1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRÊN VÙNG ĐẤT PHÈN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN VỤ ĐÔNG XUÂN 2009 - 2010

81 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG L

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRÊN VÙNG ĐẤT PHÈN

HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN

Trang 2

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRÊN VÙNG ĐẤT PHÈN

HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm khoa Nông học đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình theo học tại trường

Quý thầy cô khoa Nông học đã tận tình dạy bảo cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ths.Lên Văn Dũ, giảng viên bộ môn Nông hóa Thổ nhưỡng, Khoa

Nông học, đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin cảm ơn tất cả các bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Thành kính ghi ơn công sinh thành, dưỡng dục của ba mẹ, và sự động viên to lớn của gia đình trong suốt thời gian qua

Tp.HCM, tháng 08 năm 2010

Nguyễn Thị Hồng Phượng

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “So sánh ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến sinh

trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa OM4900 trên vùng đất phèn huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An vụ Đông Xuân 2009 - 2010”

Thí nghiệm nhằm xác định loại phân bón lá thích hợp cho giống lúa OM4900 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, thí nghiệm được tiến hành từ tháng 1 đến tháng

4 năm 2010 tại ấp 3 xã Thủy Tây huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An Thí nghiệm được

bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, đơn yếu tố (RCBD : Randomized Complete Block Design) với 3 lần lặp lại và 4 nghiệm thức có sử dụng phân bón lá gồm: Super Growth, Nutri – Phos, hai nghiệm thức sử dụng dung dịch lục bình ủ và một nghiệm thức đối chứng không sử dụng phân bón lá

Kết quả thí nghiệm cho thấy:

Việc sử dụng phân bón lá đã làm tăng chiều cao cây, số hạt chắc/bông, số bông/m2, tổng số hạt/bông, trọng lượng 1000 hạt và năng suất của giống lúa OM4900

Các nghiệm thức sử dụng phân bón lá đạt năng suất cao hơn nghiệm thức đối chứng không sử dụng phân bón lá Trong đó, sử dụng phân bón Super Growth đạt năng suất cao nhất là 7,66 tấn/ha, kế đến là nghiệm thức sử dụng dung dịch lục bình ủ liều lượng cao (56 lít/ha)đạt năng suất 7,26 tấn/ha, nghiệm thức đối chứng không sử dụng phân bón lá có năng suất thấp nhất là 6,91 tấn/ha

Sử dụng phân bón lá Super Growth có lợi nhuận cao nhất đạt 23.569.000 đồng/ha, kế đến là nghiệm thức sử dụng dung dịch lục bình ủ liều lượng cao (56 lít/ha) đạt 22.009.000 đồng/ha, tiếp theo là nghiệm thức sử dụng phân bón lá Nutri – Phos đạt 21.067.000 đồng/ha và lợi nhuận thấp nhất là nghiệm thức sử dụng dung dịch lục bình

ủ liều lượng thấp (28 lít/ha) đạt 20.791.000 đồng/ha trong khi nghiệm thức đối chứng đạt 21.007.000 đồng/ha

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH x

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Hạn chế của đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu chung về cây lúa 3

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây lúa 4

2.1.3 Vai trò của cây lúa 5

2.2 Vai trò của phân bón hóa học đối với năng suất lúa 7

2.3 Nhu cầu phân bón đối với cây lúa 7

2.4 Sơ lược về phân bón lá 8

2.4.1 Cơ chế hấp thu và vận chuyển chất dinh dưỡng qua bộ lá của cây 8

2.4.2 Ưu điểm của việc sử dụng phân bón lá 11

2.4.3 Nhược điểm của việc sử dụng phân bón lá 11

2.4.4 Nguyên tắc sử dụng phân bón lá 12

Trang 6

2.5 Điều kiện tự nhiên tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An 12

2.5.1 Vị trí địa lý 12

2.5.2 Đặc điểm tự nhiên 13

2.5.2.1 Địa hình 13

2.5.2.2 Địa chất 13

2.5.2.3 Khí hậu – thời tiết 14

2.5.2.4 Chế độ thủy văn 14

2.6 Tài nguyên thiên nhiên ở huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An 16

2.6.1 Tài nguyên đất 16

2.6.2 Nguồn nước 17

2.6.3 Tài nguyên rừng 18

2.6.4 Tài nguyên khoáng sản 19

2.7 Tình hình sản xuất lúa ở huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An 19

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 21

3.2 Tình hình khí tượng thủy văn 21

3.3 Đặc điểm và tính chất khu thí nghiệm 22

3.4 Vật liệu nghiên cứu 22

3.4.1 Giống lúa OM4900 22

3.4.2 Các loại phân bón lá sử dụng trong nghiên cứu 23

3.5 Phương pháp thí nghiệm 24

3.5.1 Bố trí thí nghiệm và quy trình kỹ thuật canh tác 24

3.5.1.1 Bố trí thí nghiệm 24

3.5.1.2 Quy trình kỹ thuật canh tác 25

3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26

3.5.2.1 Chỉ tiêu hình thái 26

3.5.2.2 Chỉ tiêu nông học 27

3.5.2.3 Chỉ tiêu sâu bệnh hại 28

3.5.2.4 Chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 28

3.6 Hiệu quả kinh tế 28

Trang 7

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Chỉ tiêu hình thái 29

4.2 Chỉ tiêu nông học 30

4.2.1 Thời gian sinh trưởng và phát dục 30

4.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 31

4.2.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 33

4.3 Động thái đẻ nhánh 34

4.4 Tốc độ đẻ nhánh 36

4.5 Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu 37

4.6 Tình hình sâu bệnh hại 38

4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 39

4.7.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 39

4.7.1.1 Số bông/m2 39

4.7.1.2 Số hạt chắc trên bông 40

4.7.1.3 Trọng lượng 1000 hạt 41

4.7.2 Năng suất lý thuyết 41

4.7.3 Năng suất thực tế 42

4.8 Hiệu quả kinh tế 43

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

TÀI LIỆU TỪ INTERNET 49

PHỤ LỤC 1 50

PHỤ LỤC 2 52

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Thứ tự Viết tắt/ký hiệu Viết đầy đủ/ý nghĩa

1 CV Coefficient of Variation, hệ số biến thiên

4 FAO Food and Agriculture Origanzation of the United

Nations (Cơ quan Lương Nông Liên Hợp Quốc)

5 HĐND Hội Đồng Nhân Dân

6 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

12 REP Replication, Lần lặp lại

14 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Bảng Trang

Bảng 3.1: Số liệu khí tượng thủy văn từ tháng 01- 04 năm 2010 ở tỉnh Long An 21

Bảng 3.2: Kết quả phân tích khu đất tiến hành thí nghiệm 21

Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng trong dung dịch lục bình ủ 24

Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu về hình thái của giống lúa OM4900 qua các NT 29

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởngvà phát dục của giống lúa OM4900 qua các NT 30

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa OM4900 qua các NT 31

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa OM4900 qua các NT 33

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái đẻ nhánh của giống lúa OM4900 qua các NT 34

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tốc độ đẻ nhánh của giống lúa OM4900 qua các NT 36

Bảng 4.7 : Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của giống lúa OM4900 qua các NT 37

Bảng 4.8: Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa OM4900 qua các NT 39

Bảng 4.9: So sánh tổng thu nhập của giống lúa OM4900 qua các NT 43

Bảng 4.10: Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của giống lúa OM4900 qua các NT 43

Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế và tỷ lệ tăng năng suất của các NT tham gia thí nghiệm 44 Bảng 1: Chi phí phân hóa học cho 1ha lúa 50

Bảng 2: Chi phí công bón phân hóa học cho 1ha lúa 50

Bảng 3: Chi phí phân bón lá cho 1ha lúa 50

Bảng 4: Chi phí công phun phân bón lá cho 1ha lúa 51

Bảng 5: Chi phí công phơi lúa 51

Bảng 6: Hiệu quả kinh tế của giống lúa OM4900 qua các NT 51

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình Trang

Hình 1: Phân bón lá Super Growth 67

Hình 2: Phân bón lá Nutri – Phos 67

Hình 3: Dung dịch lục bình ủ 68

Hình 4: Khoảng cách giữa hai lần lặp lại 69

Hình 5: Lần lặp lại 2 lúc lúa 34 NSS 69

Hình 6: Toàn cảnh khu thí nghiệm lúc lúa 34NSS 70

Hình 7: Lần lặp lại 1 trước lúc thu hoạch 70

Hình 8: Lần lặp lại 2 trước lúc thu hoạch 71

Hình 9: Toàn cảnh khu thí nghiệm trước lúc thu hoạch 71

Trang 11

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa là một trong năm loại lương thực chính của thế giới Việt Nam là nước

có nền kinh tế nông nghiệp từ lâu đời, từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong thời chiến tranh nhưng hiện nay nước ta không những sản xuất lúa gạo cung cấp đầy

đủ trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp đặc biệt là quá trình thâm canh cây lúa thì phân bón là một yếu tố rất quan trọng làm tăng năng suất lúa.Vì thế, hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về phân bón cho lúa

Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa, nó cần thiết trong suốt quá trình phát triển từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Cùng với các nguyên tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo, protein Ngoài

ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại được

Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khác nhau, với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa Vì vậy việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa người ta đã nghiên cứu

và đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển theo từng điều kiện khí hậu, đất đai cụ thể

Cây lúa không chỉ hấp thụ dinh dưỡng qua bộ rễ mà còn hấp thụ dinh dưỡng qua lá, do đó việc nghiên cứu các loại phân bón lá cho cây lúa là điều rất cần thiết Phân bón lá có tác dụng cung cấp các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng cho cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt và làm tăng năng suất, nhưng vấn đề nan giải hiện nay là tìm ra loại phân bón lá nào là thích hợp nhất cho cây lúa ở từng địa phương Với mục đích xác định loại phân bón lá đạt hiệu quả cao trong thâm canh cây lúa, được sự

Trang 12

chấp thuận của khoa Nông học trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM đề tài “So sánh

ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa OM4900 trên vùng đất phèn huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An vụ Đông Xuân 2009 - 2010” đã được thực hiện

Đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật

Đảm bảo tương đối đồng đều các thao tác khi tiến hành thí nghiệm

Theo dõi ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa OM4900 để làm cơ sở cho việc chọn ra loại phân bón lá thích hợp đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Thu thập các số liệu về chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lúa, và

sự ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến cây lúa

1.2.3 Hạn chế của đề tài

Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên đề tài chỉ theo dõi ảnh hưởng của một

số loại phân bón lá đến năng suất giống lúa OM4900 trong vụ Đông Xuân 2009 - 2010 tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cây lúa

Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực lâu đời nhất diện tích gieo trồng

đứng thứ hai sau lúa mì, tổng sản lượng lúa đứng thứ ba sau lúa mì và ngô Lúa được trồng ở khắp các lục địa trừ Antarctica

Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 2/3 dân số trên thế giới, điều này làm cho nó trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ và

ưa chuộng nhiều nhất

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại

Lúa nước có nguồn gốc từ Châu Á và Châu Phi được trồng tới 90 % diện tích ở Châu Á (FAO, 1996) Lúa nước là loại cốc có năng suất cao nhất, có loại hạt dài

(indica) và loại hạt bầu ngắn (japonica) Cây lúa trồng bắt nguồn từ cây lúa hoang dại,

tổ tiên xa của một cây lúa hoang dại lâu năm sống ở cả Châu Á và Châu Phi Ở Châu

Á qua các hình thái cây lúa hoang dại lâu năm như O rufypogon, O nivara, O fatura

mà con người đã thuần hóa và tuyển chọn nó thành cây lúa Châu Á Oryza sativa Còn

ở Châu Phi cũng qua các hình thái lúa dại hàng năm mà con người đã thuần hóa và

tuyển chọn nó trở thành cây lúa trồng Châu Phi Oryza glaberrima

Về mặt phân loại, lúa thuộc Giới: Plantae (thực vật), Ngành: Manoliphyta (thực vật hạt kín), Lớp: Liliopsida (lớp thực vật một lá mầm), Bộ: Cyperales (cỏ), Họ:

Poaceae (hòa bản), Chi: Oryza

Lúa hiện tại được chia 2 loại: Japonica (loại hạt bầu ngắn) và Indica (loại hạt

dài) và có những đặc điểm khác biệt Lúa Japonica sinh trưởng ở điều kiện khí hậu ôn hòa có hạt tròn khó bị gãy hoặc vỡ, khi nấu chín, loại gạo này thường dính và dẻo Lúa sản xuất ở Nhật Bản hầu hết là Japonica Lúa Indica thì thường sinh trưởng và phát triển ở vùng khí hậu nóng ẩm, có hạt gạo thường dài và dễ bị vỡ, khi nấu thông thường

Trang 14

không bị kết dính Tất cả các loại gạo có nguồn gốc từ Nam Á, bao gồm Ấn Ðộ, Thái Lan, Việt Nam và Nam Trung Quốc là lúa Indica

Có hơn 28 loài hoang dại đã được định danh, có tổng nhiễm sắc thể là từ 24 – 48n

Năm 1963, các nhà di truyền học đã công nhận còn 19 loài trong đó có Oryza sativa và

Oryza glaberrima là hai loài lúa trồng còn lại là lúa dại, phổ biến nhất là loại Oryza sativa,

còn Oryza glaberrima chỉ chiếm diện tích nhỏ ở Tây Phi và có năng suất thấp Riêng loài

Oryza sativa còn có hai loài phụ là loài phụ Indica, loài phụ Japonica và một số loài

trung gian của hai loài này là Javanica hay Japonica nhiệt đới (lúa trồng nước ta thuộc

loài này)

2.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây lúa

Rễ lúa thuộc loại rễ chùm gồm: rễ mộng là rễ ra đầu tiên và sau đó là các rễ phụ

Rễ mộng chỉ có một cái hình thành từ rễ phôi trong khi hạt thóc nảy mầm Rễ mộng có tác dụng hút nước phục vụ cho mầm non, về sau chết đi (thường trong vòng một tháng)

Rễ phụ: sinh ra ở các đốt thân gần mặt đất, được mọc lần lượt từ dưới lên các mắt trên, tạo thành bộ rễ chùm Trên rễ phụ lại sinh ra các rễ nhánh (rễ thứ cấp) Bộ phận rễ có lông hút để tăng cường hút nước trong điều kiện khô hạn (lúa rẫy)

Người ta chia bộ rễ lúa ra làm 3 loại rễ: rễ đen là những rễ già bị lụi chết đi, rễ nâu là những rễ già có sức hoạt động yếu và rễ trắng là những rễ non mới ra có sức sống mạnh

Những rễ non có màu trắng sữa, rễ trưởng thành có màu vàng nâu và nâu đậm,

rễ đã già có màu đen

Rễ có tác dụng giúp cho việc hút nước, chất dinh dưỡng và vận chuyển lên phía trên Ngoài ra, rễ còn giúp cho cây lúa đứng vững trong đất

Thân lúa hình tròn như ống, phía trong rỗng, trên thân gồm có nhiều mắt và lóng Trước thời kì lúa trổ, thân lúa được bao bọc bởi bẹ lá Tổng số mắt trên thân chính bằng số lá trên thân cộng thêm 2 Chỉ vài lóng ở ngọn dài ra, số còn lại ngắn và dày đặc Lóng trên cũng dài nhất, một lóng dài hơn 5 mm được xem là lóng dài, số lóng dài từ 3 – 8 lóng Theo giải phẩu ngang lóng, lóng có một khoảng trống lớn gọi

là xoang lỏi

Trang 15

Cây lúa có thể đẻ nhánh khi có 4 – 5 lá thật Ở ruộng cấy, sau khi bén rễ hồi xanh cây lúa bắt đầu đẻ nhánh Lúc kết thúc đẻ nhánh vào thời kỳ làm đốt, làm đòng

Từ cây mẹ đẻ ra nhánh con (cấp 1), nhánh cấp 1 đẻ ra nhánh cấp 2, nhánh cấp 2 đẻ ra nhánh cấp 3 Những nhánh hình thành vào giai đoạn cuối thường là nhánh vô hiệu

Thân giữ cho cây đững vững, vận chuyển và dự trữ nước, muối khoáng được thân vận chuyển lên lá để thực hiện chức năng quang hợp và các sản phẩm đồng hóa chuyển đi các bộ phận khác đều phải qua thân Thân dự trữ đường, bột cho bông phát dục ở thời kỳ sau

Lá lúa điển hình gồm: bẹ lá, phiến lá, lá thìa và tai lá

- Bẹ lá: là phần đáy lá kéo dài cuộn thành hình trụ và bao phần non của thân

- Phiến lá: hẹp, phẳng và dài hơn bẹ lá (trừ lá thứ hai)

- Lá thìa: là vảy nhỏ và trắng hình tam giác

- Tai lá: một cặp tai lá hình lưỡi liềm

Lá được hình thành từ các mầm ở mắt thân Lá sinh trưởng dài ra bắt đầu từ đầu

lá rồi đến phiến lá, sau đó mới đến bẹ lá dài ra Tốc độ ra lá thay đổi theo thời gian sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh

Số lá trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thời vụ cấy, biện pháp bón phân và quá trình chăm sóc Lá ở thời kỳ nào thường quyết định đến sinh trưởng của cây trong thời kỳ đó Ba lá cuối cùng thường liên quan đến thời kỳ làm đòng và hình thành hạt

Lá làm nhiệm vụ quang hợp, chăm sóc hợp lý, đảm bảo cho bộ lá khỏe, tuổi thọ

lá (nhất là lá đòng) lúa sẽ chắt hạt và cho năng suất cao

Bông lúa là loại hoa chùm gồm có: trục bông, nhánh (gié cấp 1), chẽn (gié cấp 2) và hoa Thường mỗi mắt là một nhánh, mọc xen kẽ nhau, chỉ có mắt ở gốc bông mới có 2 đến 3 mắt mọc chung nhau Bông lúa dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và tùy theo giống, trung bình bông dài 24 – 25 cm

