1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG BVMT - ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG XỬ PHẠT Ở QUẬN 12 – TP.HCM VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

72 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 668,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tôi thực đề tài đánh giá hiệu quả xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường ở Quận 12- TP.HCM để hiểu hơn rõ các quy định pháp luật về môi trường, quy định về xử lý vi phạm và hiệu

Trang 1

*************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG BVMT - ĐÁNH GIÁ VIỆC ÁP DỤNG XỬ PHẠT Ở QUẬN 12 – TP.HCM VÀ ĐỀ

XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

Họ và tên sinh viên: PHẠM THỊ THOA

Niên khóa: 2006-2010

Tháng 07/2010

Trang 2

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

Tác giả

PHẠM THỊ THOA

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Quản Lý Môi Trường

Giáo viên hướng dẫn

Th.S ĐẶNG HẢI BÌNH

Tháng 07 năm 2010

Trang 3

KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN

*****

************

PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KLTN

KHOA : MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

NGÀNH : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : PHẠM THỊ THOA MSSV: 06157170

KHÓA HỌC : 2006-2010 LỚP : DH06QM

1 Tên đề tài: Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong BVMT - Đánh giá việc áp dụng ở Quận 12 – TP.HCM và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả

2 Nội dụng khóa luận tốt nghiệp:

ƒ Nêu sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đề tài, nội dụng, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

ƒ Khái quát các quy định pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam

ƒ Đánh giá hiệu quả công cụ xử phạt hành chính trong quản lý môi trường ở Quận 12

ƒ Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả xử phạt hành chính trong bảo vệ môi trường

3 Thời gian thực hiện khóa luận: bắt đầu 03/2010, kết thúc 06/2010

4 Họ tên GVHD: ThS ĐẶNG HẢI BÌNH

Nội dung và yêu cầu của KLTN đã được thông qua Khoa và Bộ môn

Ngày 6 tháng 3 năm 2010 Giáo viên hướng dẫn

Th.S ĐẶNG HẢI BÌNH

Ngày tháng năm 2010

Ban chủ nhiệm khoa

Trang 4

i

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là thành quả của 4 năm học tập ở trường đại học Trong suốt thời gian qua, cùng với sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ gia đình, thầy cô và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn:

Các thầy cô khoa Môi trường và Tài nguyên trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm học vừa qua

Các anh chị làm việc tại phòng Tài Nguyên và Môi trường Quận 12 - TP.HCM

đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại đây

Gia đình, người thân, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, là nguồn động viên tinh thần lớn nhất để tôi hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Đặng Hải Bình, người đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện tốt khóa luận này

SV Phạm Thị Thoa

Trang 5

ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc của mọi người trong xã hội Nước ta đã ban hành Luật bảo vệ môi trường và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác quy định trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các cá nhân, tổ chức Nhưng tình trạng vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra phổ biến đặc biệt là các tỉnh, thành phố lớn có nền công nghiệp phát triển mạnh như thành phố Hồ Chí Minh

Vì vậy, tôi thực đề tài đánh giá hiệu quả xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường ở Quận 12- TP.HCM để hiểu hơn rõ các quy định pháp luật về môi trường, quy định về xử lý vi phạm và hiệu quả hoạt động xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý nhà nước

Khóa luận phân tích quá trình xử phạt và kết quả xử phạt để tìm ra vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý môi trường Từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý môi trường nước ta

Đề tài thực hiện với các nội dụng chính sau:

- Chương 1: Mở đầu

- Chương 2: Quy định pháp luật về xử phạt hành chính trong quản lý môi trường của Việt Nam

- Chương 3: Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về BVMT ở Quận 12

- Chương 4: Vấn đề tồn tại, nguyên nhân và giải pháp

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 6

iii

MỤC LỤC

Trang  

 

LỜI CẢM ƠN i 

TÓM TẮT KHÓA LUẬN ii 

MỤC LỤC iii 

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v 

DANH SÁCH CÁC BẢNG vi 

DANH SÁCH CÁC HÌNH vi 

Chương 1 1 

MỞ ĐẦU 1 

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1 

1.2 MỤC TIÊU KHÓA LUẬN 1 

1.3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2 

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2 

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3 

Chương 2 4 

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM 4 

2.1 KHÁI QUÁT VỀ LUẬT BVMT CỦA VIỆT NAM 4 

2.1.1 Phạm vi điều chỉnh của Luật BVMT 4 

2.1.2 Các nguyên tắc chủ yếu của Luật BVMT 4 

2.1.3 Vai trò của Luật BVMT 4 

2.1.4 Sự phát triển của Luật BVMT ở Việt Nam 5 

2.2 CÔNG CỤ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 7 

2.2.1 Các quy định bảo vệ môi trường 7 

2.2.2 Kiểm tra việc thực hiện pháp luật và xử phạt vi phạm 10 

2.3 XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT 10 

2.3.1 Giới thiệu 10 

2.3.2 Nguyên tắc xử phạt 11 

2.3.3 Đối tượng bị xử phạt 12 

2.3.4 Hình thức xử phạt 12 

2.3.5 Văn bản quy định về xử phạt vi phạm trong bảo vệ môi trường 13 

Chương 3 19 

HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở QUẬN 12 19 

3.1 TỔNG QUAN VỀ QUẬN 12 19 

3.1.1 Lịch sử hình thành 19 

3.1.2 Vị trí địa lý 19 

3.1.3 Đặc điểm địa chất, thủy văn 20 

3.1.4 Đặc điểm kinh tế 21 

3.1.5 Đặc điểm xã hội 22 

3.1.6 Thực trạng môi trường 22 

3.1.7 Phòng TNMT Quận 12 22 

3.2 QUÁ TRÌNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở QUẬN 12 24 

3.2.1 Kiểm tra về BVMT 25 

Trang 7

iv

3.3 KẾT QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở QUẬN 12 27 

3.3.1 Xử phạt theo Nghị định 81/2006/NĐ-CP 28 

3.3.2 Xử phạt theo Nghị định 117/2009/NĐ-CP 31 

Chương 4 33 

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ PHẠT, VẤN ĐỀ TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 33 

4.1 HIỆU QUẢ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở QUẬN 12 33 

4.2 VẤN ĐỀ TỒN TẠI 34 

4.2.1 Ý thức chấp hành pháp luật môi trường của cơ sở sản xuất chưa cao 34 

4.2.2 Thời gian xử phạt 35 

4.2.3 Quy định pháp luật 35 

4.3 NGUYÊN NHÂN 35 

4.3.1 Ý thức bảo vệ môi trường 35 

4.3.2 Nguồn lực 35 

4.3.3 Quy định pháp luật 36 

4.4 GIẢI PHÁP 38 

4.4.1 Tuyên truyền phổ biến pháp luật về môi trường 38 

4.4.2 Tăng cường nguồn lực 38 

4.4.3 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật 39 

Chương 5 40 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40 

5.1 KẾT LUẬN 40 

5.2 KIẾN NGHỊ 40 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 

PHỤ LỤC 1 

Trang 8

v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT: Bảo vệ môi trường

BPKPHQ: Biện pháp khắc phục hậu quả

CBTP: Chế biến thực phẩm

CKBVMT: Cam kết bảo vệ môi trường

CTCP: Công ty cổ phần

ĐMC: Đánh giá môi trường chiến lược

ĐTM: Đánh giá tác động môi trường

TNMT: Tài nguyên môi trường

UBND: Ủy ban nhân dân

VPHC: Vi phạm hành chánh

XPVPHC: Xử phạt vi phạm hành chánh

Trang 9

vi

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Những quy định sửa đổi, bổ sung của Nghị định 117/2009/NĐ-CP so với

Nghị định 81/2006/NĐ-CP 15 

Bảng 3.1: Số lượng cơ sở bị xử phạt ở quận 12 qua các năm 27 

Bảng 3.2 Thời gian xử lý các trường hợp vi phạm năm 2008 31 

Bảng 4.1: Tỷ lệ các trường hợp tái phạm 33 

Bảng 4.1 Dánh sánh một số trường hợp bị xử phạt từ 2 lần trở lên 34 

DANH SÁCH CÁC HÌNH HÌNH TRANG Hình 3.1: Sơ đồ quá trình xử phạt về bảo vệ môi trường 24 

Hình 3.2 Các hành vi vi phạm chính 28 

Hình 3.3: Mức độ của hành vi vi phạm 29 

Trang 10

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 1 

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở mỗi quốc gia, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thường phát sinh các vấn

đề môi trường cần phải quan tâm và giải quyết kịp thời Để đảm bảo môi trường sống của chúng ta không bị xâm hại nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã lần lượt được ban hành

Từ năm 2005 đến nay, vấn đề môi trường ngày càng được các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng quan tâm nhiều hơn Cụ thể là hàng loạt văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên và BVMT đã được ban hành phù hợp với yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong đó các văn bản xử lý vi phạm hành chính về BVMT đã góp một phần đáng kể trong việc kiểm tra, xử lý vi phạm của tổ chức, cá nhân về BVMT; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm và buộc khắc phục những tổn hại đã gây ra cho môi trường; đồng thời có tác dụng răn đe và giáo dục các cá nhân, tổ chức khác

Bên cạnh đó, công tác xử phạt vi phạm pháp luật trong quản lý môi trường của nước ta còn gặp nhiều khó khăn làm cho các văn bản pháp luật này chưa phát huy

được tác dụng như các nhà quản lý mong muốn Vì vậy đề tài “Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong BVMT - Đánh giá việc

áp dụng ở Quận 12 – TP.HCM và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả” sẽ giúp

mọi người hiểu rõ hơn về công tác xử phạt trong hoạt động quản lý môi trường hiện nay

1.2 MỤC TIÊU KHÓA LUẬN

Đề tài thực hiện với mục tiêu hướng đến là:

• Tìm hiểu các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam nói chung, các văn bản xử lý vi phạm hành chính về BVMT nói riêng Tìm hiểu các

Trang 11

1.3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

• Trình bày các nguyên tắc, hình thức và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ môi trường

• Trình bày trình tự thủ tục của quá trình xử phạt vi phạm hành chính về môi trường

• Thống kê các hành vi vi phạm chính, mức độ vi phạm của các cơ sở sản xuất ở quận 12

• Đánh giá hiệu quả hoạt động xử phạt

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

• Tham khảo tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của nước ta nói chung và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng

• Tìm hiểu, thu thập các số liệu thực tế xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường trên địa bàn Quận 12

• Tham khảo ý kiến từ các nhà quản lý chuyên môn

• Thống kê, phân tích dữ liệu thu thập được

Trang 12

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 3 

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện dựa trên việc tìm hiểu, phân tích hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý môi trường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cá nhân, tổ chức trên địa bàn Quận 12

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hiệu quả áp dụng của hai Nghị định mới nhất

về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường là Nghị định 81/2006/NĐ-CP ban hành ngày 09/08/2006 và Nghị định 117/2009/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2009

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 03/2010 đến tháng 06/2010

Trang 13

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 4 

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM

2.1 KHÁI QUÁT VỀ LUẬT BVMT CỦA VIỆT NAM

2.1.1 Phạm vi điều chỉnh của Luật BVMT

Luật BVMT là tập hợp các quy phạm pháp luật, các quy tắc xử sự điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và môi trường trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến các yếu tố môi trường nhằm đảm bảo các mục tiêu kinh tế xã hội và phát triển bền vững

2.1.2 Các nguyên tắc chủ yếu của Luật BVMT

- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và đảm bảo tiến

bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu

- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

- Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

2.1.3 Vai trò của Luật BVMT

Môi trường bị phá hoại chủ yếu là do sự tác động của con người Chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố môi trường đã làm mất cân bằng sinh thái,

Trang 14

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 5 

gây ô nhiễm môi trường Vì vậy muốn BVMT trước hết phải tác động đến con người Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ tác động rất lớn đến việc BVMT

Áp dụng các công cụ pháp luật trong quản lý môi trường đáp ứng các mục tiêu của pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường của quốc gia, đưa công tác quản lý môi trường vào nề nếp, giải quyết các tranh chấp về môi trường, các thành viên trong xã hội nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với sự nghiệp BVMT quốc gia và toàn cầu

Tuy nhiên các công cụ pháp luật thường không có tính mềm dẻo, linh hoạt Vì thế trong một số trường hợp sẽ dẫn đến phản ứng của người chấp hành, chưa phát huy tính chủ động, thiếu khuyến khích về vật chất đối với sự sáng tạo của cá nhân hoặc cơ

sở sản xuất trong các phương án giải quyết vấn đề môi trường Phương pháp này còn đòi hỏi một bộ máy tổ chức quản lý cồng kềnh và chi phí quản lý tương đối lớn

2.1.4 Sự phát triển của Luật BVMT ở Việt Nam

Ở Việt Nam, sự ra đời và phát triển của hệ thống Luật bảo vệ môi trường chậm hơn so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh Quá trình phát triển của Luật BVMT nước ta có thể chia thành 2 giai đoạn chính như sau:

2.1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1986

Giai đoạn này, Luật BVMT với tư cách là lĩnh vực riêng chưa xuất hiện Những văn bản pháp luật trong thời gian này chỉ tập trung điều chỉnh việc khai thác, sử dụng tài nguyên, vấn đề môi trường vẫn chưa được đề ra, đó là do: thời gian này, nước ta đang tập trung cho việc hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển kinh tế; các biến động của thiên nhiên do sự hủy hoại môi trường chưa thể hiện ở mức cao, sự ô nhiễm

ở các đô thị và vùng nông thôn chưa nghiêm trọng

Một số văn bản tuy không chính thức điều chỉnh các vấn đề môi trường song có liên quan đến các việc BVMT Đó là: Nghị định 36/CP ngày 11/03/1961 của hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoáng sản, thu tiền nuôi rừng; Nghị định 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồng cây gây rừng; Chỉ thị 127/CP ngày 24/05/1971 của hội

Trang 15

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 6 

đồng Chính chủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Pháp lệnh về bảo vệ rừng năm 1972

2.1.4.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay

Việc chuyển nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Sự phát triển của nền kinh tế theo hướng đổi mới đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp: đời sống người dân được cải thiện, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn

ra khá nhanh đã làm tăng sức ép môi trường ở các thành phố, thị xã

Sức ép của ô nhiễm môi trường tăng lên, những hậu quả của việc phá rừng trước đó đã bắt đầu có những dấu hiệu rõ nét: lũ quét, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng Vấn đề môi trường toàn cầu: thủng tầng ôzon, nhiệt độ trái đất nóng dần lên, thiên tai, bão lũ diễn ra phức tạp hơn trên khắp thế giới cũng như ở nước ta

Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho vấn đề BVMT trở thành thách thức lớn của toàn xã hội Việc BVMT bắt đầu được đưa vào các bộ luật: Bộ luật hàng hải

1990, Luật đất đai 1993, Luật dầu khí 1993, …quy định nghĩa vụ BVMT của các tổ chức, cá nhân khi khai thác các yếu tố môi trường

Một trong những sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của luật BVMT là vấn

đề BVMT được đưa vào Hiến pháp 1992 tại điều 29: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường” Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, hàng loạt các văn bản pháp luật cụ thể hóa việc tổ chức, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, BVMT đã lần lượt được ban hành Đặc biệt ngày 27/12/1993 Quốc hội đã thông qua Luật BVMT đầu tiên, Luật gồm 7 chương, 55 điều

Từ năm 1993 trở đi, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BVMT của Việt Nam đã được thành lập và không ngừng hoàn thiện Các văn bản pháp luật về BVMT cũng có nhiều sửa đổi, bổ sung

Qua hơn 10 năm thi hành, Luật BVMT đã góp phần quan trọng trong việc hạn chế những tác động tiêu cực trong việc phát triển kinh tế xã hội đối với môi trường

Trang 16

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 7 

thông qua việc nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về môi trường Tuy nhiên, việc thực hiện Luật BVMT 1993 có nhiều điều hạn chế và bất cập Hiêu lực thi hành của luật BVMT còn thấp, nhiều điều luật và quy định không rõ ràng hoặc nhanh chóng trở nên lạc hậu do tốc độ phát triển và hiện đại hóa của đất nước Do đó, Luật BVMT đã được sửa đổi, thông qua ngày 29/12/2005 và chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2006 Với 15 chương, 136 điều Luật BVMT 2005 quy định chi tiết, cụ thể

về hoạt động BVMT; chính sách, biện pháp và nguồn lực BVMT; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong BVMT

2.2 CÔNG CỤ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Công cụ pháp luật thuộc nhóm công cụ chỉ huy và kiểm soát (CAC: command and control) trong quản lý môi trường Công cụ chỉ huy và kiểm soát là một trong những công cụ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Như tên gọi của chúng, công cụ CAC gồm khía cạnh chỉ huy và khía cạnh kiểm soát, nghĩa là nguyên tắc chính của công cụ CAC là có một bên luôn đặt ra yêu cầu, mệnh lệnh hay chỉ huy đồng thời họ cũng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành, tuân thủ các yêu cầu đã được đặt ra

Quá trình áp dụng các công cụ pháp luật để quản lý môi trường được thực hiện theo trình tự sau:

• Nhà nước định ra luật, các văn bản dưới luật và đặc biệt là các tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn môi trường, các quy định cần phải thực hiện, các loại giấy phép môi trường,

• Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sử dụng quyền hạn của mình

để tiến hành giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm nhằm cưỡng chế tất cả cơ sở sản xuất, cá nhân và mọi thành viên trong xã hội tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường

2.2.1 Các quy định bảo vệ môi trường

Trên cơ sở hiến pháp và pháp luật, Chính phủ và các cơ quan chức năng Nhà nước vạch ra các mục tiêu, định hướng lớn; các chiến lược phát triển bền vững đất

Trang 17

2.2.1.1 Tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường

Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường

Tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường là công cụ chính để trực tiếp điều chỉnh chất lượng môi trường quốc gia, các đô thị và khu công nghiệp Tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường giúp cho cơ sở sản xuất xác định các mục tiêu môi trường, đặt ra chỉ tiêu số lượng hay nồng độ cho phép của các chất thải vào trong môi trường khí quyển, nước, đất hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng

Các loại tiêu chuẩn, quy chuẩn được dùng làm quy chiếu để cơ quan chức năng đánh giá và kiểm soát pháp lý về mặt ô nhiễm và để các doanh nghiệp làm mục tiêu hành động cho nhà máy mình Do đó, các tiêu chuẩn, quy chuẩn luôn gắn với các quy định về hình phạt, như phạt tiền với các doanh nghiệp vi phạm các quy định về môi trường và có thể dẫn đến thu hồi giấy phép

2.2.1.2 Giấy phép môi trường

Các loại giấy phép môi trường do các cấp chính quyền hoặc cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp theo quy định chung của pháp luật Hiện nay, tại TP.HCM đang lưu hành một số loại giấy phép môi trường khác nhau như: quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt đề án bảo vệ môi trường, giấy xác nhận cam kết bảo vệ môi trường, …

Trang 18

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 9 

Việc cấp hay không cấp giấy phép môi trường là một trong các công cụ quan trọng để tiến hành kiểm soát ô nhiễm Để được cấp giấy phép, cơ sở sản xuất không chỉ cần đạt tiêu chuẩn môi trường mà còn phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể như phù hợp với quy phạm kỹ thuật, quy hoạch vị trí, trang thiết bị xử lý và kiểm soát ô nhiễm

Ưu điểm của giấy phép là văn bản hóa tất cả các nhiệm vụ kiểm soát và xử lý ô nhiễm của cơ sở sản xuất, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất ghi nhớ việc thực thi các chương trình hành động Tuy nhiên việc sử dụng các loại giấy phép thường yêu cầu phải có chế độ giám sát và báo cáo thường xuyên về những hoạt động có liên quan

2.2.1.3 Kiểm soát môi trường

Kiểm soát môi trường là một biện pháp quan trọng trong công tác quản lý môi trường bằng công cụ pháp lý Kiểm soát môi trường chính là kiểm soát ô nhiễm, là khống chế ô nhiễm bằng cách ngăn ngừa, giảm thiểu hay loại bỏ chất thải ngay từ nguồn, làm sạch ô nhiễm, thu gom, tái sử dụng, xử lý chất thải, phục hồi thiệt hại môi trường do ô nhiễm gây ra,

Kiểm soát nguồn thải: các nguồn thải bao gồm cả rắn, lỏng, khí và tiếng ồn Để kiểm soát nguồn thải, việc đầu tiên cần tiến hành là kiểm kê nguồn thải, phân tích, đánh giá tính chất và mức độ gây ô nhiễm môi trường của mỗi nguồn thải Nếu phát hiện các nguồn thải lớn và có tính nguy hại cao, cơ quan quản lý môi trường cần tiến hành các thủ tục xem xét thẩm định cẩn thận và cấp giấy phép xả thải cho các cơ sở sản xuất Ngược lại, cơ sở sản xuất phải bảo đảm thực hiện đúng các điều đã đăng ký hoặc các điều khoản quy định trong giấy phép Cơ quan quản lý môi trường cần phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát, đánh giá lại nguồn thải để tránh tình trạng gia tăng khối lượng chất thải hoặc thiệt hại đáng kể Hiện nay các cơ sở sản xuất thực hiện kiểm soát ô nhiễm thường xuyên, liên tục và được thể hiện trong các báo cáo giám sát môi trường định kỳ của cơ sở đó

Kiểm soát việc sử dụng tài nguyên: nhằm giới hạn mức khai thác tài nguyên ở mức hợp lý, bảo đảm khả năng tự phục hồi, duy trì nguồn tài nguyên lâu dài

Trang 19

Vậy, ĐTM là một quá trình nghiên cứu nhằm nhận dạng, dự báo và phân tích những tác động môi trường của một dự án và cung cấp những thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định ĐTM được sử dụng để phòng ngừa và làm giảm thiểu những tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên, qua đó làm tăng tối đa lợi ích của các dự án phát triển kinh tế xã hội, góp phần phát triển bền vững của một quốc gia

2.2.2 Kiểm tra việc thực hiện pháp luật và xử phạt vi phạm

Trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước về môi trường thì kiểm tra của các cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm: phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm; phát hiện vi phạm pháp luật và xử lý chủ thể vi phạm pháp luật đó theo quy định Một trong những biện pháp xử lý vi phạm pháp luật thường gặp là xử phạt vi phạm hành chính

2.3 XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT

2.3.1 Giới thiệu

Xử phạt vi phạm hành chính là một trong các biện pháp xử lý vi phạm hành chính Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi

cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải

là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính (theo Khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002)

Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi

vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu

Trang 20

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 11 

trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26, 27 của Pháp lệnh XLVPHC Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Điều 127 Luật BVMT năm 2005 có quy định về xử lý vi phạm như sau: “Người vi phạm pháp luật về BVMT thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Trong đó, những người vi phạm pháp luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền

Hiện nay, hoạt động xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT cũng như các lĩnh vực khác đều phải tuân theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm

2008

2.3.2 Nguyên tắc xử phạt

- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay Việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật

- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật quy định Việc xử phạt phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật

- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị

xử phạt Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Việc xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp

- Không xử phạt trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần

Trang 21

- Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo quy định của pháp luật;

- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị

xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác

• Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

• Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Trang 22

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 13 

- Biện pháp khắc phục hậu quả: ngoài các hình thức xử phạt được quy định trên,

cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

• Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép;

• Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;

• Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;

• Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại;

• Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo quy của Chính phủ

Người nước ngoài vi phạm hành chính còn có thể bị xử phạt trục xuất Trục xuất được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể

2.3.5 Văn bản quy định về xử phạt vi phạm trong bảo vệ môi trường

Cùng với Luật BVMT, nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật và xử lý vi phạm có vai trò quan trọng trong quản lý và BVMT của nước ta Từ khi Luật BVMT đầu tiên ra đời vào năm 1993 đến nay, Chính phủ đã ban hành 4 Nghị định quy định xử lý vi phạm hành chính về BVMT:

• Nghị định 26/CP ngày 26-4-1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về BVMT

• Nghị định 121/2004/NĐ-CP ngày 12-5-2004 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

• Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 9-8-2006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Trang 23

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 14 

• Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31-12-2009 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT

2.3.5.1 Nghị định 26/CP

Là nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về BVMT đầu tiên của nước

ta, được ban hành 3 năm sau khi Luật BVMT năm 1993 ra đời Nghị định gồm 5 chương, 30 điều Trong đó, 14 điều quy định các hành vi vi phạm liên quan đến các nội dụng như: ĐTM, kê khai các hoạt động ảnh hưởng môi trường; bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; khai thác, kinh doanh động vật quý hiếm; thải chất thải rắn, lỏng, khí không qua xử lý đạt tiêu chuẩn ra môi trường; giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ, thiết bị, hóa chất độc hại; xuất nhập khẩu chất thải; phòng tránh

sự cố môi trường trong ngành dầu khí; chất thải phóng xạ; sử dụng nguồn phát bức xạ; vận chuyển, xử lý nước thải, rác thải; ô nhiễm đất; tiếng ồn, độ rung; hoạt động liên quan đến pháo; khắc phục sự cố môi trường

Nghị định đã quy định khá đầy đủ các nội dung yêu cầu của Luật BVMT 1993, nhưng chưa phân cấp các hành vi vi phạm thành nhiều cấp độ khác nhau Sau hơn 8 năm áp dụng, Nghị định 26 đã không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nước ta, đòi hỏi Chính phủ phải ban hành nghị định khác thay thế

2.3.5.2 Nghị định 121/2004/NĐ-CP

Nghị định 121/2004/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 121) gồm 5 chương, 35 điều Trong đó, 17 điều quy định các hành vi vi phạm được chia thành 2 nội dung cơ bản là: thực hiện đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, báo cáo ĐTM và các quy định khác về BVMT; thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường Nghị định 121 đã có phân cấp các mức độ vi phạm dựa theo số lần vượt tiêu chuẩn môi trường, nhưng chưa phân cấp dựa theo lưu lượng và khối lượng chất thải

2.3.5.3 Nghị định 81/2006/NĐ-CP

Nghị định 81/2006/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 81) được ban hành căn cứ vào Luật BVMT 2005 vì vậy có nhiều điểm khác biệt so với hai nghị định trước đó Nghị định 81 gồm 5 chương, 44 điều Trong đó, 25 điều quy định các hành vi vi phạm,

Trang 24

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 15 

trong mỗi điều lại chia thành nhiều khoản với nhiều cấp độ khác nhau dựa vào số lần vượt tiêu chuẩn môi trường của các thông số môi trường và dựa vào lưu lượng khác nhau của chất thải

Nghị định 81 được đánh giá là quy định khá đầy đủ và chi tiết các hành vi vi phạm hành chính về BVMT Sau hơn 3 năm áp dụng Nghị định này đã không còn phù hợp với điều kiện mới của nước ta Vì vậy, ngày 31/12/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 81

2.3.5.4 Nghị định 117/2009/NĐ-CP

Nghị định 117/2009/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 117) được ban hành ngày

31-12-2009, có 4 chương, 61 điều; có hiệu lực thi hành từ ngày 01-03-2010 Về nội dung, Nghị định 117 có nhiều điểm mới so với Nghị định 81 Nghị định 117 quy định mở rộng, cụ thể hơn về phạm vi điều chỉnh, mức độ vi phạm, hành vi vi phạm, thẩm quyền

xử phạt, khung tiền phạt, thời hiệu và biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể là:

Bảng 2.1 Những quy định sửa đổi, bổ sung của Nghị định 117/2009/NĐ-CP so với

Nghị định 81/2006/NĐ-CP Nghị định 81/2006/NĐ-CP Nghị định 117/2009/NĐ-CP

Tên Xử phạt vi phạm hành chính về

BVMT

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT

Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính: cơ sở gây ô nhiễm MT, cơ sở gây ô nhiễm MT nghiêm trọng

đề án BVMT

Trang 25

* Hành vi gây ô nhiễm môi trường

* Vi phạm các quy định quản lý chất thải

* Vi phạm trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên nhiên liệu, vật liệu, phế liệu

* Vi phạm trong hoạt động du lịch, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

Tiền phạt Tối đa là 70.000.000 đồng Tối đa là 500.000.000 đồng

BPKPHQ 05 biện pháp khắc phục hậu quả 12 biện pháp khắc phục hậu quả Thẩm

Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn a) Phạt tiền đến 2.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ Chủ tịch UBND quận, huyện;

a) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ

Chủ tịch UBND quận, huyện a) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ Chủ tịch UBND tỉnh

a) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép

Chủ tịch UBND tỉnh a) Phạt tiền đến 500.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép

Trang 26

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 17 

d) Tạm thời đình chỉ hoạt động e) Buộc di dời

f) Cấm hoạt động Thẩm

Thanh tra viên a) Phạt tiền đến 500.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ Chánh thanh tra Sở TNMT

a) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép môi trường

Chánh thanh tra Sở TNMT a) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép môi trường

Chánh thanh tra Bộ TNMT

a) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép môi trường

Chánh thanh tra Bộ TNMT a) Phạt tiền đến 500.000.000 đồng b) Buộc thực hiện BPKPHQ c) Tước quyền sử dụng giấy phép môi trường

Nghị định 117 đã quy định thêm nhiều điểm mới so với Nghị định 81 Cụ thể là:

Điều 41, Nghị định 117 quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của công an nhân dân:

• Chiến sỹ Cảnh sát môi trường phạt tiền đến 200.000 đồng,

• Trưởng công an cấp xã phạt tiền đến 2.000.000 đồng,

• Trưởng công an cấp huyện, Trưởng phòng Cảnh sát môi trường cấp tỉnh phạt tiền đến 10.000.000 đồng,

Trang 27

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 18 

• Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường phạt tiền đến 500.000.000 đồng Tại chương 3, Nghị định 117 quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục áp dụng các hình thức tạm thời đình chỉnh hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động, công khai thông tin đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó:

• Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định áp dụng hình thức tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo thẩm quyền

• Thủ tướng Chính phủ quyết định hình thức buộc di dời, cấm hoạt động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc thẩm quyền chấp nhận đầu tư của Thủ tướng Chính phủ

Nghị định 117 quy định mới về biện pháp cưỡng chế (gồm 05 biện pháp), các trường hợp bị cưỡng chế (gồm 03 trường hợp), thủ tục ban hành quyết định cưỡng chế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, chỉ đạo thực hiện quyết định cưỡng chế, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế

Trang 28

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 19 

Chương 3 HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở

QUẬN 12

3.1 TỔNG QUAN VỀ QUẬN 12

3.1.1 Lịch sử hình thành

Quận 12 được công bố thành lập ngày 01/04/1997 theo Nghị định

03/1997/NĐ-CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Hiệp, và một phần xã Tân Chánh Hiệp, một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc Huyện Hóc Môn trước đây Quận có 11 phường, gồm: Thạnh Lộc (TL), Hiệp Thành (HT), Thới An (TA), Thạnh Xuân (TX), Tân Chánh Hiệp (TCH), Tân Thới Hiệp (TTH), Tân Thới Nhất (TTN), An Phú Đông (APĐ), Trung Mỹ Tây (TMT), Đông Hưng Thuận (ĐHT) và Tân Hưng Thuận (THT) được tách ra từ phường Đông Hưng Thuận

Tổng diện tích đất tự nhiên là 5.274ha, dân số 395.790 người (tháng 03/2009) Quận 12 có 3 khu vực phát triển kinh tế xã hội tương đối rõ nét:

• Khu vực 1: gồm các phường Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Trung Mỹ Tây, Tân Thới Nhất là khu vực đang có tốc độ đô thị hóa nhanh

• Khu vực 2: gồm các phường Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp, Hiệp Thành và một phần phường Thới An là khu vực đang từng bước đô thị hóa

• Khu vực 3: gồm các phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân và một phần phường Thới An là khu vực nông nghiệp đang chuẩn bị tiền đề cho quá trình đô thị hóa

3.1.2 Vị trí địa lý

Quận 12 nằm phía Bắc TP.HCM với vị trí địa lý như sau:

Trang 29

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 20 

• Phía Bắc giáp Huyện Hóc Môn

• Phía Đông giáp Huyện Thuận An - Tỉnh Bình Dương và Quận Thủ Đức bởi sông Sài Gòn

• Phía Nam giáp Quận Gò Vấp, Quận Tân Bình, Quận Bình Thạnh, Quận Bình Tân và Quận Tân Phú

• Phía Tây giáp Quận Bình Tân, Huyện Hóc Môn

Quận 12 nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc của thành phố nối liền với tỉnh Tây Ninh

và Campuchia bằng tuyến đường xuyên Á, trong tương lai quận sẽ trở thành đầu mối giao thông quan trọng của thành phố trong việc giao thương với các nước thuộc ASEAN bằng đường bộ Thuận lợi về giao thông này tạo điều kiện cho quận phát triển mạnh mẽ về thương mại dịch vụ Bên cạnh đó, là quận ven vừa tiếp giáp các huyện ngoại thành vừa tiếp giáp với các quận trung tâm thành phố, Quận 12 trong tương lai

sẽ trở thành vùng đệm quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội khu vực Tây Bắc thành phố HCM

3.1.3 Đặc điểm địa chất, thủy văn

Quận có 2 khu vực địa hình khác biệt rõ rệt: khu vực phía Tây của quận địa hình gò triền, nền đất tốt, thuận lợi phát triển xây dựng các công trình công nghiệp, thương mại, nhà ở kiên cố cao tầng; khu vực phía Đông của quận địa hình thấp, có nhiều sông rạch đan cắt nhau, nền đất yếu thích hợp xây dựng các công trình thấp tầng, mật độ xây dựng thưa thoáng, thuận lợi phát triển đô thị xanh phục vụ du lịch, giải trí, nghỉ ngơi

Nguồn nước mặt trên địa bàn quận khá phong phú do hệ thống sông rạch cung cấp Các sông, kênh rạch chính là: sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, kênh Tham Lương, rạch Bến Cát, rạch Bến Thượng, rạch Cầu Dừa,…Tài nguyên nước khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái

Nguồn nước ngầm khá phong phú đặc biệt tại các phường thuộc phía Tây rạch Bến Cát có độ sâu phổ biến 20-50m, ở một số khu vực có độ sâu 30-100m Nước

Trang 30

“Thương mại - Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp”

Năm 2005, tỷ trọng sản xuất công nghiệp chiếm 41,43%, thương mại dịch vụ là 56,37%, nông nghiệp là 2,2%

Nông – lâm – ngư nghiệp: do tiến trình đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp dần, giảm mạnh nhất là đất trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2005 đạt 61,475 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hành năm là -0,01% Trong đó, giá trị sản xuất ngành trồng trọt có khuynh hướng giảm dần, ngược lại ngành chăn nuôi có khuynh hướng tăng lên

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: giá trị sản lượng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2005 là 1.155,692 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 19,36% Tập trung chủ yếu vào một số ngành là dệt, may, sản xuất thực phẩm, chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, thuộc da, sản xuất túi xách, da giày, sản xuất sản phẩm

từ kim loại, trong đó thế mạnh là dệt, may, da giày

Thương mại – dịch vụ: tổng mức luân chuyển hành hóa và doanh thu dịch vụ năm 2005 là 1.572,243 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hành năm là 19,11%

Trang 31

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 22 

Trong đó, ngành thương mại – dịch vụ ngoài quốc doanh là chủ yếu, chiếm 99,3%, thương mại – dịch vụ quốc doanh chiếm 0,7%

3.1.5 Đặc điểm xã hội

Dân số trung bình trên địa bàn Quận 12 năm 2005 là 297.563 người, với tổng số

hộ là 70.383 hộ, mật độ dân số trung bình là 5.641 người/km2 Do ảnh hưởng quá trình

đô thị hóa, mật độ phân bố dân cư không đều ở các phường, tại phường Đông Hưng Thuận có mật độ dân cư cao nhất là 12.320 người/km2, phường Thạnh Xuân, An Phú Đông có mật độ dân cư thấp nhất là 1.926 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Quận 12 năm 2005 là 1,2% Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu của các ngành kinh tế, cơ cấu lao động đã có sự chuyển biến đáng kể, các ngành công nghiệp va thương mại thu hút ngày càng nhiều lao động từ các ngành nông nghiệp chuyển sang Nhìn chung đời sống nhân dân trong quận ngày càng được nâng cao với thu nhập bình quân đầu người hành năm luôn tăng và số hộ nghèo chiếm tỷ lệ ngày càng giảm

3.1.6 Thực trạng môi trường

Thời gian qua công tác bảo vệ và cải tạo môi trường trên địa bàn Quận 12 có những bước tiến đáng kể, thực trạng môi trường được cải thiện ngày càng tốt hơn Tuy nhiên, do đặc thù quận mới được thành lập đang trên đà đô thị hóa, hạ tầng

kỹ thuật giao thông đô thị chưa theo kịp tốc độ tăng dân số, tình trạng ngập úng cục bộ xuất hiện khi mưa lớn kết hợp với triều cường Với đặc thù của một huyện ngoại thành trước đây, tình hình chăn nuôi quy mô hộ gia đình trong các khu dân cư hiện vẫn còn tồn tại đã gây ô nhiễm môi trường Vấn đề xử lý nước thải và khí thải công nghiệp chưa triệt để làm ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe dân cư và môi trường sinh thái trong quận

3.1.7 Phòng TNMT Quận 12

Phòng TNMT quận trực thuộc UBND quận 12, trụ sở UBND quận tại số 1, đường Lê Thị Riêng, phường Thới An, quận 12 Phòng TNMT là cơ quan tham mưu giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNMT trên địa bàn quận,

Trang 32

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 23 

thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND quận và theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương Phòng TNMT chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của

Sở TNMT TP.HCM Phòng TNMT gồm các tổ:

• Tổ Tài nguyên: có nhiệm vụ giải quyết các hồ sơ thuộc lĩnh vực đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng mục đích sử dụng đất, đo đạc bản đồ địa giới hành chính, các hồ sơ liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản, …

• Tổ Tổng hợp: có nhiệm vụ tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ liên quan đến công tác của các tổ chuyên môn

• Tổ Pháp chế: Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc thanh tra, kiểm tra thi hành pháp luật về đất đai; các tranh chấp, khiếu nại tố cáo về môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản, khí tượng, thủy văn; phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc thanh tra, kiểm tra thi hành pháp luật về môi trường

• Tổ Môi trường: gồm có 4 cán bộ, có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề phòng chống khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm, sự cố môi trường; giải quyết kịp thời các khiếu nại, phản ánh về ô nhiễm môi trường trên địa bàn; tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn thi hành pháp luật và các quy định về BVMT như: tổ chức đăng ký và xác nhận đăng ký cam kết bảo vệ môi trường; tiếp nhận hồ sơ và xác nhận đề án BVMT đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tương ứng quy mô cam kết BVMT; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về BVMT trên địa bàn theo thẩm quyền

UBND cấp phường, mỗi phường có 1 cán bộ công chức Địa chính - Xây dựng

là người có trách nhiệm quản lý các vấn đề môi trường trên toàn phường

Trang 33

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 24 

Lưu hồ sơ

Kiểm tra chấp hành

Quyết định xử phạt

Triển khai quyết định

Kiểm tra

Phân tích mẫu

Lập biên bản vi phạm

Có vi phạmKhông vi phạm

Hình 3.1: Sơ đồ quá trình xử phạt về bảo vệ môi trường

Trang 34

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 25 

3.2.1 Kiểm tra về BVMT

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT, cán bộ chuyên trách về môi trường phải thường xuyên tổ chức kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật về BVMT của cá nhân, cơ sở sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là cơ sở) trên địa bàn theo quy định Quá trình kiểm tra phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật liên quan, gồm các bước sau:

3.2.1.1 Chuẩn bị kiểm tra

- Chọn đối tượng kiểm tra là các cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý

- Quyết định kiểm tra: quyết định kiểm tra về việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại các cơ sở được thể hiện bằng văn bản theo quy định Hoạt động kiểm tra có thể là kiểm tra định kỳ việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường; kiểm tra đột xuất khi có tố cáo, kiến nghị về MT của nhân dân hoặc khi phát hiện cơ sở có dấu hiệu vi phạm pháp luật về MT

- Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, chuẩn bị thiết bị tài liệu liên quan cho công tác kiểm tra

- Thành lập đoàn kiểm tra: gồm cán bộ chuyên trách về môi trường của Sở, Phòng TNMT, nhân viên trung tâm công nghệ môi trường, đại diện cán bộ UBND địa phương nơi cơ sở hoạt động,…

3.2.1.2 Kiểm tra tại cơ sở

- Kiểm tra hồ sơ, chứng từ của cơ sở về BVMT gồm: hồ sơ kỹ thuật hệ thống xử

lý nước thải, khí thải; báo cáo giám sát môi trường đợt gần nhất; giấy xác nhận đăng

ký CKBVMT, hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (nếu hoạt động của cơ

sở có phát sinh chất thải nguy hại),… Kiểm tra hiện trường hệ thống xử lý nước thải, khí thải,…

- Đo đạt, phân tích thông số môi trường: Trường hợp cần phân tích các thông số môi trường thì nhân viên trung tâm phân tích môi trường tiến hành đo các thông số môi trường tại chỗ hoặc tiến hành lấy mẫu về trung tâm công nghệ môi trường phân tích Sau khi nhận được kết quả phân tích các thông số môi trường, cán bộ chuyên

Trang 35

Sau khi kiểm tra phát hiện có hành vi vi phạm thì cán bộ đoàn kiểm tra yêu cầu

cơ sở chấm dứt hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định Biên bản vi phạm hành chính về BVMT được lập với sự có mặt của đối tượng vi phạm Biên bản được lập thành ít nhất 2 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký tên vào và giao cho người hoặc tổ chức vi phạm một bản

- Triển khai quyết định xử phạt: cơ quan xử phạt phải giao quyết định xử phạt cho người hoặc tổ chức vi phạm trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ký để thi hành, việc giao quyết định xử phạt này phải được ghi lại bằng biên bản Cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành QĐXP trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được giao QĐXP, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Quá thời hạn này, cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành QĐXP thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định

Trang 36

SVTH: Phạm Thị Thoa Trang 27 

Sau khi ban hành và triển khai quyết định xử phạt, cơ quan nhà nước phải theo dõi và kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của các cơ sở bị xử phạt để đảm bảo quyết định xử phạt đã ban hành được chấp hành nghiêm

3.3 KẾT QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BVMT Ở QUẬN 12

Trong hoạt động quản lý môi trường cấp quận, các cá nhân đại diện cơ quan quản lý địa phương sau đây có thẩm quyền kiểm tra, xử phạt vi phạm về bảo vệ môi trường theo quy định pháp luật: Chủ tịch UBND phường, Chủ tịch UBND quận, Chủ tịch UBND tỉnh, thanh tra viên và chánh thanh tra thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường, chiến sĩ Cảnh sát môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát môi trường thuộc Công

an TP.HCM, Trưởng Công an phường, Trưởng Công an quận Thực tế các quyết định

xử phạt về môi trường chỉ được ban hành bởi 3 cá nhân trong số 9 cá nhân kể trên: Chủ tịch UBND quận, Chủ tịch UBND TP.HCM, Chánh thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường

Ủy ban nhân dân Quận 12 là cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, xử phạt

vi phạm về môi trường đối với cá nhân, cơ sở hoạt trên địa bàn quận Thanh tra Sở TNMT có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ quy định bảo vệ môi trường đối với các

cơ sở hoạt động trên địa bàn TP.HCM Trường hợp vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của hai cơ quan này thì Chủ tịch UBND TP.HCM sẽ ban hành quyết định xử phạt

Bảng 3.1: Số lượng cơ sở bị xử phạt ở quận 12 qua các năm

Cơ quan xử phạt Số cơ sở bị xử phạt

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w