trước đây 7
2.2 Đánh giá trong giáo dục 10
2.3 Các khái niệm liên quan đến đánh giá trong giáo dục 10
2.3.1 Đánh giá 10
2.3.2 Kiểm tra 11
2.3.3 Đo lường 12
Trang 72.4 Xu hướng hoàn thiện việc đánh giá 12
2.5 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên 13
2.5.1 Thế nào là đánh giá kết quả học tâp của sinh viên 13
2.5.2 Vai trò của đánh giá kết quả học tập 13
2.6 Các hình thức đánh giá kết quả học tập 15
2.6.1 Đánh giá thường xuyên 15
2.6.2 Đánh giá định kỳ 15
2.6.3 Đánh giá tổng kết 15
2.7 Yêu cầu đối với đánh giá kết quả học tập 15
2.8 Các bước trong quy trình đánh giá 17
2.8.1 Xác định mục đích đánh giá 17
2.8.2 Xác định các tiêu chí đánh giá 17
2.8.3 Thu thập các thông tin đánh giá 18
2.8.4 Đối chiếu các thông tin đã thu thập với các tiêu chuẩn 18
2.8.5 Kết luận và đưa ra những quyết định 18
2.9 Thang đánh giác của Benjamin S.Bloom 18
2.10 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập 19
2.10.1 Phương pháp đánh giá kết quả học tập 19
2.10.2 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập 19
2.10.2.1 Phương pháp quan sát 20
2.10.2.2 Phương pháp vấn đáp 20
2.10.2.3 Phương pháp viết 21
2.10.2.3.1 Trắc nghiệm tự luận 22
2.10.2.3.2 Trắc nghiệm khách quan 23
2.10.2.4 Các phương pháp đánh giá khác 25
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 26
3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi 26
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
3.3.1 Phương pháp phân tích định lượng 27
3.3.2 Phương pháp phân tích định tính 27
Trang 83.4 Kết quả 27
Chương 4: KẾT QUẢ 29
Đối với phiếu khảo sát ý kiến của sinh viên .29
4.1 Ý kiến của sinh viên về mục đích của việc kiểm tra-thi 29
4.2 Các phương pháp đánh giá và các hình thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên 30
4.3 Các biện pháp giúp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên 43
Đối với phiếu khảo sát ý kiến của giảng viên 52
4.4 Nhận định của giảng viên về đánh giá kết quả học tập của sinh viên 52
4.5 Các phương pháp đánh giá và các hình thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên 55
4.6 Những biện pháp giúp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của sinh viên 72
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 Câu hỏi 1: Thế nào là phương pháp đánh giá kết quả học tập? 80
5.1.1 Nhận định của GV về đánh giá kết quả học tập 80
5.1.2 Các hình thức để GV đánh giá kết quả môn học 81
5.2 Câu hỏi 2: Tại sao phải đánh giá kết quả học tập? 82
5.3 Câu hỏi 3: Các phương pháp đánh giá nào được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên? 82
5.3.1 Các phương pháp đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên 83
5.3.2 Về yêu cầu của các phương pháp đánh giá 84
5.4 Câu hỏi 4: Những biện pháp nào giúp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên? 84
5.5 Kiến nghị 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG/ BIỂU ĐỒ
Bảng 4.1.1: Ý kiến của sinh viên về mục đích của việc kiểm tra-thi 29
Biểu đồ 4.1.1: Ý kiến của sinh viên về mục đích của việc kiểm tra-thi 30
Bảng 4.2.1: Ý kiến của sinh viên về hình thức đánh giá kết quả môn học 30
Biểu đồ 4.2.1: Ý kiến của sinh viên về hình thức đánh giá kết quả môn học 31
Bảng 4.2.2: Ý kiến của sinh viên về các mặt mà giảng viên đánh giá môn học thực hành 32
Biểu đồ 4.2.2: Ý kiến của sinh viên về các mặt mà giảng viên đánh giá môn học thực hành 32
Bảng 4.2.3: Ý kiến của sinh viên về mức độ thường xuyên sử dụng các hình thức kiểm tra-thi 33
Bảng 4.2.4: Ý kiến của sinh viên về mức độ thường xuyên sử dụng các mức độ nhận thức cho bài thi 34
Bảng 4.2.5: Ý kiến của sinh viên về hình thức giao bài tập 35
Biểu đồ 4.2.3: Ý kiến của sinh viên về hình thức giao bài tập 35
Bảng 4.2.6: Ý kiến của sinh viên về thời gian của những đề kiểm tra-thi 36
Biểu đồ 4.2.4: Ý kiến của sinh viên về thời gian của những đề kiểm tra-thi 36
Bảng 4.2.7: Bảng thống kê số sinh viên đã thi vấn đáp 37
Biểu đồ 4.2.5: Số sinh viên đã thi vấn đáp 37
Bảng 4.2.8: Ý kiến của sinh viên về tỷ lệ giữa phần tự luận và phần trắc nghiệm trong các đề kiểm tra-thi 38
Bảng 4.2.9: Ý kiến của sinh viên về số câu hỏi trong đề tự luận có thời gian 90 phút 39
Bảng 4.2.10: Ý kiến của sinh viên về số lượng đề thi trắc nghiệm 40
Biểu đồ 4.2.6: Ý kiến của sinh viên về số lượng đề thi trắc nghiệm 40
Bảng 4.2.11: Ý kiến của sinh viên về việc giảng viên nêu các tiêu chí đánh giá 41
Biểu đồ 4.2.7: Ý kiến của sinh viên về việc giảng viên nêu các tiêu chí đánh giá 41
Bảng 4.2.12: Ý kiến của sinh viên về mức độ sử dụng hình thức đánh giá cho những chuyến đi thực tế 42
Trang 10Bảng 4.2.13: Ý kiến của sinh viên về nội dung đánh giá
những bài thuyết trình, báo cáo semina 43 Bảng 4.3.1 :Ý kiến của sinh viên về kinh nghiệm rút từ
những bài kiểm tra-thi 44 Biểu đồ 4.3.1 :Ý kiến của sinh viên về kinh nghiệm rút từ
những bài kiểm tra-thi 44 Bảng 4.3.2: Mức độ đánh giá của những đề kiểm tra-thi
so với thực lực sinh viên 45 Biểu đồ 4.3.2: Mức độ đánh giá của những đề kiểm tra-thi
so với thực lực sinh viên 45 Bảng 4.3.3: Mức độ nghiêm túc trong công tác gác thi 46 Biểu đồ 4.3.3: Mức độ nghiêm túc trong công tác gác thi 46 Bảng 4.3.4 Ý kiến của sinh viên về việc có nên đánh giá
kết quả học tập chỉ qua một lần thi kết thúc môn 47 Biểu đồ 4.3.4: Ý kiến của sinh viên về việc có nên đánh giá
kết quả học tập chỉ qua một lần thi kết thúc môn 47 Bảng 4.3.5: Ý kiến của sinh viên về việc ấn định điểm số
cho mỗi câu trong bài kiểm tra-thi 49 Biểu đồ 4.3.5: Ý kiến của sinh viên về việc ấn định điểm số
cho mỗi câu trong bài kiểm tra-thi 49 Bảng 4.3.6: Ý kiến của sinh viên về những vấn đề liên quan đến môn học 50 Biểu đồ 4.3.6: Ý kiến của sinh viên về những vấn đề liên quan đến môn học 50 Bảng 4.3.7: Bảng thống kê điểm trung bình tích lũy của sinh viên 51 Biểu đồ 4.3.7: Điểm trung bình tích lũy của sinh viên 51 Bảng 4.4.1: Bảng thống kê nhận định của giảng viên về
quá trình đánh giá kết học tập của sinh viên 52 Biểu đồ 4.4.1: Nhận định của giảng viên về quá trình
đánh giá kết học tập của sinh viên 53 Bảng 4.4.2: Quan điểm của giảng viên về tầm quan trọng
của việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên 54
Trang 11đánh giá áp dụng cho mỗi hình thức đánh giá 58 Bảng 4.5.4: Bảng thống kê mức độ
thường xuyên sử dụng các phương pháp đánh giá 59 Bảng 4.5.5: Ý kiến của giảng viên về nội dung của một đề kiểm tra-thi 60 Biểu đồ 4.5.3: Ý kiến của giảng viên về nội dung của một đề kiểm tra-thi 60 Bảng 4.5.6 Bảng thống kê ý kiến của giảng viên về việc có nên
gồm phần tự luận và phần trắc nghiệm trong đề kiểm tra-thi 61 Biểu đồ 4.5.4: Ý kiến của giảng viên về việc có nên gồm
phần tự luận và phần trắc nghiệm trong đề kiểm tra-thi 61 Bảng 4.5.7: Ý kiến của giảng viên về tỷ lệ giữa