2.1.3 Vai trò của cây lúa

Là thực phẩm của toàn cầu

Theo thống kê của Cơ Quan Thực Phẩm Liên Hiệp Quốc, trên thế giới có khoảng 147,5 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, và 90 % diện tích này là thuộc các nước Á Châu Các nước Á Châu cũng sản xuất khoảng 92 % tổng sản lượng lúa gạo trên thế giới Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960

Trang 16

tới hơn 600 triệu tấn vào năm 2007 Ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31 % sản lượng thế giới), Ấn Ðộ (20 %) và Indonesia (9 %) Ba nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là Thái Lan (26 % sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15 %)

và Hoa Kỳ (11 %), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14 %), Bangladesh (4 %) và Brasil (3 %) Theo Tổ Chức Nông Nghiệp và Thực Phẩm (Food and Agriculture Organisation), hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làm hàng hóa trao đổi trên toàn thế giới

Bổ sung chất dinh dưỡng

Do một số thành phần dinh dưỡng bị mất đi trong quá trình xây xát, như nguồn Vitamin nhóm B, chất xơ, chất dầu Nhiều loại gạo cũng được bổ sung thêm tăng chất lượng và giá trị thương mại Phương pháp đơn giản nhất là trộn thêm các chất dinh dưỡng dạng bột nhưng dễ bị rửa trôi theo nước, do vậy loại gạo này thì không rửa hay

vo gạo, phương pháp phức tạp hơn sử dụng các chất dinh dưỡng trực tiếp lên trên hạt gạo, bao bọc hạt gạo bằng một lớp chất không hòa tan trong nước có tác dụng chống mất đi khi vo rửa

Là thực phẩm dinh dưỡng có giá trị

Hạt gạo không chỉ nuôi sống con người bao đời nay nhưng cũng là sản phẩm dinh dưỡng có giá trị Ðầu tiên phải nói tới gạo lức là loại gạo còn giữ lại một phần vỏ cám bên ngoài hạt gạo trong quá trình chế biến Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thường nhấn mạnh đến nhóm hạt nguyên chất (whole grains), như gạo lức, là thành phần chủ yếu trong chế độ dinh dưỡng Gạo lức cung cấp nhiều thành phần carbohydrate, vitamin nhóm B, chất xơ, chất dầu, sắt, kali, kẽm, các yếu tố vi lượng và chất khoáng, được tìm thấy nhiều ở phần bọc ngoài của hạt gạo lức Chính vì vậy, gạo lức là một loại thực phẩm nhiều dinh dưỡng khi so sánh với gạo trắng Các nghiên cứu cho thấy những thành phần có trong gạo lức giúp cho phòng ngừa những bệnh trong hệ tiêu hóa và tim mạch Ðể giảm cân có hệ tiêu hóa hoạt động và giảm cholesterol máu nhiều người đã chọn gạo lức thay cho gạo trắng

Các khoa học gia Nhật Bản còn phát hiện gạo lức khi ngâm trong nước trước khi nấu sẽ chứa rất nhiều chất bổ dưỡng hơn, do gạo lức ở trạng thái nẩy mầm dẫn tới những enzyme (thành phần quan trọng trong các tiến trình trao đổi chất) trong hạt gạo

Trang 17

cứu cũng cho thấy: gạo lức đã ngâm nước chứa gấp ba lần chất lysine, một loại amino acid cần thiết cho sự tăng trưởng và bảo trì các mô tế bào cơ thể con người, và chứa mười lần nhiều hơn chất gamma-aminobutyric acid, một chất acid tốt bảo vệ bộ phận thận Các khoa học gia còn tìm thấy trong mầm gạo lức có chứa một loại enzyme, có tác dụng ngăn chặn prolylendopeptidase và điều hòa các hoạt động ở trung ương não bộ

Một số loại gạo lức có nguồn gốc từ loại gạo có hàm lượng cao protein, mới đây các khoa học gia Ấn Ðộ và Hoa Kỳ đã tạo ra giống lúa lai có hàm lượng protein lên tới 12,4 % trong khi các giống lúa trồng chỉ có hàm lượng protein trung bình là 9,5

%

2.2 Vai trò của phân bón hóa học đối với năng suất lúa

Trong vòng 30 năm cuối thế kỷ 20 diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có

24 % nhưng năng suất lúa đã tăng 108 % và sản lượng lúa tăng lên 164 %, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242 % Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn Số lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa Rõ ràng, năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào Tuy nhiên, không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi Cây cối phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được

2.3 Nhu cầu phân bón đối với cây lúa

Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai, đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể đạt được năng suất tối ưu (năng suất và hiệu quả kinh tế cao) Năm 2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta khoảng 12.285.500 ha, trong đó cây có thời gian sinh trưởng cây hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm khoảng 2.431.000 ha (Vũ Năng Dũng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp, 2002)

Nhu cầu phân bón cho lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long ước tính hàng năm phải tiêu thụ hết khoảng 400.000 tấn N, 180.000 tấn P2O5 và 120.000 tấn K2O, phần

Trang 18

lớn lượng phân trên phải nhập bằng ngoại tệ, chỉ một phần ít sản xuất trong nước (Phan Sỹ Tân, 2005) Hiệu quả sử dụng phân bón hiện nay của nông dân vẫn còn ở mức rất thấp, nếu tính trong cả nước hàng năm lượng phân đạm bị mất đi do quá trình bốc hơi, thẩm thấu, rửa trôi vào khoảng 1,2 – 1,3 triệu tấn/tổng số 2 triệu tấn được bón vào đất (Nguyễn Văn Bộ, 2002)

Để tạo được 1 tạ thóc cần 2 kg N, 0,7 – 0,9 kg P2O5, 3,2 kg K2O và 2 kg Si Vì vậy, để đạt năng suất hạt 6 – 7 tấn/ha/vụ cần bón cho lúa số lượng phân bón như sau:

8 – 10 tấn phân chuồng, 100 – 120 kg N/ha, 100 – 120 kg P2O5/ha và 30 – 60 kg

K2O/ha Ở đất phù sa Sông Hồng và Sông Cửu Long, kali chưa phải là yếu tố hạn chế năng suất Đất phèn nặng, cần tăng phân lân lên 90 – 150 kg P2O5/ha (Mai Văn Quyền, 1995)

Để thỏa mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các diện tích này, năm 2010 ta cần có 2.100.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK các loại, 1.400.000 tấn phân lân dạng super và nung chảy, 400.000 tấn phân Kali (Nguyễn Văn Bộ, 2002)

2.4 Sơ lược về phân bón lá

Các loại phân bón lá là các hợp chất dinh dưỡng, có thể là những nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên lá để hấp thu

Phân bón lá là một tiến bộ kỹ thuật được dùng nhiều trong thời gian gần đây, tuy vậy phân bón qua lá không thể hoàn toàn thay thế được 100 % phân bón qua đất Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt đất của cây (lá, cuống, hoa, trái) với mục đích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên không của cây trồng Đây là cách bón phân mới được phổ biến trong những năm gần đây

2.4.1 Cơ chế hấp thu và vận chuyển chất dinh dưỡng qua bộ lá của cây

Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng làm nhiệm vụ quang hợp cho cây

và hấp thu dinh dưỡng qua lá Tất cả những quá trình này được tiến hành các cơ quan

có trên mặt lá và các lỗ khí khổng, sự hấp thu chất dinh dưỡng vào lá là do sự chênh lệch liều lượng giữa các chất dinh dưỡng bên ngoài lá và chất dinh dưỡng bên trong lá nhờ đó mà dinh dưỡng hấp thu vào lá

Để hiểu được chức năng của phương pháp bón phân qua lá, cần giải thích rõ ràng các quy trình sinh học khác nhau của cơ chế hấp thu qua lá và phân phối dinh dưỡng bên trong cây trồng Để làm các nhiệm vụ bên trong lá hoặc vận chuyển các

Trang 19

chất dinh dưỡng khoáng ra khỏi lá đến các bộ phận khác của cây trồng, một quy trình hấp thu thông qua màng tế bào (plasma membrane), từ các không bào bên trong lá (apoplast) vào bên trong tế bào (symplast) sẽ xảy ra Theo Romheld và El-Fouly, (1999) sự hấp thu dinh dưỡng qua lá có 5 bước như sau:

Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào

Khi phun phân bón qua lá lên bề mặt của lá cây, sự hấp thu có thể xảy ra theo

ba cách sau đây:

- Qua các lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lớp ngoại bì và vách tế bào

