TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của BA, 2,4-D và dịch chiết đến sinh trưởng của hai giống lan đơn thân Mokara và Vanda invitro” được tiến hành tại phòng nuôi cấy mô, bộ môn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BA, 2,4-D VÀ DỊCH CHIẾT ĐẾN
SINH TRƯỞNG CỦA 2 GIỐNG LAN ĐƠN THÂN
MOKARA VÀ VANDA INVITRO
Sinh viên thực hiện: TRẦN ĐÌNH NGUYÊN Ngành: NÔNG HỌC
Niên khoá: 2005 - 2009
Tháng 08/2009
Trang 2ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BA, 2,4-D VÀ DỊCH CHIẾT ĐẾN
SINH TRƯỞNG CỦA 2 GIỐNG LAN ĐƠN THÂN
MOKARA VÀ VANDA INVITRO
TRẦN ĐÌNH NGUYÊN
(Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Nông Học)
Giáo viên hướng dẫn:
ThS HỒ TẤN QUỐC
Tháng 08/2009
Trang 31 LỜI CẢM ƠN
Con thành kính cảm ơn cha mẹ đã nuôi dưỡng con nên người
Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, cảm ơn văn phòng khoa nông lâm phân hiệu Gia Lai, trường Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập ở trường
Em xin chân thành cảm ơn thầy Hồ Tấn Quốc đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Các thầy cô trong bộ môn Di truyền - Chọn giống khoa Nông học đã tạo mọi điều kiện cho em thực hiện và làm tốt luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn tập thể lớp DH05NHGL và tất cả các bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Sau cùng, xin chúc quý thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh lời chúc sức khoẻ và thành công trong công tác đào tạo
Tháng 08 năm 2009
Trần Đình Nguyên
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của BA, 2,4-D và dịch chiết đến sinh
trưởng của hai giống lan đơn thân Mokara và Vanda invitro” được tiến hành tại phòng
nuôi cấy mô, bộ môn Di Truyền Giống, khoa Nông Học, trường ĐH Nông Lâm, thời gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố nhằm mục đích xác định nồng độ BA, 2,4-D và tìm loại
dịch chiết thích hợp cho sinh trưởng lan Vanda và Mokara invitro
Kết quả đạt được như sau:
Nồng độ BA thích hợp cho việc nhân chồi lan Mokara và Vanda:
- MTN + 2 mg/l BA
- MTN + 3 mg/l BA
Nồng độ 2,4-D thích hợp để phát triển chiều cao cây và ra rễ lan Mokara và
Vanda là: 2 mg/l 2,4-D
Nồng độ 2,4-D thích hợp cho ra lá lan Mokara và Vanda là: 3 mg/l 2,4-D
Các dịch chiết khoai tây, đu đủ, dưa leo, chuối chín đã tác động đến sinh trưởng
của lan Mokara và Vanda, trong đó dưa leo là dịch chiết thích hợp nhất để phát triển chiều cao cây, khoai tây là dịch chiết thích hợp nhất cho ra lá của lan Mokara và
Vanda
Trang 52.5.1 Mẫu nuôi cấy
Trang 62.5.2 Môi trường nuôi cấy 9
2.11 Một số kết quả nghiên cứu về lan đơn thân 15
Trang 73.5.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân chồi của 2 giống lan đơn
3.5.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của 2,4-D đến khả năng ra rễ của 2 giống lan đơn thân
3.5.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết: khoai tây, chuối xanh, đu đủ
và dưa leo đến sự sinh trưởng của 2 giống lan đơn thân Mokara và Vanda 21
4.1 Khảo sát ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân chồi của 2 giống lan Mokara và
4.1.2 Ảnh hưởng của BA đến chiều cao chồi lan Mokara và Vanda 25
4.1.3Ảnh hưởng của BA đến số lá trên chồi của lan Mokara và Vanda 28
4.2 Ảnh hưởng của 2,4-D đến khả năng ra rễ của 2 giống lan Mokara và Vanda 29
4.2.1 Ảnh hưởng của 2,4-D đến số rễ trên cây của 2 giống lan Mokara và Vanda 29
4.2.2 Ảnh hưởng của 2,4-D đến chiều dài rễ của 2 giống lan Mokara và Vanda 31
4.2.3 Ảnh hưởng của 2,4-D đến chiều cao cây của 2 giống lan Mokara và Vanda 34
4.2.4 Ảnh hưởng của 2,4-D đến số lá trên cây của 2 giống lan Mokara và Vanda 36
4.3 Ảnh hưởng của các loại dịch chiết: khoai tây, đu đủ, dưa leo, chuối chín đến sự
4.3.1 Ảnh hưởng của dịch chiết khoai tây, đu đủ, dưa leo, chuối chín đến số lá của lan
Trang 84.3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết khoai tây, đu đủ, dưa leo, chuối chín đến chiều cao cây
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của BA đến số chồi lan Mokara và Vanda 23
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của BA đến sự tăng trưởng chiều cao chồi của lan Mokara và
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của BA đến số lá/chồi của lan Mokara và Vanda 28
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của 2.4-D đến số rễ /cây của lan Mokara và Vanda 30
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của 2.4-D đến chiều dài rễ của lan Mokara và Vanda 32
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của 2.4-D đến chiều cao cây của lan Mokara và Vanda 34
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của 2.4-D đến số lá/cây của lan Mokara và Vanda 37
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết đến số lá của lan Vanda và Mokara 39
