1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG, SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH CHÍNH TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU BẦU BÍ TẠI HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

102 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG, SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH CHÍNH TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU BẦU BÍ TẠI HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH... Tháng 8/2010 NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG THÀNH PH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tháng 08 năm 2010

Trang 2

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG, SÂU HẠI VÀ

THIÊN ĐỊCH CHÍNH TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU BẦU BÍ

TẠI HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thành kính khắc ghi công ơn cha mẹ, anh chị đã nuôi dưỡng, dạy dỗ và tạo mọi điều kiện cho con để có ngày hôm nay

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Cô Trần Thị Thiên An đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tại trường, nhất là thời gian thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm khoa Nông học cùng quý Thầy Cô giảng dạy trong Khoa Thầy Cô trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật

Đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu, quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho em học tập và nghiên cứu trong 4 năm học tại trường và hoàn thành tốt khóa luận này

Xin gửi lời cảm ơn tới anh Trần Văn Long cùng toàn thể ban lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao huyện Củ Chi, gia đình chú Lê Đình Quốc, bác Bùi Văn Hiệp, tập thể lớp DH06BV và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 08 năm 2010

Sinh viên

Vũ Văn Khá

Trang 4

TÓM TẮT

Vũ Văn Khá, Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Tháng 8/2010

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG, SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH CHÍNH TRÊN MỘT SỐ CÂY RAU BẦU BÍ TẠI HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Giảng viên hướng dẫn: TS TRẦN THỊ THIÊN AN

Đề tài được tiến hành tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện

từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2010 Đề tài tiến hành điều tra trên 2 điều kiện canh tác cây mướp đắng, cây dưa chuột ngoài đồng ruộng và canh tác cây dưa lê, cây dưa chuột trong nhà lưới

Kết quả đề tài ghi nhận có 37 họ thuộc 11 bộ côn trùng trên các điều kiện canh

tác cây rau bầu bí (cây mướp đắng Momordi charantia L., cây dưa chuột Cucumis sativus L., cây dưa lê Cucumis melo L.) tại huyện Củ Chi, Tp HCM Trong điều

kiện canh tác ngoài đồng ruộng có 37 họ thuộc 11 bộ côn trùng và trong điều kiện canh tác trong nhà lưới có 7 họ thuộc 5 bộ côn trùng

Trên cây mướp đắng canh tác ngoài đồng ruộng ghi nhận có 10 loài sâu hại là

sâu xanh 2 sọc trắng Diaphania indica, sâu khoang Spodoptera litura, bọ dưa đen Aulacophora sp., bọ rùa ăn lá Epilachna vigintioctopunctata, bọ phấn trắng Bemisia sp., rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens, rệp mềm Aphis gossypii, ruồi đục lá Liriomyza sativae, ruồi đục quả Dacus cucurbitae, bọ trĩ Thrips palmi, thuộc 5 bộ côn trùng Trong đó rầy xanh E flavescens là sâu gây hại phổ biến nhất trên ruộng

Về thành phần thiên địch có 9 loài bắt mồi là bọ cánh cụt Paederus fuscipes, bọ rùa Cheilomenes sexmaculatus, bọ đuôi kìm Labidura sp., ruồi ăn cướp Neoitamus melanopogon, ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris, bọ xít mù xanh đang định danh, bọ xít nâu đang định danh, kiến lửa nhỏ Monomorium pharaonis, chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp thuộc 6 bộ côn trùng, trong đó loài bọ xít mù xanh đang định danh

thuộc nhóm bắt mồi phổ biến nhất trên ruộng có phổ mồi là rầy xanh, rệp mềm và

bọ trĩ Nhóm ong ký sinh có 6 loài là ong Cotesia sp.1, Cotesia sp.2, Opius sp2., Microplitis similes, Neochysocharis beasley, Pseudoligosita sp trong đó ong

Trang 5

Cotesia sp.1 ký sinh sâu non 2 sọc trắng và ong ký N beasley ký sinh sâu non ruồi đục lá xuất hiện phổ biến

Trên cây dưa chuột canh tác ngoài đồng ruộng có 11 loài côn trùng gây hại là

sâu xanh 2 sọc trắng D indica, sâu khoang S litura, bọ dưa đen Aulacophora sp.,

bọ bầu vàng A indica, bọ rùa ăn lá E vigintioctopunctata, bọ phấn trắng Bemisia sp., rầy xanh lá mạ E flavescens, rệp mềm A gossypii, ruồi đục lá L sativae, ruồi đục quả D cucurbitae, bọ trĩ gây hại T palmi thuộc 5 bộ côn trùng Trong đó ruồi đục lá L sativae được ghi nhận là loài phổ biến nhất và gây hại chính trên ruộng Ghi nhận thiên địch trên dưa chuột có 9 loài bắt mồi là bọ cánh cụt P fuscipes, bọ rùa 6 vạch đen C sexmaculatus, bọ đuôi kìm Labidura sp., ruồi ăn cướp N melanopogon, ruồi ăn rệp I scutellaris, bọ xít mù xanh đang định danh, bọ xít nâu đang định danh, kiến lửa nhỏ M pharaonis và chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp thuộc

6 bộ côn trùng, trong đó kiến lửa nhỏ M pharaonis phổ biến nhất trên ruộng với

phổ mồi là sâu non sâu xanh 2 sọc trắng, sâu non sâu khoang tuổi 1 và tiền nhộng

ruồi đục lá Nhóm ký sinh có loài ong Cotesia sp1., Cotesia sp2., Opius sp1., Opius sp2., Aphidus sp., M similes, N beasley, A delucchii, Gronotoma sp., Pseudoligosita sp., trong đó ong N beasley ký sinh sâu non ruồi đục lá, ong E eremicus ký sinh sâu non bọ phấn trắng xuất hiện phổ biến trên ruộng

Trong nhà lưới trồng dưa lê và dưa chuột có 2 loài côn trùng gây hại thuộc 2

bộ côn trùng là bọ phấn trắng Bemisia sp (Homoptera) gây hại chính trên dưa chuột

và bọ trĩ T palmi (Thysanoptera) gây hại chính cả dưa lê và dưa chuột Thiên địch ghi nhận có loài ong E eremicus (Hymenoptera) ký sinh sâu non bọ phấn trắng

trong nhà lưới

Đề tài phát hiện ra loài mới là ong Eretmocerus eremicus ký sinh sâu non bọ

phấn trắng mà chưa có nghiên cứu nào trong nước công bố về loài này

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

Mục lục v Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng xi

Danh sách các biểu đồ xi

Chương 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm đa dạng sinh học 4

2.1.1 Định nghĩa về đa dạng sinh học 4

2.1.2 Ý nghĩa của nghiên cứu đa dạng sinh học 4

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học trên sinh thái nông nghiệp 5

2.1.4 Các chỉ số đa dạng 6

2.2 Giới thiệu về một số cây rau bầu bí 7

2.2.1 Cây mướp đắng 7

2.2.2 Cây dưa chuột …… 8

2.2.3 cây dưa lê 8

2.3 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau bầu bí 9

2.3.1 Nghiên cứu trong nước 9

2.3.2 Nghiên cứu ngoài nước về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau họ bầu bí 12

2.4 Một số thiên địch phổ biến của sâu hại chính của cây rau bầu bí 14

Trang 7

2.4.1 Nhóm thiên địch bắt mồi 14

2.4.1.1 Ruồi bắt mồi 14

2.4.1.2 Bọ rùa ăn mồi 16

2.4.1.3 Bọ xít bắt mồi 16

2.4.1.4 Bọ đuôi kìm 17

2.4.1.5 Bọ cánh cụt 18

2.4.2 Nhóm thiên địch ký sinh 20

2.4.2.1 Ong ký sinh Neochrysocharis beasleyi Fisher và La Salle 20

2.4.2.2 Ong ký sinh Asecodes delucchii 21

2.4.2.3 Ong Cotesia sp 22

2.5 Điều kiện tự nhiên khu vực Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh 23

2.5.1 Điều kiện tự nhiên 23

2.5.2 Điều kiện khí hậu thời tiết 23

Chương 3 : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 25

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Vật liệu nghiên cứu 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.2.1 Điều tra sự đa dạng côn trùng trên cây rau bầu bí trồng trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng 26

3.2.2.2 Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau bầu bí trồng trong nhà lưới và trồng ngoài đồng ruộng 34

3.3.3 Xử lý và phân tích số liệu 36

Chương 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Sự đa dạng về thành phần côn trùng trên cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, năm 2010 37

Trang 8

4.1.1 Thành phần và số lượng côn trùng trên cây rau họ bầu bí 37

4.1.2 Chỉ số đa dạng Simpson và chỉ số đồng đều Shannon của côn trùng trên cây rau họ bầu bí 39

4.1.3 Sự đa dạng côn trùng trên cây mướp đắng, cây dưa chuột canh tác ngoài đồng ruộng tại huyện Củ Chi, Tp HCM năm 2010 43

4.1.4 Sự đa dạng côn trùng trên cây dưa lê, dưa chuột canh tác trong nhà lưới tại huyện Củ Chi, Tp HCM năm 2010 45

4.2 Thành phần, số lượng sâu hại và thiên địch chính trên cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, năm 2010 47

4.2.1 Thành phần, số lượng sâu hại và thiên địch chính trên cây rau bầu bí trồng ngoài đồng ruộng tại huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, năm 2010 47

4.2.2 Thành phần, số lượng sâu hại và thiên địch chính trên cây rau bầu bí trồng trong nhà lưới tại huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, năm 2010 54