- Qua các thủy khổng ở giữa các vách tiếp giáp các tế bào

- Qua khí khổng giữa các tế bào bảo vệ

Theo Eichert et al, (1998) sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt có sức căng cao và các khí khổng có thể xảy ra dưới một số các điều kiện Một trong những điều kiện này là tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi Khi sự bốc hơi xảy ra, mức độ xâm nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với phần chất rắn còn lại Những tác giả này cho rằng những giới hạn vật lý chống lại sự xâm nhập qua khí khổng thì đúng đối với các hạt giọt lớn nhưng có thể không đúng đối với các phần rắn còn lại vì chúng liên kết thành một lớp mỏng trong quá trình bốc hơi nước Những màng mỏng này thâm nhập vào khí khổng khích lệ sự trao đổi giữa bên trong và bên ngoài lá cây (Eichert and Kurkhardt, 1999)

Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các không bào bên trong lá cây

Các không bào (apoplast) rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng trước khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào Các chất dinh dưỡng sẽ vào những không bào này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mạch trong thân cây

Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào

Những nguyên tắc chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các không bào vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như sự hấp thu từ rễ Theo đó, tốc độ hấp thu như sau:

Trang 20

- Những phân tử nhỏ nhanh hơn phân tử lớn (urea > Fe-Chelates)

- Những phân tử không mang điện (nối cộng) nhanh hơn các ion tĩnh điện

- Những ion hoá trị một nhanh hơn các ion đa hoá trị (H2PO4- > HPO42-)

- Độ pH của không bào (apoplast) thấp sẽ hấp thu các anions nhanh hơn

- Độ pH của không bào (apoplast) cao sẽ hấp thu các cations nhanh hơn

Khả năng hấp thu của các tế bào lá cây cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại

vi như: độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng

Cơ chế tùy thuộc năng lượng để hấp thu dinh dưỡng xuyên qua màng vào bên trong tế bào được môi giới bởi các protein vận chuyển khác nhau như những chất chuyên chức năng chuyển tải hoặc các luồng tĩnh điện với ion H+ ATPases Những sự kiện này làm gia tăng lực hấp thu bằng cách tạo nên độ chênh hóa tĩnh điện ở bề mặt màng tế bào

Sự hấp thu qua các tế bào lá có thể được điều khiển qua tình trạng dinh dưỡng của cây, nhưng đây không phải là quy luật chung mặc dù hiện tượng này đã được khám phá đối với sự hấp thu lân Việc hấp thu lân qua lá và vận chuyển xuống rễ xảy

ra nhanh hơn đối với cây đang thiếu lân

Khi áp dụng những chất dinh dưỡng di động (mobile nutrients) cho các lá non,

lá còn đang phát triển thì sự chuyển dịch xuống rễ chậm hơn, điều này kích thích sự hấp thu dinh dưỡng từ rễ do bộ lá phát triển và quang hợp tốt hơn Đối với các lá già,

lá đã ngưng phát triển thì sự chuyển dịch này xảy ra nhanh hơn và có thể ngăn chặn tình trạng thiếu dinh dưỡng gây ra do sự hấp thu không đủ của bộ rễ

Các chất dinh dưỡng không di động (immobile nutrients) áp dụng trên cả lá già

và lá non sẽ chuyển dịch chậm xuống rễ, như vậy không gây nên sự thay đổi nào hoặc

có thể làm gia tăng lượng dinh dưỡng hấp thu từ rễ

Sự phân bố chất dinh dưỡng trong lá và chuyển dịch chúng ra ngoài

Sự phân bố từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển dịch chúng ra ngoài lá sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô libe và tính cơ động của hệ mao dẫn

Các chất dinh dưỡng di động trong mạch dẫn (phloem mobile nutrients) như N,

P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây,

và một tỷ lệ lớn các chất dinh dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi lá tới các

bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao

Trang 21

Ngược lại, các chất dinh dưỡng có khả năng di động giới hạn như: Ca, Cu, Fe,

Mn và Zn sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài Riêng đối với Boron, sự lưu chuyển bên trong cây tùy thuộc rất nhiều vào các di truyền gen và là yếu tố quyết định đến hiệu quả của phân bón Boron qua lá

2.4.2 Ưu điểm của việc sử dụng phân bón lá

Cây trồng hấp thu dinh dưỡng ngay trong vài giờ sau khi phun mà còn có thể hấp thu dần vài ngày sau (Weinhbaun – 1985) Do đó có thể bổ sung nhanh cho cây trồng lúc cần thiết và phục hồi nhanh khi cây bị còi cọc

Tránh được các yếu tố bất lợi khi cung cấp dinh dưỡng qua đất (Weinhbaun,

1985, Embleton và Jonh, 1974) Các trường hợp đất bị rửa trôi, phèn, mặn, cây trồng

bị ngộ độc hữu cơ hoặc cố định chất dinh dưỡng thì việc áp dụng phân bón lá là biện pháp hữu hiệu nhất Ngoài ra chọn đúng thời điểm có thể tránh được các bất lợi do yếu

tố thời tiết và sử dụng liều lượng cao gây ra

Một lần phun có thể cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cây trồng Trong phân bón

lá hiện nay ngoài các yếu tố đa, trung, vi lượng các nhà sản xuất còn bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng như: IAA, NAA.Các vi sinh vật có ích tạo nên tính đa năng của phân bón lá

Giảm công vận chuyển và công phun thuốc Các chế phẩm phân bón lá thường

ở dạng đậm đặc nhưng phun cho cây trồng với liều lượng rất loãng Thành phẩm thường ở dạng nhỏ gọn dễ vận chuyển Việc phun phân bón lá cũng tiết kiệm lượng phân bón sử dụng

Chi phí thấp hơn

Ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng

2.4.3 Nhược điểm của việc sử dụng phân bón lá

Oxi hóa hoặc phân hủy các chất xúc tác bề mặt đối với các hợp chất hữu cơ mẫn cảm, có thể xảy ra trước khi thấm qua biểu bì (Sachs, Ryugo và Messeres Chrnidt, 1976)

Tốc độ thấm sâu vào lá giảm khi kích thước phân tử của các chất hòa tan gia tăng (Cutler, Alvin và Price, 1982; Mefalene và Berry, 1973)

Dưỡng chất và các chất dinh dưỡng cung cấp qua lá không thể chuyển vị đến những mục tiêu ở xa như rễ và các cơ quan sinh trưởng mới sinh sản sau khi phun thuốc (Kanvan, 1980; Numan và Prinz, 1975)

Trang 22

Dễ bị rửa trôi

Dinh dưỡng bám dính vào những nơi không đúng mục đích sẽ gây thiệt hại Tính thẩm thấu qua tế bào lá có thể thay đổi theo tuổi lá, môi trường, giống Vì vậy mà gây trở ngại cho việc dự đoán tốc độ, số lượng hấp thu chất hòa tan được phun

ra (Leece, 1973; Flore và Backer, 1979)

2.4.4 Nguyên tắc sử dụng phân bón lá

Phân bón lá là loại phân bổ sung dinh dưỡng chứ không phải là loại phân thay thế hoàn toàn phân bón vào đất Vì vậy cần chú ý bổ sung đúng loại phân, bổ sung đúng thời điểm, đúng lượng cần thiết Theo Andre Gros khẳng định phân bón lá có lợi ích nhưng phải coi việc phun phân là biện pháp bổ sung, cấp cứu tương đương như một mũi tên trong y học Nó giúp bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng trong trường hợp khi người ta muốn thúc đẩy nhanh sinh trưởng của cây vốn bị kém hoặc khi rễ không thực hiện đủ chức năng đó

Phân bón lá được cây trồng hấp thu qua lỗ khí khổng vì vậy phải phun trong điều kiện khí khổng mở mới có hiệu quả, tránh phun vào lúc trời nắng gắt, gió mạnh, không khí quá khô hoặc quá ẩm Nếu quá khô hoặc gió mạnh lổ khí khổng đóng thì việc phun phân bón lá không còn hiệu quả nữa và chất dinh dưỡng dễ bay hơi Cũng không nên phun trước hoặc sau khi mưa vì lúc này tế bào đã căng nước không hấp thu nữa và chất dinh dưỡng dễ bị rữa trôi Để nâng cao hiệu quả hấp thu phân bón lá nên phun vào lúa sáng sớm hoặc lúc chiều mát

Phân bón lá thường đậm đặc nhưng pha với liều lượng thấp khi phun Do đó cần phun đúng liều lượng chỉ dẫn, việc phun quá liều lượng sẽ gây độc cho cây Ngoài

ra, trong phân bón lá còn có cả hợp chất kích thích sinh trưởng, việc phun quá liều lượng dễ gây phát triển quá giới hạn gây vóng cây, đột biến Trong phân bón lá các chất dinh dưỡng ở liều lượng thấp nếu phun ở liều lượng thấp sẽ không có hiệu quả rõ rệt Có thể kết hợp việc phun phân bón lá với các loại thuốc bảo vệ thực vật khác tùy theo hướng dẫn của nhà sản xuất

2.5 Điều kiện tự nhiên tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An

2.5.1 Vị trí địa lý

Huyện Thạnh Hóa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An, cách thành phố Tân

An 36 Km về phía Bắc theo quốc lộ 62, diện tích 46.826 ha, dân số (2007) là 55.214 người, Mật độ dân số bình quân là 117 người/km2

