1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CHƯPRÔNG, TỈNH GIA LAI

79 293 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nhằm xây dựng cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình canh tác cây cà phê của các hộ nông dân huyện Chưprông tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững nâng cao năng suất, chất lượng.. - Quy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY

CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CHƯPRÔNG, TỈNH GIA LAI

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN NGỌC LINH Ngành: NÔNG HỌC

Khoá: 2005 – 2009

Trang 2

ĐIỀU TRA QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CÀ PHÊ TẠI

HUYỆN CHƯPRÔNG, TỈNH GIA LAI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng đến Ban chủ nhiệm khoa Nông học, quý thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Đại học Nông Lâm tại Gia Lai đã truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến Tiến sĩ Võ Thái Dân, người trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê và Uỷ Ban Nhân Dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chưprông đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Cảm ơn các hộ dân trồng cà phê huyện Chưprông đã bỏ chút thời gian quý báu trao đổi thông tin, kinh nghiệm tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình và người thân cùng các bạn lớp DH05NHGL đã luôn động viên, giúp đỡ, chia sẻ những vui buồn cùng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010

Người thực hiện

Nguyễn Ngọc Linh

Trang 4

TÓM TẮT

NGUYỄN NGỌC LINH, 8/2010 ĐIỀU TRA QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CHƯPRÔNG - TỈNH GIA LAI Trường Đại

học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Luận văn cuối khóa, 55 trang

Giáo viên hướng dẫn: TS Võ Thái Dân

Đề tài được tiến hành từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 7 năm 2010

Mục tiêu nhằm xây dựng cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình canh tác cây cà phê của các hộ nông dân huyện Chưprông tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững nâng cao năng suất, chất lượng

Thông qua việc nắm bắt quy trình canh tác cây cà phê cũng như những thuận lợi và khó khăn mà người trồng cà phê gặp phải

Dựa vào mức độ thâm canh, tình hình sử dụng giống cà phê, kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê của 90 hộ nông dân được phỏng vấn bằng mẫu phiếu in sẵn

Thu thập các số liệu về kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên được từ phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê huyện Chưprông tỉnh Gia Lai

Kết quả điều tra cho thấy:

- Sản xuất cà phê huyện Chưprông đang ổn định về diện tích, bước đầu chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cho cà phê nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe cho xuất khẩu

- Quy trình canh tác cà phê của các nông hộ được điều tra như sau:

+ Giống cà phê chủ yếu là Robusta (88,9%), chỉ có một số ít là Arabica (8%) trồng thử nghiệm và Exselsa (3,1%) trồng quảng canh bởi các hộ đồng bào thiểu số

+ Kiến thiết vườn cây đã được bà con nông dân trồng cà phê chú ý nhưng chưa đúng mức, nhất là khâu trồng cây che bóng cho cà phê Trong tổng số các hộ điều tra

có 83,37% hộ không trồng vành đai chắn gió, chỉ có 44,44% hộ trồng cây che bóng cho vườn cà phê

+ Trồng xen đang được nông hộ trồng thử nghiệm với một diện tích nhỏ, chưa

có sự quy hoạch rõ ràng Đa số các nông hộ trồng xen cà phê với loại cây có giá trị kinh tế cao như: sầu riêng, xoài

Trang 5

+ Phân bón chủ yếu theo khả năng kinh tế hộ nông dân mà không quan tâm đến nhu cầu phân bón của cây cà phê Số hộ bón phân hợp lý cho cà phê chiếm một tỷ lệ thấp

- Sâu bệnh ở các vườn cà phê ở huyện Chưprông là không đáng kể, 7,78% hộ không bị sâu hại, và 93,33% hộ bị bệnh hại không đáng kể Một số sâu bệnh thường gặp là sâu đục thân, rệp sáp, bệnh nấm hồng và gỉ sắt

+ Thu hoạch cà phê chia làm hai đợt, một đợt hái lựa khi cà phê bắt đầu chín và một đợt hái hết khi cà phê chín rộ Tỷ lệ chín trung bình khi thu hái của các hộ là 80%

+ Sân phơi chủ yếu là sân đất, đa số các nông hộ tận dụng đất trống của nhà để làm sân phơi, chưa có sự đầu tư cho việc làm sân phơi cà phê

+ Cà phê thu hoạch sau khi phơi sấy khô được các hộ tiến hành cất giữ ở dạng nhân xô hoặc ở dạng vỏ khô, rồi đem bán cho các thương lái khi giá cả hợp lý

+ Giá cà phê bấp bênh và giá vật tư nông nghiệp tăng cao là mối quan tâm và lo ngại hàng đầu cho nông dân trồng cà phê ở huyện Chưprông nói riêng và tỉnh Gia Lai nói chung

Trong tình hình hiện nay, người dân trồng cà phê ở huyện Chưprông nói riêng

và tỉnh Gia Lai nói chung đáng đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn về gía

cả, thị trường tiêu thụ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

1.3 Yêu cầu của đề tài 3

1.4 Giới hạn đề tài 3

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây cà phê 4

2.2 Đặc tính thực vật học 4

2.2.1 Rễ cây cà phê 5

2.2.2 Thân cành 5

2.2.3 Lá 5

2.2.4 Hoa 5

2.2.5 Quả 6

2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trong và ngoài nước 6

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trên thế giới 6

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trong nước 8

2.4 Yêu cầu sinh thái của cà phê 11

2.5 Kỹ thuật canh tác 12

2.5.1 Trồng mới 12

2.5.2 Trồng cây đai rừng, cây che bóng, cây trồng xen 14

2.5.3 Chăm sóc 14

2.5.3.1 Làm cỏ 14

Trang 7

2.5.3.2 Bón phân 15

2.5.3.3 Thời vụ bón phân 15

2.5.3.4 Tưới nưóc 16

2.5.3.5 Tạo hình sữa tán 17

2.5.6 Phòng trừ sâu bệnh hại 17

2.5.7 Thu hoạch 20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành 21

3.1.1 Thời gian 21

3.1.2 Địa điểm 21

3.2 Đối tượng, nội dung và phạm vi đề tài 21

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.2.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu và tiến độ thực hiện đề tài 22

3.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát 22

3.3.2 Cơ sở chọn hộ điều tra khảo sát thu thập số liệu 22

3.3.3 Tiến độ thực hiện đề tài 22

3.4 Phần mềm sử dụng 23

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu 24

4.1.1 Vị trí địa lý 24

4.1.2 Đặc điểm về đất đai 25

4.1.3 Đặc điểm về khí hậu 25

4.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội 26

4.2 Tổng hợp hiện trạng sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Chưprông 27

4.2.1 Diện tích và tình hình sản xuất cà phê trong của huyện Chưprông 27

4.2.2 Kế hoạch phát triển cây cà phê 28

4.3 Kết quả điều tra về kinh tế xã hội các hộ được điều tra 29

4.4 Kết quả điều tra sơ bộ về hiện trạng sản xuất cà phê ở các hộ được điều tra 30

4.4.1 Diện tích đất nông nghiệp 31

Trang 8

4.5 Kỹ thuật canh tác cà phê hiện nay trên địa bàn điều tra 32

4.5.1 Về cơ cấu giống 32

4.5.2 Thiết kế vườn cây 34

4.5.3 Chuẩn bị đất trồng, mật độ, khoảng cách 36

4.5.4 Kỹ thuật bón phân 37

4.5.5 Kỹ thuật tỉa cành,tạo tán 38

4.5.6 Phòng trừ sâu bệnh 40

4.5.7 Kỹ thuật tưới nước 42

4.5.8 Phòng trừ cỏ dại 45

4.6 Kỹ thuật thu hoạch và chế biến 47

4.7 Lợi nhuận 48

4.8 Một số thuận lợi, khó khăn và các ý kiến của các hộ nông dân 51

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….56

PHỤ LỤC 57

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO (Food and Agriculture Organization): Tổ chức nông lương thế giới

ICO (International Coffee Organization): Tổ chức cà phê thế giới

KTCB Kiến thiết cơ bản

SWOT (Strength Weakness Opportunity Threat): Ma trận

BVTV Bảo vệ thực vât

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê của thế giới và một số nước ( 2008) 6

Bảng 2.2 Định lượng phân hoá học bón cho 1 ha tính theo nguyên chất (kg/ha) 16

Bảng 2.3 Tỷ lệ phân bón giữa các lần bón 16

Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu thời tiết huyện Chưprông năm 2009 26