Chương 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 63

5.2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 68

Trang 9

CTNĐR: Canh tác ngoài đồng ruộng

CTTNL: Canh tác trong nhà lưới

Stt: Số thứ tự

SLM/Đ: Số lượng mẫu trên điểm

SLTBM/Đ: Số lượng trung bình mẫu trên điểm

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.15 Sâu xanh 2 sọc trắng Diaphania indica 60

Hình 4.16 Sâu khoang Spodoptera litura 60

Hình 4.17 Bọ dưa Aulacophora sp 60

Hình 4.18 Bọ bầu vàng Aulacophora indica 60

Hình 4.19 Rầy xanh Empoasca flavescens 60 Hình 4.20 Bọ rùa ăn lá E vigintioctopunctata 60 Hình 4.21 Bọ phấn trắng Bemisia sp 60

Hình 4.22 Rệp mềm Aphis gossypii 60

Hình 4.23 Bọ trĩ Thrips palmi 60

Hình 4.24 Ruồi đục quả Dacus cucurbitae 60

Hình 4.25 Ruồi đục lá Liriomyza sativae 60 Hình 4.26 Bọ cánh cụt Paederus fucipes 61

Hình 4.27 Bọ rùa 6 vạch đen Cheilomenes sexmaculatus 61

Trang 11

Hình 4.28 Bọ đuôi kìm Labidura sp 61

Hình 4.31 Kiến lửa nhỏ Monomorium pharaonis 61

Hình 4.34 Chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp 61

Hình 4.37 Ong kén nhỏ Cotesia sp.1 62 Hình 4.38 Ong kén nhỏ Cotesia sp.2 62 Hình 4.39 Ong kén nhỏ Aphidus sp 62

Hình 4.42 Ong ký sinh Eretmocerus eremicus 62

Hình 4.43 Ong ký sinh Neochysocharis beasley 62

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Thành phần và số lượng của côn trùng trên các điều kiện canh tác cây rau

Bảng 4.2 Chỉ số Simpson và chỉ số Shannon của côn trùng trên các điều kiện canh

tác cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, TP.HCM, năm 2010 40

Bảng 4.3 Thành phần và số lượng của côn trùng trên điều kiện canh tác cây rau bầu

bí ngoài đồng ruộng tại huyện Củ Chi, TP.HCM, năm 2010 44

Bảng 4.4 Thành phần và số lượng của côn trùng trên điều kiện canh tác cây rau bầu

bí trong nhà lưới tại huyện Củ Chi, TP.HCM, năm 2010 46

Bảng 4.5 Thành phần sâu hại chính trên cây mướp đắng canh tác ngoài đồng ruộng

Bảng 4.6 Chỉ số Simpson và Shannon của côn trùng sâu hại trên các điều kiện canh

tác cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, Tp HCM, năm 2010 50

Bảng 4.7 Thành phần và số lượng của côn trùng sâu hại trên điều kiện canh tác cây

rau bầu bí ngoài đồng ruộng tại huyện Củ Chi, Tp HCM, năm 2010 52 Bảng 4.8 Thành phần sâu hại trên cây dưa lê và dưa chuột canh tác trong nhà lưới

Bảng 4.9 Thành phần và số lượng thiên địch của sâu hại trên các điều kiện canh tác

cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, Tp HCM, năm 2010 55

Bảng 4.10 Thành phần và số lượng thiên địch của sâu hại trên điều kiện canh tác

cây rau bầu bí ngoài đồng ruộng tại huyện Củ Chi, TP.HCM, năm 2010 57 Bảng 4.11 Thành phần và số lượng thiên địch của sâu hại trên điều kiện canh tác

cây rau bầu bí trong nhà lưới tại huyện Củ Chi, TP.HCM, năm 2010 59

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ nhiệt độ và độ ẩm từ tháng 02/2010 – 5/2010 24

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ lượng mưa từ tháng 02/2010 – 5/2010 24

Trang 13

Một số rau họ bầu bí như mướp đắng, dưa chuột, dưa lê, bí v.v ngày càng cần thiết và có vị trí quan trọng đối với mỗi người Nhu cầu về rau trên thị trường thực phẩm ngày càng lớn và giá trị cao nên càng thôi thúc nông dân áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm tăng năng suất cây trồng

Phạm Văn Lầm (2006), đã viết “Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới

đã cho thấy một hiện tượng mang tính quy luật là: trồng trọt càng đi vào thâm canh, dịch hại càng phát triển mạnh, thuốc hóa học càng sử dụng nhiều và tổn thất mùa màng do sâu bệnh càng gia tăng” Hiện nay các dịch hại ngày một gia tăng khiến áp lực sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật ngày càng gia tăng nên đã

để lại dư lượng lớn về thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng nitrat, vi sinh vật và kim loại nặng đã làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người Đi kèm đó là tác hại nghiêm trọng về mặt môi trường và sinh thái nông nghiệp Sự đa dạng, phong phú thành phần loài, số lượng quần thể của các loại động vật đất và thiên địch giảm mạnh, đồng thời các loài sâu hại có khả năng chống chịu thuốc cao gia tăng (Rish, 1986; Raynet, 1996; Bùi Cách Tuyến, 1997)

Trên thế giới cũng như Việt Nam hiện nay nhu cầu và yêu cầu về sử dụng rau sạch ngày càng cao, đặc biệt là rau hữu cơ được trồng trong điều kiện nông nghiệp sinh thái bền vững Một nền nông nghiệp sinh thái bền vững khi sự đa dạng sinh học nông nghiệp được phát huy một cách tối đa và sự tác động của con người vào

Trang 14

sinh thái đó là tối thiểu Để hiểu biết một cách tường tận về đa dạng sinh học và vai trò của nó nhằm mục đích xây dựng một quần xã sinh vật thích hợp cho từng hệ thống nông nghiệp Chúng ta cần phải nắm vững những ảnh hưởng do tác động của con người như điều kiện canh tác, sử dụng hóa chất nông nghiệp … hoặc các yếu tố

về thiên nhiên như sự thay đổi thời tiết, khí hậu, thiên tai… tác động đến chức năng

và đặc tính của hệ sinh thái (Dương Trí Dũng, 2001)

Hầu hết các nghiên cứu về đa dạng sinh học của động vật chân đốt, thường được nghiên cứu ở những hệ sinh thái đồng cỏ, hệ sinh thái rừng vì những hệ sinh thái đó ít có sự tác động của bất lợi đối với chúng Trong thời gian gần đây các nghiên cứu về sự đa dạng sinh học trong hệ thống nông nghiệp ở Miền Nam Việt Nam còn rất hạn chế mới chỉ nghiên cứu trên sinh thái ruộng lúa, rau cải, … , chưa

có nghiên cứu nào về đa dạng sinh học trên cây rau bầu bí trồng ngoài đồng ruộng, đặc biệt là điều kiện trồng trong nhà lưới – một biện pháp và hướng đi mới cho nền nông nghiệp của nước ta trong tương lai

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng là phương hướng chiến lược đúng đắn đã đem lại hiệu quả kinh tế, an toàn với môi trường và sức khỏe con người Trong hệ thống IPM mà cốt lõi chính là sử dụng biện pháp sinh học, trong

đó vai trò của các loài ký sinh, bắt mồi là những yếu tố điều hòa số lượng sâu hại rất

có hiệu quả đã và đang được sử dụng rộng rãi để phòng trừ các loại dịch hại trên nhiều cây trồng (Trần Thị Thiên An, 2007)

Do vậy, hiện nay để giảm đến mức thấp nhất việc sử dụng thuốc hóa học trong sản xuất rau bầu bí, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của xã hội về vấn đề bảo vệ môi trường cũng như phát huy vai trò của kiểm soát sâu hại của các loài thiên địch trên đồng ruộng thì nghiên cứu đa dạng thành phần côn trùng, sâu hại và thiên địch trên các điều kiện trồng cây rau bầu bí là việc rất cần thiết

Từ các lý do trên và được sự phân công của Khoa Nông Học trường Đại học

Nông Lâm TP HCM, đề tài: “Nghiên cứu sự đa dạng thành phần côn trùng, sâu hại và thiên địch chính trên một số cây rau bầu bí tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh” đã được tiến hành thực hiện

Trang 15

1.2 Mục tiêu đề tài

Nghiên cứu sự đa dạng thành phần côn trùng, sâu hại và thiên địch chính trên một số cây rau bầu bí trồng trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng ở Tp HCM nhằm góp phần thực tiễn làm cơ sở xây dựng biện pháp bảo tồn các lọai thiên địch có triển vọng trong phòng trừ sinh học để quản lý hữu hiệu sâu hại cũng như đảm bảo tính

đa dạng sinh học của các hệ sinh thái trong vùng điều tra

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành điều tra đa dạng thành phần côn trùng, sâu hại chính và thiên

địch của sâu hại trên cây mướp đắng Momordi charantia L., cây dưa chuột Cucumis sativus L., cây dưa lê Cucumis melo L được trồng trong 2 điều kiện ngoài đồng

ruộng và trong nhà lưới tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, năm 2010

Trang 16

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái niệm về đa dạng sinh học

2.1.1 Định nghĩa về đa dạng sinh học

Theo Phạm Bình Quyền (2005), thuật ngữ “đa dạng sinh học” (biological diversity/ biodiversity) xuất hiện từ những năm 1980 và hiện nay đang được sử dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, văn hóa và đời sống

Theo Công ước đa dạng sinh học thì “đa dạng sinh học được định nghĩa là sự phong phú của tất cả các loài sinh vật từ các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên, đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)” (Phạm Bình Quyền, 2005)