phần tự luận và phần trắc nghiệm 61 Biểu đồ 4.5.5: Ý kiến của giảng viên về tỷ lệ giữa
phần tự luận và phần trắc nghiệm 61 Bảng 4.5.8: Bảng thống kê ý kiến của giảng viên
về hình thức đánh giá kết quả môn học của SV 62 Biểu đồ 4.5.6: Ý kiến của giảng viên về hình thức
đánh giá kết quả môn học của SV 62 Bảng 4.5.9: Bảng thống kê các mặt mà giảng viên
đánh giá đối với môn học thực hành 63 Biểu đồ 4.5.7: Bảng thống kê các mặt mà giảng viên
đánh giá đối với môn học thực hành 63 Bảng 4.5.10: Bảng thống kê các mặt mà giảng viên
đánh giá một bài kiểm tra-thi 64 Biểu đồ 4.5.8: Các mặt mà giảng viên đánh giá một bài kiểm tra-thi 64
Trang 12Bảng 4.5.11: Bảng thống kê ý kiến của giảng viên
về hình thức thi kết thúc môn học 65
Biểu đồ 4.5.9: Ý kiến của giảng viên về hình thức thi kết thúc môn học 65
Bảng 4.5.12: Bảng thống kê ý kiến của giảng viên về mặt kiến thức của đề kiểm tra-thi 66
Bảng 4.5.13: Bảng thống kê các phương pháp đánh giá giảng viên sử dụng để đánh giá các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ 67
Bảng 4.5.14: Bảng thống kê số câu hỏi tương ứng với thời gian trong các đề thi tự luận 68
Biểu đồ 4.5.10: Số câu hỏi tương ứng với thời gian trong các đề thi tự luận 68
Bảng 4.5.15: Bảng thống kê số lượng đề trắc nghiệm cần dùng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên 69
Biểu đồ 4.5.11: Số lượng đề trắc nghiệm cần dùng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên 69
Bảng 4.5.16: Bảng thống kê các phương pháp đánh giá khác của giảng viên 70
Biểu đồ 4.5.12: Các phương pháp đánh giá khác của giảng viên 70
Bảng 4.5.17: Bảng thống kê các hình thức đánh giá định kỳ SV 71
Biểu đồ 4.5.13: Các hình thức đánh giá định kỳ SV 71
Bảng 4.5.18: Bảng thống kê các hình thức đánh giá sinh viên qua những chuyến đi thực tế 72
Biểu đồ 4.5.14: Các hình thức đánh giá sinh viên qua những chuyến đi thực tế 72
Bảng 4.6.1: Bảng thống kê hình thức soạn câu hỏi trắc nghiệm trong đề kiểm tra-thi 73
Biểu đồ 4.6.1: Hình thức soạn câu hỏi trắc nghiệm trong đề kiểm tra-thi 73
Bảng 4.6.2: Bảng thống kê suy nghĩ của giảng viên nếu SV đạt điểm thấp trong bài kiểm tra-thi 74 Biểu đồ 4.6.2: Suy nghĩ của giảng viên nếu
Trang 13Bảng 4.6.3: Bảng thống kê ý kiến của giảng viên
về việc đặt tiêu chí đánh giá sinh viên qua bài kiểm tra-thi 75 Biểu đồ 4.6.3: Ý kiến của giảng viên về việc đặt
tiêu chí đánh giá sinh viên qua bài kiểm tra-thi 75 Bảng 4.6.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến công đoạn chấm bài 75 Biểu đồ 4.6.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến công đoạn chấm bài 76 Bảng 4.6.5: Bảng thống kê suy nghĩ của giảng viên
nếu sinh viên đạt điểm cao trong bài kiểm tra-thi 76 Biểu đồ 4.6.5: Suy nghĩ của giảng viên nếu
sinh viên đạt điểm cao trong bài kiểm tra-thi 77
Trang 15LỜI NGỎ
Chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu và là trung tâm của sự nghiệp giáo dục Cải thiện chất lượng giáo dục gắn liền và tạo thuận lợi phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp CNH-HĐH, đặc biệt là giáo dục đại học Giáo dục đại học của một nước là biểu tượng trình độ văn hóa, khoa học-kỹ thuật hiện đại của nước đó và là nhân tố đầu tàu để nâng cao chất lượng của toàn hệ thống giáo dục nước đó nói riêng Chất lượng đại học của nước ta được đánh giá là thấp so
với khu vực Theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh: “Giáo dục Đại học Việt Nam đã được nhà
nước quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt Nam qua nhiều dự án lên đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập” (tham khảo ngày 15 tháng 10
năm 2009 tại www.ier.edu.vn) Trong đó có bất cập về phương pháp kiểm tra, đánh
giá Các trường đại học đánh giá sinh viên chủ yếu qua hai kỳ thi: Kiểm tra giữa kỳ chiếm 30%-40% điểm số và thi cuối kỳ chiếm 60%-70% là không hợp lý vì không phát huy được tinh thần tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
Đánh giá là khâu không thể thiếu đối với bất kỳ công việc Đánh giá kết quả học tập của người học lại càng quan trọng hơn nữa bởi sản phẩm của giáo dục là con người Việc đánh giá đúng kết quả học tập sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để
thay đổi quá trình dạy-học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Với đề tài: “TÌM
HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”,
người nghiên cứu mong rằng sẽ thu được thông tin có giá trị tin cậy Từ đó có những
đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung
Trang 16Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đã và đang trên con đường CNH-HĐH, phấn đấu đến năm 2010 nước ta về
cơ bản trở thành một nước công nghiệp Quá trình CNH-HĐH được thực hiện trên cơ
sở đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vững, trong đó nhân tố con người là trung tâm Nguồn lực con người trở thành nguồn lực quan trọng nhất cho tiến trình phát triển của đất nước
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Organization)
đã mở ra cho nước ta nhiều thời cơ nhưng cũng đối mặt với những thách thức mới Thách thức quan trọng hơn cả là việc cam kết giáo dục trở thành dịch vụ theo những quy định của WTO
Luật Hiến pháp Việt Nam đã tuyên bố: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo,…góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (điều 35)
Chính xu thế phát triển của thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện tới ngành giáo dục - đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng Thực tiễn trên đã đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nền giáo dục đại học Bởi giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạo ra những cử nhân khoa học-những người có trình độ học vấn cao, có kiến thức rộng về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội-nhân văn, khoa học công nghệ… đáp ứng yêu cầu của xã hội
Vấn đề đặt ra là làm sao để sản phẩm của giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đạt chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường Đây là việc làm hết sức khó khăn bởi sản phẩm của giáo dục là con người, khác hẳn với các sản phẩm khác, chẳng hạn sản phẩm của lĩnh vực sản xuất
Nhận định rõ về vấn đề này nước ta đã có những chính sách, chủ trương đổi mới như cải cách sách giáo khoa, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh…nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Song chất lượng giáo dục nước ta vẫn còn