Trang 23

Tọa độ địa lý được xác định như sau: Từ 10o 34’30” đến 11o 34’30” vĩ độ Bắc, từ

105o 2’10” đến 106o 20’ 15” kinh độ Đông

Ranh giới hành chính huyện Thạnh Hóa được xác định: Phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông Bắc giáp huyện Đức Huệ, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây giáp huyện Mộc Hóa, phía Tây Nam giáp huyện Tân Thạnh, phía Đông giáp huyện Thủ Thừa

Tuyến biên giới với Campuchia dài 9 Km (chiếm 6,4 % tổng chiều dài biên giới của tỉnh Long An), được xem là vô cùng quan trọng về mặt quốc phòng

Các quốc lộ 62, N1, N2, kết nối với QL22 (đường xuyên Á) và các cơ sở hạ tầng khác sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thị trường ở Thạnh Hóa phát triển, nhất là lĩnh vực công nghiệp, khả năng giao lưu trao đổi hàng hóa giữa huyện và các vùng khác thuận lợi và nhanh chóng hơn

2.5.2 Đặc điểm tự nhiên

2.5.2.1 Địa hình

Thạnh Hóa mang đặc điểm chung của vùng Đồng Tháp Mười là thấp trũng và khó thoát nước Quá trình phủ của trầm tích xảy ra không hoàn chỉnh tạo nên địa hình đồng bằng có xu thế thấp dần từ Đông Bắc – Tây Nam Cao nhất là khu vực giáp biên giới Campuchia từ 0,7 - 0,9 m (Tân Hiệp), thấp nhất là 0,5 m ở (Thạnh Phước, Thủy Tây)

Với địa hình như trên Thạnh Hóa có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng nguồn nước ngọt lấy từ sông Tiền qua kênh Dương Văn Dương, kênh 61 và sông Vàm Cỏ Tây để phục vụ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, về mùa lũ sẽ bị ngập sâu, rút chậm, thời gian ngập dài (3 – 4 tháng), gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất cũng như xây dựng

và bảo vệ các công trình cơ sở hạ tầng

2.5.2.2 Địa chất

Đất đai của huyện Thạnh Hóa hình thành từ hai loại trầm tích: trầm tích phù sa non trẻ Holocene và trầm tích cổ Pleistocene, trong đó chủ yếu là trầm tích phù sa non trẻ Holocene có chứa vật liệu sinh phèn

Trầm tích Holocene bao phủ khoảng 90 % diện tích tự nhiên (DTTN) của huyện, nó phủ trùm lên trầm tích phù sa cổ Đặc trưng cơ bản của đơn vị trầm tích này

là sự có mặt của Sulfidic, vật liệu chủ yếu hình thành đất phèn

Trang 24

Trầm tích phù sa cổ bao trùm khoảng 5 %, trầm tích không phân chia khoảng 5 % DTTN Vì vậy, khi xây dựng công trình vĩnh cửu cần chú ý đến nền móng để đảm bảo an toàn và bền vững tuyệt đối

2.5.2.3 Khí hậu – thời tiết

Khí hậu huyện Thạnh Hóa mang tính chất đặc trưng nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bố theo mùa Theo số liệu quan trắc của trạm Mộc Hóa, nhiệt độ bình quân năm là: 27,2 oC, tháng 5

là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình: 29,3 oC và tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất:

25 oC Biên độ nhiệt trong năm dao động khoảng 4,3 oC và biên độ nhiệt ngày và đêm dao động cao (từ 8 oC đến 10 oC) Tổng tích ôn: 9.786 oC/năm Đây là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, đặc biệt là cây lúa, ngô, rau đậu thực phẩm

Lượng mưa trung bình năm khá lớn (1.447,7 mm/năm) và phân bố theo mùa rõ rệt Tổng lượng mưa trong mùa mưa thực sự: 1.332 mm (chiếm 92 % tổng lượng mưa

cả năm), bắt đầu khoảng cuối tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10 (kéo dài 164 ngày) Mùa mưa trùng với mùa lũ gây ngập úng, cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế, xã hội của huyện

2.5.2.4 Chế độ thủy văn

* Ngập lũ: Ngập lũ là quy luật thường niên của Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong đó

Thạnh Hóa được xếp vào một trong những huyện chịu ảnh hưởng nặng Lũ lớn đang

có xu thế rút ngắn chu kỳ từ 12 năm xuống còn 6 năm và 3 năm (1961, 1978, 1984,

1991, 1994, 1996, 2000) trong đó lũ lịch sử năm 2000 đã gây thiệt hại rất nặng nề cho Thạnh Hóa

Theo báo cáo tổng hợp thiệt hại do lũ lịch sử năm 2000 gây ra cho huyện Thạnh Hóa của UBND tỉnh Long An (số: 2013/UB - 07 tháng 11 năm 2000) như sau:

- Về sản xuất: Diện tích lúa bị ngập: 3.335 ha, trong đó mất trắng: 884 ha, hoa màu và cây ăn trái bị ngập: 30 ha, diện tích ao cá mất trắng 36 ha, đàn heo giảm 1.725 con, gia cầm giảm 6.652 con, 300 nghìn cây lâm nghiệp bị chết

- Kết cấu hạ tầng: trụ sở hư hỏng 3 cái, trạm xá bị ngập 11 trạm, trường học bị ngập: 57 điểm trường (287 phòng học), 883 bộ bàn ghế bị hư hỏng Toàn bộ hệ thống

Trang 25

giao thông trong huyện bị ngập, gây sạt lở, 74 cầu bị cuốn trôi Hệ thống kênh mương thủy lợi bị sạt lở và bồi lắng: 0,48 triệu m3, cống bị hỏng 01 cái

- Dân cư: Tổng số hộ bị ngập 10.350 hộ (chiếm 96,42 % tổng số hộ) số nhà ở bị sập 80 căn, hư hỏng nặng 523 nhà, hư hỏng từ 30 – 50 % có 5.693 nhà Số hộ có nguy

cơ bị đói: 3.227 hộ, số người bị chết 6 người (trong đó có 3 trẻ em)

Đây thực sự là một tổn thất nặng nề mà nhiều năm sau huyện Thạnh Hóa mới có thể khắc phục được (tổng thiệt hại ước tính là: 57,76 tỷ đồng)

+ Tuy nhiên lũ mang đến lượng phù sa đáng kể tăng thêm màu mỡ cho ruộng đồng, thau chua rữa phèn, tăng nguồn lợi thủy sản, vệ sinh môi trường

* Ảnh hưởng của phèn - mặn

+ Ảnh hưởng của phèn - chua: Theo dõi diễn biến của phèn - chua trên các sông, kênh rạch vùng Đồng Tháp Mười cho thấy Thạnh Hóa bị ảnh hưởng chua phèn khá nặng Thời điểm nước trên kênh rạch bị chua là khoảng 10 ngày sau khi bắt đầu mưa, vấn đề chua có thể giải quyết nhanh chóng khi đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi

Thạnh Hóa thuộc khu vực bị chua nặng, nhất là khu Bắc Đông Nguyên nhân làm nước trong kênh rạch bị chua là vì vào mùa khô (tháng 3, 4 và 5), tầng sinh phèn bị oxy hóa, khi gặp mưa, các loại muối oxy hóa được hòa tan theo nước mặt chảy vào kênh rạch và các nơi đất trũng, làm pH giảm < 4 đặc biệt là ở các vùng đất mới khai hoang Do đó, chua ở Thạnh Hóa rất khó giải quyết bởi địa hình trũng khả năng tiêu thoát kém

+ Ảnh hưởng mặn: Mặn 4 gram/lít trên sông Vàm Cỏ Tây bình quân nhiều năm chỉ ngang hoặc qua Tuyên Nhơn 5 – 10 Km về phía thượng lưu Song, vào các năm 1992, 1993 mặn đã ảnh hưởng sâu hơn và liều lượng mặn cũng lớn hơn bình quân nhiều năm Giới hạn mặn 1 gram/lít đã đến Vĩnh Hưng (1992) Đỉnh mặn trên sông Vàm Cỏ Tây tùy từng nơi cao hơn bình quân nhiều năm từ 1 – 3 gam/lít

Như vậy, độ mặn trên kênh rạch của huyện Thạnh Hóa có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đặc biệt là cây lúa ở vụ Hè Thu Mặt khác, cũng cần phải lưu ý là mặn thường đi đôi với hạn, trong khi thủy lợi chưa hoàn chỉnh dễ làm chết cây trồng hoặc phải bỏ hóa đất đai, nhất là ở những vùng mới khai hoang

Trang 26

2.6 Tài nguyên thiên nhiên ở huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An

2.6.1 Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 năm 1998 của Phân viện Quy hoạch – Thống Kê Nông Nghiệp cho thấy: Toàn huyện có 4 nhóm đất với 7 đơn vị chú giải bản đồ đất Trong đó, nhóm đất phù sa có: 4.566 ha (chiếm 9,8 % DTTN) và nhóm đất phèn: 34.063 ha (chiếm 72,7 % DTTN), nhóm đất xám 2.020 ha ( chiếm 4,3 %), nhóm đất xáo trộn 4.989 ha chiếm 10,7 % DTTN Như vậy, hầu hết diện tích đất của huyện Thạnh Hóa thuộc loại đất có vấn đề, do đó sử dụng vào sản xuất nông nghiệp được xem là một hạn chế lớn của huyện