2.1.2 Ý nghĩa của nghiên cứu đa dạng sinh học

Theo Dương Trí Dũng (2001), khi tính đa dạng sinh học mất đi, có thể ảnh hưởng tính ổn định và năng suất của toàn bộ hệ sinh thái Hoạt động sản xuất của con người có nhiều thành công nhưng cũng mang lại nhiều điều không thuận lợi như đất đai bị ô nhiễm, rừng ngày càng bị thu hẹp, nguồn tài nguyên dần dần bị cạn kiệt Trong khi số loài động, thực vật ngày càng ít đi, chỉ có 20 loài thực vật và 5 loài động vật có nhiệm vụ cung ứng đến 90% trong tổng số phần thực phẩm cho cuộc sống và hàng hóa thế giới Qua đó cho thấy số loài được bảo tồn quá ít so với nhu cầu sử dụng, mặt khác những loài được thuần hóa phụ thuộc vào hoạt động của con người, do con người thuần dưỡng, thậm chí tính đa dạng sinh học về mặt di truyền của chúng cũng bị con người điều khiển Khi xảy ra hiện tượng bất lợi như

sự nóng lên của trái đất, mưa acid, gia tăng phóng xạ, hàm lượng CO2 tăng sẽ đe dọa đến sức sống của những loài này, dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến vật nuôi

và cây trồng của chúng ta

Trang 17

Từ những điều trên ta thấy con người có vai trò quyết định rất lớn đến sự đa dạng sinh học, đặc biệt là trên các hệ sinh thái do con người tạo ra để phục vụ cho nhu cầu của con người Để số loài động thực vật phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người tăng lên thì cần thiết phải làm cho mức độ đa dạng sinh học của các loài sinh vật cao, điều đó sẽ tạo điều liện cho việc chọn tạo giống, bảo tồn và lưu trữ nguồn gene (Lê Quang Lộc, 2008)

Khi nghiên cứu sự đa dạng sinh học của một hệ sinh thái nào đó, giúp ta xác định được hệ sinh thái đó có chịu tác động của con người hay không và mức độ tác động của con người vào nó như thế nào Nhằm điều chỉnh những hoạt động của con người để có thể khai thác bền vững hệ sinh thái mà ta nghiên cứu

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học trên sinh thái nông

nghiệp

Theo Phạm Bình Quyền (2005), việc bón phân ảnh hưởng đến sự phong phú của quần thể hoặc quần xã các động vật đất Quá trình bón phân ảnh hưởng đến số lượng và thành phần các loài của nhóm động vật đất, từ đó ảnh hưởng đến cả hệ sinh thái Kết quả này phụ thuộc vào chất lượng, số lượng và cách bón của từng loại phân bón Phân bón từ chất thải động thực vật được ủ lâu ngày sẽ kích thích vi sinh vật phát triển, có thể hạn chế bệnh cây do các hệ thống khống chế sinh học

Theo Dương Trí Dũng (2001), các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học bao gồm:

- Cấu trúc đất có thể ảnh hưởng đến sự phân bố của khu hệ sinh vật đất Trong quá trình làm đất canh tác do tác động của bánh xe các loại máy nông cụ nén chặt lớp đất mặt làm giảm độ tơi xốp của đất, dẫn đến làm giảm sinh khối của vi sinh vật

và những loài khác

- Biện pháp canh tác: Kỹ thuật làm đất ảnh hưởng đến cấu trúc đất, kích thước

lỗ hổng, phần thấm nước và thoát khí, quá trình làm đất sẽ gây xáo trộn và làm khô lớp đất mặt, dẫn đến khu hệ sinh vật ở tầng lớp đất mặt trở nên thưa thớt Nếu canh tác đất theo phương pháp cổ truyền sẽ làm thay đổi các hoạt động sinh học, do tàn

dư của thực vật sẽ kích thích các sinh vật có vòng đời ngắn như vi khuẩn, giun tròn

Trang 18

và nhiều loài chân khớp xuất hiện Ở vùng đất bảo tồn hoặc không canh tác thường

có mức độ đa dạng sinh học nhiều hơn, tuy nhiên tốc độ khoáng hóa xảy ra chậm và chất dinh dưỡng đi từ thực vật ra đất bị hạn chế

- Sử dụng nông dược vào đất làm giảm đi quần thể vi sinh vật và hầu như tiêu diệt toàn bộ giun tròn, mặc dù chúng có thể xuất hiện trở lại nhưng mật độ của chúng không như trước Chất diệt côn trùng có thể độc cho nhóm ăn thịt và động vật chân khớp, sau khi ngưng dùng thuốc 3- 4 năm thì số lượng mới phục hồi như ban đầu Một số thuốc diệt cỏ không ảnh hưởng trực tiếp đến sinh vật đất, nhưng ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc làm giảm cây cỏ và việc cung cấp chất hữu cơ vào đất

- Cây trồng cũng ảnh hưởng đến đa dạng sinh học Đất trồng cây đa niên khác biệt so với đất trồng cây hàng niên, mỗi một loại cây trồng sẽ hình thành một sinh thái khác nhau dẫn đến sự đa dạng sinh học trong từng loại cây trồng cũng khác nhau Ngoài ra, mật độ cây trồng, đa dạng cây trồng, chế độ luân canh, xen canh cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự đa dạng của hệ sinh thái

pi là tỷ lệ của loài thứ i trên tổng số các cá thể (pi = ni/N)

ni là số cá thể của loài i

N là tổng số cá thể

Chỉ số Simpson còn dùng để tính sự đa dạng của quần xã theo công thức sau

D = 1 - ∑C (D: Chỉ số đa dạng Simpson)

Trang 19

b Chỉ số Shannon

Theo Phạm Bình Quyền (2005), chỉ số này được Shannon và Weaver giới thiệu vào năm 1949 Chỉ số Shannon dựa trên cơ sở sự đa dạng trong tự nhiên, giả định các loài thể hiện trong mẫu, không phụ thuộc các loài khác, dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học và được tính theo công thức

H’ = -∑[pi.log2(pi)]

Trong đó: H’ là chỉ số đa dạng Shannon

Pi là tỉ lệ cá thể của loài i so với tổng số lượng cá thể (pi = ni/N)

Chỉ số Shannon có giá trị cao nhất là H’ max xuất hiện khi mọi loài trong quần

xã có số lượng tương đương, lúc này các loài trong quần thể tương đồng với nhau hay còn gọi là sự đồng đều

2.2 Giới thiệu về một số cây rau bầu bí

2.2.1 Cây mướp đắng

Tên khoa học: Momordi charantia L

Họ bầu bí: Cucurbitaceae

Tên tiếng anh: Bitter melon hay Bitter gourd

Tên Việt Nam: Miền Bắc gọi là mướp đắng , Miền Nam gọi là khổ qua

Cây mướp đắng có nguồn gốc ở Châu Phi, hiện nay được trồng rộng rãi ở khắp các nơi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Trần Khắc Thi – Trần Ngọc Hùng, 2002)

Mướp đắng thuộc nhóm cây ưa nhiệt, hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ 12-130C Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển là 25-300C Nhiệt độ cao hơn sẽ làm cây sinh trưởng chậm và nếu kéo dài nhiệt độ từ 35-400C thì cây sẽ chết Nhiệt

độ có ảnh hưởng đến thời gian ra hoa của cây, nhiệt độ càng thấp thời gian ra hoa càng kéo dài

Độ ẩm thích hợp cho mướp đắng là 80-90%, độ ẩm không khí 80-90% Cây mướp đắng chịu hạn kém, thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích lũy nhiều chất đắng trong quả Thời kỳ cây ra quả cần lượng nước nhiều

Trang 20

Mướp đắng ưa ánh sáng ngày ngắn, cây sinh trưởng phát triển tốt nếu có thời gian chiếu sáng từ 10-12 giờ/ngày với cường độ chiếu sáng 16.000 – 19.000 lux (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)

2.2.2 Cây dưa chuột

Tên khoa học: Cucumis sativus L

Họ bầu bí: Cucurbitaceae

Tên tiếng anh: Cucumber, cuke

Tên Việt Nam: Miền Bắc gọi là dưa chuột, Miền Nam gọi là dưa leo

Cây dưa chuột được khoa học xác nhận có nguồn gốc ở Việt Nam, tồn tại ở nước ta hang nghìn năm nay Trong quá trình giao lưu buôn bán được trồng phổ biến sang Trung Quốc và từ đây chúng được phát triển sang Nhật Bản và lên Châu

Âu hình thành dạng dưa chuột quả dài, gai trắng màu xanh đậm Nhóm thứ 2 mang đặc trưng của vùng nguyên sản được phát triển sang lục địa Ấn Độ hơn 2000 năm trước Hiện nay dưa chuột được trồng khắp nơi, từ xích đạo tới 630 vĩ bắc, đứng thứ

6 trong số các rau trồng trên thế giới (Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan, 1995) Dưa chuột là nhóm cây ưa nhiệt Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của dưa chuột là 25-300C Nhiệt độ cao hơn làm cây ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt

độ 35-400C kéo dài thì cây sẽ chết Dưa chuột ưa ánh sáng ngày ngắn, độ dài chiếu sáng từ 10-12 giờ/ ngày và cường độ ánh sáng trong phạm vi 15.000 – 17.000 lux thích hợp cho cây sinh trưởng và phát dục Quả dưa chứa tới 95% nước cùng với bộ

lá lớn nên yêu cầu về độ ẩm cho cây rất cao Độ ẩm cần thiết 85 – 95% Cây dưa chuột rất yếu chịu hạn, thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích

lũy lượng cucurbitaxina gây đắng trong quả (Trần Khắc Thi, 1996)