Trang 17nhiều điều đáng lo ngại như vẫn còn hiện tượng học sinh ngồi sai lớp, giáo viên dạy học theo kiểu đọc-chép, mục đích học của học sinh vẫn là học để thi…Đặc biệt nền giáo dục đại học hiện nay đã không theo kịp, không phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục-đào tạo như đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, phương pháp kiểm tra, đánh giá… Ai cũng biết dạy học theo kiểu gì thì đánh giá theo kiểu ấy Chúng ta dạy học theo hướng tích cực hóa người học, đào tạo những người đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng thì việc ra đề thi và kiểm tra cũng phải đòi hỏi người học phải có sự thông hiểu, vận dụng kỹ năng để giải quyết vấn
đề Nhưng theo Nguyễn Tùng Lâm: “Khoa học kiểm tra đánh giá chưa được chúng ta
vận dụng đúng quy luật, chưa thực hiện đúng bản chất của khoa học kiểm tra đánh giá” Do đó chất lượng giáo dục chưa như mong muốn (tham khảo tháng 10/2009 tại http://ceea.ier.edu.vn/nghien-cuu-giao-duc)
Là một sinh viên của ngành Sư Phạm Kỹ Thuật Công Nông Nghiệp, được trang bị những kiến thức về “Đánh giá trong giáo dục”, NNC nhận thấy rõ tầm quan trọng của khâu kiểm tra, đánh giá trong giáo dục; đồng thời hưởng ứng chủ đề của năm học 2009-2010 là: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục” Vì thế
người nghiên cứu chọn đề tài: “TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
1.2 Vấn đề nghiên cứu:
Trong đề tài này có hai vấn đề được nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về các phương pháp đánh giá Cụ thể là tìm hiểu các khái niệm có liên quan đến đánh giá, vị trí, vai trò, chức năng của các phương pháp đánh giá trong hoạt động giảng dạy, các phương pháp đánh giá kết quả học tập trong nhà trường hiện nay
- Nghiên cứu các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm trang bị cho sinh viên sư phạm nói chung và giáo viên những hiểu biết
về tình hình sử dụng các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên hiện nay,
Trang 18đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, đánh giá Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau:
− Câu hỏi nghiên cứu 1: Thế nào là phương pháp đánh giá kết quả học tập?
− Câu hỏi nghiên cứu 2: Tại sao phải đánh giá kết quả học tập?
− Câu hỏi nghiên cứu 3: Các phương pháp đánh giá nào được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên?
− Câu hỏi nghiên cứu 4: Những biện pháp nào giúp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên?
1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
1.5.2 Khách thể nghiên cứu
Giảng viên và sinh viên một số trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể
là giảng viên và sinh viên của các trường sau:
− Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn
− Trường đại học Nông lâm TP.HCM
− Trường đại học Kỹ thuật công nghệ
Ở mỗi trường, NNC sẽ tiến hành điều tra 150 sinh viên và 30 giảng viên
1.6 Giả thuyết nghiên cứu
Đánh giá đúng kết quả học tập của sinh viên sẽ giúp cho giáo viên nắm được mức
độ kiến thức mà sinh viên đã đạt, biết được những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên; từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học tốt hơn; đồng thời thông qua kết quả của đánh giá, sinh viên sẽ tự đánh giá; từ đó điều chỉnh phương pháp học tập của chính mình có hiệu quả hơn
1.7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phục vụ cho các câu hỏi nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ thực hiện các nhiệm
Trang 19− Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên (phục vụ cho câu hỏi 1,2,3,4):
¾ Định nghĩa và các khái niệm liên quan đến đánh giá kết quả học tập
¾ Nghiên cứu tài liệu về các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên
− Nhiệm vụ 2: Điều tra khảo sát về tình hình sử dụng các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên một số trường đại học ở TP.HCM (phục vụ cho câu hỏi 2,3,4)
− Nhiệm vụ 3: Đề xuất một số biện pháp để việc sử dụng các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên đạt hiệu quả (phục vụ cho câu hỏi 4)
1.8 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ được thực hiện trong phạm vi:
− Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn
− Trường đại học Nông lâm TP.HCM
− Trường đại học Kỹ thuật công nghệ
1.9 Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp nghiên cứu tài liệu: qua sách báo, tạp chí, internet…
− Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi: người nghiên cứu tiến hành lập phiếu hỏi dựa vào các vấn đề cần nghiên cứu nhằm thu thập thông tin từ giảng viên và sinh viên
− Phương pháp xử lý số liệu: Sau khi thu thập được số liệu, NNC tiến hành phân tích số liệu bằng hai phương pháp
¾ Phương pháp phân tích định lượng: xử lý số liệu thu được bằng phần mềm Microsoft Excell
¾ Phương pháp phân tích định tính: người nghiên cứu tiến hành phân tích các câu trả lời trong phiếu điều tra
Trang 201.10 Kế hoạch nghiên cứu
Soạn bảng câu hỏi
1.11Giới thiệu cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 chương:
- Chương 2: NNC đã nêu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, lược sử một số nghiên cứu trước đây
- Chương 3: Các phương pháp nghiên cứu mà NNC đã sử dụng để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, cách tiến hành các phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: NNC trình bày kết quả nghiên cứu đã thu thập được
Trang 21Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lược sử một số nghiên cứu trước đây
Đổi mới phương pháp dạy học cũng kéo theo đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh
giá Theo Nguyễn Quang Huỳnh (2006): “ Chất lượng của quá trình đánh giá là một
trong những nét đặc trưng của quá trình dạy tốt” Khoa học kiểm tra đánh giá ra đời
từ rất sớm nhưng chỉ mới phát triển ở nước ta trong những năm gần đây Có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, sau đây là một số nghiên cứu mà người nghiên cứu đã tham khảo qua:
- Nghiên cứu “Thực trạng đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
trong chương trình giáo dục” của Nguyễn Thị Lan Phương Viện Khoa học giáo dục
Việt Nam Tạp chí Khoa học giáo dục, số 44, tháng 5-2009
Nghiên cứu gồm bốn nội dung sau:
¾ Hiệu quả của các văn bản chỉ đạo về ĐG KQHT của HS
¾ Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về ĐG KQHT của HS
¾ Thực trạng về việc ĐG KQHT của HS ở trường THPT
¾ Đề xuất của đối tượng điều tra để nâng cao tính khách quan, khoa học của quá trình đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
Ưu điểm:
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn gián tiếp 1082 giáo viên ở các tỉnh Phú Thọ, Nam Định, Quảng Nam, Kon Tum; thảo luận, phỏng vấn trực tiếp khoảng 300 cán bộ quản
lý và 500 giáo viên cốt cán Trung học tại các đợt tập huấn của Bộ GD&ĐT, thu thập
và phân tích 89 đề kiểm tra định kỳ ở một số địa phương Kết quả thu được có tính tin cậy Có sự so sánh giữa giáo viên tiểu học và giáo viên trung học Phản ánh được phần nào thực trạng đánh giá kết quả học tập của HS theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở trường THPT
