1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

iĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN SUẤT CÁC LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE VÀ HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE

80 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất rau của người dân tại Thành Phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, qua đó nắm bắt được tình hình canh tác các loại rau và những thuận lợi – khó

Trang 1

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN SUẤT CÁC LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE VÀ HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE

Trang 2

- Thầy Lê Trọng Hiếu, người trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

- Phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng Kinh Tế, phòng Tài Nguyên Môi Trường và UBND các xã trên địa bàn huyện Giồng Trôm và TP Bến Tre đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

- Các nông hộ trồng rau huyện Giồng Trôm và TP Bến Tre đã trao đổi thông tin, kinh nghiệm tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu

- Cảm ơn cha, mẹ người đã sinh thành, nuôi lớn tôi, là nguồn động viên to lớn, cùng toàn thể các bạn sinh viên đã chia sẽ buồn vui và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và trong quá trình làm đề tài

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010

Phan Nguyễn Vi Sa

Trang 3

TÓM TẮT

PHAN NGUYỄN VI SA, 8/2010 ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN SUẤT CÁC

LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE VÀ HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Luận văn cuối khoá

Giáo viên hướng dẫn: Ths Lê Trọng Hiếu

Nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất rau của người dân tại Thành Phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, qua đó nắm bắt được tình hình canh tác các loại rau

và những thuận lợi – khó khăn mà người trồng rau gặp phải, đề tài đã được tiến hành

từ điều tra nông hộ bằng mẫu in sẵn về tình hình sản xuất các loại rau của hộ nông dân tại Thành Phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, lấy mẫu, phân tích, đánh giá; đồng thời thu thập số liệu từ phòng Nông Nghiệp, phòng Thống Kê, phòng Tài Nguyên Môi Trường, phòng Kinh Tế huyện Giồng Trôm – Thành Phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Từ kết quả điều tra, thu thập mẫu và phân tích tôi rút ra một số kết luận sau:

- Trong 4 xã điều tra (xã Tân Thanh, Lương Hòa huyện Giồng Trôm; Xã Sơn Đông, Phú Nhuận TP Bến Tre, tỉnh Bến Tre) có nguồn nhân lực dồi dào (với 93,46%), người dân ham học hỏi, cầu tiến

- Đa số các hộ đều có quyền sử dụng đất (với 71,04%), đất phù hợp cho việc thâm canh, trồng rau và có thị trường tiêu thụ rau tiềm năng (các siêu thị, các chợ ngày càng phát triển)

- Nước tưới dồi dào, phù hợp cho phát triển cây rau

Bên cạnh đó, để quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn cần phải:

- Tập huấn thêm về quy trình sản xuất rau an toàn cho nông dân

- Diện tích rau đang còn manh mún, nhỏ lẻ (0 – 1000 m2), cần quy hoạch vùng sản xuất rau

- Đất thuộc loại đất thịt trung bình, hàm lượng dinh dưỡng trong đất nghèo Khả năng trao đổi cation trong đất thấp Cần cải tạo đất như: bón thêm phân hữu cơ

Trang 4

- Nguồn nước tưới chủ yếu lấy từ sông chưa qua xử lý, chất lượng nước chưa

đảm bảo (có 8/29 mẫu nước có sự hiện diện của Coliforms và Salmonella vượt ngưỡng

cho phép) Vì vậy, nước tưới phải được xử lý

- Nông hộ chủ yếu sử dụng phân vô cơ để bón cho rau, chưa chú trọng đến phân hữu cơ

- Hàm lượng nitrat trong rau đa số vượt ngưỡng cho phép (19/21 mẫu)

- Tập thói quen ghi lại nhật ký sản xuất để theo dõi tình hình sản xuất của mình

và thông qua đó giảm được chi phí đầu tư cũng như tìm ra các hạn chế trong sản xuất Tóm lại, vùng rau điều tra chưa đáp ứng được các yêu cầu về sản xuất rau an toàn nên không thể định hướng vùng sản xuất rau an toàn như yêu cầu của đề tài đề ra

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viiii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu 1

1.2.3 Giới hạn của đề tài 1

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Vài nét về cây rau 2

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới 3

2.2.1 Tình hình sản xuất rau của EU 3

2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau của Ấn Độ 4

2.3 Điều kiện tự nhiên 5

2.4 Điều kiện xã hội 10

2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp chung của tỉnh Bến Tre 10

2.6 Tình hình sản xuất rau tại thành phố và huyện Giồng Trôm của tỉnh bến Tre 11

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA 13

3.1 Thời gian và địa điểm 13

3.2 Nội dung điều tra 13

3.3 Phương pháp điều tra 13

3.4 Một số chỉ tiêu về phân tích mẫu 14

3.5 Một số chỉ tiêu về kinh tế 14

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

Trang 6

4.1.1 Số nhân khẩu và số người làm nông nghiệp trong nông hộ 15

4.1.2 Trình độ học vấn 17

4.1.3 Đất đai 17

4.1.3.1 Kết quả điều tra đất 17

4.1.3.2 Kết quả phân tích đất 20

4.2 Tình hình sử dụng nước 22

4.2.1 Kết quả điều tra nước 22

4.2.2 Kết quả phân tích nước 23

4.3 Kỹ thuật canh tác 23

4.3.1 Kỹ thuật làm đất 23

4.3.2 Giống rau 24

4.3.3 Thời vụ gieo trồng và cơ cấu cây trồng 24

4.3.4 Thời gian sinh trưởng của từng loại rau 25

4.4 Tình hình sử dụng phân bón 25

4.4.1 Loại phân được sử dụng tại vùng điều tra 25

4.4.2 Phân hữu cơ 26

4.4.3 Phân hóa học 26

4.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV 28

4.5.1 Thuốc trừ sâu 28

4.5.2 Thuốc trừ bệnh 29

4.5.3 Thuốc trừ cỏ và phân bón lá 29

4.5.3 Phân loại thuốc BVTV 30

4.6 Tình hình phun thuốc cho từng nhóm rau 30

4.7 Thị trường tiêu thụ 31

4.8 Xử lý sau thu hoạch 31

4.9 Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và đề xuất của nông dân 31

4.10 Hiệu quả kinh tế 32

4.11 Kết quả phân tích nitrat 32

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

5.1 Kết luận 33

5.2 Đề nghị 34

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 36

[1] Danh sách các bảng 36

[2] Kết quả phân tích……… 48

[3] Một số hình ảnh 51

[4] Phiếu điều tra 62

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tình hình phân bổ diện tích rau ở thành phố Bến Tre 11

Bảng 2.2: Tình phân bổ diện tích rau ở huyện Giồng Trôm năm 2009 12

Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng của từng loại rau được trồng tại các nông hộ điều tra 36