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết đến chiều cao cây của lan Vanda và
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hoa lan Mokara 13
Hình 2.2 Hoa lan Vanda 14
Hình 4.1 Số chồi của lan Mokara ở nồng độ 3 mg/l BA sau 60 ngày sau cấy 25
Hình 4.2 Chiều cao chồi của lan Vanda ở nồng độ 2 mg/l BA sau 60 ngày sau cấy 27
Hình 4.3 Số rễ của lan Vanda ở nồng độ 2 mg/l 2,4-D sau 60 ngày cấy 31
Hình 4.4 Chiều cao cây và chiều dài rễ của lan Mokara ở nồng độ 2 mg/l 2,4-D
sau 60 ngày cấy 36
Hình 4.5 Ảnh hưởng của dịch chiết khoai tây đến số lá lan Mokara sau
60 ngày cấy 40
Hình 4.6 Ảnh hưởng của dịch chiết dưa leo đến chiều cao cây lan Vanda sau
60 ngày cấy 42
Hình 5.1: Ảnh hưởng của các nồng độ BA đến số chồi lan Vanda sau 60 ngày cấy 50
Hình 5.2: Ảnh hưởng của các nồng độ BA đến số chồi lan Mokara sau
Hình 5.3: Ảnh hưởng của các nồng độ 2,4-D đến chiều cao cây và ra rễ của
Hình 5.4: Ảnh hưởng của các nồng độ 2,4-D chiều dài rễ của lan Mokara 51
Hình 5.5: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết đến sự sinh trưởng của lan Vanda 52
Hình 5.6: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết đến sự sinh trưởng của lan Mokara 52
Trang 12DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 1.1 Ảnh hưởng của BA đến chiều cao chồi lan Mokara và Vanda 46
Đồ thị 1.2 Ảnh hưởng của BA đến số chồi lan Mokara và Vanda 46
Đồ thị 1.3 Ảnh hưởng của BA đến số lá/chồi lan Mokara và Vanda 47
Đồ thị 1.4 Ảnh hưởng của 2,4-D đến số lá lan Mokara và Vanda 47
Đồ thị 1.5 Ảnh hưởng của 2,4-D đến chiều cao cây lan Mokara và Vanda 47
Đồ thị 1.6 Ảnh hưởng của 2,4-D đến số rễ/cây lan Mokara và Vanda 48
Đồ thị 1.7 Ảnh hưởng của 2,4-D đến chiều dài rễ lan Mokara và Vanda 48
Đồ thị 1.8 Ảnh hưởng của các loại dịch chiết đến số lá lan Mokara và Vanda 48
Đồ thị 1.9 Ảnh hưởng của dịch chiết đến chiều cao cây lan Mokara và Vanda 49
Trang 13Trong thế giới các loài hoa, với những ưu điểm nổi bật như hoa đẹp, nhiều màu sắc, lâu tàn, có thể dùng làm hoa cắt cành hay trồng chậu nên hoa lan rất được ưa
chuộng Điển hình như lan Mokara và Vanda, là các giống lan đơn thân với những đặc
điểm về hình thái như thân đơn thẳng, các lóng khá dài và không có giả hành, hoa mọc
từ nách lá, phát hoa thẳng và không phân nhánh nên được trồng phổ biến dưới các hình thức trồng chậu hay cắt cành, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trước nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao, đòi hỏi thị trường sản xuất hoa lan trong nước không ngừng mở rộng và nâng cao về chất lượng Với những cách nhân giống thông thường không thể giải quyết được vấn đề sản xuất hoa lan với số lượng lớn để cung cấp cho thị trường Và nuôi cấy mô được xem như là phương pháp tối ưu nhất để nhân giống trên qui mô công nghiệp Phương pháp này có nhiều ưu điểm là có thể nhân giống với hệ số nhân cao trong thời gian ngắn, tạo ra các dòng cây con thật đồng nhất, sạch bệnh, ổn định về mặt di truyền và không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết
Nhằm xác định nồng độ các chất điều hoà sinh trưởng BA, 2,4-D và tìm ra dịch chiết thích hợp cho môi trường nuôi cấy lan invitro, được sự đồng ý của khoa Nông học và bộ môn Di Truyền - Giống, chúng tôi thực hiện đề tài : “ Đánh giá tác động của
BA, 2,4-D và dịch chiết đến sinh trưởng của hai giống lan đơn thân Mokara và Vanda
invitro”
Trang 141.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Xác định nồng độ BA và 2,4-D thích hợp cho sinh trưởng của lan Mokara và
Vanda invitro
Đánh giá tác động của các loại dịch chiết khoai tây, đu đủ, chuối chín, dưa leo
đến sự sinh trưởng của lan Mokara và Vanda invitro
Xác định loại dịch chiết tối ưu cho sinh trưởng lan Mokara và Vanda invitro
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi sự sinh trưởng của lan Mokara và Vanda invitro
Xác định liều lượng BA, 2,4-D thích hợp cho sự sinh trưởng của lan Mokara và
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử phát triển nuôi cấy mô tế bào thực vật
Theo Trần Văn Minh (1999) Lịch sử phát triển nuôi cấy mô thực vật như sau: Năm 1838, hai nhà sinh vật Đức Schleiden và Schwann đã đề xướng thuyết tế bào và nêu rõ: mọi cơ thể sinh vật phức tạp đều gồm những đơn vị nhỏ các tế bào hợp thành Các tế bào đã phân hóa đều mang các thông tin di truyền có trong các tế bào đầu tiên, đó là trứng sau khi thụ tinh, là những đơn vị độc lập, từ đó có thể xây dựng toàn bộ cơ thể
Năm 1902, Haberlandt là người đầu tiên đưa các giả thuyết của Schleiden và Schwann vào thực nghiệm để chứng minh tính toàn thế của tế bào, nhưng ông đã thất bại trong nuôi cấy các tế bào đã phân hóa tách từ lá một số cây một lá mầm Ngày nay, chúng ta đã biết được nguyên nhân thất bại là vì cây một lá mầm là đối tượng rất khó nuôi cấy, hơn nữa, ông lại dùng các tế bào đã mất hết khả năng tái sinh