Nhược điểm:
Tác giả chỉ khảo sát trên đối tượng là cán bộ quản lý và giáo viên mà không khảo sát trên đối tượng là HS
Trang 22- Nghiên cứu “ Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá ở cấp THPT theo nhận
xét của học sinh” Nguyễn Thanh Bình Viện Nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội
Tạp chí Khoa học giáo dục, số 42, tháng 3-2009
Nghiên cứu có ba phần:
Ê Phần 1: Đặt vấn đề
Ê Phần 2: Thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá ở THPT
o Nhận xét của HS về những ưu điểm và hạn chế của giáo viên
o Về đổi mới hoạt động của giáo viên
¾ Nhận xét của HS về hoạt động của giáo viên
¾ Tần xuất giáo viên., cha mẹ và bản thân tích cực hóa hoạt động học tập của HS
o Về đổi mới kiểm tra, đánh giá của GV
Ê Phần 3: Kết luận
Ưu điểm:
Tác giả đã phản ánh được thực trạng đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá ở THPT từ nhận xét của HS Tác giả cũng có sự điều tra, so sánh giữa HS có học lực khá giỏi với HS có học lực yếu và trung bình; so sánh giữa trường có chất lượng cao, trường nội trú và trường ở vùng khó khăn
- Nghiên cứu “Sử dụng đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh quá trình dạy học
trọng dạy học môn Toán ở trường THPT” Phạm Xuân Chung Tạp chí Giáo dục, số
204, kỳ 2, tháng 12/2008
Nghiên cứu gồm hai nội dung:
¾ Các nội dung liên quan đến ĐG KQHT
¾ Sử dụng ĐG KQHT để điều chỉnh quá trình dạy học môn Toán
Trang 23Ưu điểm:
Tác giả đã nêu tầm quan trọng của việc ĐG KQHT, các nội dung liên quan đến việc ĐG KQHT là mục tiêu học tập, nội dung dạy học, phương pháp dạy học Tác giả dùng các phương pháp ĐG KQHT để hiệu chỉnh quá trình dạy học trong dạy học môn Toán
Nhược điểm:
Tác giả chỉ sử dụng hai phương pháp đánh giá là phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn
- Nghiên cứu “Đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật lớp 1, 2, 3 bằng hình thức
nhận xét” Bạch Ngọc Diệp Tạp chí Khoa học giáo dục, số 54, tháng 3/2010
Nghiên cứu gồm hai nội dung là thực trạng đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật bằng hình thức nhận xét và đề xuất kiến nghị về đánh giá kết quả học tập bằng hình thúc nhận xét cho môn Mĩ thuật
Tác giả đã tiến hành điều tra 512 giáo viên ở 23 tỉnh trong toàn quốc bằng phiếu hỏi về việc thực hiện đánh giá bằng nhận xét với nhiều nội dung như thời gian, cách thức thu thập chứng cứ, hình thức tổ chức đánh giá, những thuận lợi và khó khăn, ý kiến của giáo viên về đánh giá bằng nhận xét…Kết quả thu được có giá trị tin cậy và phản ánh được thực trạng đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật bằng nhận xét Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu cho môn Mĩ thuật
- Nghiên cứu “Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ cao
đẳng” Trương Thị Bích Phượng www.cdxd1.edu.vn/userfiles/File/C_Phuong(4).doc
Nghiên cứu gồm bốn phần là tổng quan, phương pháp thi trắc nghiệm khách quan, kết quả và kết luận Tác giả đã nêu rõ mục đích của việc kiểm tra, đánh giá, khái quát
về các phương pháp kiểm tra đánh giá, tiến hành cho sinh viên thi thử nghiệm môn vật
lý bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan và thống kê, phân tích kết quả qua bài thi của sinh viên, so sánh kết quả môn vật lý của sinh viên qua thi vấn đáp ở học kỳ 1và thi trắc nghiệm ở học kỳ 2
Với nghiên cứu này, tác giả cho chúng ta thấy được ưu điểm nổi bật của phương pháp trắc nghiệm khách quan là phản ánh trung thực kết quả học tập của sinh viên Tuy nhiên, tác giả chỉ tiến hành thử nghiệm đối với phương pháp thi trắc nghiệm
Trang 24khách quan, so sánh kết quả của học kỳ 1 và học kỳ 2 có thể dẫn đến kết quả thu được
ít chính xác vì kiến thức của mỗi học kỳ sẽ khác nhau
Các nghiên cứu trên đây đã cho thấy tầm quan trọng của việc ĐG KQHT của người học trong quá trình dạy-học Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ thực hiện trên phạm vi
là các trường phổ thông, ở trường cao đẳng thì chỉ tiến hành thử nghiệm với phương pháp trắc nghiệm khách quan mà không cho chúng ta thấy thực trạng ĐG KQHT của sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng
2.2 Đánh giá trong giáo dục
Đánh giá trong giáo dục là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu nhất định Đánh giá trong giáo dục bao gồm sự mô tả
về định tính hay định lượng những kết quả đạt được và so sánh với mục tiêu giáo dục
- Đánh giá giáo viên chẳng hạn như đánh giá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một giáo viên hay của một tập thể giáo viên
- Đánh giá học sinh: đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng, thái độ của một HS hay của một tập thể HS trong một bài học, một môn học hoặc một khóa học
HS là đối tượng, là sản phẩm giáo dục, đồng thời là chủ thể của quá trình giáo dục Việc đánh giá HS giữ vị trí đặc biệt trong việc đánh giá giáo dục
Trong đề tài này, NNC chỉ tìm hiểu đánh giá học sinh, cụ thể là các phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên
2.3 Các khái niệm liên quan đến đánh giá trong giáo dục
Để hiểu rõ hơn về đánh giá trong giáo dục, chúng ta cần biết được một số khái niệm sau đây:
Trang 252.3.1 Đánh giá
Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá, sau đây là một số định nghĩa về đánh giá: Theo từ điển Tiếng Việt, đánh giá được hiểu là nhận định giá trị
Theo Trần Bá Hoành (1996): “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định,
phán đoán về kết quả của công việc Dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, người đánh giá sẽ đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu
quả công việc” (trang 5)
Còn theo P.E Griffin (1996):“Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự
kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc định giá của một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định” (trích theo Trần Thị Tuyết Oanh, 2007, trang
8)
Như vậy đánh giá là quá trình thu thập thông tin về đối tượng nào đó, phân tích, so sánh với mục tiêu đề ra; sau đó đưa ra nhận xét về đối tượng đó có đạt được mục tiêu hay không Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu
2.3.2 Kiểm tra
Theo từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là xem xét tình hình thực tế để kiểm
tra, nhận xét Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dự kiện, những thông tin cần
thiết làm cơ sở cho việc đánh giá HS
Theo Nguyễn An (1996), kiểm tra có nghĩa là kiểm lại, soát lại một vấn đề nào đó (trang 132)
Còn theo Từ điển Giáo dục học, kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của HS, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy-học