Bảng 4.2 Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê huyện Chưprông từ năm 2004 – 2008 27

Bảng 4.3 Kết quả điều tra về dân tộc, tuổi, giới tính các hộ điều tra 29

Bảng 4.4 Cơ cấu giống các hộ điều tra……… 32

Bảng 4.5 Tình hình sử dụng các giống cà phê và năng suất các hộ điều tra………….33

Bảng 4.6 Kỹ thuật thiết kế vườn cây trong các nông hộ điều tra 35

Bảng 4.7 Tình hình chuẩn bị đất và trồng mới cà phê ở các hộ được điều tra 36

Bảng 4.8 Tình hình sử dụng phân chuồng bón lót và năng suất của các hộ điều tra 37

Bảng 4.9 Tình hình sử dụng phân NPK cho cà phê KD và năng suất các hộ điều tra 38

Bảng 4.10 Kỹ thuật tỉa cành, tạo tán cho vườn cà phê 39

Bảng 4.11 Tình hình sâu hại trong vườn cà phê của các nông hộ điều tra 40

Bảng 4.12 Tình hình bệnh hại trong vườn cà phê của các nông hộ điều tra 41

Bảng 4.13 Phương pháp tưới và năng suất các hộ điều tra 43

Bảng 4.14 Tình hình thu hái và sơ chế cà phê của các hộ điều tra 46

Bảng 4.15 Cơ sở vật chất của các hộ điều tra 48

Bảng 4.16 Giá trị trung bình, tổng chi, tổng thu và lợi nhuận cho một mùa cà phê 49

Bảng 4.17 Quy trình trồng cà phê của các nông hộ so với quy trình chuẩn 50

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai 24

Hình 4.2 Cơ cấu đất đai huyện Chưprông 25

Hình 4.3 Cơ cấu dân số huyện Chưprông 27

Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện trình độ văn hoá các hộ điều tra 30

Hình 4.5 Diện tích đất nông nghiệp các hộ điều tra 31

Hình 4.6 Diện tích cà phê kinh doanh các hộ điều tra Error! Bookmark not defined Hình 4.7 Các giống cà phê 34

Hình 4.8 Đai chắn gió cho vườn cà phê Error! Bookmark not defined Hình 4.9 Bẻ chồi, cành tăm cho cà phê 39

Hình 4.10 Kỹ thuật tỉa cành, tạo tán cho cây cà phê 40

Hình 4.11 Tình trạng nguồn nước tưới của các hộ điều tra 42

Hình 4.12 Tưới nước cho cà phê bằng phương pháp tưới rãnhError! Bookmark not defined Hình 4.13 Tưới nước cho cà phê bằng phương pháp tưới bồnError! Bookmark not defined Hình 4.14 Tưới nước cho cà phê bằng phương pháp tưới phun mưaError! Bookmark not defined Hình 4.15 Cỏ dại mọc trong vườn cà phê 45

Hình 4.16 Làm cỏ cà phê bằng phương pháp thủ công 46

Hình 4.17 Tỉ lệ cà phê chín khi thu hái của các hộ điều tra 47

Hình 4.18 Sân phơi cà phê bằng nền xi măng 48

Trang 12

Ở khu vực Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, cây cà phê đang được xem là cây trồng chủ yếu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương cùng với cây cao su, cây tiêu và cây điều Cây cà phê tương đối thích hợp với các điều kiện ngoại cảnh ở các vùng này, giai đoạn kiến thiết cơ bản ngắn khoảng 2 năm, chu

kỳ thu hoạch dài từ 20 đến 30 năm Đây được xem là một trong những cây trồng có triển vọng ở khu vực Tây Nguyên nói chung và huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai nói riêng

Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay diện tích trồng cà phê của nước ta là khoảng 520.000 ha, với sản lượng đạt khoảng 980.000 tấn Riêng tỉnh Gia Lai có diện tích trồng khoảng 76.237 ha, với sản lượng đạt được khoảng 113.015 tấn, năng suất khoảng 1.482 kg/ha Huyện Chưprông có diện tích trồng cà phê là (13.565 ha, với sản lượng 21.600 tấn, năng suất khoảng 1.592 kg/ha) Cây cà phê ở Huyện Chưprông được trồng chủ yếu ở nhiều địa phương như thị trấn Chưprông, xã Ia Đrăng, Ia Boòng, Bình Giáo, Bàu Cạn, Ia Phìn, Ia Me, Ia Băng, năng suất trung bình khoảng 2,3 tấn/ha

Trang 13

Giống cà phê du nhập vào nước ta từ rất lâu, nhưng trước đây người dân trồng

và chăm sóc, thu hái theo kiểu cổ điển nên năng suất thấp Ngày nay nhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, tập trung vào thâm canh do đó năng suất và chất lượng cà phê thương phẩm được nâng cao Trong thực tế, mức độ hiểu biết về thâm canh cây cà phê của người dân còn nhiều hạn chế, việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách nhanh chóng đã đưa đến nhiều vấn đề cần giải quyết như: Nạn phá rừng, khai thác nguồn nước ngầm, nước mặt một cách bừa bãi, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm giảm

độ che phủ của rừng, dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng

Bên cạnh đó việc sử dụng các loại hóa chất nông nghiệp như: Phân bón, thuốc BVTV ngày càng cao với ý thức lạm dụng một cách bừa bãi, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dịch hại và thiên địch, cũng như sức khỏe con người Ngoài ra xu thế hội nhập hiện nay, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi chất lượng thương phẩm ngày càng tăng

Những năm gần đây lượng cà phê bị thải loại tại các cảng Châu Âu chủ yếu là

cà phê của Việt Nam (theo ICO niên vụ 2006/2007 trong số 1,5 triệu bao bị thải loại của 17 nước thì 72 % là của Việt Nam, sáu tháng đầu năm 2007 con số này lên tới trên

80 %), vì thế hình ảnh cà phê Việt Nam đang trở nên rất xấu Trên thị trường thế giới

cà phê Việt Nam luôn bị ép giá và thường phải bán với giá rất thấp Đây thực sự là một vấn đề lớn của ngành cà phê Việt Nam và gánh chịu những thiệt thòi này không ai khác ngoài những người nông dân Muốn cải thiện tên tuổi cho ngành cà phê Việt Nam thì khâu quan trọng nhất đó chính là giống, kỹ thuật canh tác, thu hái và chế biến ngay tại các vườn sản xuất của nông dân và các doanh nghiệp Để góp phần xây dựng

cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình canh tác cà phê của các hộ nông dân huyện Chưprông tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững nâng cao năng suất, chất lượng Được sự phân công của khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, dưới sự hướng

dẫn của TS Võ Thái Dân đề tài “Điều tra quy trình kỹ thuật canh tác cây cà phê tại huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai ” được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010

Trang 14

1.2 Mục đích của đề tài

Tìm hiểu về kỹ thuật canh tác cà phê, những thuận lợi và khó khăn của bà con nông dân trên địa bàn điều tra

1.3 Yêu cầu của đề tài

Điều tra thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cây cà phê tại huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai

Điều tra về quy trình canh tác cà phê của các hộ nông dân tại huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai

1.4 Giới hạn đề tài

Đề tài chỉ được thực hiện trong thời gian 4 tháng lại rơi vào mùa khô, địa bàn huyện Chưprông rộng lớn, phức tạp nên đề tài có thể chưa đủ lớn để đại diện cho tình hình sản xuất cà phê của huyện Bên cạnh đó bản thân còn nhiều hạn chế do đó không thể tránh khỏi những thiếu sót

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây cà phê

Cây cà phê (Coffea sp.) thuộc bộ Rubiales, họ Rubiaceae, chi coffea, nhóm chính Eucoffea theo hệ thống phân loại thực vật

Có cả trăm loài thuộc chi cà phê, nhưng có 3 loài thực sự có ý nghĩa kinh tế và

được trồng với mục đích thương mại đó là: Coffea arabica (cà phê chè), Coffea canephora (cà phê vối), Coffea exselsa (cà phê mít) Trong đó 2 loài được trồng phổ

biến nhất là cà phê chè và cà phê vối

Thế kỷ thứ XVI các nhà buôn bán nước cộng hòa Vơnidơ nhập khẩu cà phê vào Châu Âu, như vết dầu loang cà phê nhanh chóng lan sang Châu Á, Châu Đại Dương

Năm 1670 giống cà phê Arabica do người Hà Lan đưa vào Srilanca, Colombia và Java

(Indônêxia) Cuối thế kỷ thứ XVII cây cà phê đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, hiện nay trên thế giới có khoảng 80 quốc gia trồng cà phê

Cây cà phê có nguồn gốc mọc trong rừng châu Phi, trên cao nguyên Kaffa của Ethiopia và vùng Arabia Feli – Yemen (ở độ cao 1370 - 1830 m)

Ở Việt Nam, cây cà phê do các cha đạo người Pháp mang đến để trồng làm cảnh từ những năm 1857 Đến năm 1888, cây cà phê được nhập và trồng thành những đồn điền ở Nghệ An, Quảng Trị và Đắc Lắc với diện tích đồn điền vài trăm ha (Kỹ

thuật trồng và cà phê xuất khẩu - Lê Quang Hưng, 1999)

2.2 Đặc tính thực vật học

Cây cà phê là cây trồng nhiệt đới, có thể sống 30 – 40 năm hoặc lâu hơn Hạt cà phê được cấu tạo bằng lớp phôi nhũ sừng chứa nhiều tinh bột, thành phần nước khoảng 20/%, phôi chứa mầm rễ thân mầm và hai lá nhỏ Khi gặp điều kiện thuận lợi hạt sẽ nảy mầm trong khoảng 15 ngày, sau 30 ngày sẽ trồi lên khỏi mặt đất Nhiệt độ thích hợp cho cây cà phê nảy mầm khoảng 30 – 320 C

Trang 16

2.2.1 Rễ cây cà phê

Rễ cây cà phê phát triển cạn phân tầng rất rõ trong khoảng 30 cm đất mặt, cứ khoảng 5 cm có một tầng Rễ phân bố rộng hơn tán cây từ khoảng 15 – 20 cm, cây cà phê có ba loại rễ

+ Rễ cọc (rễ chính): Đâm sâu vào trong lòng đất từ 60 – 100 cm, có thể sâu tới

2 m, làm nhiệm vụ chủ yếu là giữ cho cây đứng vững

+ Rễ nhánh: Là những rễ mọc ra từ rễ cọc, có thể ăn sâu tới 1,5 – 2 m, làm nhiệm vụ hút nước

+ Rễ con: Hệ thống rễ này chủ yếu tập trung ở tầng đất mặt từ 0 – 30 cm, làm nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây

Rễ cây cà phê rất cần oxygen và thích hợp trên vùng đất xốp

2.2.2 Thân cành

Thân cây cà phê phát triển theo một trục chính tạo thành nhiều đốt liên tục, mỗi đốt của thân chính mang một cặp lá Ngay từ lúc còn là lá mầm nằm trong phôi thân chính và sau đó nẩy mầm, thân mọc dài ra với nhiều đốt ngắn Nếu để thân mọc một cách tự do có thể cao tới hàng chục mét Cành mọc từ thân chính gọi là cành cơ bản (cành cấp 1), cành mọc từ cành cấp 1 gọi là cành cấp 2, cứ như thế có cành cấp 3, 4, 5 Tùy theo điều kiện sinh trưởng mỗi năm cây cà phê có thể ra từ 8 – 14 cặp cành mang trái, các cặp cành này là bộ khung cơ bản mang trái và quyết định năng suất hàng năm

Cà phê không ra hoa lại tại các đoạn cành đã ra hoa năm trước

Trang 17

2.2.5 Quả

Quả cà phê còn xanh có hàm lượng nước từ 80 – 85 %, trong điều kiện đủ nước

hoặc mùa mưa quả cà phê phát triển rất to so với mùa khô và nóng Sau khi nở hoa 30

– 35 tuần quả bắt đầu chín, hàm lượng diệp lục giảm ethylen được tạo ra và quả

chuyển sang màu đỏ hoặc màu vàng Quả cà phê là đối tượng thu hoạch chín và là mặt

hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Các biện pháp canh tác, thu hoạch, chế biến đóng

vai trò quan trọng tạo ra cà phê nhân đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trên thế giới

Trên thế giới hiện có trên 80 quốc gia trồng cà phê, với tổng diện tích trên 10

triệu ha, sản lượng khoảng 7,7 triệu tấn (niên vụ 2007/2008) Năng suất bình quân

khoảng 0,75 tấn nhân/ha (trong đó Việt Nam hiện là nước đứng đầu về năng suất, trên

1,97 tấn nhân/ha), kim ngạch buôn bán trên thế giới mỗi năm đạt khoảng 55 tỷ USD

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê của thế giới và một số nước ( 2008)

Chỉ tiêu Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

Brazil 2.216.014 1,2954 2.790.858 Mexico 755.843 0,3516 265.817

Ấn Độ 342.000 0,7660 262.000 Yemen 34.292 0,5478 18.788

(Nguồn: FAO, 2010) Nhìn chung mặt hàng cà phê thế giới thường biến động, đặc biệt là sản lượng và

giá cả tăng giảm khó lường, kéo theo sự thay đổi về diện tích Tuy nhiên diện tích biến

động ít hơn nhiều và có xu hướng tăng lên đặc biệt là ở khu vực các nước đang phát

triển ở Châu Á và Phi châu

Về sản lượng: Do tập trung chủ yếu ở một số nước như Brazil (chiếm khoảng

Trang 18

Về công tác giống: Các nghiên cứu về giống đã được tiến hành từ rất sớm (vì đây là một yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng, và khả năng phát triển của ngành cà phê, các yếu tố thích nghi, khả năng kháng sâu bệnh nhất là bệnh rỉ sắt), và

đã mang lại nhiều kết quả, nhất là các nước có truyền thống sản xuất cà phê như Brazil, Colombia, Mexico

- Tại Colombia, vào cuối những năm 70, nước này đã đưa giống Caturra vào

sản xuất và đưa sản lượng cà phê của nước này từ 8 triệu bao hàng năm lên 11 triệu

bao Năm 1982 Colombia bắt đầu đưa giống “Colombia”(Coffea arbica var colombia) Giống này do trung tâm nghiên cứu cà phê quốc gia đưa vào sản xuất và có

khả năng chống bệnh rỉ sắt Hiện nay ước đoán giống Colombia chiếm 40% diện tích

cả nước Họ đã dùng giống Catimor lai hóa trở lại với giống caturra do đó sản phẩm

có hương vị của Arabica nhiều hơn

- Tại Brazil, hai giống cà phê Arabica được trồng chủ yếu là Mundo Novo và Catuai Địa bàn của mỗi giống tùy thuộc từng địa phương lựa chọn Catuai chiếm 60%, và Mundo Novo 35%, còn lại 3,5% là các giống khác Giống Robusta ở đây là chủng conillon, trồng khoảng 700 triệu cây

- Tại Mexico, tổng diện tích cà phê khoảng 761165 ha trong đó cà phê Arabica

chiếm 97% Các giống Typica, Mundo Novo và Caturra được đưa vào Mexico từ những năm 50, giống Garnica xếp thứ tư là giống lai có khả năng thích ứng rộng và

cho năng suất cao, là kết quả của viện nghiên cứu di truyền học của các nhà khoa học tiến hành ở Viện Nghiên cứu cà phê Mexico (INMECAFE)

Hiện nay tuy máy hái cà phê đã được chế tạo và sử dụng (đây là nhu cầu của các nước do sự thiếu hụt công nhân thu hái và do giá nhân công lên quá cao), nhưng vẫn rất hạn chế Đây là do đặc thù của nghề trồng cà phê, vì cây cà phê ra hoa làm nhiều đợt nên không thể chín đồng loạt, lại khó đảm bảo được sự đồng đều cao (sự phụ thuộc cao vào điều kiện môi trường nhất là thời tiết khí hậu)

Ngày nay, các nhà nông nghiệp và môi trường khuyến cáo nên đa dạng trong các đồn điền cà phê Nên áp dụng các phương thức nông lâm kết hợp, đa canh hay xen canh các lại cây lâm nghiệp với cây ăn quả có giá trị Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, phân hóa học trong hệ thống Hướng tới sản xuất sản phẩm sạch, hữu cơ an toàn, chất lượng cao, đảm bảo sản xuất bền vững Tránh sự vắt kiệt làm

Trang 19

thoái hóa đất và hạn chế những rủi ro do sự biến động thất thường của giá cà phê thế giới

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây cà phê trong nước

Cây cà phê được đưa vào Việt nam vào cuối thế kỷ thứ 19, được trồng rộng rãi trong các đồn điền vào đầu thế kỷ thứ 20 Lúc đó người ta trồng cả 3 loại cà phê, cà phê Arabica với chủng chủ yếu là Typica, cà phê Canephora với chủng Robusta và cà phê liberica cùng với dewevrei chủng Excelsa Năm 1930 diện tích cà phê ở Việt nam

có 5900 ha, trong đó có 4700 ha cà phê Arabica, 900 ha cà phê Excelsa và 300 ha cà phê Robusta

Qua nhiều năm trồng cà phê, kết quả cho thấy cà phê Arabica (cà phê chè)

không cho kết quả mong muốn vì cà phê bị sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và nấm gỉ sắt (Hemileia vastatrix) phá hoại Cà phê Robusta (cà phê vối) thì không phát

triển tốt ở miền Bắc do có mùa đông nhiệt độ quá thấp so với yêu cầu sinh thái của cây này Chỉ có cà phê Excelsa (cà phê mít) sinh trưởng khỏe, cho năng suất khá, song giá trị thương phẩm lại thấp Và lúc đó có chuyên gia nước ngoài đã khuyến cáo không nên trồng cà phê chè ở Việt nam và chỉ trồng cà phê vối ở phía nam và cà phê mít ở phía bắc

Vào những năm 1960 - 1970 ở miền Bắc Việt Nam, hàng loạt nông trường quốc doanh được thành lập, trong đó có hàng chục nông trường trồng cà phê, và trồng cả 3 loại chè, vối, mít Tình hình phát triển của cà phê những năm này cũng không mấy khả quan và đến đầu thập niên 70 người ta đã kết luận không trồng được cà phê ở phía bắc

Cho đến năm 1975 cả nước trên hai miền nam bắc mới chỉ có khoảng 13000 hécta với sản lượng khoảng 6000 tấn Và cũng từ sau 1975 ngành cà phê Việt nam mới

đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ Với diện tích khoảng 500.000 ha (trong đó khoảng 475.000 ha cà phê vối và khoảng 25.000 ha cà phê chè), sản lượng 836.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD Hiện Việt Nam đứng thứ 3 về diện tích, năng suất trung bình cao nhất thế giới (1,7 tấn/ha), cạnh tranh vị trí dẫn đầu về sản lượng với Brazil, đang giữ vị trí tuyệt đối về sản xuất cà phê Robusta (với sản lượng hằng năm trên 52 triệu bao cà phê nhân (loại 60 kg)) và dự đoán sẽ không ngừng tăng lên cả về năng suất lẫn sản lượng trong những năm tới Hiện cà phê Việt Nam đã xuất sang hơn

Trang 20

70 nước và vùng lãnh thổ Tuy sản lượng xuất khẩu đứng thứ 2, nhưng kim ngạch chỉ đứng thứ 5 thế giới

Hiện nay ngày càng có nhiều nghiên cứu về cây cà phê được thực hiện nhằm đem lại những thuận lợi cho ngành cà phê trong nước phát triển

- Đối với cà phê vối, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, đã chọn lọc nhiều dòng vô tính, đã được nhà nước công nhận, trong đó có một số dòng ưu

tú đáng chú ý như:

+ Dòng TR4: Cây sinh trưởng khỏe, kháng gỉ sắt, phân nhiều cành, cành ngang hơi

rũ, năng suất đạt 7,3 tấn/ha Khối lượng 100 nhân đạt 17,1 gram

+ Dòng TR5: cây sinh trưởng khỏe, năng suất đạt 6,3 tấn/ha Trọng lượng 100 nhân đạt 17,3 gram (giống cũ chỉ đạt 13 - 14 gram/100 nhân)

+ Dòng TR6: cây sinh trưởng khỏe, kháng gỉ sắt rất cao, năng suất đạt 5,6 tấn/ha Trọng lượng 100 nhân đạt 17,5 gram

+ Dòng TR7: Cây sinh trưởng khỏe, cao trung bình, kháng gỉ sắt cao năng suất 4,5 tấn/ha Trọng lượng 100 hạt đạt 17,5 gram, hàm lượng cafein 1,85 g/100g chất khô + Dòng TR8: cây sinh trưởng khỏe, kháng gỉ sắt, phân cành trung bình, năng suất đạt 4,2 tấn/ha Trọng lượng 100 nhân đạt 17,6 gram

Về kỹ thuật canh tác:

- Trên đất đỏ bazan vùng Tây Nguyên, cây cà phê kinh doanh phản ứng kém với việc bón lân, và cũng ít khi xuất hiện triệu chứng thiếu lân Kết quả các thí nghiệm tổ hợp NPK của Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1993) cho thấy phân lân có tác dụng không rõ đến sinh trưởng và năng suất cà phê vối khi hàm lượng lân dễ tiêu đạt 6

Trang 21

mg/100g đất Bón phân lân đơn độc ít khi mang lại kết quả tốt nhưng luôn có mối tương tác thuận rất rõ giữa NP và NPK lên năng suất cà phê trong nhiều thí nghiệm được thực hiện tại Tây Nguyên

- Ở Việt Nam, trên các vườn cà phê trồng trên đất đỏ bazan vùng Tây Nguyên hiện tượng thiếu kẽm khá phổ biến, do đó việc bổ sung Zn ở đây là cần thiết (bằng việc tăng cường bón phân hữu cơ, hoặc cung cấp qua dạng phân bón lá, hay các dạng phân khoáng khác)

- Một số ứng dụng Gibberellin kết hợp Ethrel làm tăng năng suất và quả chín tập trung của cà phê Robusta

- Các vườn cà phê vối thâm canh năng suất cao từ 4 - 5 tấn/ha luôn có sự bổ sung phân chuồng từ 20 - 30 khối/ha, 2 - 3 năm một lần

- Theo Nguyễn Văn Tường và cộng tác viên (2001), việc đa dạng hóa cây trồng trên một đơn vị diện tích theo phương thức nông lâm kết hợp cho thấy có những ưu điểm hơn cà phê trồng thuần Hầu hết các hệ nông lâm kết hợp trên vườn cà phê cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với cà phê thuần

- Nhiều kết quả thí nghiệm trồng xen cây che phủ đất, cây che bóng, đai chắn gió (các loại muồng, cây ăn quả, đậu săn, cốt khí, các loại đậu, và cỏ thân bò) trong vườn kiến thiết và ngay cả vườn kinh doanh đã cải thiện được lý hóa tính của đất, ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng và năng suất cà phê, cân bằng được lượng mùn và hệ vi sinh vật đất, cải thiện môi trường vườn cây, giảm nhu cầu nước tưới và phân bón hóa học, nâng cao tính bền vững của vườn sản xuất

- Các khuyến cáo nông dân cho rằng nên trả lại lượng vỏ cà phê đã thu hoạch cho vườn cây hoặc được chế biến thông qua kỹ thuật ủ có bổ sung vi sinh vật và các thành phần đa lượng, hay ít ra là trực tiếp từ lượng vỏ đã xát

- Ngày nay nhu cầu cà phê chất lượng cao, cà phê sạch, cà phê hữu cơ, cũng như vấn đề hạn chế rủi ro về giá cả, vấn đề bảo vệ môi trường, và phát huy thương hiệu đang trở nên một xu hướng của ngành cà phê thế giới nói chung và ngành cà phê Việt Nam nói riêng

Trang 22

2.4 Yêu cầu sinh thái của cà phê

Các điều kiện sinh thái ảnh hưởng sâu sắc đến sinh trưởng và năng suất, chất lượng sản phẩm hạt cà phê Cây cà phê là cây lâu năm thời gian sinh trưởng khoảng 20 – 30 năm, do đó sự mất cân bằng về sinh trưởng và phát triển ít biểu hiện ở những năm đầu, mà nó biểu hiện ở các năm thứ 3,4 trở đi Trong các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến cây cà phê quan trọng nhất là khí hậu và đất đai

+ Lượng mưa:

Cây cà phê cần lượng mưa tối thiểu là 1.250 mm, sinh trưởng phát triển tốt ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1.550 - 2.000 mm, có một mùa khô ngắn vào cuối và sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa

+ Gió:

Gió nóng, lạnh hay gió mạnh đều gây ảnh hưởng cho sinh trưởng phát triển cây

cà phê Do vậy khi lập vườn cần trồng cây chắn gió phù hợp cho vườn cà phê

+ Đất đai:

Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám Trong đó, đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất Yêu cầu cơ bản là

có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (đất thịt nhẹ - sét)

Trang 23

2.5 Kỹ thuật canh tác

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê trong đề tài theo quy trình trồng, chăm sóc

và thu hoạch cà phê vối của Viện Khoa học Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên, được Bộ Nông nghiệp ban hành ở quyết định số 06/2002/QĐ - BNN Quy trình này áp dụng cho

tất cả các vùng trồng cà phê vối từ đèo Hải Vân trở vào phía Nam có độ cao thấp hơn

800 m so với mặt nước biển, có thời gian khô hạn trong năm ít nhất là 2 tháng và trong giai đoạn cây ra hoa không có mưa hay sương mù

2.5.1 Trồng mới

+ Thời vụ trồng: Bắt đầu từ đầu mùa mưa và kết thúc trước mùa khô 2 - 3

tháng Thời vụ trồng ở khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ từ 15 tháng 5 đến

15 tháng 8, khu vực Duyên Hải Miền Trung và phía Nam từ 15 tháng 7 đến 30 tháng

9

+ Đất trồng cà phê: Đất có độ dốc từ 0 - 150, thích hợp nhất là dưới 80, đất phải

dễ thoát nước, tầng đất dày trên 70 cm, mực nước ngầm sâu hơn 100 cm, hàm lượng mùn của lớp đất mặt (0 - 20 cm) trên 2,5% Các loại đất phong hóa từ Poocphia, đá vôi, sa phiến thạch, granit Nếu có đủ điều kiện nêu trên đều có thể trồng được cà phê, song đất bazan là loại đất thích hợp nhất Đất từ các vườn cà phê già cỗi hay phải huỷ

vì bị sâu, bệnh hại rễ không được trồng lại cà phê ít nhất là 3 năm Trong thời gian này cần phải áp dụng các biện pháp cải tạo và xử lý đất để diệt trừ mầm bệnh Trước khi trồng lại cần kiểm tra đất, nếu hết mầm bệnh thì mới tiến hành trồng mới

Khoảng cách trồng: trên đất tốt, bằng phẳng cây cà phê được trồng theo khoảng cách 3 x 3 m Đối với đất xấu hay có độ dốc cao trên 80 các hàng cà phê được bố trí theo đường đồng mức với khoảng cách 3 m, cây cách cây trên hàng là 2,5 m

Tiêu chuẩn cây giống:

- Cây thực sinh: cây con được ươm từ hạt trước khi trồng phải đạt các tiêu chuẩn sau:

+ Tuổi cây: 6 - 8 tháng

+ Chiều cao thân kể từ mặt bầu: 25 - 35 cm, thân mọc thẳng

+ Số cặp lá thật: 5 - 7

+ Đường kính gốc: 3 - 4 mm

Trang 24

+ Cây không bị sâu bệnh và được huấn luyện ngoài ánh sáng hoàn toàn từ 10 -

15 ngày trước khi trồng

+ Kích thước bầu đất: 14 - 15 x 24 - 25 cm

- Cây ghép: ngoài các tiêu chuẩn của cây thực sinh, cây ghép cần phải đạt: + Chồi ghép có chiều cao trên 10 cm và có ít nhất một cặp lá phát triển hoàn chỉnh

+ Chồi được ghép tối thiểu 01 tháng trước khi trồng

+ Trồng mới: Đào hố trồng cà phê phải được hoàn thành trước khi trồng ít nhất

hai tháng

- Hố được đào với kích thước 50 - 60 x 50 x 50 cm Trộn đều lớp đất mặt với 5

- 10 kg phân chuồng cùng với 0,5 kg phân lân và lấp xuống hố, công việc trộn phân lấp hố phải được thực hiện trước khi trồng ít nhất 1 tháng

- Ngay trước khi trồng tiến hành đào một hố nhỏ ở giữa, hố đã được lấp trước

đó với kích thước: sâu 30 - 35 cm và rộng hơn bầu đất để có thể điều chỉnh cho các cây trồng được thẳng hàng Nếu trồng 2 cây/hố thì hố phải được đào đủ rộng để có thể đặt 2 bầu cà phê cách nhau 20 - 30 cm Túi bầu được xé cẩn thận tránh làm vỡ bầu đất

và cắt rễ cọc bị cong ở đáy bầu, mặt bầu được đặt thấp hơn mặt đất 10 - 15 cm (trồng âm) Dùng đất lấp dần và nén chặt chung quanh bầu đất, chú ý tránh làm vỡ bầu đất Đối với vùng đất dốc (>30), sau khi trồng cần tiến hành tạo ổ gà để tránh đất lấp cây ổ

gà có đường kính 50 - 60 cm

+ Trồng dặm:

Đối với cà phê trồng mới, sau khi trồng 15 – 20 ngày phải kiểm tra trồng dặm kịp thời những cây chết và còi cọc, chấm dứt trồng dặm trước lúc mùa mưa 1,5 đến 2 tháng Khi trồng dặm chỉ cần móc hố và trồng lại trên các hố có cây chết, các thao tác khác như trông mới

Đối với cây cà phê KTCB và vườn cà phê sau cưa đốn phục hồi, tiến hành trồng dặm những cây chết, sinh trưởng kém Đào hố trộn phân và thực hiện các thao tác như trồng mới (xử lý hố trồng nếu cây bị bệnh) Tiến hành trồng dặm sớm vào đầu mùa mưa, chọn cây cơ bản khoẻ mạnh, đủ tiêu chuẩn đầu tư thâm canh cao để cây trồng dặm sinh trưởng kịp, tạo độ đồng đều cho vườn cây

Trang 25

Tạo bồn: Tiến hành đào bồn chung quanh gốc cây cà phê để hạn chế xói mòn rửa trôi trong mùa mưa và chứa nước tưới trong mùa khô Công việc đào bồn phải được tiến hành trước mùa khô từ 1 - 2 tháng Trong năm đầu bồn được đào theo hình vuông với kích thước rộng 1m, sâu từ 0,15 - 0,20 m, các năm sau bồn được mở rộng theo tán cây cho đến khi bồn đạt được kích thước ổn định: rộng 2,0 - 2,5 m và sâu từ 0,15 - 0,20 m Khi vét đất tạo bồn cần hạn chế tối đa gây thương tổn cho rễ cà phê

2.5.2 Trồng cây đai rừng, cây che bóng, cây trồng xen

Tất cả các vườn cà phê ở thời kỳ KTCB và những năm đầu sản xuất kinh doanh, cây chưa giao tán, đều phải trồng xen cây phân xanh hoặc đậu đỏ để cải tạo, che phủ đất

Các cây đai rừng, cây che bóng được trồng đồng thời hoặc trước khi trồng cà phê

Các loại cây trồng xen:

+ Thân đứng: Muồng hoa vàng, điền thanh

+ Thân bò: Đậu hồng đào, đậu lông, chàm bò

+ Các loại đậu đỗ, lạc, đậu đen, đậu xanh, đậu tương

Các loại cây trồng xen phải gieo cách gốc cà phê từ 50 – 70 cm (hai năm đầu),

80 – 100 cm (năm thứ 3 trở đi) để không ảnh hưởng xấu đến cà phê Thời vụ gieo trồng từ đầu mùa mưa trở đi, tránh gieo vào thờ kỳ mưa to Phải làm cỏ cho cây trồng xen 2 – 3 lần, tiến hành làm cỏ sớm khi cây trồng xen mọc cao từ 7 – 10 cm, không cho cỏ lấn át cây trồng xen Phải thường xuyên phát ngọn cây trồng xen thân bò và tỉa cây phân xanh thân đứng để không che phủ lấn át cây cà phê Khi cây phân xanh bắt đầu ra hoa, quả non thì phải phát dọn lấy nguyên liệu ép xanh Trong mùa khô, nên để

1 hàng cây phân xanh thân đứng để chắn gió đông bắc

2.5.3 Chăm sóc

2.5.3.1 Làm cỏ

- Đối với cà phê kiến KTCB phải làm sạch cỏ thành băng dọc theo hàng với chiều rộng lớn hơn tán cây cà phê mỗi bên 0,5 m Mỗi năm làm cỏ 5 - 6 lần

- Đối với cà phê KD cần làm sạch cỏ 3 - 4 lần trong năm trên toàn bộ diện tích

- Để diệt trừ các loại cỏ lâu năm, có khả năng sinh sản vô tính như cỏ tranh, cỏ

Trang 26

Nufarm, theo định lượng 4 - 5 lít/400 - 500 lít nước/ha Phun vào lúc cỏ sinh trưởng mạnh (cỏ tranh cao 30 - 40 cm, cỏ gấu cao 10 - 15 cm) Hàng năm vào đầu mùa khô phải tiến hành diệt cỏ dại chung quanh vườn cà phê để chống cháy

2.5.3.2 Bón phân

+ Phân hữu cơ:

Trên đất bazan: Trong những năm đầu KTCB dùng nguyên liệu thân cây xanh

để ép xanh, mỗi hố ít nhất 15 kg chất xanh trộn với phân NPK

+ Quy cách hố ép xanh: Đào sâu 20 – 30 cm rộng 30 cm, dài 80 – 100 cm Năm thứ nhất đào cách gốc cà phê 60 – 70 cm, các năm sau đào hố giáp phía ngoài tán cà phê Sau khi bỏ chất xanh vào hố và rãi đều phân hoá học, lấp đất dậm chặt Trong thời kỳ kinh doanh, chủ yếu bón phân hoá học

Trên đất khác: Trong thời kỳ KTCB chủ yếu ép xanh và mỗi hố bón thêm ít nhất 3 kg phân hữu cơ hoai Trong thời kỳ kinh doanh cứ hai năm bón một lần phân hữu cơ, với lượng từ 10 – 12 tấn/ha Đào hố vành khăn theo ngoài mép tán, chiều rộng

30 – 40 cm, sâu 30 – 40 cm bỏ phân xuống lấp đất, dậm chặt

2.5.3.3 Thời vụ bón phân

+ Phân hữu cơ:

Thường bón vào tháng 5, tháng 6 hoặc tháng 10, tháng 11 khi đất đủ ẩm không bón vào tháng mưa lớn Phân hữu cơ được bón theo rãnh (rãnh được đào dọc theo một bên thành bồn rộng 20 cm, sâu 25 - 30 cm), sau khi bón phân cần lấp đất lại Các năm sau rãnh được đào theo hướng khác

+ Phân hoá học:

Để xác định chế độ bón phân cân đối và hợp lý cho từng vùng cần căn cứ vào

độ phì của đất và khả năng cho năng suất của vườn cây Những vùng chưa có điều kiện phân tích đất, lá có thể áp dụng định lượng phân bón sau:

Trang 27

Bảng 2.2: Định lượng phân hoá học bón cho 1 ha tính theo nguyên chất (kg/ha)

Định lượng phân bón trên được bón làm 4 lần trong năm: Phân lân bón một lần

cùng với ép xanh hoặc bón phân hữu cơ Phân N và K phải bón làm 3 đợt với tỷ lệ sau

Bảng 2.3: Tỷ lệ phân bón giữa các lần bón

Loại phân

Tỷ lệ phân bón giữa các lần

Ghi chú Lần 1

Tháng 2 – 3

Lần 2 Tháng 5 – 7

Lần 3 Tháng 10 – 11

lượng phân bón

cả năm

+ Cách bón: phân lân rải đều trên mặt cách gốc 30 - 40 cm, không được trộn

phân lân nung chảy với phân đạm Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay Đào

rãnh chung quanh tán cây cà phê, rộng 10 - 15 cm, sâu 5 cm rải phân đều và lấp đất

Bón cho cà phê KTCB và kinh doanh, rãi đều theo hình vành khăn rộng từ 25 – 30 cm

theo mép tán lá

2.5.3.4 Tưới nước

Tưới nước phải kết hợp chặt chẽ với các biện pháp giữ ẩm tổng hợp như xới,

xáo tủ gốc, trồng cây phủ đất Tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết của từng vùng

có thể áp dụng kỹ thuật tưới trực tiếp vào gốc nơi có tạo bồn chứa nước tưới cho cà

phê hay tưới phun mưa với các chế độ tưới khác nhau

+ Chế độ tưới nước cho cà phê KTCB:

Trang 28

Dùng vòi tưới nước trực tiếp vào gốc cà phê, mức nước mỗi lần cho mỗi gốc 60 lít/gốc (năm đầu), 90 lít/gốc (năm thứ 2 thứ 3) Chu kỳ tưới 15 – 20 ngày/lần, tưới 4 –

6 lần/năm, lượng nước khoảng 400 – 500 m3/lần

+ Chế độ tưới cho cà phê kinh doanh:

Bắt đầu tưới khi những lứa hoa đã tập trung đã hình thành mỏ sẻ từ 15 – 20 ngày tưới một lần cho đến đầu mùa mưa Mỗi lần tưới 400 – 600 m3/ha Riêng lần đầu phải tưới đẫm 700 – 800 m3/ha trong vụ tưới phải theo dõi quan trắc lượng mưa để lợi dụng hợp lý, nếu lượng mưa đạt trên 30 mm có thể thay cho một lần tưới

2.5.3.5 Tạo hình sửa tán

+ Chiều cao hãm ngọn:

Cà phê chè giống thấp cây hãm ngọn ở độ cao 1,6 m, các giống khác hãm ngọn

ở độ cao 1,4 – 1,6 m Đối với các giống cà phê chè và cà phê vối thông thường cuối năm chăm sóc thứ 2 (3 tuổi) phải tiến hành hãm ngọn

+ Nuôi thêm thân:

Cà phê chè mỗi gốc có thể nuôi thêm một thân, cà phê vối có thể nuôi thêm 1 –

2 thân tạo thành 3 thân/hố Chọn các chồi khỏe mạnh, không sâu bệnh, mọc ở vị trí gần sát mặt đất, mọc đối xứng ở phía ngoài cây Thông thường nuôi chồi vào cuối năm trồng mới, trong năm chăm sóc thứ nhất

+ Sửa cành:

Từ năm thứ 4 thứ 5 trở đi hàng năm sau mỗi vụ thu hoạch phải tiến hành sửa cành tạo hình Loại bỏ những cành già cỗi sau khi đã cho quả nhiều vụ, ngoài ra cần cắt tỉa các cành khô, cành nhớt, cành tăm, cành sâu bệnh để tạo bộ tán thông thoáng

Trang 29

(Supracide), Pyrinex nồng độ 0,2% để phun trừ rệp Đối với cây bị rệp nhiều nên phun

2 lần cách nhau 7 - 10 ngày Chú ý chỉ phun thuốc trên những cây bị rệp, không phun thuốc định kỳ không phun toàn bộ diện tích

+ Rệp sáp hại rễ (Pseuducoccus citri): rệp thường tập trung ở phần cổ rễ nhưng

khi mật độ lên cao rệp lan dần xuống rễ ngang, rễ tơ và kết hợp với nấm hình thành các măng-xông bao quanh các rễ ngăn cản thuốc trừ sâu tiếp xúc với rệp Các vết thương hình thành do rệp chích hút tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập gây nên bệnh thối rễ Kiến và nước chảy tràn là hai tác nhân chính trong việc lây lan của rệp Biện pháp phòng trừ thường xuyên kiểm tra tại gốc cà phê, nếu thấy mật độ rệp lên cao (30 - 50 con/gốc ở vùng quanh cổ rễ sâu 10 cm) thì tiến hành xử lý thuốc như sau Bới đất chung quanh vùng cổ rễ theo dạng hình phễu cách gốc 10 cm, sâu 10 cm, sau

đó dùng một trong các loại thuốc dạng nước như Bi 58, Basudin, Subatox với nồng độ 0,2% cộng thêm 1% dầu hỏa tưới cho mỗi gốc 0,5 - 1 lít dung dịch và lấp đất lại Có thể thay thế các loại thuốc nước bằng cách dùng một trong các loại thuốc dạng bột hay hạt như Bam, Sumithion, Basudin, Furadan với lượng 20 g/gốc với cách xử lý như trên Chú ý là khi bới đất xung quanh gốc cần xử lý thuốc ngay, tránh để lâu kiến sẽ mang rệp phát tán đi nơi khác và chỉ xử lý các cây có rệp

- Bệnh:

+ Bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix): Đây là loại bệnh gây hại phổ biến trên các

vườn cà phê Mức độ bệnh tùy thuộc vào khả năng kháng bệnh của từng cây nhưng một khi cây đã nhiễm bệnh thì cả chu kỳ còn lại của cây sẽ bị bệnh Nấm ký sinh vào mặt dưới của lá, ban đầu là những vết màu vàng nhạt sau đó xuất hiện lớp phấn màu

da cam, các vết bệnh lớn dần và gây rụng lá một phần hay toàn bộ khiến cây bị kiệt sức Bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và phát triển mạnh nhất vào cuối mùa mưa Biện pháp phòng trừ: Sử dụng giống kháng bệnh, loại bỏ các cây con bị bệnh ngay từ vườn ươm, ghép chồi để thay thế các cây bị bệnh nặng Phun một trong các loại thuốc Tilt, Bumper, Sumi - eight, Bayleton nồng độ 0,1% hay Anvil nồng độ 0,2%

để phòng trừ bệnh Khi phun thuốc phải bảo đảm các yêu cầu sau: Phun 0,5 - 1 lít dung dịch/cây vào mặt dưới của lá Thời điểm phun lần đầu khi cây có 10% lá bị bệnh (thường xảy ra sau khi bắt đầu mùa mưa 2 - 3 tháng), phun 2 - 3 lần cách nhau 1 tháng

Trang 30

Hàng năm phải tiến hành phun thuốc vì thuốc chỉ có tác dụng phòng trừ bệnh trong năm và chỉ phun cho những cây cây bị bệnh

+ Bệnh thối rễ: Bệnh thối rễ là loại bệnh nguy hiểm vì nó có thể gây chết hàng loạt và hiện nay chưa có loại thuốc hóa học nào có tác dụng phòng trị hữu hiệu đối với loại bệnh này Bệnh do sự phối hợp tấn công của tuyến trùng Pratylenchus coffeae và các nấm Fusarium oxysporum, Fusarium solani, Rhizoctonia bataticola Các cây bị bệnh thối rễ thường có các triệu chứng sau: cây sinh trưởng chậm, có ít cành thứ cấp

và chồi vượt, lá chuyển sang màu vàng, rễ tơ và cổ rễ bị thối, trên cà phê KTCB cây thường bị nghiêng trong mùa mưa và rẽ cọc bị thối Để phòng bệnh, phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thường xuyên kiểm tra vườn cây để phát hiện kịp thời và đào, đốt các cây bị bệnh Các cây chung quanh vùng bệnh có thể tưới thuốc Benlate C hay Bendazol nồng độ 0,4 - 0,5%, 5 lít dung dịch/hố, tưới 2 lần cách nhau 15 ngày Bón phân đầy đủ, cân đối đồng thời tăng cường bón phân hữu cơ nhất là đối các vườn liên tục cho năng suất cao Hạn chế xới xáo trong vườn cây đã bị bệnh để tránh làm tổn thương bộ rễ

+ Bệnh khô cành, khô quả: Bệnh có nguyên nhân do mất cân đối dinh dưỡng

hay bị nấm Colletotrichum coffeanum gây nên Bệnh gây hại chủ yếu trên cành, quả

làm khô cành và rụng quả Các vết bệnh do nấm gây ra ban đầu có màu nâu vàng sau

đó lan rộng và chuyển sang màu nâu sẫm, các vết bệnh thường lõm sâu xuống so với các phần không bị bệnh Biện pháp phòng trừ: Trồng cây che bóng hợp lý và bón phân cân đối để hạn chế tình trạng cây bị kiệt sức do ra quả quá nhiều Cắt bỏ các cành bệnh Dùng một trong các loại thuốc sau đây để phòng trừ nấm gây bệnh khô cành, khô quả: Derosal 0,2%, Carbenzim 0,2%, Tilt 0,1%, Bumper 0,1% Phun vào đầu mùa (sau khi có mưa 1 - 2 tháng), phun 2 - 3 lần cách nhau 15 ngày

+ Bệnh nấm hồng: Bệnh do nấm Corticium salmonicolor gây nên Vị trí tác hại

chủ yếu ở trên cành phần trên của tán, gần nơi phân cành và phần ngọn của cây Bệnh thường phát sinh trong các tháng cuối mùa mưa Vết bệnh ban đầu là những chấm trắng nằm ở mặt dưới của cành về sau chuyển sang màu hồng và khi vết bệnh lan rộng khắp chu vi của cành có thể gây chết cành Biện pháp phòng trừ chủ yếu là phát hiện kịp thời để cắt bỏ các cành bệnh, nếu bệnh xuất hiện phổ biến có thể dùng thuốc Validacin nồng độ 2% hay Anvil 0,2%, phun 2 - 3 lần cách nhau 15 ngày

Trang 31

2.5.7 Thu hoạch

- Quả cà phê được thu hoạch bằng tay và được thực hiện làm nhiều đợt trong một vụ để thu hái kịp thời những quả chín trên cây Không thu hái quả xanh non, không được tuốt cả cành, không làm gẫy cành Phải ngừng thu hái trước và sau khi nở hoa 3 ngày

Yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm thu hoạch:

+ Quả đúng độ chín, tỷ lệ quả xanh, khô dưới 3% (đầu vụ và giữa vụ), cho phép 15% vào thời kỳ tận thu

+ Cà phê hái không được để lẫn đất cát và các tạp chất khác, thu hoạch nhanh gọn, quả chín tới đâu phải thu hoạch tới đó không làm gãy cành, rụng lá

+ Khi cây nở hoa phải ngưng hái 3 ngày kể từ khi hoa phun tràng đến khai hoa Bảo quản nguyên liệu:

+ Sản phẩm thu ngày nào phải đem về xưởng chế biến kịp thời, trường hợp không vận chuyển về xưởng kịp hoặc không chế biến kịp thời thì để dồn đóng không cao quá 40 cm

+ Xe vận chuyển cà phê phải sạch sẽ không dính đất cát và các hóa chất

Trang 32

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành

xã, 01 thị trấn với 172 thôn, làng, tổ dân phố, trong đó có 86 làng người dân tộc thiểu

số Dân số trung bình của huyện là 88.988 người với mật độ dân số trung bình khoảng 52,48 người/km2 trong đó dân tộc thiểu số chiếm gần 48 % (theo niên giám thống kê huyện Chưprông năm 2008) Lao động trực tiếp làm nông nghiệp chiếm gần 80 % dân

số toàn huyện Địa hình huyện trải rộng, có những xã cách trung tâm huyện tới 80 km Lượng mưa phân bố trong năm không đều, thường tập trung chủ yếu vào các tháng giữa mùa mưa và rất ít vào các tháng mùa khô

3.2 Đối tượng, nội dung và phạm vi đề tài

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là điều tra quy trình kỹ thuật canh tác cây cà phê của các hộ và một số doanh nghiệp (nếu có) trồng cà phê ở huyện Chưprông

3.2.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, và tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương (thu thập tài liệu, số liệu, báo cáo)

Điều tra về giống và nguồn giống cà phê đang được canh tác tại địa phương Điều tra về kỹ thuật canh tác và các mô hình canh tác cà phê tại địa phương Thu thập ý kiến và nguyện vọng của nông dân, doanh nghiệp, cán bộ kỹ thuật, chính quyền và các đoàn thể địa phương về các vấn đề liên quan

Trang 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu và tiến độ thực hiện đề tài

3.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát

Cách tiến hành điều tra được thực hiện bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp, kết hợp khảo sát thực tế với thu thập các tài liệu, tư liệu, số liệu từ các cơ quan ban ngành chức năng tại địa phương Qua đó tiến hành phân tích tổng hợp đánh giá một cách khoa học về quy trình canh tác cà phê tại địa phương Từ kết quả đó đưa

ra một số nhận định sơ bộ về tình hình sản xuất, canh tác cà phê tại địa phương

Việc điều tra, phỏng vấn và khảo sát được thông qua các phiếu điều tra soạn sẵn

Tại mỗi địa điểm điều tra tiến hành quan sát, ghi chép và chụp hình

3.3.2 Cơ sở chọn hộ điều tra khảo sát thu thập số liệu

Hộ được chọn điều tra là những hộ trồng cà phê điển hình, có quy trình canh tác đại diện cho toàn huyện Kết hợp về các cơ sở về: giống (Robusta, Arabica, Exselsa), phương pháp tưới nước (tưới rãnh, tưới bồn, tưới phun mưa), hình thức canh tác (độc canh, xen canh), trình độ canh tác (thâm canh, quảng canh), loại đất

Mỗi tiêu chí dự kiến điều tra ít nhất 30 phiếu

Tổng số phiếu điều tra là 90 phiếu

3.3.3 Tiến độ thực hiện đề tài

Nội dung các bước tiến hành như sau:

Thu thập các tài liệu, tư liệu, số liệu ở các cơ quan ban ngành chức năng có thẩm quyền và liên quan ở địa phương

Sơ bộ phân tích tổng hợp dữ liệu có được, qua đó dự thảo phiếu mẫu và số phiếu điều tra

Tiến hành đi điều tra thực tế, phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp, thu thập

số liệu, ý kiến của nông dân và cán bộ, nội dung bao gồm:

- Điều tra về giống

- Điều tra về phân bón, phương pháp sử dụng phân bón

- Điều tra về kỹ thuật canh tác cà phê hiện áp dụng, những kinh nghiệm và việc

áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới

- Điều tra về mô hình xen canh vườn cà phê

Trang 34

- Điều tra về năng suất và các cách bảo quản sau thu hoạch

3.4 Phần mềm sử dụng

Các số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, SPSS 16.0 for Windows Báo cáo được soạn thảo trên phần mềm Microsoft Word 2003

Trang 35

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu

4.1.1 Vị trí địa lý

Hình 4.1 Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai

(Nguồn: http://tapchibcvt.gov.vn/Uploaded/admin/ban%20do%20Gialai.jpg) Huyện Chưprông

Trang 36

Huyện Chưprông nằm phía tây nam của tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku 38

km, phía đông giáp huyện Chư Sê, phía tây giáp nước Cam Pu Chia, phía nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Bắc giáp huyện Đức Cơ Địa hình chủ yếu là dạng đất đồi, thung lũng lòng chảo xen kẽ nhau, thỉnh thoảng có những núi đá Địa hình không bằng phẳng

là do bị chia cắt bởi các khe rạch và các

dòng suối nhỏ

4.1.2 Đặc điểm về đất đai

Theo thống kê của phòng địa chính

và phòng thống kê năm 2008 thì huyện

Chưprông có khoảng 1.694,16 km2, chia

làm 3 loại đất chính Đất đỏ Bazan chiếm

62,32 %, đất xám chiếm 29,27 % và đất cát

trắng chiếm 8,5 % Tổng diện tích tự nhiên

của huyện là 169416.28 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 4.969,28 ha, đất lâm xuất nông nghiệp 101.254,34 ha, đất chuyên dùng 5.005,01 ha, đất chưa sử dụng 12.751,49 ha Đất đỏ bazan chiếm phần lớn nên rất thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, điều

4.1.3 Đặc điểm về khí hậu

Khí hậu của huyện Chưprông mang nét điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và không có mùa lạnh Một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ khoảng tháng 5 đến tháng 11 dương lịch, mùa khô từ tháng tháng 12 đến đầu tháng 4 dương lịch năm sau Lượng mưa phân bố không đồng đều, thường tập trung chủ yếu vào các tháng giữa mùa mưa và rất ít vào các tháng mùa khô

Hàng năm huyện Chưprông chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch và gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết huyện Chưprông rất thuận lợi cho việc phát triển các giống cây trồng ngắn ngày, dài ngày có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như điều, cà phê, cao su

29%

60%

3% 8%

Đất nông nghiệp Đất Lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất chưa sử dụng

Hình 4.2 Cơ cấu đất đai huyện Chưprông

Trang 37

Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu thời tiết huyện Chưprông năm 2009

Tháng

Nhiệt độ không khí (0C) Độ ẩm

không khí (%)

Tổng số lượng mưa (mm)

Số ngày mưa (ngày)

Tổng số giờ nắng (giờ)

(Nguồn: Trung tâm dự báo Khí Tượng Thuỷ Văn tỉnh Gia Lai, 2009)

Qua bảng 4.1 cho thấy điều kiện khí hậu thời tiết của huyện thuận lợi cho việc

trồng và phát triển của cây cà phê Nhiệt độ trung bình là 20,8 C0, nhiệt độ cao nhất

trong năm từ tháng 3 đến tháng 6 Đây là thời điểm quả cây cà phê bắt đầu phát triển

mạnh nên cần nhiều ánh sáng để quang hợp Ẩm độ có sự chênh lệch giữa các tháng

trong năm, độ ẩm lớn chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa Đây là điều kiện

thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Nhìn chung lượng mưa

phân bố khá đều trong mùa mưa, lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, và

tháng 9 đây điều kiện thuận lợi cho việc bón phân cho cây cà phê

4.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội

Trong năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trên thế giới, mưa lũ

và lốc xoáy diễn ra khá phức tạp đã tác động đến cả nước nói chung và làm ảnh hưởng

đến sản xuất và đời sống người dân nói riêng Giá cả vật tư và hàng hóa tiêu dùng thì

tăng giá trong khi đó giá hàng nông sản vẫn giữ mức trung bình đã làm cho đời sống

Trang 38

đặc biệt là các tỉnh phía Bắc nên thành phần dân tộc trên địa bàn rất đa dạng Do vậy trình độ canh tác và đời sống kinh tế cũng khác nhau, nhóm có trình độ canh tác trung bình khá gồm các hộ người kinh và dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc, nhóm có trình

độ canh tác lạc hậu phần lớn là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng

xa ít có điều kiện giao lưu tiếp xúc với bên ngoài Tốc độ tăng trưởng GDP của huyện ước đạt 13,6 %, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,86 triệu đồng/năm Huyện Chưprông hiện có 4.374 hộ/19.549 khẩu thuộc diện hộ nghèo chiếm tỉ lệ 19,17 số hộ nghèo, trong đó dân tộc thiểu số là 3.472 hộ/ 16.193 khẩu Về y tế giáo dục, nhìn chung huyện thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, quán trệt chủ trương chống bệnh thành tích và tiêu cực

trong giáo dục

Toàn huyện Chưprông có

khoảng 90494 người trong đó dân

tộc kinh có khoảng 49060 chiếm

54,21 %, dân tộc Jarai có khoảng

32096 người chiếm 35,47 %, dân

tộc Ba nar có khoảng 116 người

chiếm 0,13 %, dân tộc khác có

khoảng 9222 người chiếm 10,19 %

4.2 Tổng hợp hiện trạng sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Chưprông

4.2.1 Diện tích và tình hình sản xuất cà phê trong của huyện Chưprông

Diện tích và tình hình sản xuất cà phê của huyện Chưprông những năm qua có một số biến động đáng kể, đặc biệt là về diện tích

Bảng 4.2 Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê huyện Chưprông từ năm 2004 – 2008

Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha)

35.47 %

54.21 %

Banar Jarai Kinh Dân tộc khác

Trang 39

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Chưprông, 2008) Qua bảng 4.2 ta thấy diện tích trồng cà phê năm 2004 và năm 2005 lớn nhất, nhưng năm 2005 lại có sản lượng thấp hơn so với năm 2004 Năm 2005 do hạn hán kéo dài mặt khác giá cà phê giảm mạnh nên bà con nông dân không quan tâm đầu tư đúng mức cho nên sản lượng giảm, năng suất bình quân chỉ đạt 1,22 tấn/ha Từ năm

2006 trở đi diện tích trồng cà phê giảm đi đôi chút nhưng sản lượng vẫn không hề giảm Điều đó cho thấy bà con nông dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất

4.2.2 Kế hoạch phát triển cây cà phê

Cần phải chuyển giao kỹ thuật ghép cải tạo cho các vườn cà phê lâu năm già cỗi, cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao

Đầu tư xây dựng vườn nhân giống chồi ghép từ các cây đầu dòng đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận tại các xã để đẩy nhanh việc ghép cải tạo cho diện tích có năng suất, chất lượng thấp

Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi đảm bảo đủ nước tưới cho diện tích cà phê để đạt năng suất cao

Đầu tư xây dựng nhà máy chế biến cà phê ướt có quy mô lớn để chế biến cà phê tươi, tạo ra sản phẩm cà phê có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, giảm bớt công lao động

Kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy chế biến cà phê bột, cà phê hòa tan tại khu công nghiệp huyện để gắn kết nhà máy và vùng nguyên liệu, thực hiện chính sách đối với vùng nguyên liệu, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trên địa bàn

Ổn định và giữ vững diện tích cà phê đến năm 2010 diện tích cà phê toàn huyện khoảng 13631 ha, sản lượng 24300 tấn

Tập trung các biện pháp tốt nhất để làm tăng và duy trì năng suất, chất lượng từng bước góp phần khẳng định vị thế cà phê Việt Nam trên trường quốc tế

Cần có các chính sách khuyến khích sự hợp tác giữa người nông dân và nhà sản xuất và nhà khoa học

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w