Kết quả thu được: Về điều tra thành phần cây tự nhiên có giá trị dược liệu: Đã tìm được 69 loài cây tự nhiên có tác dụng dược liệu, thuộc 40 họ... Về công dụng và cách sử dụng cây tự nhi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ CÂY TỰ NHIÊN CÓ GIÁ TRỊ DƯỢC
LIỆU TẠI VƯỜN QUỐC GIA KON KA KINH,
HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THU THỦY
Niên khoá: 2006 - 2010
Pleiku, Tháng 08/2010
Trang 2KHẢO SÁT MỘT SỐ CÂY TỰ NHIÊN CÓ GIÁ TRỊ DƯỢC LIỆU TẠI VƯỜN QUỐC GIA KON KA KINH, HUYỆN MANG YANG,
TỈNH GIA LAI
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU THỦY
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
TS VÕ THÁI DÂN
Pleiku, Tháng 08/2010
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy
cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo Vườn quốc gia
Kon Ka Kinh, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ nhiệm khoa Nông học
Phân hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tại Gia Lai Toàn thể các cán bộ công nhân viên Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và tất cả các thầy, cô đã tận tâm giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường, đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Nông học
Tôi xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đến thầy giáo: TS Võ Thái Dân - Bộ môn Cây Công Nghiệp, các anh chị trong phòng Khoa học - Kỹ thuật, phòng Quản lý Môi trường và Du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Kon Ka Kinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Xin cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này
Pleiku, ngày 18 tháng 08 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát một số cây tự nhiên có giá trị dược liệu tại vườn quốc gia Kon Ka Kinh, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai" được thực hiện từ ngày 04/06/2010
đến 05/07/2010
Kết quả thu được:
Về điều tra thành phần cây tự nhiên có giá trị dược liệu: Đã tìm được 69 loài cây tự nhiên có tác dụng dược liệu, thuộc 40 họ Trong đó, họ Cúc (Asteraceae) có 7 loài chiếm 10,14 %; họ Gừng (Zingiberaceae) có 4 loài, chiếm 5,8%; 7 họ có 2 loài, chiếm 20,29%; họ Đậu (Fabaceae) có 3 loài, chiếm 4,35%; 10 loài chưa định danh được, chiếm 14,49%; 31 họ còn lại, mỗi họ chỉ có 1 loài, chiếm 44,93%
Về mức độ phổ biến của các cây tự nhiên có giá trị dược liệu:
- Nhóm cây ít gặp gồm có 4 loài (Bí kì nam, Địa liền, Thục sâm, nấm Hoàng hậu), chiếm 5,8%
- Nhóm cây không phổ biến gồm có 9 loài (Lan kim tuyến, Náng, Sến mật, Súm chè, Súm nhật, Thiên niên kiện, Thổ phục linh, Thổ sâm, Thôi ba) chiếm 13,04%
- Nhóm cây mọc rải rác gồm có 7 loài (Cỏ mực, Kim cang, Sầu đâu, Tuế lá xẻ,
Vả, Vỏ rụt, Vông), chiếm 10,14%
- Nhóm cây mọc tập trung gồm có 12 loài (Cỏ tranh, Củ mài, Dầu trà ben, Đẻn
ba lá, Mây, Mét, Mía dò, nấm Linh chi, Nghệ đen, Râu hùm, Ráy leo, Thông tre lá dài), chiếm 17,39%
- Nhóm cây mọc tương đối phổ biến gồm có 23 loài (Ba gạc lá nhỏ, Bằng lăng
ổi, Bồ công anh, Bưởi bung, Cà dại, Cam thảo nam, Cau rừng, Chó đẻ, Cỏ hắc lào, Cỏ xước, Cốt toái bổ, Hà thủ ô trắng, Măng, Mật nhân, Sa nhân, Sâm cau, Tàu bay, Tỏa dương, Vàng đắng), chiếm 33,33%
- Nhóm cây mọc phổ biến gồm có 11 loài (Blớt, Cỏ cứt lợn, Cỏ gấu, Hoa ngũ sắc, Lá lốt, Liu liu, Rau má, Rau sam, Sả, Mé cò ke, Tam), chiếm 15,94%
- Nhóm cây mọc rất phổ biến gồm có 3 loài (Cỏ lào, Tang hạt, Tang lá), chiếm 4,35%
Trang 5Về công dụng và cách sử dụng cây tự nhiên làm dược liệu rất đa dạng: Sử dụng cây tự nhiên chữa được rất nhiều bệnh như bệnh về da, cảm sốt, mệt mỏi, các bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, sinh lý Hầu như tất cả những bộ phận của cây đều được
sử dụng làm thuốc như: rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt đến nhựa mủ Có thể dùng tươi, phơi khô sắc nước, ngâm rượu hay nấu cao
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Giới hạn của đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu và rau dại 3
2.1.1 Trong nước 3
2.1.2 Ngoài nước 5
2.2 Các phương pháp phân loại thực vật học 6
2.2.1 Nhận dạng cây 6
2.2.2 Bộ phận cây 6
2.2.2.1 Rễ 6
2.2.2.2 Thân 7
2.2.2.3 Lá 7
2.2.2.4 Hoa 8
2.2.2.5 Quả 9
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện đề tài 11
3.1.1 Thời gian 11
Trang 73.1.2 Địa điểm 11
3.1.2.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích Vườn quốc gia 11
3.1.2.2 Địa hình và thuỷ văn 13
3.1.2.3 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội 13
3.1.2.4 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học 14
3.2 Đối tượng nghiên cứu 16
3.3 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1 Tìm hiểu chung 16