2.2.3 Cây dưa lê

Tên khoa học: Cucumis melo L

Họ bầu bí: Cucurbitaceae

Tên tiếng anh: Muskmelon

Tên Việt Nam: Dưa lê, dưa lưới

Trang 21

Dưa lê được xem là loại trái cây số một tại Châu Âu và chiếm giữ vị trí quan trọng trên thị trường này trong suốt 25 năm qua Trong đó, Galia

muskmelon (Cucumis melo L var Reticulatus Ser.) là giống dưa lai F1 nổi tiếng và

được ưa chuộng nhất Kể từ khi được giới thiệu ra thị trường năm 1973 bởi nhà chọn giống người Israel (Zvi Karchi), “Galia” đã trở thành tên thương mại để gọi chung cho hơn 60 giống dưa lê có hình dạng tương tự (vỏ quả màu xanh hoặc hơi vàng, vỏ có lưới, ngọt và có mùi thơm) Dưa lê được trồng nhiều ở Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma Rốc, Ai Cập, Trung Đông và một số quốc gia Châu Á (Hoàng Anh Tuấn, 2008)

2.3 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau bầu bí

2.3.1 Nghiên cứu trong nước

Thành phần sâu hại trên cây rau họ bầu bí

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003), ghi nhận thành phần sâu hại chính trên mướp đắng, dưa chuột gồm 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện Trong đó những loài sâu

hại gây hại phổ biến nhất là loài bọ dưa Aulacophora simiulis (Coleoptera), ruồi đục lá Liriomyza trifolit (Diptera), ruồi đục quả Bactrocera cucurbitae (Diptera), sâu xanh ăn lá Diaphania indica (Lepidoptera), bọ trĩ Thrips palmi (Thysanoptera)

và nhện đỏ Tetranychus urticae (Acarina) Tiếp đến ít phổ biến hơn là các loài Bọ rùa 28 chấm Henosepilachna kaszabi (Coleoptera), bọ xít mướp Aspongopus fuscus (Hemiptera), rệp muội Aphis gossipil (Homoptera), bọ phấn Benmisia myricea (Homoptera), rầy xanh hai chấm Empoasca biguttata (Homoptera) và sâu khoang Spodoptera litura (Lepidoptera)

Theo Phùng Thị Út (2005), ghi nhận có 8 loài sâu hại mướp đắng thuộc 4 bộ

gồm bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 3 loài là sâu xanh Heliothis armigera H., sâu xanh da láng Spodoptera exigua H và sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Saunder Bộ cánh tơ (Thysanoptera) có một loài là bọ trĩ Thrips palmi Bộ hai cánh (Diptera) có 2 loài là ruồi đục quả Bactrocera cucurbitae C và ruồi đục lá Liriomyza sativae Bộ cánh đều (Homoptera) có loài rệp mềm Aphis gossypii

Glover

Trang 22

Năm 2009, Đỗ Đặng Ngọc Trâm cho biết tại hai huyện Hóc Môn và Củ Chi,

TP HCM trên dưa chuột có 7 loài sâu hại chính thuộc 6 bộ là Diaphania indica Saund (Lepidoptera: Pyralidae), Thrips palmi Karny (Thysanoptera: Thripidae), Liriomyza sativae Blanchard (Diptera: Agromyzidae), Aphis spp (Homoptera: Aphididae) và Bemisia tobaci Grennadius (Homoptera: Aleyrodidae), Tetranychus cinnabarinus Boisduval (Acarina: Tetranychidae), Aulacophora similes Oliv

(Coleoptera: Chrysomelidae) gây hại trên dưa chuột

Thành phần thiên địch của sâu hại trên cây rau họ bầu bí

Theo Phạm Văn Lầm (2006), thiên địch là thuật ngữ để chỉ chung cho tất cả các kẻ thù tự nhiên của dịch hại Các nhóm dịch hại khác nhau có thành phần thiên địch không giống nhau Các loài thiên địch của sâu hại cây trồng bao gồm nhóm bắt mồi, nhóm ký sinh giết vật chủ và nhóm sinh vật gây bệnh cho sâu hại

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004), một loài bắt mồi chỉ có thể trở thành loài có hiệu quả khi đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

1) Có thời gian phát triển (vòng đời) ngắn hơn thời gian phát triển của con mồi 2) Có sức sinh sản cao

3) Có khả năng ăn mồi lớn

4) Có khả năng sống sót cao khi con mồi ít hoặc rất ít

5) Có nơi ở và sự ưa thích ký chủ giống như con mồi

6) Có sự ưa thích tiểu khí hậu giống như con mồi

7) Có khả năng tìm kiếm con mồi tốt ngay cả khi con mồi có mật độ thấp

8) Có sự phát triển vật hậu theo mùa giống như con mồi

9) Có khả năng chống chịu với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt như con mồi 10) Có khả năng chống chịu được với các loại thuốc trừ dịch hại như con mồi Nếu đạt được các tiêu chuẩn trên thì đó chính là loài bắt mồi có hiệu quả và là loài “lý tưởng” Cho tới nay chưa có loài nào đạt được đầy đủ 10 tiêu chuẩn này Loài đạt được 7/10 tiêu chuẩn và hiện được nhân nuôi sử dụng rộng rãi nhất hiện

nay là loài nhện bắt mồi Phytoseiulus perimilis A-H

Trang 23

Theo Trần Thị Thiên An (2007), ghi nhận có 14 loài thiên địch của ruồi đục lá Liriomyza với 3 loài quan trọng là ruồi bắt mồi Crossopalpus hirsutipes ăn trưởng thành, ong ký sinh Neochysocharis beasley và ong ký sinh Asecodes delucchii

chuyên ký sinh sâu non ruồi đục lá Tất cả đều có tiềm năng lớn kiểm soát sinh học đối với sâu non và trưởng thành ruồi đục lá

Theo Nguyễn Thị Kim Phượng (2003), ghi nhận thành phần ong ký sinh sâu non ruồi đục lá rau họ bầu bí thu được là khá phong phú, có 11 loài trong đó có 9 loài thuộc họ Eulophidae, 2 loài thuộc họ Braconidae Trong họ Eulophidae thì loài

Chrysocharis sp (A) ký sinh cả pha sâu non và pha nhộng của ruồi đục lá, sau đó đến loài Asecodes sp., Hemiptarsenus varicornis G., Neochrysocharis sp., Diglyphus sp., Tetrastichus sp., Chrysocharis sp.(B), Euplemus sp., Chrysonotomyia sp và Dacnusa sp đều ký sinh pha dòi, riêng loài Opius sp ký

sinh pha nhộng

Năm 2007, Trương Thị Thành đã ghi nhận các loài thiên địch chính của sâu hại trên ruộng dưa chuột thuộc 3 bộ côn trùng và 1 bộ nhện là bộ nhện Araneae có 2

loài xuất hiện rất phổ biến trên ruộng dưa chuột là nhện Oxyopes sp (Oxyopidae)

và nhện Carrhotus barbatus (Santicidae) ăn các loại sâu non, nhộng, bướm và các giai đoạn của rệp mềm Bộ cánh cứng Coleoptera có 3 loài, trong đó loài xuất hiện rất phổ biến là loài bọ rùa Coccinella transversalis (Coccinellidae) ăn rệp và trứng các loại sâu, kế tiếp là bọ ba khoang Ophionea intertitialis (Carabidae) và loài bọ chân chạy Calleida sp (Carabidae) ăn sâu xanh các loại và bướm mắc lưới nhện

Bộ cánh nửa Hemiptera có 1 loài xuất hiện tương đối phổ biến là loài bọ xít bắt mồi

Eocannthecona furcellata (Pentatomidae) ăn sâu non các loại Bộ cánh màng Hymenoptera có 2 loài là ong ký sinh sâu non sâu xanh hai sọc trắng Cotesia sp

(Braconidae) xuất hiện rất phổ biến và ong ký sinh sâu non sâu xanh hai sọc trắng

Xanthopimpla sp (Ichneumonidae) xuất hiện ít phổ biến hơn Bộ hai cánh Diptera

có 1 loài xuất hiện ít phổ biến là ruồi bắt mồi (nhặng xanh) Chrysosoma sp (Dolichopolidae) ăn nhộng và sâu non các loại

Trang 24

Theo Trần Đăng Hòa (2008), nghiên cứu về thành phần ruồi đục lá rau và ong

ký sinh của chúng ở các tỉnh Miền Trung cho thấy có 5 loài ruồi đục lá gây hại trên

rau ở các tỉnh miền Trung là L sativae, L bryoniae, L chinensis, L huidobrensis

và C horticola Liriomyza sativae là loài phổ biến nhất Thu thập và định danh

được 13 loài ong ký sinh thuộc 3 họ côn trùng (Braconidae, Eucoilidae và Eulophidae) Thành phần và mức độ phổ biến của ong ký sinh khác nhau ở các

vùng sinh thái Neochrysocharis okazakii và N formosa là các loài phổ biến ở Bắc miền Trung Các loài phổ biến ở vùng Duyên hải miền Trung là N okazakii và H varicornis Trong khi đó, C pentheus và A delucchii là các loài phổ biến nhất ở