Năm 1922, Kotte và Robbins thực hiện lại thí nghiệm của Haberlandt và đã thành công trong nuôi cấy đỉnh sinh trưởng từ đầu rễ 1 cây hòa thảo
Năm 1934, White (Hoa Kỳ) đã nuôi cấy thành công trong 1 thời gian dài đầu rễ cây cà chua trên môi trường lỏng chứa muối khoáng, đường và nước chiết nấm men Ở các thí nghiệm tiếp theo, White đã chứng minh là có thể thay thế nước chiết nấm men bằng hỗn hợp 3 loai vitamin nhóm B: Thiamin( B1), Pyridoxin (B6) và Nicotinic acid
Từ đó, việc nuôi cấy đầu rễ trong thời gian vô hạn đã được tiến hành ở nhiều cây khác nhau
Sau đó ít lâu, Went và Thimann phát hiện ra chất điều hòa sinh trưởng đầu tiên là IAA (Indol acetic acid)
Năm 1939, cùng với Nobercourt, Gautheret đã thành công trong việ duy trì sự
sinh trưởng trong thời gian dài của mô sẹo cà rốt (Daucus carota) trên môit trường rắn
bằng thạch
Trang 16Năm 1941, Overbeck (Hoa Kỳ), chứng mỉnh tác dụng kích thích sinh trưởng của
dừa nước trong nuôi cấy phôi họ cà (Datura)
Trong thời gian này, nhiều chất sinh trưởng nhân tạo đã được nghiên cứu và tổng hợp thành công, như Napthyl acetic acid (NAA), 2,4 - Dichlorphenoxy acetic acid (2,4-D) Nhiều tác giả nhận thấy cùng với nước dừa, NAA và 2,4-D đã giúp tạo mô sẹo, gây phân chia tế bào thành công ở nhiều đới tượng thực vật mà trước đó rất khó nuôi cấy
Năm 1995, Skoog và tìm ra chất điều hòa sinh trưởng trong tinh dịch cá bẹ là 6-Furfury laminopurine và đặt tên là Kinetin, có tác dụng kích thích dự phân bào
Việc phát hiện vai trò của NAA, IAA, 2,4-D và Kinetin cùng với phát hiện các vai trò của các vitamin và nước dừa là một bước tiến quan trọng, đây là tiền đề kĩ thuật cho việc xây dựng các môi trường xác định về mặt hóa học, cho việc làm các thí nghiệm ổn định và dẫn đến và dẫn đến những thành công tiếp theo của ngành khoa học này
Năm 1957, Skoog và Miller công bố các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉ
lệ Kinetin/ Auxin trong môi trường nuôi cấy đối với sự hình thành cơ quan của mô sẹo thuốc lá Khi giảm tỉ lệ Kinetin/Auxin, mô sẹo có khuynh hướng phát triển rể Ngược lại thì dẫn đến khuynh hướng tạo chồi ở mô sẹo Hiện tượng này được xác nhận trên nhiều cây khác nhau cà đóng góp rất lớn vào sự điều khiển sinh trưởng, phát triển của
mô tế bào trong nuôi cấy
Từ 1954 dến 1959, kỹ thuật tách và nuôi cấy tế bòa đơn đã được phát triển Muir, Hildebrandt và Riker đã tách các tế bào của mô sẹo thành các tế bào đơn bằng cách sử dụng máy lắc
Năm 1960, Bergman công bố có thể dùng phương pháp lọc đơn giản để thu được hầu hết là tế bào đơn mà không phải dính cụm Các tế bào đơn có thể gieo trên môi trường, tiếp tục phân chia và tái tạo mô sẹo Cùng với kĩ thuật gieo tế bào của Bergman, nhiều tác giả khác đã thành công trong việc tạo cây hoàn chỉnh từ tế bào, chứng minh được tính toàn thể của tế bào
Năm 1960, Cooking (người Anh) công bố có thể dùng men cellulose để phân hủy
vỏ cellulose của tế bào thực vật, kết quả thu được các tế bào tròn, không vỏ bọc, gọi là protoplast
Trang 17Đầu những năm 1970, Nagata và Takebe (người Nhật) đã thành công trong việc làm cho các protoplast tách từ mô thuốc lá tái tạo vỏ cellulose, phân chia, tạo nên một quần thể tế bào trong môi trường lỏng, các protoplast có khả năng dung hợp với nhau trong các điều kiện nhất định và hấp thu các phân tử bên ngoài, các nhà nuôi cấy mô đặt hy vọng vào kỹ thuật này để nhân giống có kết quả hơn
Năm 1965, Ledoux và cộng tác viên đề xứng việc biến tính của tế bào thực vật Ông cho rằng các tế bào, thậm chí các hạt giống thực vật, đều có khả năng hấp thu AND ngoại lai vào trong tế bào
Năm 1966, Guha và Maheswari công bố tạo thành công cây đơn bội từ nuôi cấy
túi phấn cây cà độc dược (Datura inoxia) Từ đó người ta bắt đầu chú ý đến kỹ thuật
nuôi cấy túi phấn
Năm 1967, nhóm Bourgin và Nisch tạo thành công cây đơn bội từ túi phấn cây thuốc lá Đến nay, việc tạo cây đơn bội thông qua nuôi cấy túi phấn và hạt phấn đã thành công ở nhiều loại cây trồng
Từ 1980 đến 1992, có nhiều các thành công mới trong lĩnh vực công nghệ gene thực vật được công bố, hàng loạt các công trình chuyển gen ngoại lai vào nhiều họ thực vật
Khả năng nhân giống và phục tráng cây trồng được thể hiện rõ rệt trong những ứng dụng nuôi cấy mô thực vật Năm 1960, Morel đã nhận định sinh trưởng của các loài địa Lan (Cymbidium) khi đem nuôi cấy sẽ hình thành các protocorm Khi chia cắt các protocorm và nuôi cấy tiếp thì thu được các protocorm mới Khi để trong các điều kiện thích hợp nhất định thì protocorm có thể phát triển thành cây lan con Morel có thể phục tráng, tạo ra các dòng vô tính không bị nhiễm virus Kĩ thuật này đặ biệt có giá trị đối với các cây như: khoai tây, cây ăn quả và nhiều cây nhân giống vô tính khác
Hiện nay, chúng ta đang bước vào giai đoạn nuôi cấy mô thực vật được ứng dụng