Bảng 4.2: Tình hình sử dụng phân bón cho các loại rau 37

Bảng 4.3 Lượng phân chuồng sử dụng cho từng nhóm rau tại vùng điều tra 37

Bảng 4.4: Qui trình bón phân cho dưa leo, khổ qua 37

Bảng 4.5: Qui trình bón phân cho hành 38

Bảng 4.6: Qui trình bón phân cho cải 38

Bảng 4.7: Qui trình bón phân cho bầu – bí, mướp 38

Bảng 4.8: Qui trình bón phân cho cà, ớt 39

Bảng 4.9: Qui trình bón phân cho rau muống 39

Bảng 4.10: Qui trình bón phân cho đậu ( đậu rồng, đậu bắp, đậu đũa, đậu cove) 39

Bảng 4.11: Qui trình bón phân cho xà lách 40

Bảng 4.12: Qui trình bón phân cho cần 40

Bảng 4.13: Chủng loại thuốc trừ sâu được sử dụng 41

Bảng 4.14: Chủng loại thuốc trừ bệnh được sử dụng tại vùng điều tra 43

Bảng 4.15: Chủng loại thuốc trừ cỏ và phân bón lá 44

Bảng 4.16: Phân loại thuốc trừ sâu 45

Bảng 4.17: Phân loại thuốc trừ bệnh 45

Bảng 4.18: Phân loại thuốc trừ cỏ 46

Bảng 4.19: Thời gian phun đầu tiên và ngưng trước khi thu hoạch 46

Bảng 4.20: Thị trường tiêu thụ 46

Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tế của từng loại rau 47

Bảng 4.21: Kết quả phân tích đất……… 48

Bảng 4.22: Kết quả phân tích nước 49

Bảng 4.23: Bảng phân tích hàm lượng nitrat 50

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

Trang

Biểu đồ 4.1: Số nhân khẩu 15

Biểu đồ 4.2: Số người tham gia hoạt động nông nghiệp 16

Biểu đồ 4.3: Trình độ học vấn của nông hộ 17

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ các loại hình đất 18

Biểu đồ 4.5: Biều đồ chủ quyền sử dụng đất 18

Biểu đồ 4.6: Diện tích đất trồng rau của các nông hộ 19

Biểu đồ 4.7 Diện tích rau các loại 19

Biểu đồ 4.8: Biểu đồ diện tích nhóm rau của huyện Giồng Trôm và TP Bến Tre 20

Biểu đồ 4.9: Biểu đồ về tình hình sử dụng nguồn nước tưới 22

Hình 2.1: Bản đồ hành chính Thành phố Bến Tre 6

Hình 2.2: Bản đồ huyện Giồng Trôm 9

Hình 3.1: Lên liếp trên đất trồng lúa tại ấp 3 xã Sơn Đông, TP Bến Tre 51

Hình 3.2: Lên liếp trên đất chuyên canh rau tại ấp Tân Hòa xã Tân Thanh, huyện 51

Hình 3.3: Xen canh giữa cải – dưa leo 52

Hình 3.4: Vườn rau khổ qua tại ấp Tân Lợi xã Lương Hòa 52

Hình 3.5: Vườn rau cải tại ấp 3 xã Lương Hòa huyện Giồng Trôm 53

Hình 3.6: Vườn mướp tại ấp Tân Lợi huyện Giồng Trôm 53

Hình 3.7: Nông dân dang tưới nước cho vườn đậu bắp 54

Hình 3.8: Nông dân xịt thuốc cho rau 54

Hình 3.9: Vườn hành xen dừa tại ấp 3 xã Sơn Đông TP Bến Tre 55

Hình 3.10: Nông dân đang thu hoạch đậu bắp tại ấp 3 xã Sơn Đông, TP Bến Tre 55

Hình 3.11: Vườn rau cần xen dừa 56

Hình 3.12: Kết hợp trồng rau và nuôi cá 56

Hình 3.13: Nông dân cắt cỏ tại vườn rau xà lách cho gia súc 57

Hình 3.14: Nông dân cắt cỏ tại vườn rau đậu bắp cho gia súc 57

Hình 3.15: Tàn dư thực vật để tự hủy tại đồng ruộng 58

Hình 3.16: Phân loại đậu cove 58

Hình 3.17: Cân cải cho thương lái 59

Hình 3.18: Sản phẩm sau khi đóng gói và giao cho thương lái 59

Trang 11

Hình 3.19: Vỏ chai, bao thuốc để tại đồng ruộng 60

Hình 3.20: Chai thuốc vứt dưới nước 60

Hình 3.21: Thuốc dẫn dụ diệt ruồi 61

Hình 3.22: Bẩy diệt ruồi đục quả 61

Trang 12

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Rau thương phẩm là nguồn thực phẩm quý giá và bổ ích đối với con người Rau

là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn của các gia đình, nó cung cấp cho con người nhiều nguồn dinh dưỡng cần thiết như: Vitamin A, vitamin C, các khoáng chất

mà các thực phẩm khác không thể thay thế được Ngoài ra rau còn là nguồn dược liệu quý giá chữa bệnh cho con người

Trong những năm gần đây, cây rau thương phẩm đã thực sự là thế mạnh của tỉnh Bến Tre Dưới tác động của cơ chế thị trường, người nông dân nơi đây đã biết kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với khoa học kỹ thuật hiện đại trong canh tác, tạo nên sự đa dạng về chủng loại phẩm cấp nên sản phẩm của họ làm ra có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường Để định hướng xây dựng vùng sản xuất rau an toàn cho

tỉnh nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra tình hình sản xuất các loại

rau tại thành phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre”

1.2.3 Giới hạn của đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chỉ thực hiện tại 4 xã: Xã Tân Thanh, Lương Hòa huyện Giồng Trôm; Xã Phú Nhuận, Sơn Đông thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Vài nét về cây rau

Rau là tên gọi chung các loại thực vật có thể ăn được dưới dạng lá là phổ biến tuy trong thực tế có nhiều loại ăn hoa, củ, quả cũng có thể gộp chung vào các loại rau

rất nhiều loại rau ăn lá trong đó có thể kể đến rau ngót (Sauropus androgynus), rau dền (Amaranthus viridus), rau muống (Ipomoea aquatica), rau cần nước (Oenanthe javanica), rau lang (Ipomoea batatan) Bên cạnh có các loại rau gia vị như rau răm (Polygonum odour), rau ngò om (rau ngổ) (Limnophila arbromatica), rau tía tô (Perilla ocymoides L), rau dấp cá (diếp cá) (Houttuynia cordata)

Rau ăn quả thuộc họ Bầu bí như bầu (Lagenaria vulgaris), bí đao (Benincasa hispida) Các loại quả khác như mướp (Luffa cylindrica), dưa leo (Cucumis sativus), khổ qua (mướp đắng) (Momordiaca balsammina), cà tím (Solanum melongea)

Rau ăn rể như ngó sen (Lotus lily)

Rau ăn củ như củ cải (Rhapanus sativas), cà rốt (Daucus carota), củ dền (Beta vulgaris)

Rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như: protein, lipid, vitamin, muối khoáng, acid hữu cơ, chất thơm

Trong rau có khối lượng xơ (xenlulo) lớn tuy không có giá trị dinh dưỡng nhưng do có thể tích lớn, xốp do đó chất xơ có tác dụng nhuận tràng và tăng khả năng tiêu hóa

Rau là cây trồng có hàm lượng nước cao, thân lá non mềm nên không chịu được bảo quản lâu và vận chuyển Vì vậy công nghệ sau thu hoạch là công đoạn rất quan trọng để duy trì khối lượng và chất lượng rau

Trang 14

Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2 –

3 lần 1 ha lúa Rau có tỉ xuất hàng hóa lớn hơn một số cây trồng khác Cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó làm tăng sản lượng trên đơn vị diện tích (Mã Thành Trung, 2008)

2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới

2.2.1 Tình hình sản xuất rau của EU

Hầu hết các nước EU là những nước trồng nhiều rau quả Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở Châu Âu đã gây cản trở rất nhiều đến việc trồng trọt của họ Phương thức trồng trong nhà kính chỉ phần nào bù đắp được lượng thiếu hụt Ngoài ra, việc sản xuất rau quả của EU còn bị hạn chế bởi tính mùa vụ và điều đó tạo cơ hội cho các nhà cung ứng ở các nước khác tham gia vào thị trường này vào thời điểm trái mùa, cho dù hiện nay hệ thống dự trữ và phân phối đã rất hiện đại, giúp các nhà sản xuất giảm đáng kể những tác động tiêu cực của tính mùa vụ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Đối với người Châu Âu, chủng loại rau quả và trái cây mà họ tiêu dùng rất phong phú, bao gồm sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới Nguồn cung của những sản phẩm này chủ yếu là từ những người gieo trồng thường xuyên và một số là từ sản lượng theo mùa vụ của những người Châu Âu trồng tại nhà Những mặt hàng được ưa chuộng nhất ở đây là khoai tây, cà chua, cà rốt, hành, dưa leo, táo, nho, lê Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, và Tây Ban Nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU Sản lượng rau quả của ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua

Xuất khẩu rau quả tươi của các nước EU chủ yếu là trong nội bộ khối EU Thị trường xuất khẩu ngoài EU chỉ chiếm dưới 20% giá trị xuất khẩu mặt hàng này của khối Một số thị trường nhập khẩu tiêu biểu rau quả từ EU là Thụy Sỹ, Mỹ, Nga và Na

Uy

Với ưu thế là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia,

và Tây Ban Nha cũng là các nước đứng đầu về xuất khẩu rau quả trong và ngoài khối Theo thống kê của Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài (FAS) thuộc Bộ Nông nghiệp

Mỹ, một số mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của EU như sau:

Trang 15

- Thổ Nhĩ Kỳ là nước xuất khẩu nhiều cà chua nhất tại EU, chủ yếu sang Nga

và Đông Âu Trong 5 tháng đầu năm 2009, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu 335.000 tấn cà chua, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước

- Xuất khẩu khoai tây đông lạnh của EU giảm 10 % trong niên vụ 2008 - 2009, xuống còn 440.000 tấn do nhu cầu giảm tại Ả - Rập - Xê - Út, Nga, và Brazil Đây là

ba thị trường tiêu thụ khoai tây đông lạnh lớn nhất của EU, với mức tiêu thụ chiếm khoảng một nửa xuất khẩu của EU

(Nguồn: http://www.agro.gov.vn/news/newsdetail.aspx?targetid=16767)

2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau của Ấn Độ

Ấn Độ là quốc gia có sản lượng rau lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, sản lượng rau của Ấn Độ chiếm 15% sản lượng rau toàn thế giới đạt 71 triệu tấn, diện tích trồng rau chiếm 6,2 triệu ha, chiếm 3% diện tích trồng trọt của Ấn Độ

Năm 1993, Ấn Độ xuất khẩu 68,500 tấn rau đã qua chế biến Và kể từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lượng xuất khẩu đạt 16% Trong đó, lượng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lượng xuất khẩu rau tươi của Ấn Độ Ngoài ra Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tươi khác như: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt Các thị trường nhập khẩu rau tươi chủ yếu của

Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri Lanka, Malaysia và Singapo Mặc dù, đứng thứ 2 thế giới về sản lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau Ấn

Độ còn thấp hơn so với các nước khác trên thế giới Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu rau tươi không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến

Các loại rau như : khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lượng chiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ Rau tươi của Ấn Độ hiện được trồng phổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát triển, hiện tại ở các quốc gia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp cho sản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang

đề nghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụng hạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng rau của Ấn Độ

Xu hướng phát triển ngành ngành rau quả của Ấn Độ trong tương lai

Trang 16

- Chính phủ sẽ mở các lớp bồi dưỡng để giúp người nông dân nâng cao về trình

độ hiểu biết cũng như kỹ năng trồng trọt Bên cạnh đó, chính sách đồn điền đổi thửa sẽ được áp dụng mạnh hơn nữa trong thời gian tới

- Các loại thuốc trừ sâu bệnh cũng như thuốc bảo quản sẽ được dần dần loại bỏ

và thay vào đó là các kỹ thuật mới thân thiện với môi trường

- Kỹ thuật đóng gói CA/MA và công nghệ chiếu bức xạ đang được kỳ vọng sẽ thay thế kỹ thuật làm lạnh truyền thống để giúp kéo dài được thời gian bảo quản rau quả

- Trong tương lai, các sản phẩm rau quả khô, nước ép trái cây, rau quả đóng hộp và các loại mứt quả sẽ được sử dụng rộng rãi theo sự thay đổi khẩu vị của người tiêu dùng, thói quen ăn uống, phong cách sống, sự thuận tiện và hàm lượng dinh dưỡng cao

- Thời gian sắp tới, tại Ấn Độ 30% sản lượng rau quả sẽ được phục vụ cho tiêu dùng trong nước, 40% sản lượng rau quả sẽ được làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến và 30% sản lượng rau quả sẽ được xuất khẩu

- Dự báo trong tương lai, các công ty chế biến có quy mô lớn sẽ dần thay thế các công ty chế biến có quy mô nhỏ để đảm bảo sản lượng cũng như chất lượng các sản phẩm cung ứng ra thị trường

(http://www.rauhoaquavietnam.vn/default.aspx?ID=20&LangID=1&tabID=5&NewsID=1770)

2.3 Điều kiện tự nhiên

Phía Đông- Đông Nam giáp huyện Giồng Trôm

Phía Đông- Đông Bắc giáp huyện Châu Thành

Tọa độ địa lý:

- Từ 10011/50// đến 10016/20// vĩ độ Bắc

Trang 17

- Từ 106019/30// đến 106026/50// kinh độ Đông (Phòng kinh tế TP Bến Tre, 2008)

Trang 18

- Địa hình

Địa hình Thành phố Bến Tre tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so mặt nước từ 1- 5 mét, với mạng lưới kênh rạch khá chằng chịt Về cơ bản có thể phân ra 3 dạng địa hình:

Vùng thấp: tập trung ở các cánh đồng xã Bình Phú, Phường 7 và một số vùng đất trũng sâu thuộc các: Phú Hưng, Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh thường bị ngập nước khi triều cường

Vùng trung bình: có cao độ từ 0,97- 1,3 m, tập trung ở các vùng ngoại ô Thành phố Bến Tre

Vùng cao: tập trung ở các Phường 2, Phường 3, dọc theo các trục lộ giao thông lớn và một số nơi đất giồng thuộc xã Phú Hưng Cao độ trung bình từ 1,3- 1,6 m so với mặt nước

Độ ẩm trung bình năm 84% lớn nhất 88%, thấp nhất 79%

Lượng bốc hơi bình quân năm 1.535,9 mm Mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi mạnh nhất là vào tháng 2, tháng có độ bốc hơi thấp nhất là tháng 9

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình năm là 1.721 mm Thành phố Bến Tre có chế độ mưa theo mùa rõ rệt Lượng mưa vào mùa mưa là 339

mm, cao điểm trong tháng 9 Lượng mưa mùa khô là 25 mm Số ngày mưa trung bình trong mùa là 13 ngày/tháng, phổ biến là mưa có kèm giông lốc nhưng không thường xuyên

- Nguồn nước: Do nằm ở vị trí khu vực hạ lưu của hệ thống sông Tiền, Thành phố Bến Tre chịu ảnh hưởng bởi 02 chế độ thủy văn là triều biển và nguồn nước của

Trang 19

hệ thống sông Tiền - sông Hàm Luông trực tiếp dẫn thủy vào sông Bến Tre và mạng lưới các kênh rạch Nhìn chung, biên độ triều khá lớn (khoảng 3,82 mét), đỉnh triều cao nhất xuất hiện vào khoảng tháng tháng 10, 11, 12 hàng năm (bình quân 163 cm ở sông Hàm Luông), thấp nhất vào tháng 4 đến tháng 6, trung bình khoảng 120 cm

* Huyện Giồng Trôm

- Vị trí địa lý

Huyện Giồng Trôm nằm về phía Đông Nam của tỉnh Bến Tre, có diện tích đất

tự nhiên là 31.202,85 ha

Phía Bắc giáp huyện Châu Thành, huyện Bình Đại

Phía Tây giáp thành phố Bến Tre

Phía Nam – Tây Nam giáp với Mỏ Cày, phía Nam – Đông Nam giáp huyện Thạnh Phú

Phía Đông – Đông Nam giáp huyện Ba Tri (Phòng tài nguyên và môi trường huyện Giồng Trôm, 2005)

Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 79,12%, nguồn nước phong phú nên rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện

Bốc hơi: Độ bốc hơi trung bình vào mùa mưa khoảng 3,9 – 4,6 mm/ngày, các tháng mùa khô khoảng 4,3 – 6,4 mm/ngày, lượng bốc thoát hơi thuộc vào loại cao so với đồng bằng sông cửu long

Trang 20

- Nguồn nước: Các sông rạch chính như: sông Hàm Luông, sông Bến Tre, sông

Ba Lai, kênh Chẹt Sậy Địa hình có nhiều sông, rạch chằng chịt có mật độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, tưới tiêu trong nông nghiệp, nhưng cũng gây nhiều khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân trong huyện

Hình 2.2: Bản đồ huyện Giồng Trôm

Trang 21

2.4 Điều kiện xã hội

* Thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre có 16 đơn vị xã, phường, trong đó gồm 11 phường: phường Phú Tân, phường Phú Khương, phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường 8 và 6 xã: xã Sơn Đông, xã Bình Phú, xã Mỹ Thạnh An,

xã Phú Nhuận, xã Nhơn Thạnh, xã Phú Hưng

Dân số 116.532 người

* Huyện Giồng Trôm

Huyện Giồng Trôm có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn và 21 xã

Theo niên giám thống kê năm 2004, dân số huyện Giồng Trôm là 186.172 người

2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp chung của tỉnh Bến Tre

Tình hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong năm

2008 tuy có điều kiện thuận lợi để phát triển, nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh gia súc, gia cầm, môi trường nuôi thủy sản bị ô nhiễm, giá cả hàng nông thủy sản không ổn định và có xu hướng giảm, trong khi giá đầu vào tăng cao nên hiệu quả sản xuất không cao

Diện tích canh tác một số loại cây hàng năm như lúa, mía và cây ăn trái tiếp tục

có xu hướng giảm để chuyển sang các loại cây trồng khác hiệu quả kinh tế cao hơn, phù hợp với xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Riêng cây mía do giá cả không ổn định nên không kích thích người dân đầu tư mở rộng sản xuất Tính chung cả năm 2008, diện tích gieo trồng lúa đạt 79.257 ha, bằng 99,4% so với năm 2007, sản lượng đạt 361.117 tấn, tăng 18,5%; diện tích mía khoảng 6.969 ha, giảm 9,7% so năm 2007 Diện tích cây ăn trái biến động theo hướng giảm dần diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả, từng bước hình thành vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi da xanh Tổng diện tích cây ăn trái hiện vào khoảng 36.556 ha, bằng 99,8% so năm 2007 Cây dừa đang có xu hướng phát triển theo tiến độ thực hiện dự án trồng mới 5.000 ha dừa và thâm canh 1.000 ha dừa, tổng diện tích hiện nay đạt khoảng 45.631 ha, tăng 2,7% so với năm 2007 Bên cạnh đó, các mô hình trồng xen, nuôi xen

Trang 22

trong vườn dừa đạt hiệu quả tiếp tục được nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác của người dân

Việc quản lý, chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng hiện có trên địa bàn 3 huyện biển được tổ chức thực hiện tốt Dự án rừng phòng hộ huyện Ba Tri, Bình Đại và rừng đặc dụng ở khu bảo tồn Thạnh Phú, tiếp tục thực hiện tốt nhằm ổn định vành đai rừng phòng hộ ven biển, thông qua việc trồng mới và tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo vệ và quản lý lâm sản xuất nhập trên địa bàn tỉnh Trong năm đã trồng mới 205,7 ha rừng, tăng 88,7% so với năm 2007, thực hiện chăm sóc 73 ha và bảo vệ 3.429

ha

Tổng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh khoảng 42.106 ha, tương đương năm

2007 Sản lượng nuôi đạt 158.965 tấn, tăng 59,7% so năm 2007 (chủ yếu tăng sản lượng cá da trơn, đạt 100.025 tấn, tăng 144,2% so năm 2007) Nuôi thủy sản vùng ngọt tiếp tục phát triển mạnh, nhất là nuôi cá da trơn, tôm càng xanh xen trong mương vườn và luân canh với cây lúa Diện tích nuôi cá da trơn ở khu vực cồn, đất ven sông

đã tăng lên 650 ha (tăng 182 ha so năm 2007) Các hợp tác xã nghêu hoạt động tương đối ổn định, có hiệu quả, công tác quản lý giống tự nhiên và san thưa được thực hiện khá tốt, nguồn giống xuất hiện trong năm khá nhiều Công tác kiểm dịch con giống được thực hiện khá tốt

Trang 23

Qua bảng 2.1 cho thấy: Xã Sơn Đông có diện tích rau lớn nhất với 161,56 ha,

xã có diện tích rau nhỏ nhất là Thành An với 1,15 ha

Năm 2006, xã Sơn Đông làm dự án RAT với 19 ha và đã được công nhận 3,4

ha, 14 nông hộ được cấp giấy chứng nhận của sở (Phòng kinh tế TP Bến Tre, 2008)

* Huyện Giồng Trôm

Diện tích rau toàn huyện 178,5 ha nhưng phân bố không đều trong toàn huyện

và được thể hiện ở bảng 2.2

Qua bảng 2.2 cho thấy: huyện Bình Thành có diện tích rau lớn nhất 64,5 ha chiếm 36,1% diện tích toàn huyện, xã Tân Thanh có diện tích rau lớn thứ 2 với 46,8 ha chiếm tỉ lệ 26,2%, xã Lương Hòa có diện tích 29,0 ha chiếm 16,2%, xã Phong Nẩm có diện tích 24,3 ha chiếm 13,6%, Thị trấn có diện tích 11,4ha chiếm 6,4%, xã Thạnh Đông Phú có diện tích 2,0ha chiếm 1,1% và xã có diện tích nhỏ nhất là Lương Quới với 0,5 ha chiếm 0,3%

Nhìn chung, diện tích rau ở huyện Giồng Trôm lớn (tập trung chủ yếu ở xã Bình Thành với diện tích 64,5 ha) và nhiều chủng loại rau nhưng phân bố không đồng đều

Bảng 2.2: Tình phân bổ diện tích rau ở huyện Giồng Trôm năm 2009

ĐV: ha Loại rau Thị

Trấn

Phong Nẩm

Lương Hòa

Lương Quới

Bình Thành

Tân Thanh

Thạnh Phú Đông Tổng Dưa leo 0,6 0,7 3,0 0,0 27,2 1,1 1,0 33,60Rau muống 8,0 2,1 0,2 0,0 3,3 7,0 0,0 20,60Cải các loại 1,0 8,0 10,0 0,0 5,8 12,0 0,8 37,60Hành tươi 0,35 1,2 0,7 0,0 2,3 0,2 0,0 9,50

(Nguồn: phòng thống kê huyện Giồng Trôm, 2009)

Trang 24

Chương 3

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA

3.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: ngày 1 tháng 12 năm 2009

- Địa điểm: Xã Sơn Đông, Phú Nhuận, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Xã Tân Thanh, Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

3.2 Nội dung điều tra

Tìm hiểu tình hình sản xuất rau tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

3.3 Phương pháp điều tra

- Điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn trực tiếp nông hộ để tìm hiểu và thu thập các thông tin về:

+ Xử lý sau thu hoạch;

+ Hiệu quả kinh tế;

+ Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất;

+ Đề xuất của nông dân

- Thu thập mẫu đất, mẫu nước, mẫu rau đem về phân tích và đánh giá

- Nguyên tắc lấy mẫu đại diện:

Trang 25

+ Khoảng cách giữa các mẫu ≥ 500 m

+ Đối với mẫu nước: lấy nguồn nước tưới cho rau tại nơi lấy mẫu

+ Đối với mẫu rau: lấy 100 gr – 200 gr

+ Đối với mẫu đất: lấy 5 điểm cách đều nhau trong ruộng rau đó, sau đó trộn đều và lấy khoảng 1kg