Tây Nguyên

Năm 2009, Đinh Xuân Hiệp cho biết tại huyện Thới Bình, Cà Mau trên cây dưa chuột có tất cả 6 loài sâu gây hại là bọ trĩ, rệp mềm, ruồi đục lá, sâu xanh hai sọc trắng, sâu khoang, bọ dưa vàng và xác định được 3 loài gây hại chính là Bọ trĩ

sọc vàng (Thrips palmi), Rệp dưa (Aphids sp.), Sâu xanh hai sọc trắng (Diaphania indica) Thiên địch thì có 3 loài bộ nhện (Arachnida) có một loài là nhện sói Lycosa

sp Bộ cánh cứng (Coleoptera) có 2 loài, một loài là bọ rùa Coccinella transversalic,

loài thứ hai là bọ ngựa (đang định danh) Họ Mantidae

2.3.2 Nghiên cứu ngoài nước về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây rau

họ bầu bí

Thành phần sâu hại trên cây rau họ bầu bí

Theo Osamu Morimoto (1995), ghi nhận thành phần côn trùng gây hại trên cây rau họ bầu bí gồm 6 bộ là bộ Thysanoptera, bộ Hemiptera, Homoptera, Lepidoptera, Coleoptera và Diptera Trong đó

Bộ Thysanoptera có 3 loài thuộc họ (Thripidae) là Frankliniella schultzei

(Trybom) phân bố trên toàn thế giới và đặc biệt phổ biến ở Châu Phi và Đông Nam

Á, loài Thrips tabaci Lindeman phân bố trên toàn thế giới ngoại trừ các vùng cực và loài Thrips palmi Karny tập trung gây hại nhiều loại cây trồng tại các nước Đông

Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan, New Caledonia và Nhật Bản

Trang 25

Bộ Hemiptera có loài Leptoglossus australis (Fabricius) họ Coreidae hại chủ

yếu trên mướp đắng và một số cây trồng khác, chúng phân bố rộng rãi trong vùng nhiệt đới bao gồm cả Châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á, Bắc Australia, Đài Loan và Nhật Bản

Bộ Homoptera có loài bọ phấn trắng Bemisia tabaci (Gennadius) họ

Aleyrodidae ghi nhận gây hại 63 họ thực vật, chúng là vector truyền bệnh virus cho cây trồng, phân bố trên toàn thế giới gồm tất cả các nước Châu Á, Úc, Châu Đại Dương, Nam Châu Âu bao gồm cả Anh, toàn bộ Châu Phi, Nam Mỹ, một phần

miền trung và phía tây của nước Mỹ Loài Aphis gossypii Glover thuộc họ

Aphididae phân bố trên toàn thế giới gây hại nhiều họ cây trồng, đặc biệt là dưa chuột

Bộ Lepidoptera có loài Sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica (Saunders) họ

Pyralidae phân bố ở Châu Á, vùng nhiệt đới của Tanzania, Châu Phi và Australia,

chúng gây hại chủ yếu trên cây trồng thuộc họ bầu bí Loài Agrotis segetum (Denis

& Schiffermuller) họ Noctuidae hại rất nhiều họ cây trồng khác nhau, phân bố khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi

Bộ Coleoptera có loài Aulacophora similes Olivier họ Chysomelidae phân bố

ở Đông Nam Á, ký chủ chính là các cây rau thuộc họ bầu bí

Bộ Diptera có loài ruồi đục quả Dacus cucurbitae Coquillett gây hại trên nhiều

loại cây ăn trái đặc biệt là cây rau họ bầu bí, chúng phân bố ở Đông Nam Á, đảo Hawaii, Châu Đại Dương, Ấn Độ, Châu Phi và Nhật Bản

Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại rau bầu bí

Theo Shepard và cộng sự (1999), đã ghi nhận thiên địch bắt mồi có sự xuất hiện phổ biến, đa dạng và rộng rãi so với các nhóm thiên địch khác ở trên ruộng rau Các thiên địch bắt mồi thường không có các tính chất và hành vi săn mồi chuyên tính nên rất khó để xác định loài nào là quan trọng nhất Trong khi chúng ta quan sát thấy rất nhiều hành vi ăn mồi của chúng vào ban ngày thì nhiều loài chỉ hoạt động săn mồi vào ban đêm Hầu hết các loài săn mồi ăn nhiều loại côn trùng khác nhau

Trang 26

Thiên địch bắt mồi tạo thành nhóm quan trọng nhất của thiên địch trên cây trồng và chúng bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi thuốc trừ sâu hóa học

Theo Shepard và cộng sự (1999), côn trùng ký sinh là một nhóm được coi là rất quan trọng trong việc kiểm soát quần thể dịch hại và các loài côn trùng gây hại đang ở mức tiềm ẩn Chúng có thành phần ký chủ nhiều hơn, cụ thể hơn so với côn trùng và nhện bắt mồi, chúng chỉ cần một ký chủ duy nhất để hoàn thành sự phát triển đến tuổi trưởng thành Thông thường, một ký chủ duy nhất cũng có thể làm cho nhiều cá thể ký sinh cùng tồn tại và phát triển Hóa chất diệt côn trùng có tác động bất lợi rất lớn đến sự đa dạng và phong phú của nhóm ký sinh hơn các nhóm thiên địch khác Theo danh sách các loài ký sinh của Shepard và Barrion (1988) chỉ

có 85 loài, chúng được nghiên cứu chủ yếu ở Indonesia, đây có thể là một phần nhỏ của tổng số loài được tìm thấy trong khu vực Một số dịch hại cây trồng quan trọng

như loài Omiodes và Plutella đã được tổ chức nghiên cứu và thử mức độ bị ký sinh

Tuy nhiên, các loài ký sinh thường rất nhỏ và phát triển vòng đời hầu hết bên trong vật chủ nên nông dân không nhận ra được sự quan trọng trong kiểm soát dịch hại của chúng

2.4 Một số thiên địch phổ biến của sâu hại chính của cây rau bầu bí

2.4.1 Nhóm thiên địch bắt mồi trên ruộng cây rau bầu bí

2.4.1.1 Ruồi bắt mồi

Theo Trần Thị Thiên An (2007), Ruồi bắt mồi Crossopalpus hirsutipes Collin

thuộc họ ruồi Empididae bộ hai cánh Diptera

Trứng ruồi C hirsutipes có dạng hình trụ dài, dài khoảng 0,6 – 0,8 mm, màu

thay đổi từ vàng nhạt đến vàng nâu, trên đỉnh trứng hình thành móc miệng là những đường màu đen ngắn

Dòi (sâu non) có 3 tuổi: Tuổi 1 cơ thể dạng dòi có màu trắng trong, tuổi 2 cơ thể phân 12 đốt tương đối rõ và có màu trắng sữa đến trắng đục ở cuối tuổi 2, tuổi 3

cơ thể dòi có màu trắng đục và đến cuối tuổi 3 thì vỏ da của dòi chuyển sang màu vàng nhạt, dày và bóng hơn so với da của tuổi 1, 2

Trang 27

Ruồi C hirsutipes hóa nhộng dưới lớp đất mặt, nhộng có dạng nhộng bọc, dài

3,5 – 3,7 mm, khi mới hóa nhộng có màu vàng đậm sau đó chuyển sang màu nâu

đỏ, đầu của nhộng có 2 gai màu vàng đậm, hai bên cơ thể có 2 hàng gai màu vàng Trưởng thành ruồi là một loại ruồi nhỏ, cơ thể màu đen có rất nhiều lông nhỏ, mắt kép lớn và lồi Râu đầu hình lông, màu đen, roi râu dài 1,6 – 1,8 mm, ở đốt gốc râu có một lông cứng và dài, phía trên đỉnh đầu của ruồi có 4 lông cứng dài mọc

thành chùm Miệng của ruồi C hirsutipes phát triển kéo dài gần giống như một cái

vòi Chân trước có dạng chân bắt mồi, chân giữa và chân sau có dạng chân đi, chân

có nhiều lông mịn Cánh trước có gân R 4+5 và M 1+2 uốn lượn gần về phía gốc cánh Bụng có màu sáng hơn phần đầu và ngực, có 9 đốt

Sâu non của ruồi bắt mồi C hirsutipes sinh sống và lấy thức ăn từ các chất hữu

cơ phân hủy, đến khi chuẩn bị hóa nhộng thì di chuyển đến nơi khô ráo hơn môi trường thức ăn của chúng rồi thu ngắn cơ thể lại để hóa nhộng

Trưởng thành của ruồi C hirsutipes thường đậu ở trên mặt lá lúc trời mát và ẩn

nấp dưới mặt lá khi trời nắng nóng Chúng thường hoạt động săn bắt mồi cả ngày nhưng tập trung chủ yếu từ 6 đến 8 giờ sáng và 4 đến 6 giờ chiều Ruồi trưởng thành thường chủ động tấn công vật mồi, khi nhìn thấy vật mồi xuất hiện chúng dùng hai chân trước chụp bắt rất nhanh và giữ lấy con mồi cùng với hai chân giữa, sau đó chúng dùng miệng chọc rách bụng và hút dịch cơ thể vật mồi Ruồi cái thường lựa chọn nơi ẩm thấp, có sẵn các chất hữu cơ đang phân hủy để đẻ trứng, chúng đẻ trứng thành 2 đợt, trứng được đẻ thành cụm từ 4 đến 7 quả

Vòng đời của ruồi C hirsutipes dài 41,7 – 50,83 ngày, tuổi thọ của ruồi dài

36,2 – 41,3 ngày

Ruồi trưởng thành C hirsutipes ăn 4 loại vật mồi là ruồi đục lá L sativae, ruồi giấm D melanogaster, rầy xanh E flavescent và ruồi đục rễ cải Delia sp Trong đó vật mồi ruồi đục lá là thức ăn mà ruồi bắt mồi C hirsutipes ăn nhiều nhất trung bình