và phát triển mạnh mẽ trong việc nhân giống, chọn tạo giống, vào việc sản xuất chất thứ cấp có hoạt tính sinh học và vào nghiên cứu lý luận di truyền thực vật bậc cao Nuôi cấy mô thực vật hiện nay được đưa vào trong các chương trình chọn giống, nhân giống hiện đại (Nguyễn Văn Uyển, 1993)
Trang 182.2 Lịch sử phát triển nuôi cấy mô thực vật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu nuôi cấy mô thực vật bắt đầu từ năm 1975 Phòng nuôi
cấy mô đầu tiên được xây dựng tại Viện Sinh Học, Viện Khoa Học Việt Nam do tiến
sĩ Lê Thị Muội đứng đầu
Năm 1978, nuôi cấy bao phấn lúa và thuốc lá đã thành công và được công bố
(Lê Thị Muội và ctv., 1978; Lê Thị Xuân và ctv., 1978) Tiếp đó là thành công nuôi
cấy Protoplast khoai tây (Lê Thị Muội và Nguyễn Đức Thành, 1978; Nguyễn Đức Thành và Lê Thị Muội, 1980, 1981)
Từ giữa 1980 đến nay, hướng nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật
phát triển mạnh Những kết quả đáng khích lệ đã đạt được trong lĩnh vực vi nhân
giống khoai tây (Viện Công Nghệ Sinh Học, Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Viện Lâm Nghiệp) Một số kết quả bước đầu đã được ghi nhận trong lĩnh vực chọn
dòng tế bào kháng bệnh (Lê Bích Thủy và ctv., 1994), chọn dòng chịu muối, chịu mất
nước (Nguyễn Tường Vân và ctv., 1994; Định Thị Tòng và ctv., 1994) Các kết quả về
dung hợp tế bào trần, chuyển gen lục lạp cũng thu được kết quả lý thú (Nguyễn Đức Thành và ctv., 1993, 1997) Nuôi cấy bao phấn để tạo dòng thuần đã
được ứng dụng nhiều tại Viện Công Nghệ Sinh Học và Di Truyền Giống Nông Nghiệp Nuôi cấy các cây dược liệu quí để bảo tồn nguồn gen và tạo các dòng tế
bào có hàm lượng sinh học quan trọng cũng đã và đang được phát triển (Phan Huy Bảo
và Lê Thị Xuân, 1998; Phan Thị Bảy và ctv., 1995; Bùi Bá Bổng, 1995)
2.3 Ứng dụng của nuôi cấy mô tế bào thực vật
Mặc dù nuôi cấy mô thực vật là ngành khoa học trẻ, nhưng đã đóng góp nhiều
thành tựu to lớn trong lĩnh vực chọn giống, cho việc nghiên cứu di truyền thực vật, vai
trò của chất điều hòa sinh trưởng thực vật và nhiều vấn đề cơ bản khác Hàng loạt cây
trồng mang phẩm chất tốt, năng suất cao hơn được ra đời
Ngày nay, nuôi cấy mô tế bào thực vật có ý nghĩa quan trọng trong công nghệ
sinh học Khi tiến hành các kĩ thuật chuyển gene để tạo ra các giống cây trồng mới,
chúng ta đều cần đến kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật (Dương Công Kiên - 2002)
Kỹ thuật nuôi cấy mô có nhiều ưu điểm:
- Không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thời vụ Có thể tiến hành trên diện tích nhỏ với địa điểm bất kì
Trang 19- Tạo được giống cây hoàn toàn đồng nhất và sạch bệnh
- Nhân giống với tốc độ nhanh, tạo điều kiện cho sản xuất đại trà
- Sản xuất cây đơn bội qua nuôi cấy túi phấn
- Bảo quản dễ dàng các nguồn gene
- Vật liệu dung để nhân giống dồi dào, mạng lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
- Dễ dàng trao đổi giống với các nước trên thế giới
- Giảm chi phí vận chuyển từ nơi này đến nơi khác
2.4 Các phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.4.1 Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
Là một phương thức dễ dàng đạt được mục tiêu trong nuôi cấy mô tế bào thực vật, bao gồm nuôi cấy chồi đỉnh và chồi bên
Sau khi vô trùng, mẫu sẽ được nuôi cấy trên môi trường thích hợp Sau một thời gian, từ đỉnh sinh trưởng sẽ nhanh chóng phát triển thành một chồi và chồi đó tiếp tục phát triển, vươn thân, ra lá, rễ để trở thành một cây hoàn chỉnh
Ứng dụng:
- Phục tráng giống
- Nhân giống in vitro
- Tạo cây đa bội thông qua xử lí colchicin
- Nghiên cứu quá trình hình thành cơ quan 2.4.2 Nuôi cấy mô sẹo
Mô sẹo là một khối tế bào phát triển vô tổ chức, phát triển nhanh khi môi trường có bổ xung auxin Trong điều kiện môi trường không có chất kích thích tạo mô sẹo, khối mô sẹo có khả năng tái sinh cây hoàn chỉnh
Ứng dụng:
- Nhân giống in vitro các loại thực vật không có khả năng nhân
giống thông qua nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
- Làm nguyên liệu cho nuôi cấy tế bào đơn, thu nhận các chất có
hoạt tính sinh học
- Làm nguyên liệu cho chọn dòng tế bào
- Nghiên cứu quá trình hình thành cơ quan
Trang 202.4.3 Nuôi cấy tế bào đơn
Khối mô sẹo được nuôi cấy trên môi trường lỏng và đặt trên máy lắc có tốc độ điều chỉnh thích hợp, sẽ tách ra nhiều tế bào riêng lẽ gọi là tế bào đơn Sau đó tế bào đơn được lọc và nuôi cấy trên môi trường thích hợp để phát triển, tăng sinh khối
Ứng dụng:
- Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và phân hóa tế bào trong
những điều kiện khác nhau
- Chọn dòng tế bào
- Thu nhận các chất trao đổi thứ cấp
2.4.4 Nuôi cấy protoplast