Kiểm tra và đánh giá có mối liện hệ mật thiết với nhau, là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Kiểm tra gắn liền với đánh giá Trong thực tế cũng có thể tiến hành kiểm tra nhưng không đánh giá Tuy nhiên để đánh giá được thì phải cần kiểm tra Như vậy kiểm tra là công cụ, là phương tiện để thu thập thông tin về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS; còn đánh giá là xác định mức độ đạt được của kiến thức, kỹ
Trang 26năng, kỹ xảo Trong giáo dục kiểm tra và đánh giá phải luôn đi liền vì kiểm tra mà không đánh giá sẽ không có tác dụng và hiệu quả đáng kể; ngược lại đánh giá mà không dựa trên số liệu của kiểm tra thì rất dễ mang tính chất ngẫu nhiên, chủ quan, do
đó sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt về tâm lý, giáo dục
2.3.3 Đo lường
Khái niệm đo lường bắt nguồn từ khoa học vật lý Theo nghĩa vật lý học, đo lường
là sự so sánh đại lượng cần đo với một đại lượng được coi là đơn vị để đo
Gronlud (1996) cho rằng:“ Đo lường là tiến trình đạt được sự mô tả bằng số lượng
về mức độ mà một cá nhân làm được trong một lĩnh vực cụ thể” (trích theo Trần Thị
Tuyết Oanh, 2007, trang 25)
Như vậy, đo lường là khái niệm chung để chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng với một thước đo hoặc chuẩn mực và có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng
Đo lường trong giáo dục bao gồm cả định tính lẫn định lượng Định tính thể hiện ở
sự mô tả, sự nhận xét; định lượng thể hiện ở các con số như 1,3,5,6…, các chữ cái như
A, B,C…, các bằng xếp loại như giỏi, khá…
2.3.4 Tiêu chí đánh giá
Theo Từ điển Giáo dục học, tiêu chí đánh giá là dấu hiệu, tính chất được chọn làm căn cứ, làm chuẩn để so sánh, đối chiếu, xác định mức độ kết quả đạt tới của những thứ cần đánh giá
Tiêu chí đánh giá là công cụ rất quan trọng để xác định chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục đào tạo nói riêng
2.4 Xu hướng hoàn thiện việc đánh giá
Trước đây, với phương pháp dạy học theo phương pháp truyền thống thì quan điểm
về việc đánh giá người học còn phiến diện GV giữ độc quyền trong việc đánh giá, còn người học là đối tượng được đánh giá GV chỉ đánh giá người học qua hai hình thức là kiểm tra viết và kiểm tra vấn đáp hay còn gọi là kiểm tra miệng Hai hình thức đánh giá này thường diễn ra vào cuối chương của môn học hay kết thúc môn học GV khó
có thể biết được cách dạy của mình có phù hợp với người học hay không, người học gặp những khó khăn gì trong quá trình học tập…Do đó hoạt động học tập chưa đạt
Trang 27Mục tiêu của giáo dục hiện nay là đào tạo cho người học có chuẩn kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Do đó mà phương pháp dạy học
có sự thay đổi theo hướng tích cực hóa người học Việc đánh giá người học không chỉ dừng lại ở mức độ biết, hiểu mà còn phải đạt được mức độ cao hơn như áp dụng, phân tích, đánh giá Với phương pháp dạy học hiện đại thì không chỉ áp dụng hai phương pháp đánh giá là viết và nói mà còn có các phương pháp khác như phương pháp quan sát, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên trong quá trình giảng dạy Bên cạnh sự đánh giá của giáo viên, người học cũng tự đánh giá mức độ đạt được kiến thức của mình để kích thích hoạt động học tập đạt hiệu quả cao hơn
Vậy xu hướng đánh giá là từ đánh giá tổng kết, đánh giá kết quả cuối cùng sẽ kết hợp cả đánh giá tổng kết lẫn đánh giá thường xuyên, đánh giá cả quá trình; từ việc giữ kín tiêu chuẩn, tiêu chí sang công khai các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá; từ việc đánh giá những kỹ năng riêng lẻ, giản đơn sang các kỹ năng tổng hợp và vận dụng kiến thức, từ đánh giá bên ngoài sang tự đánh giá
2.5 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên
2.5.1 Thế nào là đánh giá kết quả học tập của sinh viên?
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2006): “Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá
trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định quản lý của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân sinh viên để giúp họ học tập tiến bộ hơn” Như vậy
đánh giá kết quả học tập của SV là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho sinh viên sau một giai đoạn học tập Các mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể Thông qua đánh giá kết quả học tập của SV sẽ thể hiện được kết quả của quá trình GD& ĐT ở nhà trường
Kết quả học tập của SV thông qua quá trình đánh giá sẽ được thể hiện bằng điểm
số 1, 2, 10, 100… hay bằng các chữ cái A, B,C… hay bằng lời nhận xét của GV
2.5.2 Vai trò của đánh giá kết quả học tập
Đánh giá là bộ phận hợp thành không thể thiếu được của quá trình dạy học, quá trình dạy học sẽ không đạt chất lượng mong muốn nếu không có cách đánh giá phù
hợp và đáng tin cậy James H.McMillian cho rằng: “ Nếu giảng dạy và đánh giá được
kết hợp chặt chẽ với nhau thì về cơ bản không phân biệt được giữa giảng dạy và đánh
Trang 28giá” (trích theo Phạm Xuân Chung, tạp chí giáo dục số 204, kỳ 2, tháng 12- 2008)
Nghĩa là kết quả của đánh giá sẽ được thể hiện qua sự thay đổi phương pháp giảng dạy cho phù hợp với mục tiêu giáo dục
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên không những có vai trò đối với sinh viên
mà còn có vai trò đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
- Đối với sinh viên: Thông qua đánh giá của giáo viên , sinh viên sẽ:
¾ Tái hiện, hoàn thiện, khắc sâu, hệ thống hóa các tri thức đã thu nhận được, giúp
SV rèn kỹ năng, kỹ xão vận dụng tri thức, phát triển năng lực tư duy , sáng tạo
¾ Thu được những thông tin cần thiết về quá trình học tập của mình để từ đó có thể phát huy những mặt mạnh cũng như bổ khuyết những lỗ hổng trong kiến thức
¾ Rèn khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá
¾ Bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, tính tích cực, chủ động và độc lập trong học tập, đồng thời rèn luyện tính kỷ luật, tính tự giác và ý chí vươn lên trong học tập
- Đối với giáo viên:
¾ Thông qua đánh giá, GV sẽ thu được những thông tin phản hồi từ sinh viên như
GV có thể biết được những mục tiêu đã đề ra có phù hợp chưa, phương pháp giảng dạy
có phù hợp không, phương pháp giảng dạy có cần cải tiến không và cải tiến như thế nào,…Đây là cơ sở để GV tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động giảng dạy
¾ Qua đánh giá kết quả của SV, GV cũng có thể tự đánh giá trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của mình để không ngừng nâng cao, hoàn thiện mình
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục:
Đánh giá sẽ cung cấp thông tin về thực trạng hoạt động dạy và học của một đơn vị giáo dục Từ đó sẽ giúp các nhà quản lý có những quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung hay chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