10,3 đến 17,3 vật mồi/ngày

Trang 28

2.4.1.2 Bọ rùa ăn mồi

Theo Nguyễn Thị Minh Tâm (2008), Bọ rùa ăn mồi Coccinella transversalis

thuộc họ bọ rùa Coccinellidae, bộ cánh cứng Coleoptera

Bọ rùa trưởng thành C transversalis cơ thể có hình bầu dục tròn, mặt lưng gồ

cao, có màu đỏ cam, cánh trước có 3 vệt đen, vệt thứ nhất có dạng chữ T, hai vệt đen sau lượn sóng, dài trung bình 5,47 mm và rộng 5,01 mm Trứng hình bầu dục, màu vàng, dài 0,31 – 0,33 mm và rộng 0,04 – 0,22 mm Bọ rùa non có 4 tuổi, có 2 dải ngang màu cam, một dải nằm ở đốt bụng thứ nhất và một dải nằm ở đốt bụng thứ 4 Nhộng trần có màu vàng tươi, kích thước nhộng dài 5,57 mm và rộng 3,33

mm, có 2 mầm cánh ở 2 bên đầu, phần đầu có 2 chấm đen cân đối ở 2 bên

Ở điều kiện nhiệt độ 28 – 320C, ẩm độ 60 – 70 % thời gian phát triển vòng đời

của bọ rùa C transversalis trung bình là 19,1 – 20,5 ngày

Trong điều kiện cho tự do lựa chọn thức ăn là rệp cải Brevicoryne brasicae, rệp sáp giả Dysmicoccus sp và rệp đậu Aphis craccivora thì bọ rùa non và trưởng

thành đều có sức ăn rệp cải là cao nhất và cao hơn 2 loại thức ăn còn lại

2.4.1.3 Bọ xít bắt mồi

Theo Trần Thị Thiên An (2003), bọ xít bắt mồi Orius tantillus thuộc họ bọ xít

Anthocoridae, bộ cánh nửa Hemiptera

Ký chủ vật mồi

Theo Trần Thị Thiên An (2003), bọ xít bắt mồi Orius tantillus trong phòng thí

nghiệm có thể ăn được các loài sâu như bọ trĩ sọc vàng, bọ trĩ đen, nhện đỏ, nhện trắng, rệp mềm, sâu xanh và trứng ngài gạo Tuổi thọ của trưởng thành bọ xít bắt

mồi Orius tantillus là 18,6 – 19,8 ngày và con cái đẻ 48,0 – 58,5 trứng khi nuôi trên

bọ trĩ Thrips palmi Khả năng ăn vật mồi bị trĩ Thrips palmi là 22,2 – 25 con trưởng thành/ ngày, Tetratichus sp là 26,8 – 29,2 con trưởng thành/ngày, rệp Aphis sp là 16,5 – 18,5 con trưởng thành/ngày và Corcyra cephalonica là 20,0 - 22,2

trứng/ngày

Trang 29

2.4.1.4 Bọ đuôi kìm

Theo Lê Thị Xuân Hoa (2005), Bọ đuôi kìm Euborellia sp thuộc họ

Carcinophoridae, bộ Dermaptera

Trứng của bọ đuôi kìm Euborellia sp màu trắng sữa, hình bầu dục kích thước

dài 0,88 – 1,18 mm, bề mặt vỏ trứng nhẵn bóng Thời gian trứng trung bình 6,9 ngày Trước khi nở một ngày trứng có thể to gấp đôi so với ngày đầu tiên

Bọ đuôi kìm Euborellia sp non trải qua 5 tuổi, 4 lần lột xác, kích thước và số

đốt râu đầu tăng theo tuổi Cơ thể bọ đuôi kìm được bao phủ bởi một lớp lông tơ màu nâu Đầu bọ đuôi kìm dạng tam giác cân, có 1 cặp mắt kép rất phát triển, màu đen Râu đầu dạng sợi chỉ số đốt tăng theo độ tuổi tương ứng từ 8, 11, 13, 14-15, 15-16, 16-17, đốt chân râu dài màu nâu đen sáng hơn màu của roi râu, các đốt của roi râu dài dần từ trong ra ngoài và đốt 3,4 ở cuối roi râu có màu trắng ngà Miệng kiểu gặm nhai Chân thuộc dạng chân chạy, đốt đùi rất to, bàn chân có 3 đốt trong

đó đốt giữa ngắn nhất, cuối bàn chân có một cặp móc nhọn Bụng ấu trùng bọ đuôi

kìm Euborellia sp có 10 đốt trong đó đốt bụng thứ 5,6 to nhất, cuối bụng có cặp

kẹp rất sắc có răng cưa cong về phía bên trong, dùng để tự vệ và săn mồi

Trưởng thành bọ đuôi kìm Euborellia sp có hình dạng tương tự như ấu trùng

chỉ khác về kích thước, số đốt râu và số đốt bụng Cơ thể trưởng thành to, màu đen bóng, dài 8,5 – 16 mm, râu đầu có 15 – 17 đốt Cánh đã bị thoái hóa chỉ còn lại một

2 ngấn cánh trên lưng đốt ngực giữa

Vòng đời bọ đuôi kìm Euborellia sp trung bình 67,21 ± 10,32 ngày

Bọ đuôi kìm trưởng thành cái đẻ trứng tập trung thành từng ổ trong đất, mỗi ổ

từ 17 – 58 trứng Một bọ đuôi kìm Euborellia sp cái có thể đẻ từ 1 – 2 đợt trứng,

trung bình 1 con cái đẻ được 67 trứng Sau khi đẻ trứng con mẹ bảo vệ ổ trứng đến khi trứng nở, nếu gặp điều kiện bất lợi thì con mẹ sẽ di chuyển ổ trứng đến nơi an toàn Bọ đuôi kìm đực cũng là tác nhân gây nguy hiểm cho ổ trứng

Bọ đuôi kìm Euborellia sp non và trưởng thành đều chạy rất nhanh, có tính sợ

ánh sáng và thích sống ở nơi đất tơi xốp, ẩm thấp

Trang 30

Bọ đuôi kìm Euborellia sp thường hoạt động vào ban đêm, chúng hay đi kiếm

ăn vào buổi sáng sớm Khi gặp vật mồi bọ đuôi kìm Euborellia sp đưa kìm về phía

trước kẹp và giữ chặt lấy mồi, dùng miệng cắn một vết trên vật mồi và ăn phần mềm bên trong vật mồi chỉ để lại phần xác bên ngoài Ngoài việc săn bắt các con

mồi, khi thiếu thức ăn bọ đuôi kìm Euborellia sp còn có thói quen cắn ăn lá cây

nhưng chúng ít gây ảnh hưởng đến cây trồng

Bọ đuôi kìm Euborellia sp có phổ thức ăn khá rộng Các loại côn trùng có thân mềm là loại thức ăn mà bọ đuôi kìm Euborellia sp rất thích Một số côn trùng gây hại bọ đuôi kìm Euborellia sp thường ăn như: Sâu tơ Plutella xylostella, sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica, sâu khoang Spodoptera litura, sâu đo, sâu xanh da láng Spodoptera exigura, rệp mềm Aphis sp., sâu đục trái đậu đũa Maruca sp., sâu đục thân khoai lang Omphisa sp Trong các loại vật mồi trên cả trưởng thành và ấu bọ đuôi kìm Euborellia sp ăn nhiều nhất là rệp mềm Aphis sp (trưởng

thành ăn trung bình 71,4 ± 8,31 con/ngày) và ăn ít nhất là sâu xanh hai sọc trắng

Diaphania indica (trưởng thành ăn trung bình 3,34 ± 0,83 con/ngày) Bọ đuôi kìm

trưởng thành sức ăn cao hơn ấu trùng

Bọ đuôi kìm Euborellia sp là loài thiên địch ăn mồi rất có triển vọng trong

việc quản lý mật số rệp mềm trên ruộng

2.4.1.5 Bọ cánh cụt

Theo Lưu Thị Thanh Mai (2006), Bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis thuộc

họ cánh cụt Staphylinidae, bộ cánh cứng Coleoptera

Trứng của bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis hình cầu hoặc hình trứng, có

kích thước dài 0,63 – 0,7 mm, bề mặt nhẵn bóng Trứng lúc mới đẻ có màu trắng đục sau 2 – 5 ngày trứng chuyển sang màu vàng sáng đến màu hơi nâu thì trứng nở

Ấu trùng bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis trải qua 2 tuổi Số đốt bụng

giảm dần và to theo độ tuổi Râu đầu ấu trùng tuổi 1 và tuổi 2 đều có 3 đốt dạng sợi chỉ Ấu trùng không có cánh, có 3 đốt ngực Chân thuộc dạng chân chạy, đốt đùi to, chân có 3 đốt và bàn chân chưa phân đốt Toàn cơ thể phủ một lớp lông cứng thưa

Trang 31

Nhộng thuộc dạng nhộng trần, màu vàng khi ăn thức ăn tự nhiên hoặc có màu trùng với màu của thức ăn nhân tạo khi nuôi Cơ thể nhộng phủ lông trắng thưa

Trưởng thành bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis khác hẳn với ấu trùng về

kích thước, số đốt râu và đốt bụng Trưởng thành bọ cánh cụt cái có chiều dài trung bình 7,7 – 8,14 mm lớn hơn con đực có chiều dài là 6,18 – 7,66 mm, có đầu màu đen, đốt ngực trước màu nâu đỏ hình ovan, đốt ngực giữa mang đôi cánh cứng màu xanh đen có ánh kim, đốt ngực cuối mang đôi cánh màng giúp cho bọ cánh cụt có thể bay lên khi gặp điều kiện bất lợi Bụng gồm 6 đốt 4 đốt đầu màu nâu đỏ, 2 đốt cuối màu đen đậm mang cặp lông đuôi nhọn màu đen

Bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis trưởng thành cái đẻ trứng rải rác trong

đất xốp, ẩm, thời gian đẻ trứng có thể kéo dài hơn 3 tháng Một bọ cánh cụt cái có thể đẻ 14,93 ± 10,86 trứng khi nuôi bằng thức ăn cá và khi nuôi trên thức ăn hỗn hợp (sâu xanh hai sọc trắng và thức ăn cá) số trứng có thể tới 138,13 ± 23,50 trứng

Bọ cánh cụt thường ăn cả trứng, sâu non và trưởng thành cắn nhau đến chết khi thức

ăn khan hiếm Bọ cánh cụt non và trưởng thành đều chạy rất nhanh, chúng thường lẩn trốn vào mùn hay xác bã thực vật khi trời nắng nóng và săn bắt mồi khi trời mát

mẻ

Phổ mồi của bọ cánh cụt Paederus fuscipes Curtis khá rộng Chúng có thể ăn

hầu hết các loại côn trùng có thân mềm, tuy nhiên cọ cánh cụt chỉ có thể ăn những sâu non tuổi nhỏ có lớp da mềm Khi gặp vật mồi, bọ cánh cụt thường dùng đôi càng giữ chặt lấy con mồi và nhai dần đến hết Thỉnh thoảng khi thiếu nguồn thức

ăn bọ cánh cụt cũng ăn nguồn thức ăn phụ là rễ non rau, đậu nhưng không ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

Với khả năng ăn mồi nhiều và đa dạng, bọ cánh cụt được coi là loài thiên địch

có khả năng kiểm soát sâu hại trên đồng ruộng

Trang 32

2.4.2 Nhóm thiên địch ký sinh

2.4.2.1 Ong ký sinh Neochrysocharis beasleyi Fisher và La Salle

Theo Trần Thị Thiên An (2007), Ong ký sinh Neochrysocharis beasleyi là loài ong đen nhỏ, nội ký sinh sâu non ruồi đục lá L sativae thuộc họ phụ Entedoninae

ong nhỏ râu ngắn Eulophidae, bộ cánh màng Hymenoptera

Trưởng thành ong N beasleyi có cơ thể màu xanh đen hơi tím ánh kim loại

Râu hình ống dài, có 7 đốt, cuống râu có nhiều lông nhỏ, ngắn, các đốt phía cuối có chiều dài lông dài hơn chiều dài dài đốt râu và đính quanh đốt Chiều dài cánh ong gần gấp đôi chiều rộng, gân cánh thoái hóa, cánh trước chỉ còn mạch Sc hiện diện, phần cuối của gân tạo thành một vết đốm nằm ở giữa chiều dài của cánh Bụng của ong có hình ovan, đốt bụng mềm và bóng màu nâu đen Ong cái có kích thước cơ thể 1,09 ± 0,14 mm, ong đực có kích thước cơ thể dài 0,94 ± 0,11 mm

Ong N beasleyi thường đẻ trứng ở phía cuối bụng của vật chủ, trứng có hình

quả bí xanh, có cuống ngắn, màu trong suốt hơi vàng, dài 0,21 ± 0,03 mm

Sâu non ong N beasleyi có cơ thể hình bầu dục dài, dạng không chân, di

chuyển bằng cách co giãn các đốt cơ thể, sâu non có 3 tuổi, hình dạng và kích thước giữa các tuổi có sự khác biệt

Nhộng là dạng nhộng trần lúc đầu có màu vàng nhạt sau chuyển sang màu trắng và đen khi sắp vũ hóa Nhộng có chiều dài 1,38 ± 0,07 mm và rộng 0,04 ± 0,07 mm

Thời gian phát triển vòng đời của ong N beasleyi là 14,8 ± 0,83 ngày trong

điều kiện nhiệt độ 25 – 29 0C và ẩm độ 60 – 70 %

Sau khi vũ hóa được 6 – 8 giờ thì ong N beasleyi bắt đầu hoạt động tìm đôi để

giao phối, ong cái sau khi vũ hóa 2 – 3 ngày chúng bắt đầu đẻ trứng ký sinh Ong cái có hoạt động ăn vật chủ sau vũ hóa Hoạt động ký sinh của ong cái chậm chạp, chúng thường di chuyển từ từ trên mặt lá cây dưa leo để tìm vật chủ Khi tìm được vật chủ, ong cái di chuyển qua lại trên vật chủ khoảng 2 – 3 lần để tìm vị trí đẻ trứng, khi xác định được vị trí thích hợp chúng đứng yên và bắt đầu co cơ thể chọc máng đẻ trứng vào vật chủ, thời gian đẻ xong một trứng trên một vật chủ kéo dài 4

Trang 33

đến 8 phút Đặc biệt ong cái N beasleyi có thể không giao phối nhưng vẫn đẻ trứng

ký sinh và những trứng này sẽ nở ra thành ong đực

Ong N beasleyi có khả năng ký sinh trên sâu non ruồi đục lá nhiều nhất vào

ngày thứ 5 sau vũ hóa và thời gian ký sinh có thể kéo dài 13 ngày ở 25 – 29 0C, ẩm

độ 60 – 70 %

Trong điều kiện được tự do lựa chọn cây ký chủ thì ong cái N beasleyi sẽ ưa

thích hoạt động ký sinh trên cây dưa leo hơn là cây đậu cove

2.4.2.2 Ong ký sinh Asecodes delucchii

Theo Trần Thị Thiên An (2007), Ong ký sinh Asecodes delucchii là loài ong đen nhỏ, nội ký sinh sâu non ruồi đục lá L sativae thuộc họ ong nhỏ râu ngắn

Eulophidae, bộ cánh màng Hymenoptera

Trưởng thành ong A delucchii có màu xanh đen, mắt kép màu tím đỏ, cơ thể

ong cái dài 0,76 – 0,81 mm, ong đực có kích thước nhỏ hơn dài 0,54 – 0,6 mm Râu

hình ống dài có 7 đốt, trên cuống râu có nhiều long nhỏ, ngắn Cánh của ong A delucchii màu trắng trong suốt, có nhiều lông nhỏ, mịn, mép ngoài của cánh có có long mép dài Bụng của ong A delucchii màu đen, các ngấn đốt bụng ong cái trông

rõ hơn ong đực và chúng nhọn đầu về phía cuối Chân có cấu tạo đốt bàn theo kiểu 4-4-4

Trứng của ong A delucchii rất nhỏ, thường được đẻ ở phần cuối bụng của sâu

non ruồi đục lá Trứng dài 0,175 – 0,185 mm, hình hạt gạo, màu trắng khi đẻ đến màu xám khi sắp nở

Sâu non của ong A delucchii có cơ thể hình bầu dục dài, dạng không chân, di

chuyển bằng cách co dãn các đốt cơ thể của chúng, sâu non có 3 tuổi, hình dạng và kích thước giữa các tuổi có sự khác biệt

Nhộng của ong A delucchii là nhộng trần, dài 0,90 – 1 mm, màu sắc của

nhộng biến đổi từ màu xanh nhạt sang màu đen

Vòng đời của ong A delucchii phát triển trong điều kiện phòng thí nghiệm là

14,36 – 14,94 ngày

Trang 34

Sau khi vũ hóa ong A delucchii di chuyển rất chậm, chúng cần khoảng 15 phút

sau mới bay được bình thường Ong trưởng thành có xu tính hướng sáng rất rõ

Ong cái A delucchii bắt đầu bắt cặp ở một ngày sau vũ hóa và đẻ trứng ký sinh

nhiều nhất ở 2 – 3 ngày sau vũ hóa Trước khi đẻ trứng ký sinh, ong cái bay đến lá cây có đường đục của sâu non ruồi đục lá và dùng 2 râu đầu của chúng để dò tìm vật chủ Sau khi tìm thấy vật chủ, ong di chuyển qua lại trên cơ thể vật chủ 2-3 lần

để tìm vị trí thích hợp cho việc đẻ trứng Ong A delucchii thường đẻ trứng rời rạc

từng quả một ở phần cuối của cơ thể sâu non ruồi đục lá Đa số một ong cái chỉ đẻ

một trứng trên một sâu non ruồi đục lá Trong điều kiện phòng thí nghiệm ong A delucchii có thời gian hoạt động ký sinh trên sâu non ruồi đục lá dài đến 9 ngày Trong điều kiện được tự do lựa chọn cây ký chủ thì ong cái A delucchii sẽ ưa thích

hoạt động ký sinh trên cây đậu cove hơn là cây dưa leo

2.4.2.3 Ong Cotesia sp

Theo Trương Thị Thành (2007), ong Cotesia sp thuộc họ ong kén nhỏ

Braconidae, bộ cánh màng Hymenoptera nội ký sinh trên sâu non sâu xanh hai sọc

trắng Diaphania indica Saunder (Lepidoptera – Pyralididae)

Cơ thể trưởng thành Cotesia sp nhỏ, dài không quá 6 mm, màu nâu đen Con

cái có kích thước lớn hơn con đực, bụng bầu hơn và phình to ở các đốt giữa bụng, con đực bụng thon nhỏ

Trứng hình hạt gạo, màu trong suốt, vị trí đẻ trứng thường tập trung phần cuối bụng sâu xanh hai sọc trắng Giai đoạn đẻ trứng kéo dài 3 – 4 ngày Ấu trùng ong