3.4 Một số chỉ tiêu về phân tích mẫu

- Phân tích đất: C%, N%, P%, K%

- Phân tích rau: hàm lượng NO3- có trong rau

- Nước tưới: pH (KCl) và pH (H2O)

3.5 Một số chỉ tiêu về kinh tế

Tổng thu (đồng/1000m2) = Giá bán (đồng) x Tổng sản lượng (1.000 m2)

Lợi nhuận (đồng/1000m2) = Tổng thu – Tổng chi phí

Trang 26

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm nông hộ

4.1.1 Số nhân khẩu và số người làm nông nghiệp trong nông hộ

Qua kết quả điều tra cho thấy: Ở 4 xã điều tra (Tân Thanh, Lương Hòa huyện Giồng Trôm; Sơn Đông, Phú Nhuận TP Bến Tre, tỉnh Bến Tre) có nguồn nhân lực dồi dào, phần lớn các nông hộ được trực tiếp phỏng vấn đa số nằm trong độ tuổi lao động (với 93,46%) Số nhân khẩu và số người tham gia hoạt động nông nghiệp được thể hiện ở biểu đồ 4.1 và 4.2

và nhóm nông hộ có nhân khẩu trên 6 Ở 214 nông hộ được phỏng vấn thì nhóm nông

hộ có số nhân khẩu từ 4 – 6 người chiếm đa số (149 nông hộ) với 69,63 %, tiếp theo là nhóm nông hộ có số nhân khẩu dưới 4 người (53 nông hộ) với 24,77 % và cuối cùng là nhóm nông hộ trên 6 người (12 nông hộ) với 5,61 %

Trang 27

Số nông hộ có nhân khẩu từ 4 – 6 người thường là các nông hộ có độ tuổi từ

25 – 45 tuổi, có hoạt động kinh tế ổn định, bên cạnh đó vẫn còn một số nông hộ gặp khó khăn vì thiếu đất sản xuất nông nghiệp Số nông hộ có số nhân khẩu dưới 4 người

đa số là những nông hộ trẻ mới lập nghiệp có độ tuổi từ 20 – 25 tuổi Các nông hộ có

số nhân khẩu trên 6 người đa phần là những nông hộ có độ tuổi lớn, có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp

từ 1 – 2 người chiếm đa số với 76,17 % và thấp nhất số hộ có người tham gia hoạt động trên 4 với tỉ lệ 3,27 % Các nông hộ có người tham gia lao động ít là vì đất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, một số nông hộ tham gia vào các ngành công nghiệp và dịch vụ khác

Trang 28

Biểu đồ 4.3: Trình độ học vấn của nông hộ

(Biểu đồ tổng hợp năm 2010) Qua biểu đồ 4.3 cho thấy: Trình độ học vấn của các chủ nông hộ được phỏng vấn và là người trực tiếp sản xuất đa số ở trình độ cấp 1 chiếm tỉ lệ 50,00 %, kế đến là các nông hộ có trình độ cấp 2 chiếm tỉ lệ 35,98 %, các nông hộ có trình độ học vấn cấp

3 chiếm tỉ lệ thấp với 14,02 %

Những hộ có học vấn từ cấp 2 trở xuống đa số lớn tuổi hoặc do điều kiện kinh

tế khó khăn nên bỏ học Vì vậy, việc áp dụng khoa học trong sản xuất nông nghiệp cũng như về vấn đề xã hội gặp nhiều khó khăn như: kế hoạch hóa gia đình, tiếp cận nguồn thông tin khoa học còn hạn chế

Nhìn chung, trình độ học vấn của các nông hộ trong vùng ở mức thấp nhưng các nông hộ luôn có tinh thần tự học hỏi và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp

4.1.3 Đất đai

4.1.3.1 Kết quả điều tra đất

Theo ghi nhận từ các kết quả điều tra: Tổng diện tích đất tự nhiên của các nông

hộ là 859.350 ha, trong đó đất vườn 231.300 ha; đất cây lâu năm 133.800 ha; đất cây hằng năm 494.250 ha, riêng diện tích trồng rau là 365.150 ha

Trang 29

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ các loại hình đất

(Biểu đồ tổng hợp năm 2010) Qua biểu đồ 4.4 cho thấy: Đất chuyên canh rau chiếm tỉ lệ lớn với 48,60 %, tiếp theo là đất giồng, đất lúa nước chiếm tỉ lệ lần lượt là 21,50 % và 21,03 %, còn lại 8,88

Đất có chứng nhận chủ quyền

Đất thuê

Đất có chứng nhận chủ quyền-đất thuê

Biểu đồ 4.5: Biều đồ chủ quyền sử dụng đất

(Biểu đồ tổng hợp năm 2010) Qua biểu đồ 4.5 cho thấy: Đa số các nông hộ điều tra đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm 71,04 % trong tổng số các nông hộ điều tra, 14,95 % đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 7,94 % là đất thuê và 6,07 % đất có chứng nhận chủ quyền - đất thuê Có 3,27 % đất trồng rau gần nguồn gây ô nhiễm (mộ

Trang 30

rẻ, giảm thu nhập

Diện tích đất trồng rau của các nông hộ chỉ ở mức trung bình từ 0 – 1.000 m2 và tập trung chủ yếu ở các nông hộ trẻ mới lập gia đình Các hộ có diện tích đất trồng rau lớn đa số là đất sau khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng hoặc là đất mướn thêm để mở rộng sản xuất

29,84%

64,67%

0,98% 4,51%

Rau ăn lá Rau ăn nụ, hoa, quả Rau ăn củ Rau gia vị

Biểu đồ 4.7 Diện tích rau các loại

(Biểu đồ tổng hợp năm 2010)

Trang 31

Qua biểu đồ 4.7 cho thấy: Rau ăn nụ, hoa, quả chiếm diện tích lớn nhất với 64,67%, tiếp theo là rau ăn lá chiếm 29,84%, rau gia vị chiếm 4,51%, thấp nhất là rau

ăn củ 0,98% Phần lớn do thị trường quyết định, vì nhu cầu tiêu thụ rau ăn nụ, hoa, quả lớn hơn các loại rau khác nên người dân cùng sản xuất các loại rau này nhiều hơn và thị trường chủ yếu của họ là TP Hồ Chí Minh và các chợ lân cận

0 20000

Nhìn chung, nhóm ăn nụ hoa quả của huyện Giồng Trôm – TP Bến Tre nói riêng và toàn vùng điều tra nói chung chiếm diện tích lớn so với các nhóm rau còn lại

và lợi nhuận của nhóm rau này tại thời điểm điều tra cũng cao hơn

Về độ chua của đất: độ chua của đất thay đổi từ 4,39 – 6,74, đất phân tích có

57,69% mẫu từ ít chua đế trung tính (15/26 mẫu), 34,62% mẫu thuộc loại đất chua (9/26 mẫu) và 7,69% mẫu đất thuộc loại đất rất chua (2/26 mẫu) ở ấp 3 xã Sơn Đông,

Trang 32

Về hàm lượng mùn trong đất: nhìn chung, đất tại vùng điều tra có hàm lượng

mùn tổng số biến động từ rất nghèo đến giàu Mùn trong đất điều tra thay đổi trong phạm vi từ 0,41% – 6,48%, có 15,39% mẫu có hàm lượng mùn trong đất giàu (4/26 mẫu), 11,54% mẫu có hàm lượng mùn trung bình (3/26 mẫu) và có 73,08% mẫu đất có hàm lượng mùn từ nghèo đến rất nghèo (19/26 mẫu)

Về hàm lượng đạm, lân và kali tổng số trong đất:

- Đạm tổng số trong đất: Tại vùng đất điều tra hàm lượng đạm tổng số trong đất đạt giá trị từ rất nghèo đến trung bình, thay đổi trong phạm vi từ 0,04% – 0,22%, có 3,85% mẫu đạm tổng số trung bình (1/26 mẫu), có 50% mẫu đạm tổng số nghèo (13/26 mẫu) và 46,14% mẫu đạm tổng số rất nghèo (12/26 mẫu)

- Lân tổng số dao động từ 0,04 – 0,24%, có 42,31% mẫu có lân tổng số trong đất giàu (11/26 mẫu), có 50% mẫu có hàm lượng lân tổng số trung bình (13/26 mẫu)

và 7,69% mẫu có hàm lượng lân tổng số nghèo (2/26 mẫu)

- Kali tổng số thay đổi trong phạm vi 0,26 – 1,93%, có 7,69% mẫu có hàm lượng kali tổng số giàu (2/26 mẫu), có 26,92% mẫu có hàm lượng kali tổng số trung bình (7/26 mẫu) và có 65,39% mẫu có hàm lượng kali tổng số rất nghèo (17/26 mẫu)

Nhìn chung, các điểm lấy mẫu đất tại vùng điều tra hàm lượng đạm từ rất nghèo đến nghèo, hàm lượng lân tổng số từ trung bình đến giàu và hàm lượng kali tổng số rất nghèo

Sự có mặt của các chất tổng số chỉ nói lên khả năng tiềm tàng của dinh dưỡng đất Dạng hòa tan mà cây có thể hút ngay được thể hiện độ phì nhiêu

- Về hàm lượng đạm, lân, kali dễ tiêu trong đất: Hàm lượng đạm dễ tiêu rất

nghèo, hàm lượng lân dễ tiêu ở mức giàu chiếm tương đối với 69,23% (18/26 mẫu) và hàm lượng kali dễ tiêu chủ yếu ở mức nghèo chiếm 65,39% (17/26 mẫu)

meq/100g đất Tỉ lệ % CEC trong đất từ rất thấp đến thấp lần lượt là 46,15% (12/26 mẫu) và 53,85% (14/26 mẫu)

chuẩn, đất không mặn Có 30,76% mẫu có hàm lượng Ca2+ thấp (8/26 mẫu), có

Trang 33

65,39% mẫu có hàm lượng Ca2+ trung bình (17/26 mẫu) và có 3,85% mẫu có hàm lượng Ca2+ cao (1/26 mẫu)

Tóm lại, các mẫu đất tại vùng điều tra phần lớn thuộc loại đất thịt trung bình, chua ít Hàm lượng mùn và đạm tổng số từ nghèo đến rất nghèo, hàm lượng lân tổng

số và lân dễ tiêu giàu, hàm lượng kali tổng số và kali dễ tiêu ở mức rất nghèo Các cation trao đổi rất thấp đến thấp Do phần lớn đất tại vùng điều tra có thành phần cơ giới trung bình, dễ làm đất, cho nên dù là đất làm rau truyền thống hay mới chuyển sang trồng rau từ đất ruộng lúa, 100% người trồng rau tại điểm điều tra đều sử dụng các phương tiện thủ công (cuốc, cào, cày tay) để chuẩn bị đất trồng rau Vì thế, đối với các mẫu đất này cần bón nhiều vôi và phân hữu cơ nhằm tăng khả năng giữ nước và phân bón, đồng thời làm tăng khả năng trao đổi của các cation trong đất, và cải thiện được cấu trúc của đất Nhìn chung, đất tại các vùng điều tra thích hợp cho việc sản xuất nhiều loại cây trồng, trong đó có sản xuất rau

Trang 34

sử dụng nước kênh rạch chiếm 1,4% và 1 hộ sử dụng nước ao tù tưới cho rau chiếm 0,5%

Ghi nhận từ kết quả điều tra: có 82,7% đánh giá chất lượng nước tốt, 10,7% nông hộ đánh giá chất lượng nước bị nhiễm phèn, 1,9% nông hộ đánh giá chất lượng nước bị nhiễm mặn và 4,1% nông hộ đánh giá chất lượng nước bị nhiễm hữu cơ ( thuốc BVTV) 100% các nông hộ được điều tra tưới nước 2 lần/ngày (Theo đánh giá của nông hộ tại vùng điều tra năm 2010)

4.2.2 Kết quả phân tích nước

Theo kết quả bảng phân tích bảng 4.23 (phụ lục [2]) về chất lượng nước tại vùng điều tra cho thấy:

- pH nước dao động từ 7,31 – 8,74 đều nằm trong ngưỡng cho phép (pH 5,5 – 9)

- Tổng chất rắn hòa tan trong nước (TDS) dao động từ 64 – 654 mg/L và 100% mẫu nước có hàm lượng TDS thấp hơn ngưỡng cho phép là 1000mg/L

- Hàm lượng Cl-, Hg, As, Cd, Pb, đều nằm trong ngưỡng cho phép

chủ yếu ở xã Sơn Đông, TP Bến Tre, tỉnh Bến Tre

có 2/29 mẫu nhiễm nặng (ấp Tân Hòa 1 mẫu, ấp Tân Lợi 1 mẫu, thuộc xã Tân Thanh),

TP Bến Tre có 3/29 mẫu nhiễm nặng (đều ở ấp 3 xã Sơn Đông, TP Bến Tre)

Nhìn chung, nguồn nước tưới cho rau tại vùng điều tra tương đối tốt, phù hợp

cho việc sản xuất rau, cần chú ý đến các nông hộ bị nhiễm Coliforms và Salmonella Không có mẫu nào nhiễm cùng lúc 2 loại vi khuẩn Coliforms và Salmonella Riêng xã

Phú Nhuận có chất lượng nước tốt nhất (không bị nhiễm hay vượt ngưỡng cho phép)

4.3 Kỹ thuật canh tác

4.3.1 Kỹ thuật làm đất

Kỹ thuật làm đất: Theo ghi nhận từ kết quả điều tra nông hộ, có 84,1% nông hộ làm đất bằng tay, 15,9% nông hộ làm đất bằng máy Sau khi cày tiến hành lên liếp, phơi ải, xử lý vôi (có 77 hộ trong tổng số 214 hộ được điều tra có xử lý vôi, chiếm tỉ lệ

Trang 35

36,0%) Qua điều tra cho thấy có 89 nông hộ trong tổng số 214 nông hộ được điều tra

có sử dụng thuốc diệt cỏ trước khi làm đất

4.3.2 Giống rau

Giống rau: Có 30 loại rau đang trồng tại vùng điều tra bao gồm 4 nhóm: nhóm rau ăn lá, nhóm rau ăn nụ, hoa, quả, nhóm rau ăn củ và nhóm rau gia vị Giống đều được các nông hộ mua từ các đại lý, đa số là giống F1 Các nông hộ chọn mua giống

từ các đại lý vì giống F1 thường cho năng suất cao, mẫu mã đẹp, một số giống chống chịu tốt Riêng với khổ qua và mướp phần lớn là sử dụng giống địa phương để gieo trồng Những giống này thường được các nông hộ trao đổi giống qua lại với nhau và được các nông hộ để lại làm giống sau mỗi vụ trồng Giống địa phương có chất lượng ngon, khả năng chống chịu tốt với điều kiện môi trường nhưng năng suất không cao, mẫu mã không đẹp bằng các giống F1

4.3.3 Thời vụ gieo trồng và cơ cấu cây trồng

- Thời vụ gieo trồng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất và sản lượng rau Tùy thuộc vào đặc điểm thời tiết khí hậu của từng vùng sinh thái, đặc điểm của từng giống rau và điều kiện canh tác của từng nơi mà có thời gian xuống giống khác nhau Kết quả điều tra về thời vụ gieo trồng rau từ các nông hộ cho thấy có