+ Nhóm đất phù sa: Diện tích 4.566 ha (chiếm 9,8 % DTTN), phân bố dọc

theo sông Vàm Cỏ Tây gồm các xã: Thạnh Phú 680 ha, Thuận Nghĩa Hòa 1.267 ha, Thạnh Phước 883 ha, Tân Đông 836 ha, Tân Tây 450 ha, Thủy Đông 200 ha, Thủy Tây 250 ha

Thành phần cơ giới nặng (tỷ lệ sét cao), hàm lượng sét vật lý từ 45 - 60 %, thoát nước kém Đất có độ phì nhiêu khá: mùn từ 10 - 20 %, đạm tổng số cao (0,1 - 0,39 %), nghèo lân (0,14 - 0,06 %) và kali cao (0,83 %) Đây là loại đất tốt thích hợp cho trồng lúa nước 2 vụ hoặc luân canh lúa đay, nguồn nước ngọt dồi dào, có điều kiện thâm canh tăng năng suất cây trồng

+ Nhóm đất xám: 2.020 ha, chiếm 4,3 % DTTN Gồm 1 đơn vị chú giải bản

đồ, phân bố dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, nằm trên địa bàn xã Tân Hiệp Đất có thành phần cơ giới nhẹ (thịt pha cát) Hàm lượng đạm trung bình (0,1 - 0,25 %), nghèo lân (0,01 - 0,06 %), nghèo kali (0,12 %) Đất xám trong điều kiện có nước tưới chủ động, canh tác lúa hoặc luân canh lúa màu cho hiệu quả khá

+ Nhóm đất phèn: Đất phèn có diện tích 34.063 ha, chiếm 72,74 % DTTN

Gồm 4 đơn vị chú giải bản đồ, phân bố ở địa hình thấp trũng (kiểu địa hình đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười), có ở hầu hết các xã trong huyện

Đất phèn nhìn chung có trị số pH thấp, hàm lượng SO4 lại rất cao (>0,15 - 0,25 %) Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng chất hữu cơ cao, mùn xấp xỉ

12 - 24 %, đạm cao (0,4 - 0,8 %) Vì vậy, khi sử dụng đất phèn cần chú trọng biện pháp tiêu phèn và ngăn chặn phèn ngoại lai Đất phèn có tầng phèn sâu trong điều

Trang 27

+ Nhóm đất xáo trộn Vp (đất líp)

Nhóm đất này được hình thành do bàn tay của con người, diện tích 4.989 ha chiếm 10,7 %, tập trung chủ yếu ở các xã Thủy Đông, Thủy Tây và Thị trấn Thạnh Hóa Đất líp chủ yếu trồng các loại cây màu (khoai mỡ, khoai mỳ, màu, dưa hấu) Tóm lại, đất ở Thạnh Hóa 100 % diện tích đều có vấn đề, việc khai thác phải tôn trọng các quy luật khách quan, chú trọng đầu tư đồng bộ các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất

Có như vậy sản xuất nông nghiệp mới phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh

tế cao

+ Đánh giá đất theo mức độ thích nghi với cây trồng

Đất đai của huyện Thạnh Hóa xếp ở cấp ít thích nghi hoặc phải cải tạo mới thích nghi với 2 vụ lúa, 1 lúa -1 màu, lúa - đay, đậu đỗ nên cây trồng sinh trưởng phát triển cho năng suất thấp hơn các vùng đất tốt (đất phù sa) Vì vậy, đây cũng là một hạn chế trong sản xuất nông nghiệp

2.6.2 Nguồn nước

* Nguồn nước mặt

Thạnh Hóa có nguồn tài nguyên nước mặt khá dồi dào song phân bố không đều

cả về số lượng và chất lượng Đối với vụ Đông Xuân khả năng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi, nhiều vùng sử dụng phương pháp tưới tự chảy (nhờ thủy triều) có hiệu quả cao Tuy nhiên, vụ Hè Thu khả năng cung cấp nước cho sản xuất lại rất hạn chế vào thời kỳ đầu vụ; đặc biệt vùng Bắc Đông thiếu nước ngọt phục

vụ sản xuất và sinh hoạt

Hệ thống sông rạch và kênh mương dẫn nước mặt của huyện Thạnh Hóa gồm: + Sông rạch tự nhiên: Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ Svayriêng (Campuchia) chảy vào Việt Nam tại Bình Tứ theo hướng Tây Nam nối với sông Vàm Cỏ Đông, đoạn chảy qua huyện Thạnh Hóa dài khoảng 25 Km, rộng từ 125 – 200 m, sông chảy quanh co và gấp khúc Nguồn nước ngọt lớn thứ hai lấy từ sông Tiền tiếp qua kênh Hồng ngự về Kênh 61 và kênh Dương Văn Dương

+ Kênh mương: Hệ thống kênh tạo nguồn gồm có: Kênh An Xuyên, kênh Dương Văn Dương, kênh Mareng, kênh 61, kênh Bắc Đông, cung cấp nước cho sản xuất và đời sống, đồng thời góp phần thoát lũ trong mùa mưa Ngoài ra còn có hơn

Trang 28

300 kênh nội đồng lớn nhỏ phục vụ cho nhu cầu tưới, tiêu úng, xả phèn phục vụ sản xuất nông nghiệp

Để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt thì nguồn nước vẫn chưa đủ do kênh đào chưa đủ kích thước thiết kế và phần lớn bị bồi lắng, đặc biệt là sau mùa lũ Thủy lợi đang rất cần được đầu tư hoàn chỉnh tạo nền tảng vững chắc và là chìa khóa cho việc tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp

* Nguồn nước ngầm

Qua kết quả khảo sát về nước ngầm ở Long An của Liên đoàn Địa chất 8 (Đoàn 801), cho thấy nước ngầm được tàng trử trong các trầm tích Pleistocen và Mioxen với 4 tầng chứa nước như sau: Tầng A ở độ sâu: 50 – 130 m, tầng B ở độ sâu: 170 – 200 m, tầng C ở độ sâu: 250 – 300 m và tầng D ở độ sâu: 400 m

Trong khu vực huyện Thạnh Hóa nước mạch nông xuất hiện ở độ sâu 27 - 30

m, nhưng do ảnh hưởng của phèn nên chất lượng không tốt, khả năng sử dụng cho sinh hoạt bị hạn chế Hơn nữa, tại Thạnh Hóa nước ngầm có hàm lượng tổng độ khoáng hóa rất thấp (1 – 3 g/l) và pH < 4, nên việc sử dụng nước ngầm ở độ sâu < 40 m để tưới hỗ trợ cho nông nghiệp và sinh hoạt rất hạn chế Nước ngầm có khả năng khai thác ở độ sâu 260 – 290 m, trữ lượng 400 m3 ngày đêm/giếng, lưu lượng nước 05 lít/s

và chất lượng tốt

Nhìn chung lưu lượng nước ngầm khá lớn, nhưng khả năng cung cấp đủ nước cho đời sống sinh hoạt của người dân trong huyện và sản xuất công nghiệp rất khó khăn vì nước ngầm ở tầng sâu giá thành khai thác cao

Hiện nay, nước sinh hoạt của nhân dân trong huyện hầu hết dùng nước mưa và nước kênh rạch qua lọc lắng Nước ngầm do giá thành khai thác cao nên mới có một

số điểm tập trung do nhà nước đầu tư, một số xã vùng sâu đã có sự phối hợp tốt phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, xã hội hóa cấp nước sinh hoạt

Nước ngầm là một tài nguyên khan hiếm nên trong quá trình khai thác, cần hết sức cẩn thận và quản lý một cách chặt chẽ, có quy hoạch và kế hoạch khai thác không

để tự phát tràn lan làm giảm lưu lượng và gây ô nhiễm nguồn nước

2.6.3 Tài nguyên rừng:

Huyện Thạnh Hóa có diện tích rừng 16.095,02 ha (tính đến ngày 31/12/2008),

Trang 29

2.6.4 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu bản đồ địa chất Việt Nam 1996, vệt than bùn ở xã Thuận Bình - Tân Hiệp có chất lượng xấu, độ tro cao và chứa nhiều sét, hàm lượng mùn và NPK đáng kể có thể khai thác làm phân bón, cần phải khảo sát cụ thể về trữ lượng và quy mô