Tóm lại, đánh giá kết quả học tập của sinh viên có vai trò khác nhau đối với từng đối tượng sinh viên, giáo viên hay cán bộ quản lý giáo dục nhưng mục đích cuối cùng của đánh giá vẫn là nhằm thu thập thông tin về kết quả học tập của người học và đề ra các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
Trang 292.6 Các hình thức đánh giá kết quả học tập
Quá trình dạy học trong nhà trường thường sử dụng ba dạng đánh giá cơ bản, đó là đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết
2.6.1 Đánh giá thường xuyên
Đánh giá thường xuyên là quá trình đánh giá diễn ra hàng ngày trong quá trình giảng dạy qua quan sát để đánh giá mức độ hiểu bài và tiến bộ của từng sinh viên khi
họ trả lời các câu hỏi, khi họ thảo luận với nhau, khi thực hiện các nhiệm vụ học tập; qua vấn đáp để theo dõi mức độ hiểu bài của sinh viên Từ đó giúp GV kịp thời điều chỉnh cách dạy, người học kịp thời điều chỉnh cách học, tạo điều kiện để hoạt động giảng dạy chuyển sang bước cao hơn
2.6.2 Đánh giá định kỳ
Đánh giá định kỳ được tiến hành sau khi học xong một chương lớn, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ Đánh giá định kỳ giúp GV và sinh viên nhìn lại kết quả làm việc sau một thời gian nhất định, củng cố và mở rộng những nội dung đã học, tạo cơ sở để định hướng tiếp tục cho quá trình dạy học tiếp theo
2.6.3 Đánh giá tổng kết
Đánh giá tổng kết được thực hiện vào cuối năm học, cuối khóa học hoặc cuối mỗi giáo trình nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố và mở rộng toàn bộ những điều đã học từ đầu năm học, từ đầu giáo trình; đồng thời tạo điều kiện để chuyển sang năm học mới Đánh giá tổng kết mang tính tổng hợp, có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp những thông tin công bằng về kết quả học tập của sinh viên Các kết quả này rất quan trọng đối với SV vì nó tác động trực tiếp tới việc xếp loại, công nhận đạt hay không đạt sau một quá trình học, khen thưởng…
2.7 Yêu cầu đối với đánh giá kết quả học tập
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2006), để việc đánh giá có hiệu quả thì công tác đánh giá cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp đánh giá: đòi hỏi các phương pháp đánh
giá được lựa chọn và sử dụng phải đo lường được các mục tiêu học tập đã xác định Các mục tiêu học tập rất đa dạng và được đánh giá bằng các phương pháp khác nhau Mặt khác, các phương pháp đánh giá cũng rất đa dạng và mỗi phương pháp chỉ đánh
Trang 30giá tốt một số mục tiêu học tập nhất định Do vậy để đánh giá được các mục tiêu cần
có những phương pháp đánh giá phù hợp
Để lựa chọn các phương pháp đánh giá phù hợp, người đánh giá cần phải biết rõ các phương pháp đánh giá, biết được những ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp, cách tiến hành phương pháp, yêu cầu của mỗi phương pháp
- Đảm bảo tính giá trị: đòi hỏi phải đánh giá và đo lường đúng các mục tiêu định đo
Như vậy những thông tin thu được trong đánh giá phải là những bằng chứng để đi đến kết luận phù hợp Điều này lại đòi hỏi cần có sự đầu tư cho việc thiết kế công cụ đánh giá đó là các đề kiểm tra-thi
Để xây dựng các đề kiểm tra-thi đem lại kết quả cho việc đánh giá thì trước hết người đánh giá phải đi từ các mục tiêu học tập, nội dung đánh giá phải xuất phát từ nội dung chương trình quy định và tương ứng với trình độ nhận thức của người học; đồng thời cũng cần xác định xem nội dung nào sẽ tương ứng với mục tiêu học tập nào
Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng
định mình, học để chung sống với mọi người” chính là một cách tiếp cận kỹ năng sống
trong giáo dục Đó chính là sự kết hợp các kỹ năng tâm lý xã hội với kỹ năng tâm vận động, kỹ năng thực hành Vì thế việc đánh giá không chỉ chú trọng đến kiến thức mà phải được thực hiện trên tất cả các mặt từ tư tưởng, thái độ, tác phong đến kiến thức,
kỹ năng, kỹ xão của người học
- Đảm bảo tính tính hệ thống:
Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như mọi hoạt động của con người đều có quá trình vận động và phát triển không ngừng, do vậy kết quả đánh giá chỉ có giá trị thực
sự ngay tại thời điểm đánh giá Chính vì thế, việc đánh giá người học có hệ thống, có
kế hoạch và thường xuyên
- Đảm bảo tính công khai:
Quá trình đánh giá phải được tiến hành công khai, kết quả đánh giá phải được công
bố sớm để người học kịp thời điều chỉnh cách học, người dạy kịp thời điều chỉnh cách dạy Đồng thời kết quả đánh giá cần được ghi vào sổ sách, hồ sơ để làm cơ sở, bổ sung cho những đánh giá tiếp theo
Trang 31- Đảm bảo tính hiệu quả:
Đánh giá phải cung cấp những thông tin có chính xác, có tính tin cậy khẳng định hiện trạng của đối tượng so với mục tiêu, tìm ra nguyên nhân của các sai lệch và có biện
pháp khắc phục
Ngoài ra, đánh giá phải giúp cho người đánh giá lẫn người được đánh giá nhận ra hiện trạng, tạo động lực để phấn đấu, khắc phục những hạn chế để đạt tới mức cao hơn
2.8 Các bước trong quy trình đánh giá
Tùy thuộc vào đối tượng đánh giá, cấp độ và phạm vi đánh giá mà mỗi loại hình đánh giá sẽ được tiến hành theo các mục tiêu cụ thể Một quy trình đánh giá chung thường gồm các bước sau:
Xác định mục đích đánh giá Trình bày các tiêu chuẩn đánh giá Thu thập các thông tin đánh giá Đối chiếu các thông tin đã thu thập với các tiêu chuẩn
Kết luận và đưa ra những quyết định (trích theo Trần Thị Tuyết Oanh, 2006, trang 22)
2.8.1 Xác định mục đích đánh giá
Làm bất kỳ công việc gì cũng đều nhằm mục đích, tiến trình đánh giá cũng không ngoại lệ Xác định mục đích đánh giá là khâu đầu tiên của một quy trình đánh giá, đòi hỏi phải xác định được đánh giá để làm gì, những quyết định nào sẽ được đưa ra sau khi đánh giá? Như vậy xác định mục đích đánh giá sẽ hướng dẫn các bước tiếp theo của quy trình đánh giá
2.8.2 Xác định các tiêu chí đánh giá
Lựa chọn các tiêu chí đánh giá phải căn cứ vào các dấu hiệu cơ bản, tiêu biểu cho bản chất của đối tượng thì mới đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá Để xác định được các tiêu chuẩn đánh giá, vấn đề quan trọng là cần xác định các mục tiêu
Trang 32đánh giá Mục tiêu là những cái cần phải đạt được, như vậy mục tiêu là cơ sở để đề ra các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
2.8.3 Thu thập các thông tin đánh giá
Trên cơ sở mục đích và mục tiêu đã xác định, xác định những thông tin cần thu thập, các phương pháp và các công cụ kỹ thuật thu thập thông tin cho phù hợp với mục đích và đối tượng đánh giá
2.8.4 Đối chiếu các thông tin đã thu thập với các tiêu chuẩn
Đối chiếu các thông tin thu thập được với các tiêu chuẩn ban đầu sẽ đảm bảo tính quy chuẩn, khách quan của việc đánh giá; giúp cho việc đánh giá được chính xác Đây