30 loại rau (bảng 4.1 phụ lục [1]) đang trồng ở huyện Giồng Trôm - TP Bến Tre, tỉnh Bến Tre có 3 vụ chính: vụ Hè Thu (tháng 5 – tháng 8), vụ Thu Đông (tháng 9 – tháng 11) và vụ Đông Xuân (tháng 12 – tháng 2 năm sau) Tuy nhiên, theo ý kiến của các nông hộ được điều tra cho biết những loại rau này có thể gieo trồng quanh năm, 1 năm

có thể trồng 3 – 4 vụ hoặc hơn tùy theo điều kiện của từng nông hộ Mặt khác, điều kiện đất đai, khí hậu và nguồn nước cũng rất thuận lợi cho trồng rau quanh năm

- Theo kết quả điều tra nông hộ:

+ Về luân canh: có 187 hộ luân canh (với 88,32%) trong đó có 163 nông hộ chủ yếu là luân canh giữa các cây cùng họ với nhau, 24 hộ luân canh với cây màu ( 2 vụ rau – 1 vụ màu) Đối với loại rau có thể trồng phủ bạt (khổ qua, dưa leo) được các nông hộ trồng luân canh với nhau Khi hết một chu kỳ (bạt hư hỏng hết khả năng sử dụng), ruộng này được chuyển sang trồng các loại rau khác (không phủ bạt) Đối với loại rau không cần trồng phủ bạt thường được trồng luân canh với nhau Sau một thời

Trang 36

của mỗi gia đình và nhu cầu tiêu thụ rau mà các nông hộ có công thức luân canh khác nhau Vì vậy, không có công thức luân canh nhất định

+ Về xen canh: có 22 hộ trồng xen canh (với 10,28%) Theo ý kiến của các nông hộ: trồng xen canh tăng thêm lợi nhuận, tận dụng được triệt để nguồn phân bón, tận dụng được khoảng đất trống giữa liếp mà không phải tốn thêm nhiều chi phí

+ Về độc canh: có 3 hộ trồng độc canh (với 1,40%) trong đó có 2 hộ độc canh

về cây khổ qua và 1 hộ độc canh về cây hành

4.3.4 Thời gian sinh trưởng của từng loại rau

Dựa vào bảng 4.1 (phụ lục [1]) cho thấy:

Có 30 loại rau thuộc 9 nhóm Các loại rau này được trồng trực tiếp ra ruộng, không qua giai đoạn vườn ươm Riêng đối với cây ớt, có qua giai đoạn vườn ươm (30 ngày) rồi mới trồng ra ruộng Hành lá trồng bằng cây giống; rau nhút, rau răm, rau ngỗ được trồng bằng nhánh

Vào thời điểm điều tra, thời gian từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch đợt 1 của các loại rau biến động từ 30 – 60 ngày, ngắn nhất là các loại rau: rau ngỗ, rau nhút, rau quế, rau răm (khoảng 20 – 30 ngày) và dài nhất là các loại như: rau cải dưa, cần, ớt, đậu rồng, cải bông (khoảng 60 – 90 ngày)

Thời gian tính từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch kết thúc vụ của các loại rau: loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là rau nhút, ngỗ có thời gian sinh trưởng 20 ngày, dài nhất là hẹ (cây lưu niên, 30 – 60 ngày thu hoạch 1 lần) có thời gian sinh trưởng quanh năm Các loại rau ăn nụ, hoa, quả có thời gian sinh trưởng tập trung trong khoảng 80 – 90 ngày

4.4 Tình hình sử dụng phân bón

4.4.1 Loại phân được sử dụng tại vùng điều tra

Qua bảng 4.2 (phụ lục [1]) cho thấy: phân bón được các nông hộ sử dụng khá

đa dạng trong đó phân urea và DAP là 2 loại phân được các nông hộ ưa dùng nhất, vì đây là loại phân bón giúp cây phát triển nhanh và tốt Ngoài ra còn có phân tổng hợp NPK cũng được các nông hộ sử dụng nhiều

Trang 37

4.4.2 Phân hữu cơ

Qua bảng 4.3 (phụ lục [1]) và ghi nhận từ điều tra cho thấy:

Nhóm rau ăn nụ, hoa, quả: Có 116/162 hộ có sử dụng phân chuồng chiếm 71,61%, trong đó 101 nông hộ sử dụng từ 0 – 1000 kg/1000 m2 phân chuồng chiếm 62,35%, 15 hộ sử dụng trên 1000 kg/1000 m2 phân chuồng chiếm 9,26% và 46 hộ không sử dụng phân chuồng chiếm 28,40%

Nhóm rau ăn lá: Có 23/70 có bón phân chuồng cho cây, trong đó có 19 nông hộ

sử dụng từ 0 – 500 kg/1000 m2 phân chuồng chiếm 27,14%, 4 nông hộ sử dụng trên

500 kg/1000 m2 phân chuồng chiếm 5,71% và 47 nông hộ không sử dụng phân chuồng bón cho cây chiếm 67,14%

Nhóm rau ăn củ: 100% nông hộ không sử dụng phân chuồng

Nhóm rau gia vị: Trung bình 800 kg/1000 m2 phân chuồng

Theo ghi nhận được từ điều tra nông hộ: bón phân chuồng rất tốt cho đất và rau nhưng nguồn phân chuồng ngày càng khó kiếm, giá thành lại cao nên có nhiều nông

hộ không sử dụng phân chuồng và một số hộ được điều tra thấy không có hiệu quả kinh tế nên không sử dụng

4.4.3 Phân hóa học

Qua phụ lục bảng 4.4, bảng 4.5 và bảng 4.6 (phụ lục [1]) cho thấy:

- Dưa leo: Theo công thức bón phân được khuyến cáo cho cây dưa leo của công

ty cổ phần phân bón Việt Mỹ (15,8 – 19) kg N – (15,8 – 19) kg P2O5 – (11,6 – 14,3) kg

K2O thì

+ Đối với phân đạm nguyên chất: có 24 hộ bón thấp hơn 15,8 kg/1000 m2chiếm 92,31%, 2 hộ bón cao hơn 19 kg chiếm 7,96% và không có hộ nào bón phân nằm trong khoảng khuyến cáo so với quy trình trồng của công ty cổ phần phân bón Việt Mỹ

+ Đối với phân lân nguyên chất: có 22 hộ bón thấp hơn 15,8 kg chiếm 84,62%,

1 hộ bón theo khuyến cáo chiếm 3,85% và 3 hộ bón trên 19 kg so với khuyến cáo chiếm 11,54%

+ Đối với phân kali nguyên chất: có 24 hộ bón dưới 11,6 kg chiếm 92,31%, không có hộ nào bón trong mức khuyến cáo và có 2 hộ bón trên mức khuyến cáo 14,3

Trang 38

Đất canh tác dưa leo thuộc loại đất thịt trung bình và đất cát pha có hàm lượng dinh dưỡng thấp với quy trình bón như trên thì không cung cấp được dinh dưỡng cho đất Mặt khác, dựa vào kết quả phân tích nitrat cho thấy hàm lượng nitrat trên dưa leo đều vượt ngưỡng cho phép 150 mg/kg, Vì vậy cần phải bón phân vô cơ sao cho cân đối và hợp lý, cần bón thêm phân chuồng để tăng lượng hữu cơ và cải tạo lý hóa tính của đất

- Khổ qua: Theo công thức bón phân được khuyến cáo cho cây khổ qua của công ty cổ phần phân bón Việt Mỹ (16 – 20,8) kg N – (16 – 20,8) kg P2O5 – (12 – 15,6) kg K2O thì:

+ N nguyên chất: có 51 hộ bón thấp hơn khuyến cáo 16 kg chiếm 80,95%, 5 hộ bón theo khuyến cáo từ 16 – 20,8kg chiếm 7,94% và 7 hộ bón trên mức khuyến cáo 20,8 kg chiếm 11,11%

+ P2O5 nguyên chất: có 36 hộ bón dưới khuyến cáo 16 kg chiếm 57,14%, 12 hộ huyến cáo từ 16 – 20,8 kg chiếm 19,05% và 15 hộ bón trên khuyến cáo 20,8 kg chiếm 23,81%

+ K2O nguyên chất: 60 hộ bón dưới mức khuyến cáo 12 kg chiếm 95,24%, 3 hộ bón theo khuyến cáo từ 12 – 15,6 kg chiếm 4,76% và không có hộ nào bón vượt mức khuyến cáo

Đất trồng khổ qua thuộc loại đất thịt pha sét, hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số thấp, với quy trình bón như trên thì không cung cấp được dinh dưỡng cho đất Mặt khác, dựa vào kết quả phân tích nitrat cho thấy hàm lượng nitrat trên khổ qua đều vượt ngưỡng cho phép 400 mg/kg, Vì vậy cần phải bón phân vô cơ sao cho cân đối và hợp lý, cần bón thêm phân chuồng để tăng lượng hữu cơ và cải tạo đất

- Hành: Theo công thức bón phân được khuyến cáo cho cây hành của công ty

cổ phần phân bón Việt Mỹ (8 – 10 kg) N – (8 – 10 kg) P2O5 – (6 – 7,5 kg) K2O thì:

+ N nguyên chất: có 15 hộ bón thấp hơn khuyến cáo 8 kg chiếm 57,69%, 1 hộ bón theo lượng khuyến cáo từ 8 – 10 kg chiếm 3,85% và 10 hộ bón trên mức khuyến cáo 10 kg chiếm 38,46%

+ P2O5 nguyên chất: có 17 hộ bón thấp hơn khuyến cáo 8 kg chiếm 65,38%, 9

hộ bón vượt lượng khuyến cáo 10 kg chiếm 34,46% và không có hộ nào bón trong mức khuyến cáo

Trang 39

+ K2O nguyên chất: có 23 hộ bón dưới mức khuyến cáo 6 kg chiếm 88,46%, 3

hộ bón trên mức khuyến cáo 7,5 kg chiếm 11,54% và không có hộ nào bón trong mức khuyến cáo

Đất canh tác hành thuộc loại đất thịt trung bình, hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số thấp, với quy trình bón như trên thì không cung cấp được dinh dưỡng cho đất Mặt khác, dựa vào kết quả phân tích nitrat cho thấy hàm lượng nitrat trên hành đều vượt ngưỡng cho phép 400 mg/kg, Vì vậy cần phải bón phân vô cơ sao cho cân đối và hợp lý, cần bón thêm phân chuồng để tăng lượng hữu cơ và cải tạo lý hóa tính của đất

- Cải: Theo công thức bón phân được khuyến cáo cho cây cải của công ty cổ phần phân bón Việt Mỹ (11 – 13 kg) N – (11 – 13 kg) P2O5 – 8,25 – 9,75 kg) K2O thì:

+ N nguyên chất: có 31 hộ sử dụng thấp hơn mức phân khuyến cáo 11 kg chiếm 88,57%, 4 hộ sử dụng trên mức khuyến cáo 13kg chiếm 11,43% và không có hộ nào

sử dụng trong mức khuyến cáo

+ P2O5 nguyên chất: có 30 hộ sử dụng thấp hơn mức phân khuyến cáo 11 kg chiếm 85,71%, 5 hộ sử dụng trên mức khuyến cáo 13 kg chiếm 14,29% và không có

hộ nào sử dụng trong mức khuyến cáo

+ K2O nguyên chất: có 33 hộ bón dưới mức khuyến cáo 8,25 kg chiếm 94,29%,

2 hộ bón trên mức khuyến cáo 10,6 kg chiếm 5,71% và không có hộ nào bón trong mức khuyến cáo

Đất canh tác cải thuộc loại đất thịt pha cát, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp, với quy trình bón như trên thì không cung cấp được dinh dưỡng cho đất Mặt khác, dựa vào kết quả phân tích nitrat cho thấy hàm lượng nitrat trên hành đều vượt ngưỡng cho phép, Vì vậy cần phải bón phân vô cơ sao cho cân đối và hợp lý, cần bón thêm phân chuồng để tăng lượng hữu cơ và cải tạo đất

Một số quy trình bón phân cho các loại rau khác được thể hiện ở phần phụ lục

4.5 Tình hình sử dụng thuốc BVTV

4.5.1 Thuốc trừ sâu

Kết quả điều tra ở bảng 4.13 (phụ lục [1]) cho thấy: Có 15 thuốc thường xuyên được các nông hộ sử dụng trong đó thuốc Abatin 1.8 EC được nông hộ sử dụng nhiều nhất chiếm 24,30%, đây là loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học ít độc hại với môi

Trang 40

trường và con người, thời gian cách ly ngắn nên được các nông hộ sử dụng rộng rãi Ngoài ra còn có Susupet 1.9EC

Những loại sâu bệnh thường xuất hiện trên cây rau tại vùng điều tra: Sâu tơ, sâu xanh, sâu đục trái, sâu đục thân, sâu đất, rầy, bọ chét

Các loại thuốc đều nằm trong danh mục thuốc được sử dụng tại Việt Nam

4.5.2 Thuốc trừ bệnh

Qua bảng 4.14 (phụ lục [1]) cho thấy: Thuốc trừ bệnh được các nông hộ sử dụng đa dạng trong đó có 14 chủng loại được sử dụng phổ biến Trong 14 chủng loại thuốc trên thì tỉ lệ nông hộ sử dụng thuốc Ridomil 72WP chiếm tỉ lệ cao nhất với 38,32%, kế đến là các loại thuốc như: Daconil 75WP (7,01%), Antracol 70WP (5,61%), Score 250EC (5,14%) Các loại thuốc ít được sử dụng như: Tilt 250EC, Dithane M-45 80WP, Cuzate M8 80WP, BEAM 75WP với tỉ lệ 1,40%

Những bệnh thường gặp trên cây rau tại vùng điều tra: Sương mai, thán thư, đốm lá, lở cổ rễ, chạy dây, vàng lá

Các loại thuốc đều nằm trong danh mục thuốc được sử dụng tại Việt Nam

4.5.3 Thuốc trừ cỏ và phân bón lá

Qua bảng 4.15 (phụ lục [1]) cho thấy: Về chủng loại thuốc trừ cỏ khá phong phú và phổ biến có các loại thuốc trừ cỏ chính: Gramoxone, Sofit, CO 2,4D, Rolstar, Dual, Basta Trong đó thuốc trừ cỏ Gramoxone được sử dụng nhiều nhất chiếm tỉ lệ 15,89%, CO 2,4D và Basta ít được sử dụng

Theo ghi nhận cho thấy có 126 nông hộ trong tổng số 214 nông hộ điều tra không sử dụng thuốc diệt cỏ, các nông hộ này không sử dụng thuốc diệt cỏ là để tận dụng cỏ này cho gia súc ăn (bò)

Phân bón lá có 12 chủng loại trong đó phân bón lá 3 lá xanh và phân bón lá NPK (16-16-18-13S) được các nông hộ sử dụng nhiều nhất lần lượt chiếm tỉ lệ là 7,94% và 6,07% Phân bón lá 3 lá xanh và NPK 16-16-8-13S ngoài việc cung cấp các nguyên tố N, P, K còn bổ sung đầy đủ các nguyên tố trung và vi lượng cho cây trồng qua lá, đây là phân bón có thương hiệu chất lượng cao qua nhiều năm Các loại phân bón lá được nông dân chọn lựa theo kinh nghiệm sản xuất qua nhiều năm nên một số phân bón lá có thương hiệu mới ít được nông dân sử dụng

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w