2.7 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An

Sau một năm thực hiện chương trình nông dân tự nhận giống trên địa bàn huyện Thạnh Hóa chương trình đã đạt được một số kết quả khả quan như sau: Tổng diện tích thực hiện 25,5 ha (Đông Xuân 5,5 ha; Hè Thu 20 ha) tạo ra khoảng 113 tấn lúa giống xác nhận cung cấp cho 1.075 ha diện tích sản xuất lúa trên địa bàn huyện Mô hình được đa số nông dân đồng tình tham gia thực hiện tốt mô hình, lượng giống sau khi nhân ra được nông dân trao đổi, tiêu thụ hết tại địa phương Mô hình tạo ra sự đa dạng, phong phú chủng loại giống trên địa bàn huyện, giúp nông dân tự sản xuất giống lúa với chi phí thấp, chất lượng cao, chủ động được nguồn giống, từng bước sử dụng hoàn toàn giống xác nhận trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí, phù hợp nhu cầu xuất khẩu

Với kết quả đạt được trong năm 2009 để tiếp tục thực hiện mô hình nhân giống lúa trong dân với qui mô lớp và tập trung Phòng NN & PTNT huyện Thạnh Hóa đã chọn lọc các hộ có kinh nghiệm, nhiệt tình tham gia để tiếp tục thực hiện mô hình với hình thức tập trung, không dàn trải, mỗi xã - thị diện tích từ 3 - 6 ha Chương trình nhân giống tập trung trong năm 2010 được thực hiện trên nền tảng chương trình nông dân tự nhân giống với mục tiêu từng bước xây dựng lại khu nhân giống tập trung theo chỉ tiêu và nghị quyết của Huyện Ủy, HĐND huyện đã đề ra

Để chuẩn bị cho vụ Đông Xuân 2009 - 2010, ngày 18/11/2009 Phòng NN & PTNT huyện tổ chức hội thảo đầu vụ để triển khai qui trình sản xuất giống xác nhận Đến tham dự thảo có 32 hộ tham gia chương trình và các khuyến nông viên các xã Tại cuộc hội thảo Ông Huỳnh Kim Tùng – Trưởng phòng NN & PTNT huyện đã trình bày về qui trình kỹ thuật làm đất, sạ hàng, cách bón phân, biện pháp phòng trừ sâu bệnh và phương pháp thu hoạch bảo quản sau thu hoạch

Tổng số hộ tham gia chương trình là 32 hộ, với diện tích thực hiện là 32,7 ha như vậy trong vụ Đông Xuân 2009-2010 dự kiến tại các điểm nhân giống này sẽ cung cấp khoảng 212,5 tấn giống lúa xác nhận Với chương trình

Trang 30

nhân giống lúa tập trung sẽ từng bước nâng cao tỷ lệ diện tích gieo sạ bằng giống xác nhận (Nguồn: Mã Thanh Điền - Phòng NN & PTNT huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An)

Trang 31

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm

Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 01/2010 đến 04/2010

Địa điểm: đề tài được thực hiện tại ấp 3 xã Thủy Tây huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An

3.2 Tình hình khí tượng thủy văn

Bảng 3.1: Số liệu khí tượng thủy văn từ tháng 01 – 04 năm 2010 ở tỉnh Long An

Tháng Nhiệt độ

(0C)

Lượng mưa (mm)

Tổng số giờ nắng (giờ)

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Long An)

Ghi chú: cả các số liệu đều lấy trung bình trong một tháng

Qua bảng cho thấy: Nhiệt độ trung bình tương đối ổn định qua các tháng, biến động từ 25,6 – 28,6 0C Nhiệt độ cao nhất vào tháng 4 là 28,6 0C và thấp nhất là vào tháng 1 là 25,6 0C

Lượng mưa trung bình giữa các tháng có sự chênh lệch nhiều, trong đó cao nhất

Trang 32

trạng thiếu nước Mặt khác, thời tiết không mưa làm hạn chế sự đỗ ngã và thuận tiện cho việc thu hoạch và bảo quản

3.3 Đặc điểm và tính chất lý hóa khu thí nghiệm

Bảng 3.2:Kết quả phân tích khu đất tiến hành thí nghiệm

pH (1:2,5)

Nts(%) Mùn

(%)

P2O5(mg/100g)

Kdt (mg/100g)

3.4 Vật liệu nghiên cứu

3.4.1 Giống lúa OM4900

Nguồn gốc: Giống lúa thuần OM4900 đã được lai tạo chọn lọc bởi các cán bộ khoa học tại Bộ môn di truyền chọn giống thuộc Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long Tác giả là PGS TS Nguyễn Thị Lang và GS TS Bùi Chí Bửu Phương pháp lai

cổ truyền được áp dụng với giống bố là Jasmine 85 và giống mẹ là C53 (Lemont)

Đặc tính giống:

Thời gian sinh trưởng: 95 – 105 ngày

Chiều cao cây: 100-110 cm

Khối lượng 1000 hạt: 28,3 gram

Chiều dài hạt: 7,8 mm, tỷ lệ amylose: 16,2 %

Lá cờ đứng, cứng cây, bông to đùm

Hơi nhiễm rầy nâu, đạo ôn, cháy bìa lá, lúa von

Kháng vàng lùn, lùn xoắn lá

Chịu phèn nhẹ

Chất lượng: cơm dẻo, thơm

Hạt gạo dài, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Năng suất: 6 – 8 tấn/ha (Đông Xuân), 5 – 6 tấn/ha (Hè Thu)

Trang 33

3.4.2 Các loại phân bón lá sử dụng trong thí nghiệm

a Phân bón Super Growth

Thành phần: 30 % N; 10 % P2O5; 10 % K2O; 0,05 % Fe; 0,02 % Mn; 0,01 % B; 0,01 % Zn; 0,005 % Cu; 0,001 % Mo

Công dụng:

Cung cấp hàm lượng dinh dưỡng tối ưu cho cây

Bổ sung đầy đủ đa, trung, vi lượng

Thúc đẩy nhanh quá trình ra lá, thân, rễ, cành nhánh

Cách dùng : Pha 20 gram/bình 8 lít, phun đều trên hai mặt lá, phun lại sau 7 –

10 ngày

Nguồn gốc phân : nhập khẩu từ Italia

Cung cấp bởi: AGRI WORKS LLC (USA)

b Phân bón qua lá Nutri-Phos

Tăng đẻ nhánh, nảy chồi Đề kháng tốt với nhiều loại sâu hại

Cung cấp đầy đủ đa, trung, vi lượng cho cây

Cách dùng : Pha 20 gram/bình 8 lít, phun đều trên hai mặt lá Phun lại sau 10 –

15 ngày, phun lúc sáng sớm hoặc chiều mát

Nguồn gốc phân : sản xuất tại Công ty TNHH Mê Kông Việt Nam

c DD lục bình ủ 1 liều lượng cao (56 lít/ha)

d DD lục bình ủ 2 liều lượng thấp (28 lít/ha)

Nguyên liệu: từ cây lục bình Cây lục bình là cây sống tràn lan, mạnh mẽ khắp các ao hồ của nước ta Toàn bộ gốc, thân, rễ, lá của lục bình được ủ làm phân hữu cơ thay cho phân hóa học, năng suất cây trồng được nâng cao, môi trường ít bị ô nhiễm, chi phí đầu vào thấp, hạ gia thành sản phẩm, giúp có thêm nhiều nguồn rau sạch, góp

Trang 34

phần giải quyết vấn đề ô nhiễm nguồn nước và giảm cản trở giao thông đường thủy do lục bình

Cách ủ lục bình: lục bình vớt từ sông, kênh, để ráo nước Sau đó, lấy 20 kg lục bình tươi đem băm nhỏ và cho vào bịch nylon rồi tưới vào đó 2 lít DD BAEM 5 ‰ Cột chặt bịch lại, cứ 1 tuần lại cho 2 lít DD BAEM 5 ‰ vào bịch Ủ như vậy trong vòng 1 tháng thì có thể dùng được

Theo phân tích của Finlow.R.S và M.C Leen năm 1917, cho thấy lục bình chứa 95,5 % H2O; 3,5 % chất hữu cơ, tỷ lệ tro 1/1000 Thành phần các chất trong tro lục bình gồm có: 28,7 % K2O; 1,8 % Na2O; 12,18 % CaO; 21 % Cl; 7,0 % P2O5

Theo Agrupis, F.M (1950), thì thành phần hóa học của lục bình ủ là: 3,9 % Carbonhydrat; 2,2 % xơ thô; 0,3 % Ca; 0,1 % P; 0,9 % protein; 0,4 % chất béo và 2,0 % tro

Thành phần: Một số tính chất của DD lục bình ủ được trình bày ở bảng 3.2

Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng trong dung dịch lục bình ủ (ppm)

Mẫu pH C N K2O P2O5 Ca Mg SO4 Tổng Fe 7,2 374 20,3 238,4 10,5 17,8 52,5 14,5 44,5

(Nguồn: Võ Thị Phương Xa, 2007)

Công dụng của phân lục bình: kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Nguồn gốc: sản phẩm đang nghiên cứu

1 NT đối chứng không sử dụng phân bón lá, chỉ phun nước lã

Các NT được mã hóa như sau:

- NT1( đối chứng): Nền + phun nước lã

- NT2: Nền + phun Super Growth

- NT3: Nền + phun Nutri-Phos

Trang 35

- NT4: Nền + DD lục bình ủ 1 với liều lượng cao (500 mlphân + 3 lít nước) cho

Trang 36

Lượng giống gieo sạ: 130 kg/ha

Giống ngâm nước 24 giờ, vớt lên xả nước sạch, ủ ấm 12 giờ, ngâm nước và tiếp tục ủ ấm 12 giờ nữa sau đó mang giống ra gieo sạ

Phương pháp sạ: sạ lan

Phân bón gốc:

Thời kỳ và lượng bón/ha

- 10 ngày sau sạ bón: 50 kg urea + 50 kg DAP + 70 kg super lân

- 23 ngày sau sạ bón: 35 kg urea + 35 kg DAP + 35 kg KCl

- 35 ngày sau sạ bón: 35 kg urea + 35 kg DAP + 35 kg KCl

- 46 ngày sau sạ bón: 30 kg urea + 30 kg KCl

Phương pháp xử lý phân bón lá

Thời điểm phun xịt phân bón lá: 3 đợt Phun phân bón vào các giai đoạn 20 ngày, 40 ngày và 60 ngày sau sạ

Phương pháp xử lý phân bón lá: phun trên lá

NT1: không sử dụng phân bón lá Phun 320 lít nước lã cho 1 đợt

NT2: sử dụng phân bón lá Super Growth (dạng bột) với liều lượng 800

gram/ha/đợt (40 gram/bình 16 lít; 20 bình/ha) hòa với 320 lít nước

NT3: sử dụng phân bón lá phun Nutri-Phos (dạng bột) với liều lượng 800 gram/ha/đợt ( 40 gram/bình 16 lít; 20 bình/ha) hòa với 320 lít nước

NT4: sử dụng DD lục bình ủ 1 (dạng nước) liều lượng cao 56 lít/ha/1 đợt Hòa

56 lít DD lục bình ủ với 320 lít nước cho 1 lần phun trên 1ha

NT5: sử dụng DD lục bình ủ 2 (dạng nước) liều lượng thấp 28 lít/ha/1đợt Hòa

28 lít DD lục bình ủ với 320 lít nước cho 1 lần phun trên 1ha

3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi được tiến hành 14 ngày một lần

3.5.2.1 Chỉ tiêu về hình thái

Thân lúa:

Chiều cao cây khi chín:

Mỗi ô thí nghiệm chọn 3 điểm trong khung đo đếm nhánh lúa, mỗi điểm đo một cây Tổng số: 6 cây/ô Đo từ mặt đất đến chóp bông cao nhất (không tính râu hạt),

Trang 37

Bông lúa:

Chiều dài bông:

- Thời điểm theo dõi: lúc lúa vào chắc

- Phương pháp theo dõi, đánh giá: đo chiều dài từ cổ bông đến đỉnh bông không tính râu hạt

3.5.2.2 Chỉ tiêu nông học

Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của cây lúa:

- Thời điểm theo dõi: ngày bắt đầu đẻ nhánh, đẻ nhánh tối đa, làm đòng, trổ

10 %, trổ 80 %, chín

- Phương pháp theo dõi, đánh giá: theo dõi ghi nhận ngày bắt đầu đẻ nhánh, đẻ nhánh tối đa, làm đòng, trổ 10 %, trổ 80 %, chín ở các công thức thí nghiệm

Động thái tăng trưởng chiều cao:

- Thời điểm theo dõi: 20, 34, 48, 62 và 80 NSS

- Phương pháp theo dõi: mỗi ô thí nghiệm chọn 3 điểm trong 1 khung để đo chiều cao cây Mỗi điểm đo 1 cây Tổng số 6 cây/ô Thời kỳ trước trổ: đo từ mặt đất đến chóp lá cao nhất của cây Thời kỳ sau trổ: đo từ mặt đất đến chóp bông cao nhất của cây (không tính râu hạt)

Tốc độ tăng trưởng chiều cao:

- Thời điểm theo dõi: trùng với thời điểm theo dõi chiều cao cây

- Phương pháp theo dõi, đánh giá: tính toán từ chiều cao cây ở hai giai đoạn liên tiếp

Tốc độ đẻ nhánh:

- Thời điểm theo dõi: Trùng với thời điểm theo dõi số nhánh đẻ

- Phương pháp theo dõi và đánh giá: tính toán từ số nhánh đẻ ở hai giai đoạn liên tiếp

Trang 38

3.5.2.3 Chỉ tiêu sâu bệnh hại

Sâu bệnh được đánh giá cảm quan ngoài đồng trong từng ô thí nghiệm và có sự can thiệp các biện pháp bảo vệ thực vật tới từng loại sâu bệnh hại xuất hiện

3.5.2.4 Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố cấu thành năng suất:

Số bông/m2: dùng khung 40 * 50 cm đếm tổng số bông trong khung, mỗi ô đếm 2 khung, tính số bông trung bình trong khung rồi quy đổi ra số bông trung bình trên m2

Số hạt chắc/bông: mỗi ô lấy ngẫu nhiên 6 bông, đếm số hạt chắc và lép mỗi bông sau đó tính trung bình từng ô Tính trung bình cho các lần lặp lại

Trọng lượng 1000 hạt (P1000 hạt): Mỗi NT đếm 1000 hạt chắc đem cân sau đó tính giá trị trung bình của 3 lần lặp lại

Năng suất lý thuyết (NSLT): tính theo công thức sau:

NSLT (tấn/ ha) = (số bông/m2 * số hạt chắc/ bông * P1000 hạt)/(1000 * 100) Trong đó:

1000: là hệ số chuyển đổi từ trọng lượng 1000 hạt thành trọng lượng 1 hạt 100: là hệ số chuyển đổi từ m2 ra ha và từ gram ra tấn

Năng suất thực thu:

Thu mỗi ô thí nghiệm 12 m2 cách mép ô 1 m, phơi sấy khô, quạt sạch, đem cân tính trung bình 3 lần lặp lại rồi quy ra năng suất thực tế trên 1ha

3.6 Hiệu quả kinh tế

Bội thu năng suất (tấn/ha): quy thành tiền (đồng)

Chi phí: phân bón và công phun (đồng/ha)

Lợi nhuận thu được (đồng/ha) = bội thu năng suất – chi phí

Tỷ lệ năng suất so với đối chứng

3.7 Phương pháp xử lý số liệu

Các tính toán trung bình từ số liệu thô ghi nhận ngoài đồng được xử lý trên phần mềm EXCEL

Các tính toán thống kê được xử lý trên phần mềm thống kê MSTATC

Báo cáo được viết và trình bày bằng chương trình Microsoft Word

Trang 39

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Chỉ tiêu về hình thái

Mỗi giống lúa có một đặc trưng về hình thái riêng, hình thái của giống lúa là

đặc trưng về mặt di truyền của giống đó Tuy nhiên, trong canh tác môi trường có thể

tác động đến khả năng biểu hiện hình thái của giống Một môi trường canh tác tốt đầy

đủ chất dinh dưỡng thì hình thái của giống lúa được thể hiện tối đa, ngược lại môi

trường canh tác không tốt thì hình thái của giống lúa sẽ không được thể hiện hết

Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu về hình thái của lúa trong thí nghiệm

Nghiệm thức Phân bón Chiều cao cây cm

Qua bảng 4.1 cho thấy các NT có sử dụng phân bón lá đều có chiều cao cây tối

đa (80NSS) cao hơn so với NT đối chứng Trong đó, NT5 có chiều cao cây cao nhất

đạt 103,2 cm kế đến là NT4 đạt 102,8 cm và NT đối chứng không sử dụng phân bón lá

Trang 40

có chiều cao cây thấp nhất đạt 100,8 cm Điều này cho thấy việc sử dụng phân bón lá giúp cho cây lúa phát huy tốt đặc trưng của giống

Cũng qua bảng 4.1 cho thấy chiều dài bông của các NT biến thiên như sau: NT2

và NT3 có chiều dài bông dài nhất đạt 27,7 cm, kế đến là NT1 đạt 21,2 cm và thấp nhất là NT5 đạt 20,9 cm

4.2 Chỉ tiêu nông học

4.2.1 Thời gian sinh trưởng và phát dục

Thời gian sinh trưởng của giống lúa OM4900 thuộc nhóm lúa ngắn ngày cho nên cần phải bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa với liều lượng cân đối, hợp lý và đúng theo thời kỳ sinh trưởng của cây Ngoài đặc tính di truyền, thời gian sinh trưởng của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng thì còn chịu ảnh hưởng khác như điều kiện tự nhiên, phân bón Thời gian sinh trưởng và phát dục của các NT tham gia thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.2

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và phát dục

của lúa (Đơn vị tính: Ngày sau sạ.)

chông

Đẻ nhánh

Làm đòng

Trổ

Chín 85%

Thu hoạch Bắt

Ghi chú: - TGST: thời gian sinh trưởng

Qua bảng 4.2 cho thấy thời gian sinh trưởng của giống lúa OM4900 giữa các

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w