là giai đoạn phức tạp nên cần chú trọng để đảm bảo tính khách quan và chính xác
2.8.5 Kết luận và đưa ra những quyết định
Kết luận là công đoạn cuối cùng của quy trình đánh giá sau khi đã phân tích về định tính và định lượng
Trên cơ sở đối chiếu các thông tin thu thập với các tiêu chuẩn sẽ giúp hình thành những kết luận đúng đắn để đi đến những quyết định phù hợp Những quyết định này phải có tác dụng cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục
2.9 Thang đánh giác của Benjamin S.Bloom
Thang đánh giá của B.S.Bloom (1995) là một trong những mục tiêu giáo dục ở lĩnh vực nhận thức và được dùng phổ biến trên thế giới Theo B.S.Bloom mục tiêu giáo dục
ở lĩnh vực nhận thức được chia làm 6 phần:
Biết (Knowledge) được định nghĩa là sự nhớ, thuộc lòng, nhận biết được và có thể tái hiện các dữ liệu, các sự việc đã biết hoặc đã học được trước đây Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức
Hiểu (Comprehension) được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Điều đó thể hiện bằng việc chuyển dịch thông tin (truyền đạt lại thông tin thu nhận được bằng các thuật ngữ khác hay bằng một hình thức khác), bằng cách giải thích tài liệu (giải nghĩa hoặc tóm tắt), mô tả theo ngôn từ của mình và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng) Kết quả học tập ở cấp
độ này cao hơn so với cấp độ nhớ và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật
Trang 33 Áp dụng (Application) được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây
Phân tích (Analysis) được định nghĩa là khả năng phân chia tài liệu thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu
Tổng hợp (Synthesis) được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào các mô hình hoặc cấu trúc mới
Đánh giá (Evaluation) là khả năng xác định giá trị của tài liệu, phán quyết được
về những tranh luận, bất đồng ý kiến (tuyên bố, tiểu thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định, đó có thể là các tiêu chí bên trong (các tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định được hoặc cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác
2.10 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập
2.10.1 Phương pháp đánh giá kết quả học tập
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ chữ “Methodos” của Hy Lạp, có thể hiểu là cách thức, thủ đoạn được chủ thể sử dụng để đạt được mục đích mà mình mong muốn Với cách hiểu phương pháp như trên thì phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên là cách thức mà giáo viên sử dụng để xác định mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục
2.10.2 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập
Trang 34Có nhiều phương pháp đánh giá trong hoạt động giảng dạy, sau đây là các phương pháp đánh giá thường được dùng trong nhà trường nhằm đánh giá kết quả học tập của
- Các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thực hành và các mối quan hệ giữa sinh viên với tập thể
- Thái độ và mức độ hứng thú trong quá trình học tập và giao tiếp
- Mức độ hiểu biết trong các câu trả lời, độ chuẩn xác trong các thao tác thực hành
- Các phản ứng của sinh viên đối với một hiện tượng, một sự việc bất kỳ
Yêu cầu đối với phương pháp quan sát:
Tránh kết luận khi chỉ căn cứ vào các dấu hiệu của hành vi và lời nói Cần kết hợp vói các phương pháp kiểm tra khác để thu được kết quả toàn diện và chĩnh xác hơn
2.10.2.2 Phương pháp vấn đáp
Định nghĩa:
Phương pháp vấn đáp là phương pháp hỏi và đáp trực diện giữa giáo và sinh viên, trong đó giáo viên đưa ra những câu hỏi ngắn để sinh viên trả lời SV có thể được chuẩn bị hoặc không chuẩn bị trước câu hỏi Căn cứ vào các câu trả lời, GV có thể đo lường và chẩn đoán các kết quả mà sinh viên đạt được
Trang 35Ưu điểm:
Phương pháp vấn đáp là một phương pháp kiểm tra có tính linh hoạt và cơ động
- Nội dung kiểm tra phong phú, GV có thể hỏi thêm trong quá trình vấn đáp Do đó
GV có thể dùng để đánh giá kiến thức đã được học hoặc những kiến thức của sinh viên
- Giúp GV xác định mức độ nắm tri thức của SV một cách nhanh chóng, đồng thời giúp SV tự kiểm tra tri thức của mình kịp thời
- Lĩnh vực kiểm tra đa dạng, GV có thể kiểm tra trí nhớ, tư duy, hoặc các phẩm chất tâm lý khác
- Có thể tiến hành trong và ngoài lớp học; tại mọi thời điểm trong lớp học cũng như khi thi cuối kỳ hoặc cuối khóa
- Kích thích SV tích cực, độc lập tư duy, bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời và lối suy nghĩ, phán đoán nhanh chóng
- Giúp SV hiểu và nhớ bài lâu hơn nhờ trình bày theo qua ngôn ngữ của chính mình
Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian để kiểm tra, đánh giá
- Khó sao sánh giữa những người học do các câu hỏi đặt ra có độ khó không đều nhau, ảnh hưởng đến tính công bằng và khách quan trong đánh giá
- Kết quả đánh giá phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người hỏi cũng như tâm trạng, sự bình tĩnh của người trả lời
Yêu cầu đối với phương pháp vấn đáp:
- Câu hỏi cần phải chính xác, rõ ràng, súc tích, sát với trình độ của từng sinh viên
- Các câu hỏi phải đảm bảo tính liên tục và tính hệ thống
- Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy của SV
- Sau khi đặt câu hỏi, GV phải cho SV thời gian suy nghĩ Sau các câu trả lời của Sv,
GV phải đưa ra ngay nhận xét cụ thể, tránh đưa ra nhận xét chung chung sẽ không giúp được cho SV điều chỉnh hoạt động học tập của mình, đồng thời nhận xét phải có tác dụng khuyến khích tinh thần học tập của sinh viên
2.10.2.3 Phương pháp viết:
Trang 36Phương pháp viết là hình thức kiểm tra phổ biến được sử dụng đồng thời với nhiều sinh viên trong cùng một thời gian; thường được sử dụng sau khi học xong một phần
của chương, một chương hay nhiều chương hoặc sau khi học xong toàn bộ giáo trình
Có hai loại kiểm tra viết là trắc nghiệm tự luận (TNTL) và trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
2.10.2.3.1 Trắc nghiệm tự luận
Định nghĩa:
Trắc nghiện tự luận đòi hỏi SV phải diễn đạt kiến thức, kỹ năng bằng cách viết ra giấy trong một thời gian nhất định Thời gian ấn định phụ thuộc vào tầm quan trọng và mục đích của bài kiểm tra Dựa vào những câu trả lời được viết, GV sẽ xác định được mức độ kiến thức mà sinh viên đạt được
Có hai dạng TNTL là tự luận tự do và tự luận theo cấu trúc
- Tự luận tự do là dạng tự luận có thời gian dài, có thể là bài viết trong một vài giờ hoặc một bài tập lớn dưới dạng tiểu luận được hoàn thành sau một vài tuần chuẩn bị Câu hỏi có sự trả lời mở rộng, tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức
- Tự luận theo cấu trúc là dạng tự luận có nhiều câu hỏi hơn tự luận tự do Các câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu rõ và được ấn định điểm số Câu trả lời cho mỗi câu hỏi chỉ cần ngắn gọn, đúng trọng tâm