3.3.2 Điều tra các thực vật ở rừng 16
3.3.3 Phỏng vấn nông hộ 20
3.3.4 Phương pháp đánh giá 20
3.3.5 Phần mềm sử dụng 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Vị trí các ô tiêu chuẩn 21
4.2 Đặc điểm các khu vực đã khảo sát 23
4.2.1 Rừng kín thường xanh 23
4.2.2 Rừng khộp 25
4.3 Thống kê những cây tự nhiên có giá trị dược liệu đã tìm được 26
4.4 Mức độ phổ biến của những cây tự nhiên có tác dụng dược liệu khảo sát được 31
4.5 Đặc điểm hình thái, công dụng và cách sử dụng của các cây tự nhiên có tác dụng dược liệu 37
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Trang 8International Union for Conservation of Nature - Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế
Kon Ka Kinh Quyết địnhQuy hoạch và thiết kế nông thôn Thủ tướng
Ủy ban nhân dân Vườn quốc gia Vườn thực vật Word Heath Organization - Tổ chức y tế thế giới
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Bảng đánh giá mức độ phổ biến của các cây dược liệu tìm được 20Bảng 4.2 Danh sách các cây tự nhiên có giá trị dược liệu 27Bảng 4.3 Thống kê thành phần, số lượng của các cây tự nhiên có tác dụng dược liệu khảo sát trong 15 ô tiêu chuẩn 32
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Bản đồ 2.1 Vị trí vườn quốc gia Kon Ka Kinh 12
Hình 3.2 Cách bố trí các ô nhỏ trong một ô tiêu chuẩn 17
Hình 3.3 Ô tiêu chuẩn 435 - 3 18
Hình 3.4 Ô tiêu chuẩn 432 - 3 18
Hình 3.5 Ô tiêu chuẩn 432 - 5 19
Hình 3.6 Ô tiêu chuẩn 436 - 3 19
Bản đồ 4.1 Vị trí các ô tiêu chuẩn 22
Hình 4.1 Toàn cảnh rừng kín thường xanh 23
Hình 4.2 Tầng cây gỗ 24
Hình 4.3 Tầng cây bụi 24
Hình 4.4 Lớp thảm mục trong rừng kín thường xanh 24
Hình 4.5 Những hình ảnh về rừng khộp 26
Hình 4.6a Mặt trên lá Tang lá 37
Hình 4.6b Mặt dưới lá Tang lá 37
Hình 4.7a Mặt trên lá Tang hạt 37
Hình 4.7b Mặt dưới lá Tang hạt 37
Hình 4.8 Cỏ lào 38
Hình 4.9 Cỏ cứt lợn 38
Hình 4.10 Cây Blớt 39
Hình 4.11a Lá cây liu liu 40
Hình 4.11b Rễ cây liu liu 40
Hình 4.12a Lá cây tam 40
Hình 4.12b Rễ cây tam 40
Hình 4.13 Hoa ngũ sắc 40
Hình 4.14 Mé cò ke 41
Hình 4.15 Ba gạc lá nhỏ 42
Hình 4.16 Bồ công anh răng cưa 43
Hình 4.17 Bằng lăng ổi 44
Trang 11Hình 4.18a Thân cây Bưởi bung 44
Hình 4.18b Lá Bưởi bung 44
Hình 4.19 Cà dại 45
Hình 4.20 Cam thảo nam 45
Hình 4.21 Cau rừng 46
Hình 4.22 Cây Chó đẻ 46
Hình 4.23 Cỏ hắc lào 47
Hình 4.24 Cỏ xước 47
Hình 4.24 Cỏ gấu 48
Hình 4.25 Cốt toái bổ 48
Hình 4.26a Mặt trên lá cây dây 49
Hình 4.26b Mặt dưới lá cây dây 49
Hình 4.27a Mặt trên lá cây dây đùm 50
Hình 4.27b Mặt dưới lá cây dây đùm 50
Hình 4.28 Đơn buốt 50
Hình 4.29 Cây Euga 51
Hình 4.30 Hà thủ ô trắng 51
Hình 4.31 Lá lốt 52
Hình 4.32a Lá cây măng 52
Hình 4.32b Rễ cây măng 52
Hình 4.33 Cây mật nhân 53
Hình 4.34 Rau má 53
Hình 4.35 Rau sam 54
Hình 4.36a Lá cây sa nhân 54
Hình 4.36b Rễ cây sa nhân 54
Hình 4.37 Sả 55
Hình 4.38a Lá và quả Sâm cau 55
Hình 4.38b Rễ Sâm cau 55
Hình 4.39 Rau tàu bay 56
Hình 4.40 Tỏa dương 56
Hình 4.41 Cây vàng đắng 57
Trang 12Hình 4.42 Cỏ tranh 58
Hình 4.43 Củ mài 58
Hình 4.44a Lá dầu Trà ben 59
Hình 4.44b Thân dầu Trà ben 59
Hình 4.45 Đẻn 3 lá 59
Hình 4.46a Lá cây mây 60
Hình 4.46b Đọt mây 60
Hình 4.47a Lá cây Mét 60
Hình 4.47b Rễ cây Mét 60
Hình 4.48 Mía dò 61
Hình 4.49 Nấm linh chi 61
Hình 4.50 Nghệ đen 62
Hình 4.51 Râu hùm 63
Hình 4.52 Ráy leo 63
Hình 4.53 Thông tre lá dài 64
Hình 4.54 Cỏ mực 65
Hình 4.55 Kim cang 65
Hình 4.56 Lá Sầu đâu 66
Hình 4.57 Tuế lá xẻ 66
Hình 4.58 Vả 67
Hình 4.59 Vỏ rụt 67
Hình 4.60 Mặt trên và mặt dưới lá vông nem 68
Hình 4.61 Lan kim tuyến 68
Hình 4.62a Náng 69
Hình 4.62b Hoa Náng 69
Hình 4.63a Thân cây Sến mật 69
Hình 4.63b Lá cây Sến mật 69
Hình 4.64 Súm chè 70
Hình 4.65 Súm nhật 70
Hình 4.66 Thiên niên kiện 71
Hình 4.67 Thổ phục linh 72
Trang 13Hình 4.68 Thổ sâm 72
Hình 4.69 Thôi ba 73
Hình 4.70 Bí kì nam 73
Hình 4.71 Cây địa liền 74
Hình 4.72 Thục sâm 74
Hình 4.73 Nấm hoàng hậu 75
Trang 14Tuy nhiên, việc khai thác dược liệu còn nhiều bất hợp lý như: tốc độ khai thác luôn luôn lớn hơn tốc độ tái sinh, do đó khả năng cung cấp dược liệu tự nhiên giảm sút
rõ rệt so với trước đây; khai thác cây không phải để làm thuốc mà lạm dụng vào việc khác như lấy gỗ làm đồ dùng gia đình, làm vật trang trí, làm củi đun Chặt cây, phá rừng, đốt rừng lấy đất làm nương rẫy; đặt kế hoạch tận thu, khai thác bừa bãi, bất hợp
lý khiến cho cây thuốc bị kiệt quệ làm thu hẹp dần diện phân bố của nhiều loại cây thuốc Do đó, khai thác phải đi đôi với bảo vệ, bảo đảm cây thuốc tái sinh tự nhiên và ngày một phát triển là một việc hết sức khẩn trương và cần thiết