Protoplast (tế bào trần) là tế bào đơn tách lớp vỏ cellulose, trong điều kiện nuôi cấy thích hợp protoplast có khả năng tái sinh màng tế bào, tiếp tục phân chia và phát triển thành cây hoàn chỉnh Khi tế bào mất vách và tiến hành dung hợp, hai protoplast
có khả năng dung hợp với nhau tạo ra tế bào lai, đặc tính này cho phép cải thiện giống cây trồng
Ứng dụng:
- Tạo con lai soma nhờ phương pháp dung hợp protoplast
- Chuyển các bào quan hoặc cả nhân vào tế bào
- Quá trình sinh tổng hợp màng tế bào
2 4.5 Nuôi cấy hạt phấn đơn bội
Hạt phấn ở thực vật được nuôi cấy trên môi trường thích hợp sẽ tạo thành mô sẹo
Mô sẹo này được phát triển thành cây hoàn chỉnh là cây đơn bội
Tỷ lệ tạo cây đơn bội sẽ phụ thuộc các yếu tố như:
- Tuổi của hạt phấn
- Tuổi của mô sẹo
- Xử lý bao phấn ở nhiệt độ lạnh
- Để tạo cây đơn bội kép, có thể xử lý mô hoặc cây đơn bội với
colchicine (0,5%) trong 24 - 48 giờ
Trang 212.5 Các yếu tố ành hưởng đến nhân giống in vitro
2.5.1 Mẫu nuôi cấy
Hầu hết những cơ quan thực vật đều có thể dùng để nuôi cấy mô, sự lựa chon mẫu là rất quan trọng (Murashige - 1974)
Mẫu được dùng là các mô non như chồi đỉnh, chồi nách hay chồi bất định sẽ tái sinh tốt hơn mô già hay mô thành thục
Mẫu cấy thích hợp cho nuôi cấy mô phải có mô phân sinh, hay những tế bào có khả năng biểu hiện tính toàn thế (Dương Công Kiên - 2002)
2.5.2 Môi trường nuôi cấy
Công thức nuôi cấy phổ biến nhất là MS (Murashige và Skoog - 1962) thích hợp cho phần lớn các loại cây trồng Để hình thành chồi nách, thường yêu cầu nồng độ tương đối thấp của auxin và cytokinin Để phát triển chồi bất định cần nồng độ cao cytokinin và thêm một lượng auxin thích hợp Để tạo mô sẹo cần nồng độ cao của auxin kết hợp với nồng độ thấp của cytokinin
Sự lựa chọn môi trường đặc hay lỏng cũng rất quan trọng do yêu cầu của từng loại cây trồng Có thể sử dụng môi trường lỏng trên máy lắc khoảng 30 vòng/phút hay
sử dụng môi trường lỏng với dung tích nhỏ trong bình chứa có lắc hoặc không lắc (Dương Công Kiên - 2002)
2.5.3 Đường
Đường giúp cho sự tổng hợp các chất hữu cơ và qua đó các tế bào phân chia, tăng sinh khối Hai loại đường thường được sử dụng là Saccharose và D-glucose (Trần Văn Minh - 1999)
2.5.4 Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hình nuôi cấy mô in vitro Việc
nuôi cấy tốt nhất ở điều kiện ánh sáng khoảng 2.000 lux Trong giai đoạn chuẩn bị cây
in vitro trước khi đem trồng ngoài vườn ươm thì cần cường độ ánh sáng khoảng 3.000
đến 10.000 lux (Dương Công Kiên - 2002)
2.5.5 Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây nuôi cấy
mô Mỗi loại cây trồng cần có nhiệt độ tối ưu cho sự tạo hình Theo Murashige (1974), nhiệt độ thích hợp cho cây nuôi cấy mô là từ 200 - 270C
Trang 222.5.6 Các chất khí
Thành phần chất khí trong bình nuôi cấy ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trong nuôi cấy mô Các chất khí như O2, CO2 là những thành phần chất khí được khảo sát nhiều trong môi trường nuôi cấy Ẩm độ cũng được quan tâm đến, do quá trình làm khô mẫu cấy Debergh et at (1981) ghi nhận ẩm độ trong khoảng không bình nuôi cấy
ở môi trường lỏng cao hơn môi trường có agar 1%
2.6 Những trường hợp thường gặp trong nuôi cấy mô
2.6.3 Hiện tượng thủy tinh thể
Là một dạng bệnh lý của cây, thân lá cây phồng to, trong suốt và chứa nhiều nước, khó nhân giống Để hạn chế quá trình hoá thuỷ tinh thể cần :
Giảm sự hấp thu nước của cây bằng cách tăng nông độ đường trong môi trường nuôi cấy và dùng các chất có áp suất thẩm thấu cao
Giảm sự gây vết thương trên mẫu cấy qua chất khử trùng và tiếp xúc với môi trường cấy ít nhất
Giảm nồng độ đạm trong môi trường nuôi cấy
Giảm khí ethylene trong bình nuôi cấy bằng cách tạo thông gió tốt, tăng cường ánh sáng và giảm nhiệt độ phòng cấy
2.6.4 Sự hoá nâu
Mẫu nuôi cấy mô chứa nhiều chất tannin hay hydroxyphenol (có nhiều trong mô già hơn mô non) sẽ gây độc cho cây, làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây
Trang 23Biện pháp:
- Sử dụng mẫu cấy nhỏ từ mô non
- Gây ít vết thương trên mẫu khi khử trùng
- Ngâm mẫu vào dung dịch ascorbic acid và citric acid vài giờ trước khi cấy
- Nuôi cấy trong môi trường lỏng, O2 thấp, không có đèn 1 - 2 tuần
- Chuyển mẫu từ môi trường có chất kích thích sinh trưởng thấp sang môi trường có nồng độ cao hơn
2.6.5 Sử dụng kháng sinh
Có nhiều loại thuốc kháng sinh được sử dụng trong nuôi cấy mô, nhằm hạn chế
sự hoại mẫu vi sinh vật, như: penicilin, rifambicin, vancomycin… Nồng độ sử dụng
5 - 100 g/l phụ thuộc vào vật liệu nuôi cấy như tế bào, tế bào trần hay mô Mô thực vật rất nhạy cảm với tác động của kháng sinh và các phản ứng khác nhau lên kiểu di truyền, do đó cẩn thận trọng khi sử dụng
2.7 Một số chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Các chất kích thích sinh trưởng gồm có 2 nhóm chính là Auxin (IAA, NAA, 2,4-D) và Cytonkinin (Kinetin, BA), ngoài ra Gibbrellin cũng có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng phát triển và trao đổi chất ở thực vật (trích dẫn theo Nguyễn Thị Phương Ngọc Huyền, 2008)