Cotesia sp hình bầu dục dài, màu trắng, phân thành từng đốt, cơ thể không chân nên

di chuyển nhờ sự co giãn của các đốt cơ thể, giai đoạn ấu trùng dài 4 – 6 ngày

Nhộng của ong Cotesia sp dạng nhộng trần và giai đoạn nhộng kéo dài 5 – 6 ngày Tuổi thọ của ong Cotesia sp là 28,7 ngày đối với ong cái và ong đực là 22,3

ngày

Ong Cotesia sp thường vũ hóa vào buổi sáng (8 – 9 giờ sáng), tỉ lệ ong cái cao 60,21 % Ong Cotesia sp sau vũ hóa 3 – 4 ngày thì tỉ lệ ký sinh cao nhất Sâu non

Trang 35

sâu xanh hai sọc trắng tuổi 3 cho tỉ lệ ký sinh cao nhất và tỉ lệ ong Cotesia sp cái thu

được cũng cao hơn sâu tuổi 1, 2, 4, sâu tuổi 5 không có hiện tượng bị ký sinh

2.5 Điều kiện tự nhiên khu vực Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

2.5.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Củ Chi có 20 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiện 434,50 km2, dân số là 326.716 người năm 2008, mật độ dân số 752 người/ km2 Củ Chi cùng với các huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Quận 12 là các vùng trồng rau chuyên canh cung cấp lượng rau xanh lớn cho toàn Tp Hồ Chí Minh và một phần nhỏ phục vụ xuất khẩu Tổng diện tích trồng rau của Củ Chi năm 2008 là 2.932 ha chiếm 32,54% diện tích trồng rau của TP Hồ Chí Minh Sản lượng các loại rau của huyện năm 2008 đạt 3.189 tấn, năng suất trung bình 201,1 tạ/ha

2.5.2 Điều kiện khí hậu thời tiết

Qua biểu đồ nhiệt độ (biểu đồ 2.1), biểu đồ ẩm độ (biểu đồ 2.2) và biểu đồ lượng mưa ta thấy:

- Thời tiết rất ít biến động và phù hợp trong suốt thời gian đặt bẫy thu mẫu và điều tra

- Nhiệt độ tăng dần từ tháng 2 đến tháng 5 và nhiệt trung bình từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2010 là 29,88 0C, cao nhất là tháng 5 với 31,3 0C và thấp nhất là tháng

2 với 28,4 0C

- Ẩm độ không khí trung bình từ tháng 2 đến tháng 5 là 69,5 % trong đó 3 tháng 2, 4, 5 có ẩm độ không khí cao nhất và bằng nhau với 70 %, tháng có ẩm độ thấp nhất là tháng 3

- Lượng mưa từ tháng 2 đến tháng 5 trung bình là 5,65 mm trong đó cao nhất

là tháng 4 với 9,9 mm và thấp nhất là tháng 2 không có mưa

Trang 36

70 70

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ lượng mưa từ tháng 02/2010 – 5/2010

Nguồn: Theo Trạm khí tượng thủy văn Tân Sơn Hòa, TP Hồ Chí Minh

Trang 37

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài tiến hành trong 5 tháng, từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 05 năm 2010

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm điều tra: Vườn trồng mướp đắng, dưa chuột và dưa lê của các hộ nông dân xã Nhuận Đức và khu trồng rau Công nghệ cao xã Phạm Văn Cội huyện

Củ Chi, TP Hồ Chí Minh

Địa điểm phân tích mẫu, đếm mẫu, định danh, nuôi côn trùng tại phòng thực tập côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

3.2 Nội dung nghiên cứu

Điều tra sự đa dạng thành phần côn trùng trên điều kiện trồng cây mướp đắng, cây dưa chuột và cây dưa lê trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng

Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây mướp đắng, cây dưa chuột và cây dưa lê được trồng trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng

3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Vật liệu nghiên cứu

Các loại bẫy: Bẫy hầm, bẫy chậu và thu bắt bằng vợt (Hình 3.1)

Cồn: 30%, 70%, 95% sử lý mẫu và bảo quản mẫu

Dung dịch gồm 20% nước rửa chén và 80% nước để đặt bẫy

Tài liệu phân loại côn trùng

Kính lúp soi nổi, máy ảnh, sổ tay ghi chép

Vật dụng giữ mẫu: Cọ vẽ, túi nilon, lưới lọc, kẹp đầu nhọn, đĩa petri, lọ đựng mẫu và nhãn ghi (Hình 3.2)

Vật dụng nuôi côn trùng: Hộp nhựa nuôi côn trùng, ống thủy tinh, giấy ẩm (Hình 3.3, Hình 3.4)

Trang 38

Vườn mướp đắng, dưa chuột canh tác theo tập quán nông dân và dưa chuột, dưa lê trong nhà lưới Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Công nghệ cao Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh

Hình 3.1 Các loại bẫy Hình 3.2 Dụng cụ giữ, đựng mẫu

Hình 3.3 Hộp nuôi côn trùng bắt mồi Hình 3.4 Lọ nuôi côn trùng bị ký sinh

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 Điều tra sự đa dạng của côn trùng trên cây rau bầu bí trồng trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng

a Chọn ruộng điều tra:

* Rau bầu bí trồng ngoài đồng ruộng: điều tra trên 2 ruộng của 2 hộ nông dân

1) Hộ Lê Đình Quốc

Địa chỉ: Ấp Bầu Trăn, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP HCM

Diện tích trồng: 4.000 m2 (0,4 ha)

Giống trồng: Mướp đắng Ánh Vàng

Trang 39

Ngày gieo hạt: 19/02/2010

Kỹ thuật trồng: Mướp đắng được trồng trên cánh đồng chuyên canh cây rau họ bầu bí như mướp, dưa chuột, bí đỏ, dưa hấu…Trước khi trồng làm vườn bằng cách cày đảo đất để 2-3 ngày sau đó lên luống rồi phủ bạt nông nghiệp và đục lỗ bạt theo kích thước trồng Trước khi gieo hạt thẳng vào hốc trồng bón lót bằng phân lân và phân N-P-K Tưới mướp đắng bằng cách tưới chảy tràn, phun thuốc bảo vệ bằng vòi phun sương Bắc giàn hình chữ A cho mướp đắng leo

Ruộng mướp đắng không sử dụng phân hữu cơ bón lót, sử dụng phân bón con

cò vàng 20-20-15 để bón lót trước khi gieo hạt và bón thúc 3 lần (10 ngày/ lần) sau khi trồng

Sử dụng các loại thuốc NIPY RAM 50wp hoạt chất Nitenpyram, DAIWANCE 200sp hoạt chất Acetamiprid, ASCEND 20sp hoạt chất Acetamiprid, Actara 25WG hoạt chất Thiamethoxam và một số thuốc không nhãn phun phòng trừ sâu, rầy xanh,

bọ trĩ, bọ phấn và phun liên tục thay đổi thuốc với chu kỳ 5-6 ngày 1 lần

Mướp đắng cho thu hoạch 37 ngày sau trồng và cho năng suất ghi nhận trên 12,5 tấn/ha và ruộng mướp đắng bị sâu phá hại nặng nên tàn vào 49 NST

2) Hộ Bùi Văn Hiệp

Địa chỉ: Ấp Bầu Trăn, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP HCM

Sau khi trồng khoảng 10 ngày bón thúc bằng phân bón NPK 20 -20- 15 và ANVI-EMO 2 lần với chu kỳ 10 ngày 1 lần

Trang 40

Sử dụng các loại thuốc Ascend 20sp hoạt chất Acetamiprid, AC Plant 4T, …

để phòng trừ sâu, rầy, rệp và bọ trĩ gây hại với chu kỳ phun từ 6 ngày phun một lần Dưa chuột sau khi trồng 30 ngày cho thu hoạch với năng suất ghi nhận hơn 15 tấn/ha và ruộng dưa chuột bị bệnh phá hại nặng nên tàn vào 52 NST

* Rau bầu bí trồng trong nhà lưới:

Chọn 2 nhà lưới trồng rau bầu bí của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao Tp.HCM

Địa chỉ: Xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Tp HCM

Diện tích mỗi nhà lưới 300 m2 (0,03ha)

Giống trồng trong nhà lưới: Một nhà trồng dưa lê A Liên và dưa lê Vân Anh, một nhà trồng giống dưa chuột Israel và dưa chuột Tropica

Ngày gieo hạt: đối với dưa lê gieo hạt ngày 23/02/2010 và dưa chuột gieo ngày 02/03/2010

Kỹ thuật trồng: Cây con được ươm sẵn trên khay xốp trong nhà lưới sau khi lên được 2 lá mầm được trồng sang túi nilon trồng cây có đường kính 30 cm, cao 30

cm chứa giá thể sơ dừa đã được ngâm ủ kỹ và đặt trên giá đỡ cách mặt đất 15 cm Dinh dưỡng cho cây được pha chế sẵn trên bể pha chế cùng với nước qua ống dẫn nhỏ giọt cung cấp liên tục cho cây hấp thụ và phát triển

Trong nhà lưới thường sử dụng thuốc phòng trừ bệnh là chủ yếu, gồm thuốc Kumulus, Aliette, Ridomil, Topsin, Daconil, Dipomate, Antracol, Alpine phun phòng bệnh cho cây và dùng duy nhất thuốc Reagant hoạt chất Abamectin để trừ bọ trĩ, bọ phấn xuất hiện trong nhà lưới

Nhà lưới trồng dưa lê cho năng suất hơn 43 tấn/ha và nhà lưới trồng dưa chuột cho năng suất hơn 56 tấn/ha

b Phương pháp thực hiện

Điều tra thu thập mẫu bằng cách đặt bẫy và vợt được tiến hành theo phương pháp R.L Kitching, G.Vickerman, M.Laidlan và Hurley (2000) trong “The Comparative Assessment of Arthropod and Tree Biodiversity in Old-World Rainforests”

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w