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh thuộc tỉnh Gia Lai, có phạm vi lãnh thổ thuộc 3 huyện: Mang Yang, Đăk Đoa và Kbang với nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú
Sử dụng những cây thuốc tự nhiên trong đời sống của người dân ở địa bàn vườn quốc gia rất phổ biến và đã được lưu truyền từ bao đời nay Trước lợi ích của những cây tự nhiên có giá trị làm dược liệu đó, vấn đề cần đặt ra cho chúng ta là làm sao duy trì được nguồn tài nguyên quý giá này để đáp ứng không chỉ nhu cầu sử dụng của người dân bản địa, nhất là vùng rừng núi, vùng sâu mà cả cho việc sử dụng chúng để làm
Trang 15nguyên liệu chế biến các loại thuốc thảo dược, duy trì nguồn đa dạng sinh học cho Việt Nam
Để góp phần thực hiện mục tiêu đó, đề tài “ Khảo sát một số cây tự nhiên có giá trị dược liệu tại vườn quốc gia Kon Ka Kinh, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai” được thực hiện
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định thành phần, mức độ phổ biến của các thực vật hoang dại được sử dụng làm
thuốc trong vườn quốc gia Kon Ka Kinh
- Mô tả, thu thập các loài cây tự nhiên có tác dụng dược liệu trong vườn quốc gia Kon
Ka Kinh
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Mô tả đặc điểm hình thái của các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu trong vườn quốc gia
- Tìm hiểu về công dụng và cách sử dụng các cây tự nhiên để làm thuốc của người dân
1.4 Giới hạn của đề tài
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn, nên không thể theo dõi và quan sát hết các đặc tính thực vật học của một số loài thực vật có đời sống dài
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu và rau dại
Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997), qua sách này có thể nhận biết được 2.911 hình vẽ và 768 ảnh và mẫu minh họa Mỗi cây thuốc đều được mô tả chi tiết bộ phận sử dụng, phân bố, cách thu hái, thành phần hóa học và công dụng (Theo Trần Văn Đại)
Võ Văn Chi (1998) đã chỉ rõ tác dụng dược liệu của trên 3.000 loài thực vật ở Việt Nam
Tại huyện Hóc Môn, năm 1999 Nguyễn Văn Định đã thu thập được nhóm rau mọc tự nhiên có 40 loài, 35 giống, thuộc 28 họ Có 4 loài sử dụng rất phổ biến như: kèo nèo, rau đắng, lá dang Chưa định danh được cây mặt trăng, môn dại
Bùi Chí Nam, 2001 điều tra các loại rau dại ở huyện Lộc Ninh (Bình Phước), huyện Cư Jút (Đăk Lăk) đã kết luận là: Rau dại thu hái được quanh vườn hộ và trong rừng là 59 loài, thuộc 33 họ, có 30 loài có tác dụng dược liệu và tính được mức sử dụng rau của một người trong năm là: dân tộc Stiêng 165,6 kg, Khơme 136,8 kg, Nùng 133,2 kg, Kinh 133,2 kg, Êđê 75,6kg
Trang 17Tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, năm 2002 Phan Văn Sum đã định danh được 30 loài cây dược liệu, thuộc 18 họ Trong đó, có 7 loài sử dụng toàn thân, 10 loài
sử dụng lá, 3 loài sử dụng thân lá và quả, 8 loài sử dụng củ và rễ, 1 loài sử dụng vỏ thân và một loài sử dụng mủ
Tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, năm 2002 Huỳnh Thiện Tín qua điều tra 73 hộ trong vùng thì có khoảng 35 loài rau thu hái từ tự nhiên thuộc 28 họ thực vật,
có 34 loài thực vật dùng làm thuốc thông dụng thuộc 24 họ thực vật, lượng rau tiêu thụ của 73 hộ là 86,5 kg/ngày, bình quân 1,185 kg/hộ/ngày
Tại huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, năm 2002, Huỳnh Văn Quân đã ghi nhận được 63 loài thực vật thuộc 33 họ thực vật; nhóm rau thu hái từ tự nhiên (sông, rạch, ao, hồ, đồng ruộng ) có 25 loài thuộc 18 họ, trong đó họ khoai ngọt (Dioscoreceae) có 4 loài, họ Araceae và họ Asteraceae mỗi họ có 3 loài, họ Dền (Amaranthaceae), họ súng (Nympheaceae) mỗi họ có 2 loài, mỗi loài còn lại thuộc một
họ khác nhau
Tại Lâm Đồng, năm 2002, Bùi Thị Lan Hương ghi nhận có 54 loài rau dại thuộc
31 họ thực vật khác nhau và có 48 loài thực vật có tác dụng dược liệu, thuộc 23 họ thực vật Trong 48 loài cây có tác dụng dược liệu thu được, nông dân thường xuyên sử dụng các loài: Cúc chỉ thiên, hương nhu, ngải cứu, chó đẻ thân xanh, cỏ mực, hàn the, nghệ
Cũng ở Lâm Đồng, năm 2003, Krajan Jrí ghi nhận có 47 loài rau dại, thuộc 33
họ khác nhau, có 27 loài thực vật có tác dụng dược liệu thuộc 22 họ và ước tính được mức sử dụng rau (kg/người/năm) của dân tộc Mạ, M'Nông, Chil, Koho, Kinh, Thái và Hoa lần lượt là: 164,2; 163,9; 159,6; 135; 132,4; 98,6; 87,8
Trần Văn Đại (2004) qua điều tra ở huyện Trảng Bàng, Tây Ninh đã ghi nhận được 117 loài thực vật thuộc 60 họ, cây dược liệu có 44 loài thuộc 30 họ Trong số 44 loài cây dược liệu đó, có 22 loài sử dụng toàn thân, 13 loài sử dụng thân lá, 6 loài sử dụng rễ và củ, 1 loài sử dụng quả và 2 loài sử dụng nhựa mủ
Theo kết quả điều tra của ngành Y tế, ở Việt Nam có tới gần 4.000 loài thực vật