Ưu điểm:
- Trong cùng một thời gian có thể kiểm tra nhiều SV về một số nội dung nhất định
- Có khả năng đo lường được các mục tiêu cần thiết như biết, hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá
- SV có thời gian suy nghĩ, vận dụng được kiến thức và trình bày đầy đủ những hiểu biết của mình; đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo
- SV có điều kiện để rèn luyện kỹ năng viết, phân tích và trình bày vấn đề
- Dễ chuẩn bị câu hỏi do số lượng câu hỏi ít
Trang 37- Kết quả kiểm tra chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chữ viết, cách trình bày, cách hành văn của SV cũng như sự khắt khe, tâm trạng, sự mệt mỏi… của GV Chính vì thế
mà kết quả của điểm số có độ tin cậy không cao
Yêu cầu đối với trắc nghiệm tự luận:
- Câu hỏi đặt ra phải được diễn đạt rõ ràng, cấu trúc ngũ pháp và từ ngữ phải chính xác, phù hợp với mục tiêu học tập và nội dung đã dạy
- Thời gian và nội dung cho mỗi câu hỏi và câu trả lời phải phù hợp và được thông báo trước đến SV
- Nên tăng số câu hỏi trong bài kiểm tra, giảm độ dài ở phần trả lời của mỗi câu
- Khi tổ chức cho SV làm bài cần có những biện pháp để tránh các yếu tố gây nhiễu từ bên ngoài như ánh sáng, tiếng ồn…, đặc biệt là tránh gian lận trong khi làm bài
- Khi chấm bài cần có đáp án cụ thể, chi tiết, thang điểm cần xác định xác và cố gắng bám sát đáp án để chấm GV nên kèm theo lời phê bình, giải thích những sai lầm điển hình và giải đáp thắc mắc từ phía SV Bài làm cần được chấm nhanh để SV kịp thời sửa chữa, bổ khuyết lỗ hổng trong kiến thức
- Cần đảm bảo sự độc lập giữa người chấm và người làm bài chẳng hạn như người chấm không nên biết tên SV để đảm bảo khách quan
2.10.2.3.2 Trắc nghiệm khách quan
Định nghĩa:
TNKQ là phương pháp sử dụng bài trắc nghiệm làm công cụ để đánh giá kết quả học tập của SV theo những mục tiêu đã định trước
Các loại câu trắc nghiệm khách quan:
- Loại câu đúng – sai là loại câu có câu dẫn xác định, người làm chỉ cần trả lời là đúng hoặc sai
Ví dụ: Lai kinh tế là phương pháp lai được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi nhằm phát triển đàn giống Điều nay đúng hay sai? Đúng - Sai
- Loại câu nhiều lựa chọn là loại câu gồm phần câu dẫn và phần lựa chọn Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng tạo cơ sở cho sự lựa chọn, phần lựa chọn gồm nhiều phương án Người làm chỉ chọn phương án đúng nhất, những phương án còn lại
có tác dụng gây nhiễu
Ví dụ: Loại vi khuẩn nào dưới đây chứa vi khuẩn họ đậu?
Trang 38a Azogin
b Phốt pho bacterin
c Nitragin
d Phân lân hữu cơ
- Loại câu điền khuyết là loại câu có một câu hoặc một đoạn văn có nhiều chỗ trống Người làm phải bổ sung một từ hoặc một cụm từ hoặc một ký hiệu còn thiếu để hoàn thành câu hay đoạn văn đó
Ví dụ: Anh/ chị hãy chọn từ hoặc cụm từ thích hợp trong bảng điền vào chỗ trống cho câu sau:
Ví dụ: Ghép đôi các câu ở hai cột cho thích hợp
d Đường tâm
e Đường bao khuất cạnh khuất
Ưu điểm:
- Trong cùng một thời gian nhất định có thể kiểm tra được nhiều thí sinh
- TNKQ đo được các mức độ của nhận thức là biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng
đạt năng suất cao; chất hữu cơ; chất dinh dưỡng; thu hoạch; cung cấp; hấp phụ
Trang 39- Điểm số có độ tin cậy khá cao
- Nội dung bao quát phạm vi kiến thức
Nhược điểm:
- Khó đo lường khả năng diễn đạt, sắp xếp, trình bày ý tưởng
- Việc soạn câu hỏi khó khăn và mất nhiều thời gian
Yêu cầu đối với TNKQ:
- Khi lựa chọn phương pháp TNKQ cần căn cứ vào mục đích đánh giá, đối tượng đánh giá và các điều kiện cụ thể cũng như khả năng mà trắc nghiệm có thể đo lường và đánh giá được các mục tiêu đã xác định
- Mỗi loại câu TNKQ đều có những ưu điểm và hạn chế Vì thế khi xây dựng câu hỏi TNKQ cần chú ý đến yêu cầu của từng loại câu, các câu hỏi phải đại diện cho nội dung cần đánh giá, nên sắp xếp các câu trắc nghiệm theo từng chủ đề
- Hệ thống ngân hàng câu hỏi cần được quản lý một cách khoa học
- Cần dùng nhiều bài trắc nghiệm trong quá trình kiểm tra để tránh gian lận
- Hướng dẫn cho SV về cách thức làm bài trước khi tiến hành làm trắc nghiệm
2.10.2.4 Các phương pháp đánh giá khác
Bên cạnh sự đánh giá của GV còn có sự tự đánh giá của SV, SV đánh giá lẫn nhau Việc SV tự đánh giá bao giờ cũng có ý nghĩa hơn là chỉ có sự đánh giá một chiều từ phía GV SV tự kiểm tra, tự đánh giá mới biết được mình đã đạt được những gì Điều
đó sẽ tạo động lực cho SV phấn đấu, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế trong hoạt động học tập SV đánh giá SV khác cũng chính là tự đánh giá chính mình
Tóm lại có rất nhiều phương pháp đánh giá kết quả học tập được dùng trong nhà trường Mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định, không có phương pháp nào
là tối ưu nhất hay hạn chế nhất Tùy theo điều kiện cụ thể cũng như các mục tiêu cần
đo lường mà mõi phương pháp đều có ưu thế nhất định Do vậy cần phải lựa chọn các phương pháp đánh giá cho phù hợp với mục tiêu và điều kiện cụ thể
Trang 40Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài, NNC đã dùng các phương pháp nghiên cứu sau:
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Bất cứ một đề tài nào NNC cũng phải đọc tài liệu Đây là phương pháp cơ bản nhất, thông dụng nhất
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu thập thông tin dựa trên những thông tin đã có sẵn Nghiên cứu tài liệu sẽ giúp cho NNC bổ sung thêm kiến thức, lý luận cũng như như phương pháp mà những nghiên cứu trước đây đã sử dụng Cụ thể là NNC đã tìm đọc các sách, báo, tạp chí, ineternet…có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Sau đó NNC tiến hành phân tích, chọn lọc, tổng hợp các vấn đề có liên quan đến đánh giá kết quả học tập Phương pháp nghiên cứu tài liệu có ý nghĩa từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn kết thúc
3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu bằng cách dùng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi là một danh sách các câu hỏi và những câu trả lời tương ứng Câu hỏi được đặt ra có hai dạng là câu hỏi đóng và câu hỏi mở Câu hỏi đóng là loại câu hỏi đã có sẵn đáp án, người trả lời chỉ cần chọn đáp án phù hợp với câu trả lời của mình Câu hỏi mở là loại câu hỏi mà người trả lời tự ghi câu trả lời của mình
Trong đề tài này NNC đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi như sau:
a Thời gian: Tháng 03/2010
b Địa điểm: Một số trường Đại học trên địa bàn TP.HCM, cụ thể là:
- Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn
- Trường đại học Nông lâm TP.HCM
- Trường đại học Kỹ thuật công nghệ
c Khách thể nghiên cứu: 90 giảng viên và 450 sinh viên
d Cách tiến hành: