Kết quả thu được: Tính đa dạng sinh học: VQG Lò Gò – Xa Mát có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đặc trưng, nhiều loài động thực vật quý hiếm đặc hữu, cảnh quan đẹp, còn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT NHỮNG GIÁ TRỊ ĐA
DẠNG SINH HỌC VÀ ĐỀ XUẤT CÁC HƯỚNG GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU SINH THÁI TẠI
VQG LÒ GÒ - XA MÁT
Họ và tên sinh viên: PHẠM THỊ TỐ TÂM Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Niên khóa: 2006 - 2010
Tháng 5/ 2010
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT NHỮNG GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐỀ XUẤT CÁC HƯỚNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG LÕ GÕ – XA MÁT
Tác giả Phạm Thị Tố Tâm
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư chuyên
ngành Quản Lý Môi Trường và Du Lịch Sinh Thái
Giáo viên hướng dẫn
TS Hồ Văn Cử
Tháng 5 năm 2010
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường và Tài nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báo và tận tình giúp đỡ tôi trong 4 năm học vừa qua
Xin cảm ơn tất cả những người thân, bạn bè đã giúp đỡ hoàn thành tốt nội dung khóa luận của mình
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu điều tra khảo sát những giá trị đa dạng sinh học và đề xuất các hướng giải pháp quản lý để phát triển bền vững DLST tại VQG Lò Gò – Xa Mát” được thực hiện tại VQG Lò Gò – Xa Mát từ tháng 2/2010 đến tháng 6/2010 Nội dung
đề tài gồm 5 chương:
Chương 1 - Mở đầu: Giới thiệu mục đích và phạm vi, địa điểm nghiên cứu,
nội dung và giới hạn của đề tài
Chương 2 - Phương pháp nghiên cứu: tổng quan về các phương pháp được
sử dụng trong đề tài
Chương 3 - Tổng quan: Giới thiệu sơ lược những vấn đề lý luận về đa dạng
sinh học và các vấn đề về du lịch sinh thái
Chương 4 - Kết quả và thảo luận: giới thiệu những thông tin cơ bản về VQG
Lò Gò – Xa Mát: điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; tiềm năng và những lợi thế cho việc phát triển DLST; cũng như hiện trạng về hoạt động DLST
Chương 5 - Đề xuất giải pháp: sau khi đã nắm rõ được các vấn đề lý luận,
hiện trạng của Vườn tiến hành đề xuất các giải pháp: về cơ chế chính sách, giải pháp
tổ chức quản lý và đào tạo nguồn nhân lực, giải pháp thị trường, giải pháp xã hội, bảo
vệ và tôn tạo các nguồn tài nguyên để đảm bảo cho hoạt động DLST được bền vững
Chương 6 - Kết luận và khuyến nghị: đưa ra các kết luận và kiến nghị về việc
phát triển DLST bền vững
Kết quả thu được:
Tính đa dạng sinh học: VQG Lò Gò – Xa Mát có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đặc trưng, nhiều loài động thực vật quý hiếm đặc hữu, cảnh quan đẹp, còn có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia
Hoạt động DLST tai VQG chỉ đang trong giai đoạn hình thành
Cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, nguồn vốn, cơ chế chính chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển hoạt DLST tại VQG Lò Gò – Xa Mát
Trang 5MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH BẢNG viii
Chương 1: 1
MỞ ĐẦU 1
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4.1.Địa điểm nghiên cứu 2
1.4.2.Đối tượng nghiên cứu 2
Chương 2: 3
TỔNG QUAN 3
2.1.ĐA DẠNG SINH HỌC 3
2.1.1.Định nghĩa 3
2.1.2 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học 3
2.2 HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 4
2.2.1.Định nghĩa 4
2.2.2 Phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên 5
2.2.3 Mục tiêu quản lý của các khu bảo tồn thiên nhiên 5
2.3 DU LỊCH SINH THÁI 5
2.3.1 Định nghĩa 5
2.3.2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 6
2.3.3 Những yếu tố thiết yếu đối với việc tổ chức du lịch sinh thái thành công 7
2.3.4 Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam 7 Chương 3: 9
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
3.2 THAM KHẢO HỆ THỐNG BẢN ĐỒ HIỆN CÓ 9
Trang 63.4 PHÂN TÍCH TỔNG HỢP PHÂN TÍCH HỆ THỐNG 9
3.5 PHÂN TÍCH SƠ ĐỒ SWOT 10
3.6 PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA 10
Chương 4: 11
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
4.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TẠI VQG LÕ GÕ – XA MÁT 11
4.1.1.Vị trí địa lý 11
4.1.2.Điều kiện tự nhiên 12
4.1.3 Kinh tế - xã hội 12
4.2 TIỀM NĂNG VÀ LỢI THẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG LÕ GÕ – XA MÁT 13
4.2.1 Vị trí 13
4.2.2 Tài nguyên động thực vật rừng 14
4.2.3 Tài nguyên nhân văn 18
4.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG LÒ GÒ – XA MÁT 20
4.3.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của VQG Lò Gò – Xa Mát 20
4.3.2 Các phân khu chức năng 22
4.3.3 Thực trạng về du lịch sinh thái của VQG Lò Gò – Xa Mát 23
4.3.4 Khả năng tham gia các hoạt động du lịch của cộng đồng địa phương 25
4.3.5 Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường 29
4.3.6 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch sinh thái tại VQG Lò Gò – Xa Mát 34
Chương 5: 38
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 38
5.1 GIẢI PHÁP CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 38
5.2 GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 39
5.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của VQG Lò Gò – Xa Mát 39
5.2.2 Đào tạo nguồn nhân lực làm du lịch sinh thái 40
5.2.3 Quản lý hoạt động du lịch 40
5.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG (TIẾP THỊ) 41
5.3.2 Xác định thị trường và khách hàng mục tiêu gắn với du lịch bền vững và du lịch sinh thái 41
5.3.3 Tuyên truyền quảng bá sản phẩm du lịch sinh thái đến thị trường mục tiêu đã xác định 42
5.4 GIẢI PHÁP XÃ HỘI 42
Trang 75.4.1 Giáo dục cộng đồng 42
5.4.2 Sự tham gia của công đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái 43
5.5 GIẢI PHÁP CƠ SỞ HẠ TẦNG 44
5.6 GIẢI PHÁP BẢO VỆ, TÔN TẠO CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊCH 45
5.6.1 Phát triển du lịch bền vững về kinh tế 45
5.6.2.Phát triển du lịch bền vững về tài nguyên 46
5.7 TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN 47
Chương 6: 48
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 48
6.1 KẾT LUẬN 48
6.2 KHUYẾN NGHỊ 48
6.2.1 Đối với UBND tỉnh Tây Ninh 48
6.2.2.Đối với VQG Lò Gò – Xa Mát 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CITES Kế hoạch hành động đa dạng sinh học
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
WTO Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế
WWF Quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Hình 4.1: Vị trí VQG Lò Gò – Xa Mát
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu trình độ cán bộ VQG Lò Gò – Xa Mát
Biểu đồ 4.2: Các hình thức tác động vào rừng của người dân địa phương
Biểu đồ 4.3: Nhận thức người dân về lợi ích của rừng Lò Gò – Xa Mát
Biểu đồ 4.4: Những vấn đề có ảnh hưởng lớn tới bảo tồn của VQG hiện nay
Biểu đồ 4.4: Các hoạt động người dân mong muốn tham gia khi DLST phát triển Biểu đồ 4.6: Lợi ích của DLST mang đến cho người dân
Bảng 4.1: Những giá trị tiềm năng của VQG Lò Gò – Xa Mát
Bảng 4.2: Sơ đồ SWOT về công tác tổ chức quản lý tại VQG Lò Gò – Xa Mát
Bảng 4.3: Sơ đồ SWOT về hoạt động DLST VQG Lò Gò – Xa Mát
Trang 10Nhưng do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu khoa học, khai thác quá mức, khai thác có tính hủy diệt, sử dụng không bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, do sức ép sự gia tăng dân số, đói nghèo, phát triển kinh tế, sự du nhập của loài mới, loài ngoại lai, ô nhiễm môi trường và khí hậu…đã làm cho nhiều hệ sinh thái trong đó rõ nhất là hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học nhất bị suy giảm, kéo theo sự suy giảm về thành phần và số lượng các loài động thực vật
Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học, năm 1993 Việt Nam đã
kí công ước quốc tế về đa dạng sinh học, 22/12/1995 chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động đa dạng sinh học (BAP), 20/01/1994 kí công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) cho đến nay Việt Nam đã lập một danh sách các khu bảo tồn thiên nhiên gồm 60 khu bảo tồn đất ngập nước, 15 khu bảo tồn biển, 126 khu rừng đặc dụng trong đó có 27 vườn quốc gia, 49 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo vệ loài và sinh cảnh, 39 khu bảo vệ cảnh quan
Các khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập nhằm mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học và phục vụ tham quan du lịch Hiện nay các khu bảo tồn và VQG đang xây dựng và phát triển nhiều loại hình DLST với mục đích bảo tồn
đa dạng sinh học, phát triển môi trường sinh thái cũng đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương Song hoạt động phát triển DLST chưa mang lại nhiều hiệu quả cao, chỉ mang tính hình thức do chưa đánh giá đúng thực trạng tiềm năng của khu vực, nhu cầu của người dân địa phương cũng như nhu cầu của khách tham quan
VQG Lò Gò – Xa Mát thuộc tỉnh Tây Ninh với diện tích 18.803ha là nơi có tính
đa dạng sinh học cao với sự đa dạng về các sinh cảnh tự nhiên trong đó có nhiều sinh
Trang 11cảnh đẹp với nhiều loài động thực vật quý hiếm, nơi đây còn có giá trị sinh thái nhân văn cao Kết hợp với thuận lợi về vị trí địa lý là những điều kiện phù hợp cho sự phát triển hoạt động DLST tại VQG Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác đúng mức, việc tổ chức các hoạt động du lịch chưa được đồng bộ, nguồn nhân lực và tài chính còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan Là những nguyên nhân chính khiến VQG Lò Gò – Xa Mát chưa phát huy được tiềm năng vốn có
Để góp phần phát triển DLST, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương
và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, bảo tồn ĐDSH tại khu vực, tôi đã thực hiện đề
tài “Nghiên cứu điều tra khảo sát những gía trị đa dạng sinh học và đề xuất biện pháp quản lý để phát triển bền vững DLST tại VQG Lò Gò – Xa Mát.”
1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá tổng quan về tính đa dạng sinh học tại VQG Lò Gò – Xa Mát
Khảo sát tiềm năng phát triển DLST tại Vườn
Khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển DLST
Đề xuất các biện pháp quản lý để phát triển bền vững DLST và sử dụng nó như một công cụ để bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Lò Gò – Xa Mát
1.3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Cấp độ nghiên cứu: Nghiêm cứu để đề xuất giải pháp trong quản lý để phát triền bền vững DLST
Giới hạn: Nghiên cứu khảo sát hiện trạng và tiềm năng phát triển DLST
1.4 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.4.1.Địa điểm nghiên cứu
VQG Lò Gò – Xa Mát tỉnh Tây Ninh
1.4.2.Đối tượng nghiên cứu
Giá trị văn hóa – xã hội
Giá trị tự nhiên: tài nguyên động vật, tài nguyên thực vật, sinh thái cảnh quan, sinh thái nhân văn
Hiện trạng hoạt động DLST ở VQG Lò Gò – Xa Mát
Trang 12Định nghĩa do quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF (1989) đề xuất: “Đa dạng sinh học là sự phồn vinh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái
vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
ĐDSH còn được định nghĩa là sự đa dạng giữa các sinh vật từ tất cả các nguồn, vùng trời, vùng đất, vùng biển, các hệ sinh thái thủy vực nội địa và các phức hệ sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng trong mõi loài, giữa các loài và các
hệ sinh thái (IUCN, 1994) Đây là định nghĩa về ĐDSH được nhiều quốc gia chính
thức chấp nhận và được sử dụng trong công ước ĐDSH [11]
2.1.2 Tầm quan trọng của đa dạng sinh học
Tầm quan trọng của ĐDSH được thể hiện qua ba giá trị sau:
Giá trị sinh thái môi trường
Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người Các
hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa Duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước, điều hòa khí hậu, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm và giảm thiên tai, đồng thời phân hủy chất thải
Giá trị kinh tế
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nêu khái quát ở các mặt sau:
Trang 13 Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên ĐDSH
ĐDSH đảm bảo cơ sở an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về ăn mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản
Góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất
Giá trị xã hội nhân văn
Sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa gắn liền với ĐDSH
Tạo nhận thức đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẫm mĩ cho người dân Qua đó biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu, nhiều hương vị của thế giới Sinh vật con người trở nên hiền hòa và yêu cái đẹp
ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối với thế
hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước
ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người
ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm, thỏa mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn mặc, nhà ở, tham quan du lịch và thẩm mĩ [9]
2.2 HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
2.2.1.Định nghĩa
Khu bảo tồn thiên nhiên
Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản của các khu bảo tồn thiên nhiên:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển, được khoanh vùng để bảo vệ ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm, được quản lý bằng công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994 )
Vườn quốc gia
Theo hệ thống phân hạng BTTN thế giới (IUCN): VQG là những khu vực rộng lớn có
vẻ đẹp thiên nhiên (ở bờ biển hay ở đất liền) được giữ gìn để bảo vệ một hoặc một vài
hệ sinh thái đặc biệt, đồng thời dùng cho các mục đích giáo dục, nghiêm cứu khoa học,
Trang 14nghĩ ngơi giải trí và tham quan du lịch (IUCN) Các VQG là một khu vực được bảo vệ theo quy định của IUCN loại II [9]
2.2.2 Phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên
IUCN đã đưa ra một hệ thống gồm 6 hạng
Hạng I : Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt / Khu bảo vệ hoạng dã
Hạng II : Vườn quốc gia
Hạng III : Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên
Hạng IV : Khu bảo tồn loài / sinh cảnh
Hạng V : Khu bảo tồn cảnh quan đất liền / biển
Hạng VI : Khu bảo tồn kết hợp sự bền vững tài nguyên [9]
2.2.3 Mục tiêu quản lý của các khu bảo tồn thiên nhiên
Mục tiêu quản lý của các khu bảo tồn thiên nhiên rất đa dạng và phong phú Sau đây là một số mục tiêu chính:
Nghiêm cứu khoa học
Bảo vệ đời sống hoang dã
Bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen
Duy trì các dịch vụ môi trường
Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa
Du lịch và nghĩ dưỡng
Giáo dục
Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên
Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống [9]
2.3 DU LỊCH SINH THÁI
2.3.1 Định nghĩa
2.3.1.1 Du lịch sinh thái
DLST là một loại hình du lịch mới và đang có xu hướng phát triển nhanh chóng
ở nhiều quốc gia trên thế giới DLST (Ecotourism) là một khái niệm rộng được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau
DLST Hector Ceballos-lascurain đưa ra năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiêm cứu, tham
Trang 15quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [1]
Hiệp hội DLST quốc tế (WTO): “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [1]
Định nghĩa chính xác nhất và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999):
“DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người” [1]
Tổng cục Du lịch Việt Nam, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [1]
2.3.2.2 Du lịch sinh thái bền vững
DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai
“Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức” (Allen K 1993) [1]
2.3.2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua
đó tạo ý thức tham gia vào nổ lực bảo tồn Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, tạo ra sự khác biệt giữa DLST và các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác
Bảo vệ môi trừơng và duy trì các hệ sinh thái Là vấn đề được ưu tiên hàng đầu
để phát triển DLST bền vững
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa bản địa Có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tác hoạt động của DLST
Trang 16Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng đến của DLST [1]
2.3.3 Những yếu tố thiết yếu đối với việc tổ chức du lịch sinh thái thành công
Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên
Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan tổ chức của chính phủ
Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương
Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả nhà điều hành tour tư nhân
Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên
Giáo dục những người tham gia về vai trò của họ trong công tác bảo tồn
Sẽ không thể có DLST nếu như không có thiên nhiên (được bảo vệ tốt) và sựhấp dẫn của thiên nhiên để thưởng thức [1]
2.3.4 Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam
Mặc dù có tiềm năng lớn, nhưng DLST ở các KBTTN Việt Nam đang ở giai đoạn bắt đầu phát triển và chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển DLST ở các khu BTTN Việt Nam
là thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch DLST Các hoạt động du lịch tại các khu BTTN ở Việt Nam còn mang tính tự phát, chưa có sản phẩm thị trường và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển cồng nghệ phục vụ cho DLST [8]
Ở nước ta hiện nay mới chỉ tổ chức được một số hoạt động du lịch dựa vào việc khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:
Du lịch tham quan, nghiêm cứu ở một số khu BTTN đặc biệt là các VQG
Du lịch thám hiểm, nghiêm cứu vùng núi cao như Phanxipang (Lào Cai)
Du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông Cửu Long
Tổ chức các cuộc hành trình bằng xe đạp, xe máy xuyên Việt để tham quan tìm hiểu cảnh quan thiên nhiên, con người Việt Nam
Du lịch về thăm chiến trường xưa
Trang 17Xét về nội dung và cách thức tổ chức thì hoạt động du lịch ở các khu BTTN hiện nay thuộc loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên có định hướng DLST
DLST đang trở thành trào lưu phát triển mạnh mẽ tại các khu bảo tồn, VQG ở Việt Nam nhằm làm tăng những giá trị bền vững về mặt kinh tế, bảo tồn và nâng cao nhận thức của người dân vùng đệm VQG Lò Gò – Xa Mát có nhiều tiềm năng về ĐDSH và những giá trị về văn hóa lịch sử, vì vậy cần xây dựng một chiến lược đúng đắn để phát triển du lịch một cách bền vững
Trang 18Chương 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn: Thu thập các số liệu thống kê, các báo cáo nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của các dự án bảo tồn, phát triển kinh tế xã hội,
du lịch từ các viện nghiên cứu, trường đại học, các tài liệu, số liệu thống kê do VQG cung cấp
Quá trình nghiên cứu tài liệu giúp ta xác định được các cơ sở lý luận, quan điểm
về vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững DLST
3.2 THAM KHẢO HỆ THỐNG BẢN ĐỒ HIỆN CÓ
Đây là phương pháp không thể thiếu đối với các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan tới lãnh thổ, đặc biệt là địa học, du lịch, môi trường và công tác khảo sát thực địa
Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự phân bố lãnh thổ của VQG, sự phân bố của hệ động thực vật, các hệ sinh thái đặc thù, thuận lợi của vị trí địa lý, đặc biệt là sơ đồ các tuyến du lịch
3.3 ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VÀ KHẢO SÁT THỰC ĐỊA
Khảo sát thực địa có mục đích kiểm tra, chỉnh lý và bổ sung những tư liệu đã thu thập đươc Giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình thực tế ở VQG
Điều tra xã hội học giúp thu thập những ý kiến đóng góp từ nhà quản lý, du khách và người dân, đem lại các yếu tố khách quan để đánh giá hiện trạng hoạt động DLST tại VQG
3.4 PHÂN TÍCH TỔNG HỢP PHÂN TÍCH HỆ THỐNG
Những số liệu, thông tin thu thập được phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu những đặc trưng cơ bản về giá trị ĐDSH, cảnh quan thiên nhiên, văn hoá và hiện trạng
tổ chức, quản lý hoạt động du lịch của VQG Lò Gò – Xa Mát
Dựa trên các kết quả điều tra nghiên cứu, các báo cáo tổng kết hàng năm của VQG, những thông tin thu thập sẽ được phân tích để làm rõ tiềm năng, cơ hội – thách thức trong hoạt động du lịch sinh thái của VQG, từ đó xây dựng các nhóm giải pháp
Trang 19nhằm khắc phục các khó khăn, thách thức trong hoạt động DLST tại Vườn Các nhóm giải pháp tập trung chủ yếu vào nhóm giải pháp tổ chức, quản lý các hoạt động và phát triển du lịch sinh thái của VQG Lò Gò – Xa Mat
3.5 PHÂN TÍCH SƠ ĐỒ SWOT
Việc sử dụng sơ đồ SWOT sẽ làm rõ thực trạng về những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển du lịch sinh thái tại VQG Lò Gò – Xa Mát Thông qua việc phân tích sơ đồ SWOT, những nguyên nhân dân đến những điểm yếu, thách thức đối với việc phát triển hoạt động du lịch tại VQG sẽ được nhân diện để
từ đó có định hướng khắc phục và phát huy những cơ hội, điểm mạnh của Vườn
SƠ ĐỒ SWOT
Thể hiện những thuận lợi, ưu thế của
VQG trong việc phục vụ hoạt động
DLST
Hạn chế liên quan đến cơ sở hạ tầng, công tác tổ chức DLST của VQG Lò
Gò – Xa Mát
Nêu lên được những điều kiện thuận lợi
để VQG Lò Gò – Xa Mát có thể phát
huy được DLST
Dự báo những tác động xấu đến du lịch, cảnh quan, môi trường, tài nguyên thiên nhiên
3.6 PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
Sau quá trình phân tích tổng hợp phân tích hệ thống đã đề xuất được giải pháp cho hoạt động DLST tại Vườn, ta cần tiến hành tham khảo ý kiến của các chuyên gia Các chuyên gia sẽ giúp ta chỉnh lý quá trình diễn giải, đánh giá kết quả và đưa ra đề xuất trong đề tài
Tham vấn những người có chuyên môn sâu và hiểu biết rộng đã và đang làm trong lĩnh vực du lịch
Trang 20Chương 4:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TẠI VQG LÕ
Trang 21 phía bắc và tây giáp Campuchia, phía tây giới hạn bằng sông Vàm Cỏ Đông
phía Đông giáp vùng nông nghiệp thuộc Tân Lập – Tân Bình
phía Nam giáp vùng nông nghiệp Hòa Hiệp [4]
4.1.2.Điều kiện tự nhiên
Khu vực Lò Gò – Xa Mát có nguồn gốc địa chất đơn giản Nền địa chất tại khu vực VQG thuộc trầm tích đệ tứ có tuổi Pleistocene thuộc hệ tầng Mộc Hóa và Holocene thuộc Holocene thượng và hạ, trầm tích sông và đầm lầy, không có trầm tích trung thuộc trầm tích biển tại khu vực này
VQG Lò Gò - Xa Mát có địa hình gần như bằng phẳng, thay đổi trong khoảng 5 – 20m rải rác có những gò cao với độ cao không vượt quá 25m so với mực nước biển
Cả vùng có độ dốc trung bình 1o -
5 o do vậy VQG có địa hình gần như bằng phẳng như
là kiểu của bậc thềm sông Vàm Cỏ Đông
Thành phần thổ nhưỡng của VQG Lò Gò –Xa Mát bao gồm: đất phù sa cổ (đất xám điển hình), đất phù sa sông suối (đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng), đất phù sa có tầng laterit và đất xám đọng mùn tầng mặt
Khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt Với các đặc trưng khí hậu:
Lượng mưa trung bình/ năm: 1800mm Phân bố không điều giữa các tháng, thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10
Nhiệt độ trung bình/ năm: 26,90 C Biên độ nhiệt giữa các tháng không cao
Bốc hơi nước trung bình/ năm: 1.100-1.200mm
Hệ thống sông suối có các sông Vàm Cỏ Đông, suối Đa Ha và các suối khác chỉ có nước vào mùa mưa [4]
4.1.3 Kinh tế - xã hội
VQG Lò Gò – Xa Mát có tổng diện tích vùng đệm là 18.600 ha, nằm trên địa bàn hành chính của 4 xã Tân Bình, Tân Lập, Hoà Hiệp và Thạnh Tây huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh Theo kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn cư dân đều sinh sống trong và quanh vùng đệm, hoặc có một số ít sống trong vùng lõi của VQG Tổng dân số các xã vùng đệm là 31.331 người với 8.131 hộ trong đó: 22,32% là hộ nghèo; 26,09% hộ trung bình và 51,59% là hộ giàu (thông tin chi tiết tại: Bảng 1 - Phụ lục 3)
Dân tộc chủ yếu ở khu vực là người Kinh với 7.806 hộ chiếm 97,0%; Khơmer
Trang 22Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của nhân dân các xã, có khoảng từ 95% người dân sống bằng nghề nông, chăn nuôi quy mô nhỏ và làm thuê theo mùa vụ Một bộ phận dân cư vẫn còn sống lệ thuộc vào đất rừng và các lâm sản ngoài gỗ, tạo
80-áp lực lớn cho công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Nhìn chung đời sống đại đa số người dân xung quanh VQG còn gặp nhiều khó khăn (chi tiết: Bảng 2 - Phụ lục 3) [4]
4.2 TIỀM NĂNG VÀ LỢI THẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG
LÒ GÒ – XA MÁT
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, VQG Lò Gò – Xa Mát được ban tặng nguồn tài nguyên động thực vật phong phú, những vẻ đẹp tự nhiên đến bất ngờ, những mảng màu sắc rực rỡ hệ sinh thái rừng, hệ thống sông, suối và bầu trời…Không chỉ có vậy VQG Lò Gò – Xa Mát còn được chú ý đến như một di tích lịch sử và văn hóa
4.2.1 Vị trí
Tây Ninh là tỉnh có vị trí thuận lợi, cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km, cách thành phố du lịch Vũng Tàu khoảng 200 km Khi đường Hồ Chí Minh hoàn thành, Tây Ninh sẽ nối với Buôn Ma Thuột và các tỉnh Tây Nguyên Tây Ninh còn nối với các tỉnh miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh bằng đường thủy, trên sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Mặt khác, Tây Ninh cách Thủ đô Phnom Pênh, nơi có nhiều cảnh quan du lịch nổi tiếng của Campuchia không xa khoảng 170km Con đường xuyên Á hoàn thành, việc thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi hơn
và là cơ hội để phát triển du lịch
VQG Lò Gò – Xa Mát có vị trí sát với biên giới Việt Nam – Campuchia, có hàng chục km đường biên giới với Campuchia và có thể thông thương với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á bằng cửa khẩu chính là Xa Mát và các cửa khẩu phụ Chàng Riệc, Tân Phú và Cây Gõ VQG Lò Gò – Xa Mát còn nằm trong khu quy hoạch kinh tế cửa khẩu Xa Mát của tỉnh Tây Ninh việc quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát theo hướng hiện đại sẽ đem lại thị trường du khách cho dịch vụ DLST của Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát
Ngoài ra VQG còn nằm trong chuổi các khu du lịch văn hóa, lịch sử như Trung ương cục Miền Nam, Núi Bà Đen, hồ nước Dầu Tiếng và Tòa Thánh Tây Ninh …nên
sẽ dễ dàng phối hợp với các công ty du lịch trong tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh trong việc liên doanh, liên kết tổ chức các tour du lịch sinh thái
Trang 23Với vị trí thuận lợi như vậy sẽ tạo nhiều cơ hội để phát triển du lịch không chỉ ở mức độ trong nước mà còn cả trong khu vực
4.2.2 Tài nguyên động thực vật rừng
VQG Lò Gò – Xa Mát nằm ở vị trí chuyển tiếp từ vùng Đông Nam Bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long, có các dạng địa hình đồi thấp, bàu, trảng đất ngập nước theo mùa, các sông, rạch tự nhiên những đặc trưng đó chỉ có ở VQG Lò Gò -
Xa Mát mà các VQG khác không có, nó chi phối và liên quan đến sự phân bố của thảm thực vật rừng, đa dạng sinh học của VQG Lò Gò - Xa Mát Các kiểu rừng tồn tại trong VQG Lò Gò – Xa Mát bao gồm:
Kiểu rừng nguyên sinh và thứ sinh thường xanh cây lá rộng theo mùa
Kiểu rừng sao dầu thứ sinh trên đất ngập nước theo mùa
Kiểu rừng khô thưa thứ sinh ngập nước theo mùa trên đất ngập nước ưu thế họ Sao dầu (Dipterocarpaceae) và tràm (Melaleuca)
Kiểu rừng khô ngập nước theo mùa ưu thế tràm và cây bụi gai
Trảng cỏ ngập nước theo mùa
Rừng thứ sinh cây bụi trảng cỏ ngập nước ven sông, lòng suối
Chính sự đa dạng về cảnh quan thiên nhiên đã tạo nên sự đa dạng về thành phần thực vật, động vật cho VQG Lò Gò – Xa Mát
Đa dạng về thành phần thực vật rừng
Diện tích rừng tự nhiên là 13.636 ha chiếm hơn 73 % diện tích của VQG, là khu vực có t lệ diện tích rừng tập trung lớn nhất của tỉnh Tây Ninh.Hệ thực vật rừng của VQG Lò Gò- Xa Mát mang tính đặc trưng của các sinh cảnh chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Nơi đây có các quần thể cây họ Dầu đặc trưng của miền Đông Nam Bộ, rừng Khộp của Tây Nguyên, quần thể tràm và sinh cảnh đất ngập nước của Đồng bằng Sông Cửu Long Dưới đây là đặc điểm các kiểu thảm thực vật VQG Lò Gò – Xa Mát (Bảng 1 - Phụ lục 2)
Các kết quả nghiên cứu về thực vật rừng ở VQG Lò Gò - Xa Mát đã xác định được 694 loài thuộc 5 ngành thực vật, 60 bộ, 115 họ và 395 chi Ngành Ngọc Lan
(Magnoliophyta) là ngành có nhiều loài thực vật nhất (chiếm 97,1% trong tổng số loài
thực vật).(chi tiết: Bảng 3 - Phụ lục 2)
Trang 24VQG Lò Gò – Xa Mát có 28 loài lan thuộc 19 chi Nhóm địa lan có củ sống trong đất theo mùa, được xem là đặc trưng cho thảm cỏ rừng ưu thế sao dầu thưa hỗn giao với các loài cỏ Một số loài địa lan thường gặp như hà biện mũi (Habenaria rostrata), Habenaria sp và bạch phượng tua (Pecteilis susannae) cho thấy tính riêng biệt khu hệ thực vật và thảm của VQG Lò Gò – Xa Mát Loài Pecteilis susannae là một trong những loài địa lan đẹp nhất của vùng Đông Nam Á, loài địa lan này rất hiếm
mà vẫn đuợc tìm thấy tại Vườn là một điều lý thú và xứng đáng có sự quan tâm bảo vệ cần thiết tránh nguy cơ khai thác Còn các loài phong lan như Còn các loài phong lan như thanh đạm mụt(Coelogyne lentiginosa), sư trăm (Dendrobium leonis) và vi túi tái
(Micropera pallid) là loài hiếm và không được tìm thấy nơi nào khác tuy nhiên chúng lại khá phổ biến tại đây
Khu hệ thực vật của VQG còn bao gồm một số lượng đáng kinh ngạc các loài cây bắt côn trùng Có thể kể đến như bắt ruồi (Drosera burmannii), trư lung thảo (Nepenthes mirabilis), N thorelii và Utricularia spp.
Một loài dây leo bì sinh khá đặc trưng là loài dây tổ kiến (Dischidia rafflesiana )
được quan sát khá dễ dàng tại VQG cho thấy sự biến đổi lý thú của hình thái lá, chúng được biến đổi thích nghi có dạng bình chứa nước, dự trữ nước cho mùa khô Trong rễ của chúng lại có cấu trúc dạng bình để hấp thu nước duy trì sự tồn tại của chúng trong điều kiện khô hạn Đây cũng là một đối tượng rất hay về ĐDSH để giới thiệu cho du khách
Khu hệ thực vật của VQG Lò Gò – Xa Mát còn bao gồm một số lượng lớn các loài thủy sinh, bán thủy sinh và mọc gần bờ nước Một số loài đã quan sát được trong mùa mưa trên các trảng ngập nước như thủy trang (Hydrocera triflora), Ottelia sp., Utricularia sp., Rotala sp., Villarsia rhomboidalis, Nymphaea sp Và Monochoria sp
Các loài thực vật quý hiếm như: Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Gõ đỏ (Pahudia cochichinensis), Giáng hương (Pterocarpus pedantus), Mun (Diospyros mun), Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri), Trai (Fagraea fragrans), Căm xe (Xylia dolabriformis), Gõ mật Sindora cochichinensis), …
Các loài thực vật đặc hữu và cận đặc hữu tại Vườn gồm 3 nhóm:
Trang 25 Nhóm1: có Habenaria rostrata, Pectelis susannae, Dendrobium leonis, Micropera pallida (Orchidaceae) phân bố hẹp giới hạn trong các kiểu rừng ưu
thế họ sao dầu thuộc Nam Đông Dương từ vùng đồng bằng Thái Lan đến Campuchia và một phần nhỏ của Việt Nam
Nhóm 2: Colona auriculata (Tiliaceae), Dalechampia falcate (Euphorbiaceae), Decaschistia parviflora (Malvaceae) là các loài đặc hữu của Việt Nam và vùng
lân cận bên Campuchia
Nhóm 3: Malleola seidenfadenii (Orchidaceae), Phoenx loureiroi (Arecaceae), Villarsia rhomboidalis (Menyanthaceae) là các loài đặc hữu của phía Đông Đông dương kể cả Việt Nam và một phần của Lào và Campuchia
Đa dạng về thành phần động vật rừng
Khu hệ động vật rừng của VQG Lò Gò - Xa Mát vừa mang những đặc điểm của
khu hệ động vật vùng Đông Nam Bộ như sự phân bố của các loài thú móng guốc, vừa
mang những đặc điểm của khu hệ động vật vùng đồng bằng sông Cửu Long như phân
bố của các loài chim nước, các loài bò sát ở các khu vực đất ướt, trảng cỏ, đất ngập nước theo mùa
Khu hệ động vật ở VQG Lò Gò – Xa Mát đã thống kê được 29 loài thú của 7
bộ, 149 loài chim thuộc 15 bộ và 40 họ, có 56 loài bò sát thuộc về 2 bộ và 15 họ, 23 loài ếch nhái thuộc 2 bộ, 6 họ, hệ côn trùng ở VQG Lò Gò - Xa Mát gồm 128 taxa côn trùng thuộc về 9 bộ, có 88 loài cá thuộc 26 họ và 10 bộ với những đặc điểm cụ thể sau:
VQG Lò Gò-Xa Mát là một trong những vùng chim quan trọng của Việt Nam,
là nơi phân bố của những loài chim quí hiếm, phân bố hẹp, đặc hữu vùng, những loài đang bị nguy cấp hay bị đe dọa ở cấp quốc gia và qui mô toàn cầu như: Gà lôi hông tía
(Lophura diardi), Già đẫy Ja va (Leptoptilos javanicus), Chích chạch má xám (Macronous kelleyi), Sếu cổ trụi (Sếu đầu đỏ) (Grus antigone sharpii), Cò nhạn (Anastomus oscitans), Hạc cổ trắng (Ciconia episcopus), Đuôi cụt bụng vằn (Pitta elliotii) và Sả mỏ rộng (Halcyon capensis) Nơi đây còn là nơi dừng chân của một số
loài chim di cư đặc biệt là sếu đầu đỏ Dưới đây là những vùng phân bố và các loài thường gặp trong từng sinh cảnh (Bảng 6 - Phụ lục 2)
Nếu như ở phía Bắc ếch nhái thường trú đông thì ở VQG Lò Gò – Xa Mát, ếch
Trang 26không phù hợp (nguồn nước cạn kiệt, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp) nên tìm nơi trú ẩn Tính hoạt động theo mùa (trú khô) cũng là một nét đặc trưng của khu hệ ếch nhái tại
Vườn Mặc dù chỉ có 1 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2000) ở bậc VU là ếch giun (Ichthyophis bannanicus) nhưng ếch nhái ở VQG Lò Gò – Xa Mát vẫn còn có nhiều giá trị khoa học và kinh tế khác Loài nhái bầu vẽ (Micrhyla picta) là đặc hữu của Vườn, loài nhái (Fejervarya limnocharis) là một đối tượng chính được khai thác
làm thực phẩm
Bò sát VQG Lò Gò –Xa Mát có 18 loài quý hiếm, chiếm 32.1% số loài bò sát trong khu vực Trong đó, có 12 loài có trong Nghị định 32/2006; 10 loài có trong danh lục của CITES 2002; 16 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2000; và 5 loài trong danh lục của IUCN Đặc biệt có 9 loài ở mức nguy cấp (EN) và 1 loài (hổ mang chúa
Ophiophagus hannah) ở mức cực kỳ nguy cấp (RN) (Chi tiết: Bảng 7 - Phụ lục 2)
Các loài thú trong bộ Linh trưởng đã được ghi nhận trong Sách Đỏ Thế giới
(IUCN, 2005): Voọc chà vá chân đen (Pygathrix nigripes), Voọc bạc (Trachypithecus margarita), Khỉ đuôi dài (Macaca f Fascicularis), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Cu
li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) Các loài được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam: Dơi chó tai ngắn (Cynopterus brachyotis), Mễn (Muntiacus m Annamensis), Mèo rừng (Prionailurus bengalensis), Chồn Bạc má (Melogale personata), Sóc đen (Ratufa bicolor), Cheo (Tragulus javanicus), Nhím bờm (Acanthion brachyurus), Sóc bay trâu (Petaurista philippensis)
VQG cũng đã xác định 5 / 88 loài cá có tên trong sách Đỏ Việt Nam, 2000 và danh lục Đỏ Việt Nam, 2004 (theo tiêu chuẩn mới của IUCN)
Cảnh quan thiên nhiên
VQG Lò Gò- Xa Mát mang tính đặc trưng của các sinh cảnh chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Chính những đặc trưng về sinh cảnh đó đã tạo nên những cảnh quan riêng của VQG được thể hiện qua
hệ sinh thái trảng cỏ ngập nước theo mùa và hệ sinh thái rừng thưa trên đất ngập nước
Trảng cỏ ngập nước theo mùa
Hệ sinh thái trảng cỏ tự nhiên ngập nước theo mùa độc đáo có diện tích trên 4.000 ha với nhiều bàu trảng như: trảng Tà Nốt, trảng Tân Thanh, trảng Bà Điếc, trảng
Trang 27Cố Vấn… Bàu Đưng Lớn, Bàu Đưng Nhỏ, Bàu Quang…Đất ngập nước xen kẽ trong rừng (dạng khảm) có giá trị về nhiều mặt: cảnh quan tươi đẹp, đa dạng sinh học và môi trường Kiểu thảm thực vật này đóng góp đáng kể vào sự đa dạng về hệ sinh thái của khu vực, đa dạng về các loài động vật thủy sinh và là sinh cảnh quan trọng quyết định đến các loài thú lớn ăn cỏ và các loài chim nước thông qua việc cung cấp nơi cư trú, thức ăn và nước uống Tại các trảng cỏ còn hiện diện một lọai cây thuốc đặc hữu có giá trị lớn, có thể thu hái phục vụ chữa bệnh cho nhân dân, đó là cây nhân trần Tây Ninh(Adenosma bracteosum)
Trên khu vực ngập nước của Vườn còn có quần thể cây tràm nước (Melaleuca cajuputi), được xem là một Đồng tháp Mười thu nhỏ
Rừng thưa trên đất ngập nước theo mùa
Tại VQG Lò Gò –Xa Mát có cảnh quan tương tự rừng khộp ở Tây Nguyên với loài cây ưu thế là dầu trà beng, dầu lông, sơn huyết, sổ… và một số lòai thảm tươi hạ mộc khác Điều đặc biệt là hầu hết diện tích rừng khộp của Vườn đều bị ngập nước theo mùa, thời gian ngập nước trong năm kéo dài từ 2-4 tháng, khi nước rút đi, mùa khô bắt đầu, đó cũng là lúc nhiều lòai hoa dại, lan đất (địa lan) nở hoa tạo thành thảm hoa nhiều màu sắc rất tuyệt vời Nhiều loài có phân bố hẹp và không tìm thấy ở những
vùng khác của Việt nam như loài hà biện mũi (Habenaria rostrata), Habenaria sp., bạch phượng tua (Pecteilis susanae), trong đó loài Pecteilis susanae là một trong
những loài địa lan hiếm và đẹp nhất vùng Đông Nam Á [4]
4.2.3 Tài nguyên nhân văn
Trong khu vực VQG và vùng phụ cận có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia:
Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam
Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam
Căn cứ Ban An Ninh Trung ương Cục Miền Nam
Căn cứ Mặt trận Giải phóng Miền Nam
Đài Phát thanh Giải phóng, Hãng Phim Giải phóng
Nhà in Trần Phú
Thông tấn xã Giải phóng
Ngoài ra còn có nền văn hóa của các dân tộc Khmer, Hoa…
Trang 28Đây là nơi có giá trị bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa, tham quan du lịch, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau [10]
Tóm lại với vị trí địa lý thuận lợi và nhiều giá trị đặc trưng của VQG Lò Gò –
Xa Mát chính là tiềm năng để có thể phát triển du lịch sinh thái tại VQG Lò Gò – Xa Mát Tiềm năng phát triển DLST của VQG Lò Gò – Xa Mát có thể tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 4.1: Những giá trị tiềm năng của VQG Lò Gò – Xa Mát
Tiềm năng Những giá trị nổi bật
Vị trí
Giao thông thông suốt, thuận tiện
Nằm trong chuổi các khu du lịch văn hóa, lịch sử của Tây Ninh Thời gian đi lại ít
Nằm trong khu quy hoạch kinh tế cửa khẩu Xa Mát
Nằm trong khu vực cửa khẩu quốc tế có thể thông thương với các nước trong khu vực
Rất dể thu hút khách du lịch sinh thái và các nhà đầu từ Thành phố
Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận
Cảnh quan
Có nhiều khu vực được các loài chim nước tập trung với số lượng lớn hàng năm
Hệ sinh thái trảng cỏ tự nhiên ngập nước theo mùa độc đáo
Trên khu vực ngập nước của Vườn còn có quần thể cây tràm nước
(Melaleuca cajuputi), được xem là một Đồng tháp Mười thu nhỏ
Rừng khộp ngập nước theo mùa với nhiều lòai hoa dại, lan đất (địa lan) nở hoa tạo thành thảm hoa nhiều màu sắc rất tuyệt vời
Có sông Vàm Cỏ Đông, suối Đa Ha và các suối khác
Đa dạng
sinh học
Tập hợp nhiều loài động thực vật quý hiếm
Có nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và trên thế giới
Là một vùng chim quan trọng
Trang 294.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG
LÒ GÒ – XA MÁT
Sau những tiềm năng to lớn của VQG Lò Gò – Xa Mát thì thực tế hiện nay vẫn còn có nhiều tồn tại và bất cập cần có hướng giải pháp tháo gỡ để hoạt động DLST được phát triển bển vững Những tồn tại và bất cập nhất hiện nay là trong công tác quản lý, sử dụng các phân khu chức năng, sự hạn chế trong năng lực cán bộ Chính vì vậy, việc đánh giá được thực trạng một cách khách quan về những tồn tại và bất cập tại VQG Lò Gò – Xa Mát đang trở thành một vấn đề bức thiết, để từ đó có thể định hướng chiến lược, kế hoạch hành động và đề ra những giải pháp phù hợp trong bối cảnh hiện nay
4.3.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của VQG Lò Gò – Xa Mát
4.3.1.1 Chức năng nhiệm vụ
VQG Lò Gò – Xa Mát là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh Vườn có chức năng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm Phục hồi tài nguyên thiên nhiên, phát triển
và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên của rừng đặc dụng, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Đồng thời kết hợp phát triển DLST, mở rộng các dịch vụ vui chơi, giải trí,
Trang 304.3.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức
Cơ cấu tổ chức của VQG thời điểm tháng 8 năm 2009 như sau:
Cơ cấu tổ chức hiện nay của VQG Lò Gò - Xa Mát gồm Ban giám đốc, 4 phòng chức năng
Phòng chuyên trách bảo vệ rừng gồm có các trạm, chốt bảo vệ rừng: Trạm BVR
Tà Nốt, trạm BVR Tân Bình, trạm BVR Hòa Hiệp, trạm BVR Đa Ha, trạm BVR Lò Gò; các chốt bảo vệ rừng: Cua Lớn, Thông Tấn xã, Tà Nốt, Đập Đất, Tân Lập, Bà Điếc, Tân Bình (2 chốt) [10]
4.3.1.3.Nguồn nhân lực công tác phát triển du lịch
Nhân sự của VQG Lò Gò - Xa Mát tại thời điểm tháng 8 năm 2009 gồm 31 người trong đó có 12 người được hưởng lương từ ngân sách, 19 người hợp đồng dài hạn theo Thông tư số 21/2003/TTBLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng 48 người (đại diện cho các
hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng của VQG) Theo đánh giá của VQG với lực lượng hiện có vẫn chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý cũng như nhu cầu phát triển du lịch tại VQG (Chi tiết Bảng 3 – Phụ lục 3) [10]
Thực trạng về công tác tổ chức, của VQG Lò Gò – Xa Mát được thể hiện trong sơ đồ SWOT như sau:
Phòng
Hành chính
Tổng hợp
Phòng Tài chính
Phòng Chuyên trách BVR BAN GIÁM ĐỐC
Đội BVR Biên Giới
Đội BVR Hòa Hiệp Trung Tâm Đội BVR
Phòng
Kỹ thuật