và nấm có công dụng làm thuốc Trong đó có hơn 90% là cây mọc tự nhiên và tập trung chủ yếu ở các quần xã rừng Từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên, hàng năm đã
Trang 18khai thác được một khối lượng lớn các loại cây dược liệu, sử dụng cho nhu cầu làm thuốc và xuất khẩu
Khoảng 80% dân số sống và lao động ở nông thôn, số đông đồng bào dân tộc ít người lại sống rải rác ở vùng rừng núi, rẻo cao Điều kiện cung cấp thuốc tân dược ở nơi đó có phần hạn chế nhất định Nhưng Việt Nam lại có một nền y dược học cổ truyền dân tộc với truyền thống từ lâu đời, là vốn quý tích lũy từ ngàn xưa, những cây thuốc và vị thuốc đã có cống hiến to lớn trong quá trình hình thành, tồn tại và lớn mạnh của dân tộc Từ lâu đời, nhân dân Việt Nam, nhất là nông dân ở nông thôn và vùng cao đều dùng dược liệu sẵn có xung quanh mình để làm thuốc cũng như dùng những cây rau ăn, cây gia vị để sinh sống và bảo vệ sức khỏe
Theo kết quả điều tra của viện Dược liệu - Bộ Y tế (kết quả điều tra từ năm
1961 đến năm 2004) đã ghi nhận được ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp (kể cả nấm), cũng theo điều tra này, trong số 3.948 loài cây làm thuốc đã biết trên, phần lớn các loài được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương Các nhà khoa học viện Dược liệu đã nghiên cứu xác định được 134 loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng và nhân trồng được 65 loài ở các vườn dược liệu trên toàn quốc Viện còn bảo tồn giống một số loài thuốc quý trong ngân hàng hạt, góp phần cứu vãn những quần thể cây thuốc quý còn sót lại trong tự nhiên và mở ra triển vọng tạo thêm nguồn dược
liệu
Phát triển cây thuốc là một ưu thế lớn góp phần nâng cao đời sống và từng bước xóa đói, giảm nghèo cho người dân, nhất là cộng đồng các dân tộc sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà cuộc sống của họ đang gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Ngoài nước
Về mặt lịch sử, hơn 4.000 năm trước các dân tộc vùng Trung Cận Đông đã biết đến cả ngàn cây làm thuốc và sau này dân tộc Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng Vài thế kỉ trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã biết trồng các loài cây làm thuốc Ngày nay, số lượng cây làm thuốc nhiều vô kể và ngày càng được phát triển
thêm (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999 Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1)
Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1985 trên toàn thế giới đã biết đến trên 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao trong tổng số hơn
Trang 1925.000 loài thực vật được biết đến được sử dụng trực tiếp để làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp hoạt chất để làm thuốc (Farnworth & Soejarto, 1985) Con số này được ước tính từ 30.000 đến 70.000 loài (NAPRALERT, 1980) Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới hơn 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc, Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6.500 loài (N.R Farnworth, 1985; S.K.Alok, 1991; P.G.Xiao, 2006)
Được biết, tại các quốc gia đang phát triển, hiện vẫn có một tỉ lệ lớn dân số đã
và đang được chăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền mà trong đó có sử dụng cây thuốc Bên cạnh các phương thức dùng cây thuốc theo cách cổ truyền như thuốc sắc, thuốc cao, thuốc bột, thuốc viên, thuốc chườm bó và xoa bóp nhiều loại thuốc hiện đại
có nguồn gốc từ cây cỏ đã được chế tạo, mang lại hiệu quả điều trị cao hơn Xu hướng
sử dụng cây thuốc theo hướng này ngày càng được chú trọng và phát triển
2.2 Các phương pháp phân loại thực vật học
Nhìn chung các nhà thực vật học thường dùng phương pháp mô tả hình thái cây
cỏ để sắp xếp các cây cỏ theo hệ thống giống nhau Theo tác giả Võ Văn Chi (1998) phương pháp này cơ bản gồm:
2.2.1 Nhận dạng cây
- Cây gỗ: sống nhiều năm, thân sinh trưởng thứ cấp hóa gỗ, thân phát triển mạnh Thân
chính của cây to, nhỏ, cao, thấp, có nhiều cành nhánh nhiều ít tùy thuộc vào từng loài
Thân khá cao (25 - 40 m)
- Cây bụi: cây thân gỗ nhiều năm, thân chính không có hoặc phát triển kém, cành
nhánh bắt đầu từ gốc thân chính, không quá 7 m
- Cây thảo: thân mềm, nằm trên mặt đất, chết lụi vào thời kỳ tạo quả Có thân thảo một
năm, thân thảo 2 năm và thân thảo nhiều năm
2.2.2 Bộ phận cây
2.2.2.1 Rễ
- Rễ chính hay rễ cái: phát triển từ mầm, mọc sâu và thẳng đứng trong đất Từ rễ chính phát triển những rễ bên Rễ chính mập, mang nhiều rễ con ít phát triển
- Rễ chùm: tập hợp nhiều rễ có chiều dài gần bằng nhau, ít phân nhánh, mọc từ cổ rễ,
loại này đặc trưng cho 1 lá mầm
Trang 20- Rễ củ: rễ có chức năng dự trữ chất hữu cơ, trong rễ có nhiều saccharose, tinh bột,
- Thân củ: thân nằm dưới đất, phình to lên vì chứa nhiều chất dự trữ
- Thân hành: thân ngầm dưới đất dạng quả lê, dạng trứng hoặc cầu dẹt như một cái thân ngắn mang nhiều lá biến đổi thành dạng vảy úp lên nhau Vảy ngoài khô dai làm nhiệm vụ che chở, vảy trong nạc mọng nước, có chức năng dự trữ Ở khoảng giữa hành là những lá phát triển thành lá sinh dưỡng và chồi sẽ tạo thành các hoa Hành có thể có nhiều lá, sống dai dưới đất
2.2.2.3 Lá
Là cơ quan sinh sản sinh dưỡng của thực vật có chức năng quang hợp và thoát hơi nước Lá thông thường dẹt và đối xứng 2 bên, có kích thước xác định và phát triển giới hạn tùy loài Lá phát triển từ thân hoặc cành và thường có chồi ở nách Lá đầy đủ gồm có phiến lá, cuống lá và lá kèm Có những loại không có cuống và lá kèm Phiến
lá có đầu lá (hay chóp lá), gốc lá, hệ gân lá (gân chính, gân bên và các gân phụ) và thịt
lá Ở thực vật một lá mầm, phần gốc cuống lá phình rộng thành bao ôm lấy thân gọi là
bẹ lá Ở 2 bên bẹ lá hoặc gốc lá có phần kéo dài gọi là tai lá, ở mặt trên ngăn cách giữa gốc của phiến lá với bẹ lá có lưỡi bẹ (hay thìa lá) thường ôm lấy thân
Trang 21Các kiểu lá:
- Lá đơn: có các dạng hình kim, hình vảy, hình dải (hay hình vạch), hình ngọn giáo, hình trái xoan, hình bầu dục, hình trứng, hình tim, hình thận, hình tam giác, hình khiên, hình mũi lao (hay hình kích)
- Lá kép: có phiến lá phân thành nhiều thùy hoặc nhiều lá chét, có cuống hoặc không cuống đính vào cuống lá của cuống lá kép Có các loại:
+ Lá kép chẻ ngón: lá kép có nhiều lá chét đính tại một điểm của cuống lá chính, xòe
ra dạng bàn tay
+ Lá kép chân vịt: lá chét có những thùy nông hoặc sâu dạng chân vịt
+ Lá kép lông chim: các lá chét sắp xếp theo hai dãy trên cuống chính, dạng lông chim Thường gặp có lá kép lông chim chẵn, lá kép lông chim lẻ, lá kép lông chim hai lần chẵn, lẻ
- Mép lá: còn gọi là phiến lá, có các dạng nguyên, xẻ răng cưa, răng cưa to, răng cưa nhỏ, tai bèo, lượn sóng, lượn sóng sâu, nhăn nheo, lông chim, chia thùy lông chim, lông chim xẻ ngược, chẻ thùy chân vịt, mép lá xẻ
- Các kiểu xếp lá: những kiểu so le, mọc đối, mọc vòng, mọc cụm
2.2.2.4 Hoa
Là cơ quan sinh sản của thực vật hạt kín, thường ở ngọn thân hoặc ngọn cành, cấu tạo điển hình gồm có: cuống, đế, đài, tràng (hợp lại thành bào hoa), bộ nhị và bộ nhụy
Các kiểu cụm hoa: hoa có thể mọc riêng lẻ nhưng tập hợp lại thành cụm (hay hoa tự, phát hoa), trục của cụm hoa có thể đơn hay phân nhánh Trục hoa chỉ là các lá bắc đơn giản, chúng hợp lại thành bao chung Số lượng hoa trong một cụm hoa có từ 1 hoa đến hàng vạn hoa Các kiểu cụm hoa thường gặp là:
Trang 22+ Cụm hoa chùm: chùm được cấu tạo bởi một trục có độ dài khác nhau, mang một số hoa phân bố theo chiều dài của trục Hoa mọc ở nách lá bắc, mỗi hoa có một cuống hoa nhỏ gần bằng nhau
+ Cụm hoa chùm kép: chùm hoa mà trong đó trục chính dài và phát triển phân nhánh các chùm nhỏ Nếu trục thứ cấp đơn hay kép xuất phát từ nhiều điểm khác nhau của trục sơ cấp và có chiều dài giảm dần từ cao đến thấp làm cho toàn bộ cụm hoa có hình nón thì đó gọi là cụm hoa chùy
+ Cụm hoa bông: cụm hoa chùm mang những hoa không có cuống hoặc cuống rất ngắn Do đó, các hoa tựa như dính trên một trục gọi là gié
+ Cụm hoa bông mo: bông có một trục mang hoa không cuống bao bọc bởi một lá bắc
to (mo) Bông mo có thể không phân nhánh hoặc phân nhánh
+ Cụm hoa tán: cụm hoa trong đó các nhánh xuất phát từ một điểm và tỏa ra đều nhau nên các hoa nằm trên một mặt phẳng
+ Cụm hoa tán kép: tán trong đó mang một tán con, có một bao chung nhỏ kèm theo + Cụm hoa ngù: cụm hoa chùm có các cuống cấp 2 ở trên những điểm khác nhau của thân nhưng đều đạt tới một mức độ ngang nhau có dạng chung hình tán
+ Cụm hoa xim: cụm hoa có hạn Trong đó, mỗi cuống hoa ở tận cùng là một hoa và từng đó ngừng sinh trưởng Xim bọ cạp có các hoa chỉ tập trung ở một phía của hợp trục đạo cho cụm hoa có đuôi bọ cạp Còn ở cụm hoa xim có các trục hầu như ngắn lại đến mức tối thiểu, cụm hoa trở nên không đều
+ Cụm hoa hình rổ: các hoa không cuống hay gần như không cuống xếp xít nhau trên một trục thành hình khối cầu Mỗi một hoa ở kẽ lá bắc riêng gọi là vẩy, các lá bắc ngoài không sinh sản, tập trung xung quanh cụm hoa thành bao chung để bảo vệ hoa khi còn là nụ gọi là đầu trạng (hay còn gọi là hoa đầu)
2.2.2.5 Quả
Quả là cơ quan phát triển từ hoa, bảo vệ và phát tán khi quả chín Quả có thể đơn hoặc kép, gồm: vỏ ngoài, vỏ giữa (phần thịt quả), vỏ trong và hạt
Các dạng quả thường gặp:
- Quả bế: quả khô không mở, do một hay nhiều lá noãn tạo thành nhưng chỉ có một ô
và chỉ có một hạt, vỏ hạt riêng biệt với vỏ quả Quả bế có khi phần phụ kéo dài như chiếc dù giúp phát tán
Trang 23- Quả kiên: vỏ ngoài cứng lại, hóa gỗ, không mở, chứa một hạt, xếp từ 1 - 3 quả trong một bao chung ở đầu (quả họ Dẻ)
- Quả thóc (hay quả dĩnh): quả khô khi chín, không mở, vỏ quả và vỏ hạt dính liền nhau, ngoài quả thường có một rãnh nhỏ, có lông tơ hay gờ nổi (quả họ Lúa)
- Quả có cánh (hay dực quả): quả khô, không mở, trên quả có phần phụ là những cánh mỏng, phẳng do đài phát triển hoặc những gỗ mỏng xung quanh do vỏ ngoài tạo thành
- Quả đại: quả khô khi chín mở theo một đường nút dọc tạo thành 2 mảnh nhỏ dính liền nhau; Quả một ô do một lá noãn tạo thành, trong chứa một hay nhiều hạt
- Quả đậu (quả giáp): quả khô một ô, thường tự mở theo 2 khe dọc, một theo đường bụng, một theo đường lưng của mép lá noãn tạo thành 2 mảnh vỏ, mỗi mảnh đều có một dãy hạt
- Quả cải (quả giác): quả khô khi chín, nứt theo 4 đường dọc, mở thành 2 mảnh vỏ để lại một vách ngăn ở giữa mang hạt Thường quả có hình trụ, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng
- Quả cải nhỏ: kiểu quả cải ngắn, có nhiều hình dạng khác nhau, chiều dài bằng hoặc hơn chiều rộng một ít
- Quả nang: quả do một số lá noãn hợp thành, khi khô mở ra theo các cách: Mở vách,
gỗ tạo thành hạch bao kín lấy hạt
- Quả tụ: quả hình thành bởi một hoa mà bộ nhụy gồm nhiều hoa độc lập tụ hợp mà thành (nói cách khác quả phức do một cụm hoa tạo nên)
- Quả phức: quả hình thành do một khối nguyên vẹn của nhiều hoa độc lập tụ hợp mà thành, nói cách khác quả phức do một cụm hoa tạo nên
Trang 24Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian, địa điểm thực hiện đề tài
- Đất có rừng: 4472,5 ha
- Đất trống: 597,5 ha
- Đất nông nghiệp: 129,9 ha
- Đất khác: 26,1 ha
Năm tiểu khu này trước đây do lâm trường Mang Yang I quản lý
3.1.2.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích Vườn quốc gia
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku 50 km về phía Đông Bắc, phân bố trên phạm vi ranh giới hành chính của 5 xã: xã Đăk Roong, Kroong, Kon Pne (huyện Kbang), xã Hà Đông (huyện Đăk Đoa),
xã Ayun (huyện Mang Yang) Kon Ka Kinh là đỉnh núi cao nhất (1.748 m) trên cao nguyên Pleiku
- Diện tích : 41.780 ha
- Tọa độ địa lý: từ 140 09' đến 140 30' vĩ độ Bắc
từ 1080 16' đến 1080 28' kinh độ Đông
+ Phía Bắc: giáp tỉnh Kon Tum và một phần xã Đăk Roong huyện Kbang
+ Phía Nam: giáp xã Hà Ra và một phần xã Ayun, xã Đak Jơ Ta, huyện Mang Yang
Trang 25+ Phía Đông: giáp một phần xã Đăk Roong, xã Kroong, xã Lơ Ku huyện Kbang
+ Phía Tây: giáp một phần xã Hà Đông huyện Đăk Đoa
Chú thích: : Vườn quốc gia Kon Ka Kinh
Bản đồ 2.1 Vị trí vườn quốc gia Kon ka Kinh
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có tên trong danh sách các khu rừng đặc dụng từ năm 1986 theo QĐ số 194/CT ngày 9/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, với diện tích 28.000 ha nhằm bảo tồn rừng á nhiệt đới núi cao với các loài hạt trần Năm
1999, Viện Điều tra Qui hoạch rừng (FIPI) kết hợp với Tổ chức Chim quốc tế (BirdLife Intemational) xây dựng Dự án đầu tư thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Kon
Ka Kinh Dự án này được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh Gia Lai thẩm định, phê duyệt cùng năm, với diện tích là 41.780 ha Ngày 25/11/2002 Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 167/2002/QĐ - TTg về việc chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Ka Kinh thành Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh
Ngày 18/12/2003 cuộc họp các Bộ trưởng về tài nguyên môi trường được tổ chức tại IAGON (Mianma) đã ra tuyên bố chung về việc xây dựng các vườn di sản ASEAN, Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là một trong bốn vườn của Việt Nam (Chư Mom Rây, Ba Bể, Kon Ka Kinh và Hoàng Liên Sơn) và 1 trong 27 vườn của khu vực Đông Nam Á được công nhận là vườn di sản ASEAN
Trang 263.1.2.2 Địa hình và thuỷ văn
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh nằm ở nơi tiếp giáp giữa cao nguyên Pleiku với cao nguyên Kon Hà Nừng Là khu rừng gồm nhiều dãy núi có độ cao trung bình 1.200
- 1.500m Đỉnh núi Kon Ka Kinh (1.748m) cùng với nhiều đỉnh khác thấp hơn định vị trên trên một vùng bằng và rộng lớn khoảng 20 km2, có độ cao dao động từ 1.500 -1.700m, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam Sườn Đông tiếp giáp với cao nguyên Kon Hà Nừng, với độ dốc lớn và ngắn có độ cao dao động từ 800 - 1.700m Sườn Tây của khối núi Kon Ka Kinh thấp dần từ Đông sang Tây, dốc dài, thoải dần, mức độ chia
cắt của địa hình không phức tạp; độ cao dao động từ khoảng 900 - 1.500m
Kon Ka Kinh nằm trong vùng phân thủy của hai con sông lớn là Sông Ba và Sông Đăk Pne, cả hai có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất
nông nghiệp, cây công nghiệp và thủy điện
+ Sông Ba: hệ thống sông Ba bắt nguồn từ sườn Đông và Nam của khối núi Kon Ka Kinh, chảy qua các huyện Kbang, An Khê, Chư Sê, Ayun Pa, Krông Pa (Gia
Lai) và huyện Sơn Hoà (tỉnh Phú Yên), sau đó đổ ra biển Đông ở thị xã Tuy Hoà
+ Sông Đăk Pne: thượng nguồn của sông bắt nguồn từ nhiều con suối ở sườn Tây của khối núi Kon Ka Kinh, nhánh sông chính chảy theo hướng Bắc sau đó là Tây Bắc, gặp sông Đăk Bla ở thị xã Kon Tum, chảy về Sông Sê San nơi có thuỷ điện
YaLy Như vậy sông Đăk Pne là một chi lưu của sông Mê Kông
Do địa hình núi cao, dốc nên hệ thống sông, suối bắt nguồn từ Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh thường ngắn, hẹp, tốc độ dòng chảy lớn, có nhiều thác ghềnh
3.1.2.3 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội
- Qua kết quả điều tra kinh tế xã hội các xã vùng dự án Vườn quốc gia Kon Ka Kinh thì kinh tế còn rất khó khăn, nghèo đói Thể hiện ở tỷ lệ hộ đói, nghèo còn cao (30,5%), chủ yếu rơi vào các hộ dân tộc Ba Na
- Trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu cùng với tập quán canh tác du canh,
du cư không chú trọng đến việc thâm canh cải tạo đất, nên đất đai nhanh chóng bị cằn cỗi thoái hoá, năng suất cây trồng thấp, dẫn tới tình trạng thiếu lương thực vào các tháng 7, 8 và tháng 9 hàng năm
- Hiện tượng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng trái phép vẫn còn xảy ra, là một áp lực lớn đối với tài nguyên động, thực vật của Vườn quốc gia
Trang 27- Hạ tầng cơ sở thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, điện lưới quốc gia mới chỉ kéo đến trung tâm một số xã, hệ thống liên lạc bằng điện thoại chưa phát triển, phương tiện nghe nhìn chưa có điều kiện sử dụng là những khó khăn cơ bản kìm hãm sự phát triển kinh tế của các xã trong vùng
3.1.2.4 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh có 33.146 ha đất có rừng, chiếm gần 80% diện tích của Vườn với các kiểu sinh cảnh rừng trên núi trải rộng theo đai cao từ 700 - 1.748 m
Phần lớn diện tích vườn quốc gia Kon Ka Kinh là rừng nguyên sinh với các kiểu thảm thực vật rừng chính sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng kín hỗn giao lá rộng, lá kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: Loài ưu thế là
Pơ mu - FoKienia hodginsii Kiểu rừng này chỉ thấy duy nhất ở vườn quốc gia Kon Ka
Kinh
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác
a Hệ thực vật
Bước đầu thống kê đã có 687 loài có mạch thuộc 459 chi, 140 họ Kết quả điều tra cho thấy: Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh có hệ thực vật rất phong phú, đa dạng về thành phần loài, đặt biệt có nhiều loài đặc hữu, quí hiếm và có giá trị kinh tế cao
+ Loài đặc hữu: 11 loài: Thông đà lạt (Pinus dalatensis), Hoa khế (Craibiodendron
scleranthum, Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Trắc (Dalbergia cochinchinesis), Xoay (Dialium cochinchinesis), Bọ nẹt trung bộ (Alchornea annamica), Du moóc (Baccaurea sylvestris), Song bột (calamus poilanei), Lọng hiệp (Bulbophyllum hiepii),
Hoàng thảo vạch đỏ (Dendrobium ochrac)
+ Loài quý hiếm: 34 loài có giá trị bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học đã được ghi trong Sách đỏ Vệt Nam và thế giới
+ Về giá trị kinh tế: Trong 687 loài thực vật có 234 loài có công dụng làm gỗ (có
những loài cho gỗ đặc biệt quí hiếm như: Pơ mu (Fokienia hodginsi), Gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa), Trắc (Dalbergia cochinchinesi), Kim giao (Nageia fleuryi), Hương (Pterocarpus macrocarpus), 110 loài làm dược liệu (Trầm hương (Aquilaria crassna),
Trang 28Vàng đắng (Coscinium fenestratum), Hoàng đắng (Fibraurea tinctoria) ), 85 loài làm
thức ăn động vật, 38 loài làm cây cảnh
b Hệ động vật
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh có 428 loài động vật, trong đó có 223 loài động vật có xương sống ở cạn thuộc 34 bộ, 74 họ khác nhau và 205 loài động vật không xương sống (Bướm) thuộc 10 họ trong Bộ Cánh vẩy
truongsonensis) - loài thú phát hiện lần đầu tiên tại Khu bảo tồn sông Thanh (Đăk
Pring) và Mang Lớn (Megamuntiacú vuquangensis) - loài thú quí hiếm phát hiện lần
đầu tiên ở Vũ Quang
- Lớp chim: 130 loài thuộc 11 bộ, 34 họ, bao gồm 8 loài trong Sách đỏ thế giới và 11 loài trong Sách đỏ Việt Nam Ngoài ra khu hệ chim ở Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là một phần của vùng chim đặc hữu Bắc Tây Nguyên ở độ cao từ 1000 - 1700m Tại đây
đã ghi nhận được 3 loài đặc hữu cho Việt Nam (Khướu đầu đen (Garrulax milleti), Khướu mỏ dài (Jabouilleia danjoui), Khướu Kon Ka Kinh(Garrulax Konkakinhensis))
và 4 loài đặc hữu cho Việt Nam và Lào (Khướu đầu xám (Garlulax vassali), Trèo cây
mỏ vàng (Sitta solangiae), Gà lôi vằn (Lophura nycthemera) và Thày chùa đít đỏ (Megalaima Sitta solangiae)), đã ghi nhận một loài phụ mới cho khoa học là Khướu cằm hung (Garrulax rufogularis) Đặc biệt có một loài thú mới phát hiện lần đầu tiên
ở Kon Ka Kinh là loài Khướu Kon Ka kinh (Garrulax konkakinhensis)
- Lớp bò sát, ếch nhái: 51 loài, trong đó bò sát 29 loài, ếch nhái 22 loài Đã tìm thấy 4 loài đặc hữu của vùng và Việt Nam, bao gồm 1 loài đặc hữu cho khu hệ động vật Nam
Trường Sơn là thằn lằn buôn lưới (Sphenomorphus buonloicus) và 3 loài đặc hữu cho
Trang 29Việt Nam là thằn lằn đuôi đỏ (Scincella rufocaudata), chàng (Sapa Rana chapaensis), ếch gai sần (Rana verrucospinosa)
* Động vật không xương sống:
Khu hệ Bướm lần đầu tiên được nghiên cứu đã ghi nhận 205 loài, trong đó có 8 loài có thể là loài mới cho khoa học và 6 loài lần đầu tiên ghi nhận cho Khu hệ Bướm Việt Nam
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là nơi lưu giữ những nguồn gen quí của hệ thực vật và động vật trên thế giới Các loài đặc hữu, quí hiếm ở Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh có giá trị to lớn trong bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm hình thái, mức độ phổ biến của một số loài cây tự nhiên được dùng làm dược liệu tại vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai
3.3 Phương pháp nghiên cứu
+ Môi trường mà cây đang sống
Mẫu bảng mô tả các cây tự nhiên dùng làm thuốc được soạn sẵn (phụ lục 1)
Trang 30¾ Phương pháp bố trí
Cắt tuyến, lập ô theo kiểu dải
a = 20 m Với b = 50 m
c = 100 m
- Chiều dài 1 tuyến điều tra: 500 m
- Diện tích của 1 ô tiêu chuẩn: 1.000 m2
Trang 31Hình ảnh một số ô tiêu chuẩn
Hình 3.3 Ô tiêu chuẩn 435 – 3
Hình 3.4 Ô tiêu chuẩn 432 - 3
Trang 32Hình 3.5 Ô tiêu chuẩn 432 - 5
Hình 3.6 Ô tiêu chuẩn 436 - 3
Trang 333.3.3 Phỏng vấn nông hộ
Phỏng vấn người dân mang tính chất thăm dò về công dụng và cách sử dụng
các loài cây tự nhiên có tác dụng dược liệu đã tìm được
Trang 34Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Vị trí các ô tiêu chuẩn
Đã cắt được 3 tuyến điều tra, một tuyến lập 5 ô tiêu chuẩn
Các ô tiêu chuẩn được xác định tọa độ bằng GPS, hệ chiếu VN Vị trí của các ô được điểm trên bản đồ 4.1
Chú thích bản đồ 4.1: ô tiêu chuẩn
Số thứ tự các ô từ 1 đến 5 được xếp từ trái qua phải
Trang 35Bản đồ 4.1 Vị trí các ô tiêu chuẩn
Trang 364.2 Đặc điểm các khu vực đã khảo sát
Khu vực khảo sát thuộc các kiểu thảm thực vật: Rừng kín thường xanh (tiểu khu 436, 432 và ô4, ô5 của tiểu khu 435 ); rừng khộp (ô1, ô2, ô3 của tiểu khu 435) Đi
qua các kiểu sinh cảnh: Ven suối, bìa rừng, đồi dông
4.2.1 Rừng kín thường xanh
Đặc điểm: Có 5 tầng
- Tầng vượt tán: cây gỗ cao 40 - 50 m Phần lớn thuộc họ Dầu, họ Bàng, họ Dâu tằm,
họ Đậu Chủ yếu là những loài cây thường xanh Tầng không liên tục, thường đứt quãng do cây mọc rải rác, phân tán; cành nhánh và tán lá xòe rộng thành hình ô, hình tán
- Tầng ưu thế sinh thái rừng: tầng cây gỗ, cao trung bình 20 – 30 m Thân cây thẳng như cột, tán lá tròn và hẹp, ở đầu ngọn cây cành lá giao nhau thành một vòm liên tục
Có nhiều loài cây thuộc nhiều họ khác nhau, đa số là những cây thường xanh thuộc họ
Dẻ, họ Long não, họ Vang, họ Trinh nữ, họ Bồ hòn, họ Xoan, họ Ngọc Lan
- Tầng dưới tán: gồm những cây gỗ mọc rải rác dưới tán rừng, cao 8 - 15 m; thuộc họ Bứa, Du, Máu chó, Na Tán lá hình nón, hình tháp ngược
- Tầng cây bụi thấp : gồm những cây mọc rải rác cao từ 2 - 8 m; thuộc họ Trúc đào, Cam, Na, Mua, Thầu dầu, họ Cau, Tre, những loài thân thảo cao lớn thuộc họ Gừng
- Tầng cỏ quyết: thực vật cao không quá 2m; thuộc họ Ôro, họ Gai, Ráy…
Hình 4.1 Toàn cảnh rừng kín thường xanh
Trang 38- Các loài ít hơn: Đào lộn hột, chiêu liêu, lành ngạch, sến mủ…
* Tầng cây bụi: Chủ yếu là sặt, me rừng, găng
Trang 39Hình 4.5 Những hình ảnh về rừng khộp
4.3 Thống kê những cây tự nhiên có giá trị dược liệu đã tìm được
Qua bảng 4.2 nhận thấy:
Tổng số có 69 loài cây tự nhiên có tác dụng dược liệu thuộc 40 họ Trong đó:
- Họ Cúc (Asteraceae) có 7 loài chiếm 10,14%
- Họ Gừng (Zingiberaceae) có 4 loài, chiếm 5,8%
- 7 họ (Araceae, Arecaceae, Poaceae, Portulacaceae, Smilacaceae, Theaceae, Verbenaceae) có 2 loài, chiếm 20,29%
- Họ Đậu (Fabaceae) có 3 loài, chiếm 4,35%
- 10 loài chưa định danh được, chiếm 14,49%
- 31 họ khác, mỗi họ chỉ có 1 loài, chiếm 44,93 %
Trang 40Bảng 4.2 Danh sách các cây tự nhiên có giá trị dược liệu