2.7.1 Auxin
Auxin tự nhiên được tìm thấy nhiều ở thực vật là indol acetic acid (IAA) Dẫn xuất của IAA là naphtyl acetic acid (NAA) và 2,4- diclphenoxy acetic acid (2,4-D) NAA được Went và Thimann phát hiện năm 1937 và là một auxin nhân tạo có hoạt tính sinh học mạnh hơn auxin tự nhiên IAA Trong cấy auxin được tổng hợp ở các mô non (lá đang phát triển) và vùng đỉnh chồi Từ những vùng này auxin được chuuyển xuống các phần dưới của cây Ngoài ra, lá non, quả non, phôi hạt cũng tổng hợp được auxin
Vai trò của auxin: gây hiện tượng ưu thế ngọn, gây tính hưởng động; kích thích
sự giãn của tế bào theo chiều ngang làm tế bào phình to; kích thích sự sinh trưởng của quả, ngăn ngừa hiện tượng rụng lá, quả, kích thích sự ra rễ
Trang 242.7.2 Cytokinin
Cytokinin là chất điều hòa sinh trưởng làm tăng sự phân chia tế bào Các Cytokinin thường gặp là Kinetin, 6 - benzyl aminopurin (BA) Kinetin được Skoog phát triển ngẫu nhiên trong khi chiết xuất AND (acid desoxyribo nucelic) Ở phôi, quả non và trong rễ, Cytokinin có hàm lựong cao nhất
Vai trò của Cytokinin: Kích thích sự phân chia tế bào Duy trì sự trẻ hóa của các cơ quan Làm giảm hiện tượng ưu thế ngọn Kích thích sự phân chồi từ mô sẹo nuôi cấy
2.7.3 Gibbrellin
Gibbrellin đựoc phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người Nhật tên Kurosawa (1920) Năm 1939 đã tách chiết được Gibbrellin từ dịch chiết nấm
Gibbrellin fujikuroi và được gọi là Gibbrellin A Gibbrellin được tìm thấy trong tất cả
các loài cây và các loài nấm Đến nay đã có gần 50 chất Gibbrellin được tìm thấy Vai trò của Gibbrellin: Giúp kéo dài lóng, đốt; giúp phá vỡ trạng thái lùn của cây, kích thích nảy mầm của hạt; tác động lên sự đậu trái của cây (Đỗ Thị Bảo Ngọc 2002)
2.8 Giới thiệu về cây lan
Thân: là loại thân đơn thẳng, với các lóng dài không có giả hành
Rễ: dài, phân nhánh, thuộc loại rễ khí sinh, có khả năng hấp thụ nước và hạn chế sự thoát hơi nước
Trang 25Hoa: mọc từ nách lá, phát hoa thẳng, không phân nhánh Hoa đẹp, phong phú
về màu sắc, lâu tàn và nở liên tục
c Đặc điểm sinh thái của lan Mokara
Lan Mokara phù hợp với điều kiện thời tiết của nước ta Với nhiệt độ khoảng
25 - 300C, ẩm độ khoảng 70% và độ chiếu sáng khoảng 50 - 60% là thích hợp cho lan
Mokara ( trích dẫn theo Đặng Triệu Chung Vũ, 2007)
Hình 2.1: Hoa lan Mokara 2.8.2 Lan Vanda
Trang 26b Đặc điểm hình thái
Lá: hình trụ hoặc tròn, dẹp, phẳng, lá dẹp phẳng tận cùng thường có răng nhọn không đều xếp thành hai hàng đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá hàng kia
Thân: đơn thân, hình trụ dài, các lóng khá dài, không có giả hành
Rễ: mọc thẳng từ thân, xen kẽ với lá, rễ giúp cây lan trườn từ tầng thực vật dày
đặc dưới rừng đến dỉnh ngọn cây gỗ tìm ánh sáng cần thiết cho sự ra hoa
Hoa: phát hoa đứng thẳng và không bằng nhau phân nhánh Hoa khá lớn và khá bền Lá đài và cánh hoa gần như nhau, bờ mép hơi cong vào Môi gắn chặt vào trụ ngắn, vách hoặc cục u Môi có 3 thùy, thùy giữa có sọc dọc và hai cục có nắp che hai phấn khối với vĩ phấn ngắn mà to và gót đĩa lớn
c Đặc điểm sinh thái lan Vanda
Nhiệt độ: lan Vanda cần nhiệt độ để phát triển tốt từ 250-300C
Ánh sáng: ánh sáng thích hợp để cây phát triển khoảng 60%
Hình 2.2 Hoa lan Vanda 2.9 Các loại dịch chiết
2.9.1 Khoai tây
Thành phần dinh dưỡng của khoai tây trong 100 gr: năng lượng 92 kcal, protein 2%, gluxid 21%, xenluloza 1%, canxi 10 mg%, phospho 50 mg%, sắt 1,2 mg%, caroten 29 mg%, vitamin B1 0,1 mg%, vitamin B2 0,05 mg%, vitamin PP 0,9 mg%, vitamin C 10 mg% ( Trương Bút - 2007)
Trang 272.9.2 Đu đủ
Thành phần dinh dưỡng của đu dủ khi chín chứa 90% nước; 13% đường; không
có tinh bột; nhiều caretenoic acid hữu cơ; các loại vitamin A, B, C, protein; 0,9% chất
béo, cellulose; 0,5% canxi, magie, sắt, thiamin, riboflavine
2.9.3 Dưa leo
Thành phần dinh dưỡng của dưa leo trong 100gr: 95 gr nước, 0,6 gr đạm, 1,2 gr
đường, 0,1 gr chất béo, 0,7 gr chất xơ, năng lượng 10 kcal, các vitamin và khoáng
chất, kali (150 mg/100g), phospho (23 mg/100g), canxi (19 mg/100g), natri (13
mg/100g), sắt (1 mg/100g), vitamin B, C, tiền vitamin A ( có trong vỏ dưa), vitamin E
(có trong vỏ dưa)
2.9.4 Chuối chín
Thành phần dinh dưỡng của chuối chín trong 100gr: 0,6mg vitamin B6, 9 gr
vitamin C, 19 mcg folacin, 39l mg kali, 29 mg magie, pectin, chất xơ
2.9.5 Nước dừa
Nước dừa chứa chất đặc hòa tan (glucose và levulose), các amino acid, muối
khoáng (nhất là K2O), chất kích thích sinh trưởng (Cytokinin), Vitamin C (Lê Hữu Trung, 2005)
2.10 Cách lấy dịch chiết
Lột vỏ và thái nhỏ
Xay nhuyễn
Lọc bằng lưới lọc lấy dịch chiết
2.11 Một số kết quả nghiên cứu về lan đơn thân
2.11.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 1970, M Vajrabhaya đã dùng các búp chồi ngọn và chồi bên của cây
Rhynchostylis rừng để tiến hành cấy mô phân sinh Mặc dù kết quả không được khả
quan trên phương diện thương mại, nhưng qua thí nghiệm này giúp người ta hiểu biết
khá sâu sắc về việc cấy mô một số loài lan đơn thân
Năm 1972, John Kunisaki, Kang Kwun Kim, Yoneo Sagawa đã tiến hành cấy
đỉnh tược (shoop ship) của mắt cây Vanda Miss Joaquim trên môi trường Vacim và
Went đặc hay lỏng Kết quả là Vanda Miss Joaquim được nhân giống vô tính thành
công bằng phương pháp cấy đỉnh tược, ngoài loài Vanda Miss Joaquim nhị bội và tứ
Trang 28bội, loài Vanda Diana White Wing và Vanda Nellie Morley cũng đã nhân giống thành
công bằng phương pháp này
2.11.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc về “Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường lên sự tạo protocorm và sự sinh trưởng phát triển của lan
Vanda in vitro” đã sử dụng môi trường nền là: Khoáng MS + 8g arga + 30g đường +
150ml nước dừa + 80g khoai tây + 0,5g than hoạt tính kết hợp với 1 số chất điều hòa sinh trưởng như BA, NAA, GA3 khi nuôi cấy lan Vanda in vitro và sử dụng phương
pháp cắt lát mỏng để tạo cũng như nhân nhanh protocorm
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thiệu Chung Vũ (2007) về “Ảnh hưởng của một
số yếu tố môi trường nuôi cấy mô đến sự sinh trưởng và phát triển của lan Mokara”
đã tìm ra môi trường nhân nhanh chồi lan là có sự kết hợp giữa nồng độ 2 mg/l BA +
300 ml/l nước dừa là thích hợp nhất, hay môi trường có sự kết hợp giữa nồng độ 3 mg/l BA + 0,1 mg/l IBA cũng thích hợp cho việc nhân nhanh chồi Và dịch chiết thích
hợp nhất cho lan Mokara sinh trưởng và phát triển tốt nhất là 50 g chuối
Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Thoa (2009) về “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA, NAA trên Môi trường ½ MS và B5 đến sự phát triển lan Ren
(Renanthera sp.) in vitro” đã xác định môi trường lỏng tĩnh: 1/2MS + 0,3 mg/l NAA +
1,5 mg/l BA và môi trường B5 + 0,3 mg/l NAA + 1,5 mg/l BA là môi trương thích hợp cho sự phát triển lan Ren in vitro
Trong đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường nuôi cấy
in vitro trong nhân giống lan Ren” của Phạm Thanh Huyền (2008) đã đưa vào môi
trường nuôi cấy in-vitro các chất điều hoà sinh trưởng NAA và BAP với nồng độ lần
lượt là 0,2 mg/l và 1,5 mg/l hoặc 0,4 mg/l và 0,5 mg/l nhằm tăng hệ số nhân của cây lan Ren cấy mô và có thể bổ sung thêm 200 ml/l nước dừa đưa vào môi trường nuôi cấy lan Ren nhằm kích thích sự sinh trưởng, phát triển của lan Ren
Trang 29Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2009 tại phòng nuôi cấy
mô, bộ môn Di Truyền Giống, khoa Nông học, trường ĐH Nông Lâm
3.2 Phương tiện thí nghiệm
Mẫu thí nghiệm: giống lan Vanda và Mokara được lấy từ mẫu của phòng thí
nghiệm nuôi cấy mô - Bộ môn Di Truyền - Giống - khoa Nông Học
Môi trường nuôi cấy: Môi trường cơ bản MS (Murashige và Skoog, 1962)
Các nguyên tố đa lượng mg/l
Trang 303.3 Dụng cụ và trang thiết bị
3.3.1 Trang thiết bị
Phòng pha môi trường: máy cất nước, cân điện tử, nồi hấp vô trùng, máy đo pH,
tủ lạnh
Phòng cấy vô trùng: tủ cấy, đèn UV, dụng cụ hấp vô trùng
Phòng nuôi cấy: kệ sắt, đèn neon, máy điều hòa nhiệt độ, nhiệt kế, máy lắc
3.3.2 Dụng cụ
Đèn cồn, đĩa petri, ống nghiệm, bình tam giác, dao, kéo, pipet, khay
3.4 Phương pháp thí nghiệm
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố
3.4.2 Điều kiện nuôi cấy
Thời gian chiếu sáng: 16 h/ngày
Cường độ chiếu sáng: 2000 - 3000 lux
Nhiệt độ phòng nuôi cấy: 18 - 25°C
Ẩm độ trung bình: 70-80%
3.5 Các thí nghiệm nuôi cấy
Gồm 3 thí nghiệm
Trang 313.5.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân chồi của 2 giống lan
đơn thân Mokara và Vanda invitro
Mục đích: xác định nồng độ BA thích hợp đến khả năng nhân chồi của 2 giống
lan đơn thân Mokara và Vanda invitro
Mẫu cấy: chọn các chồi có đường kính đồng nhất cấy vào môi trường thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
Yếu tố A: 2 giống lan đơn thân: Mokara và Vanda
Yếu tố B: 5 mức BA (mg/l): 0, 1, 2, 3, 4
- Số nghiệm thức: 10
- Số lần lặp lại của nghiệm thức: 3
- Số chai cho mỗi lần lặp lại: 2
- Số mẫu /chai: 6
- Tổng số chai cho mỗi nghiệm thức trong 3 lần lặp lại: 3 x 2 = 6
- Tổng số mẫu cho mỗi nghiệm thức: 6 x 6 = 36
Trang 323.5.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của 2,4-D đến khả năng ra rễ của 2 giống lan đơn
thân Mokara và Vanda invitro
Mục đích: tìm nồng độ 2,4-D thích hợp đến khả năng ra rễ của 2 giống lan đơn
thân Mokara và Vanda invitro
Mẫu cấy: chọn các chồi có kích thước đồng nhất cấy vào môi trường
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên
Yếu tố A: 2 giống lan đơn thân: Mokara và Vanda
Yếu tố B: 6 mức 2,4-D (mg/l): 0, 1, 2, 3, 4, 5
- Số nghiệm thức:12
- Số lần lặp lại của nghiệm thức: 3
- Số chai cho mỗi lần lặp lại: 2
- Số mẫu /chai: 4
- Tổng số chai cho mỗi nghiệm thức trong 3 lần lặp lại: 3 x 2 = 6
- Tổng số mẫu cho mỗi nghiệm thức: 4 x 6 = 24
Trang 33- Chiều cao cây
3.5.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của các loại dịch chiết: khoai tây, chuối xanh, đu
đủ và dưa leo đến sự sinh trưởng của 2 giống lan đơn thân Mokara và Vanda
invitro
Mục đích: tìm loại dịch chiết thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của 2
giống lan đơn thân Mokara và Vanda invitro
Mẫu cấy: chọn các chồi có kích thước đồng nhất cấy vào môi trường
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên
Yếu tố A: 2 giống lan đơn thân: Mokara và Vanda
Yếu tố B: 4 loại dịch chiết: khoai tây, đu đủ, dưa leo, và chuối chín với liều
lượng là 100 ml/l
- Số nghiệm thức: 8
- Số lần lặp lại của nghiệm thức: 3
- Số chai cho mỗi lần lặp lại: 2
- Số mẫu /chai: 4
- Tổng số chai cho mỗi nghiệm thức trong 3 lần lặp lại: 3 x 2 = 6
- Tổng số mẫu cho mỗi nghiệm thức: 4 x 6 = 24
Trang 34- Chiều cao cây
3.6 Chỉ tiêu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu
3.6.1 Chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu
- Số chồi/mẫu: đếm toàn bộ số chồi trên mẫu, tính trung bình số chồi/mẫu/bình
- Chiều cao chồi: đo từ bề mặt thạch đến đỉnh đọt cao nhất của chồi, tính trung bình chiều cao của các cụm chồi trong bình
- Số lá trên chồi: đếm số lá/chồi/mẫu, tính trung bình số lá/chồi/mẫu/bình
- Chiều cao cây: đo từ bề mặt thạch đến đỉnh chữ V lá cao nhất, tính trung bình chiều cao của 4 mẫu trong bình
- Chiều dài rễ: đo từ gốc đến tất cả các rễ, tính trung bình chiều dài rễ dài nhất
và ngắn nhất trong 1 mẫu, cuối cùng tính trung bình chiều dài rễ của 4 mẫu trong bình
- Số rễ: đếm toàn bộ các rễ trên 1 mẫu, tính trung bình số rễ của 4 mẫu trong bình
- Số lá: đếm toàn bộ lá trên mẫu, tính trung bình số lá của 4 mẫu trong bình
3.7 Xử lí số liệu
Số liệu thu thập sẽ được xử lí thống kê theo chương trình MSTATC
Trang 35Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khảo sát ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân chồi của 2 giống lan Mokara
và Vanda invitro
4.1.1 Ảnh hưởng của BA đến số chồi lan Mokara và Vanda invitro
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của BA đến số chồi lan Mokara và Vanda invitro (chồi/cụm)
Ghi chú: Ký tự theo sau giá trị trung bình khác nhau trên cùng một cột có sự khác biệt trong thống kê (**: α = 0,01)
Trang 36Bảng 4.1 cho thấy:
Giai đoạn 15 NSC: các NT bổ sung 3 mg/l BA cho số chồi/cụm trung bình nhiều nhất (1,82 chồi/cụm), các NT bổ sung 2 mg/l BA cho số chồi/cụm trung bình thấp nhất (1,4 chồi/cụm) NT4 cho số chồi/cụm nhiều nhất (1,93 chồi/cụm), NT3 cho
số chồi/cụm ít nhất (1,28 chồi/cụm), các NT còn lại cho số chồi dao động từ 1,41 - 1,83 chồi/cụm
Giai đoạn 30 NSC: số chồi tăng dần từ 1,86 đến 2,57 chồi/cụm NT bổ sung
3 mg/l BA cho số chồi trung bình nhiều nhất (4,39 chồi/cụm), NT bổ sung 4 mg/l BA cho số chồi/cụm trung bình ít nhất (3,4 chồi/cụm) Vào giai đoạn này, số chồi lan
Vanda tăng trưởng mạnh, NT9 cho số chồi/cụm nhiều nhất (4,97 chồi/cụm), NT3 cho
số chồi/cụm ít nhất (3 chồi/cụm), các NT còn lại cho số chồi dao động từ 3,1 - 3,87 chồi/cụm
Giai đoạn 45 NSC: số chồi lan tăng dần từ 2,97 đến 3,69 chồi/cụm Vào giai đoạn này số chồi tăng dần khi nồng độ BA tăng từ 0 - 3 mg/l và khi qua ngưỡng 3 mg/l
BA số chồi có xu hướng giảm dần Các NT bổ sung 3 mg/l BA cho số chồi/cụm trung bình nhiều nhất (8,08 chồi/cụm), các NT bổ sung 4 mg/l BA cho số chồi/cụm trung
bình thấp nhất (6,49 chồi/cụm) Cụ thể NT9 (bổ sung 3 mg/l BA, lan Vanda) cho số chồi/cụm nhiều nhất (9,73 chồi/cụm), NT5 (bổ sung 4 mg/l BA, lan Mokara) cho số
chồi/cụm thấp nhất (5,38 chồi/cụm)
Giai đoạn 60 NSC: ở giai đoạn này số chồi tăng nhanh từ 6,77 đến 8,2 chồi/cụm Các NT bổ sung 3 mg/l BA vẫn cho số chồi/cụm nhiều nhất (16 chồi/cụm)
và có sự khác biệt rất có ý nghĩa với các NT không bổ sung BA (cho số chồi/cụm
trung bình ít nhất 13,32 chồi/cụm) Cụ thể NT9 (bổ sung 3 mg/l BA, lan Vanda) cho số chồi/cụm nhiều nhất (18,71 chồi/cụm), NT5 (bổ sung 4 mg/l BA, lan Mokara) cho số
chồi/cụm ít nhất (9,4 chồi/cụm), và giữa 2 NT có sự khác biệt rất có ý nghĩa
So sánh số chồi giữa hai giống lan Mokara và Vanda cho thấy số chồi lan
Vanda phát triển nhanh hơn lan Mokara từ 3,93 đến 8,27 chồi, cụ thể số chồi cao nhất
của Vanda là 18,71 chồi/cụm (NT9) cao hơn rất nhiều so với 13,23 chồi/cụm (NT4) của Mokara và số chồi cao nhất giữa 2 NT này có sự khác biệt rất có ý nghĩa Qua thí
nghiệm này cho thấy NT bổ sung 3 mg/l BA kết hợp với 150 ml/l nước dừa cho số chồi nhiều nhất nhưng có sự khác biệt không có ý nghĩa đối với NT bổ sung 1 mg/l